Tag Archive: nguy


VẠCH MẶT ÂM MƯU LẬT ĐỔ CHẾ ĐỘ XHCN VIỆT NAM

Nước CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Thời gian qua, sau những biến động chính trị gắn với những cái gọi là “cách mạng hoa nhài” ở Ai Cập, Tuy-ni-di, Li-bi, một số kẻ phản động trong và ngoài nước đang hí hửng cho rằng, các cuộc “cách mạng” ấy chẳng bao lâu sẽ lan tới Việt Nam. Chúng kích động những người nhẹ dạ cả tin, kêu gọi biểu tình, “tập dượt” cho một cuộc “cách mạng hoa sen” để lật đổ chế độ XHCN.

Nhận diện một âm mưu
Trước hết, có thể nhận thấy ngay đây là một chiêu bài “Diễn biến hòa bình”, lợi dụng các trào lưu xã hội trên thế giới để phát động phong trào chống đối, đi tới lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam. Ở đây, từ “cách mạng” đã bị lạm dụng đến mức nguy hiểm. Trên thực tế, những cuộc “cách mạng nhung”, “cách mạng cam”, “cách mạng hoa nhài” hay hoa gì đi chăng nữa không hề tạo ra một sự biến đổi xã hội mang tính sâu sắc, toàn diện, tạo bước ngoặt thay đổi về chất trong mọi lĩnh vực xã hội, thay thế hình thái kinh tế – xã hội lỗi thời, lạc hậu bằng hình thái xã hội cao hơn mà thực chất chỉ là cuộc lật đổ chế độ bằng các thủ đoạn phi bạo lực kết hợp với bạo lực ở mức độ khác nhau. Sự độc tài, bất công chẳng những không mất đi mà còn trầm trọng hơn, đổ máu nhiều hơn, nghèo đói nhiều hơn, bất ổn nhiều hơn. Vì vậy, không thể gọi đó là một cuộc cách mạng dù nó có mang màu sắc sặc sỡ bao nhiêu, mang tên loài hoa đẹp bao nhiêu đi chăng nữa! Đặc biệt, hoa sen, một loài hoa với vẻ đẹp Việt Nam và mang nhiều triết lý nhân sinh Việt Nam, không thể gắn với những âm mưu và hành động đi ngược lợi ích của Tổ quốc, dân tộc, mang lại khổ đau, chém giết, huynh đệ tương tàn.

Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, Trung với Đảng, Hiếu với Dân

Tại nhiều diễn đàn, mạng xã hội trên internet hiện nay, các thế lực thù địch hải ngoại có khá nhiều bài viết, thậm chí cả các chương trình truyền hình, đối thoại, bàn luận khá rầm rĩ về “cách mạng hoa nhài và hiện tình Việt Nam”. Một số nhân vật chống Cộng say sưa phân tích thế sự từ Tây sang Đông, từ chuyện Ai Cập, Tuy-ni-di, Li-bi… để “soi rọi”, “cảnh báo cho quốc dân đồng bào trong nước”. Chúng cho rằng, một cuộc cách mạng dân chủ theo kiểu mẫu của phương Tây, có thể tạo ra cuộc “chuyển giao quyền lực êm đềm, không đổ máu” ở Việt Nam. Chúng huênh hoang, bất chấp lý luận về cách mạng xã hội khi lập luận: “Cách mạng hoa nhài” mang tính tự phát của quần chúng, không cần gắn liền với một ý thức hệ, cương lĩnh hay tổ chức nào cả và đây lại là một yếu tố quan trọng góp phần thành công mà những cuộc cách mạng trước kia không có. Kiểu “lý luận” này thực sự chỉ là một kiểu suy luận bừa. Lê-nin từng nói: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng”. Nếu cuộc cách mạng không cương lĩnh, không tổ chức, thì cuộc cách mạng đó vì ai, dựa vào đâu?

Sự thâm độc, xảo quyệt của chiêu bài này càng lộ rõ khi các thế lực phản động và thù địch “mách” rõ những cách làm rất cụ thể, tỉ mỉ cho từng giai tầng, lực lượng xã hội ở Việt Nam. Chúng luôn đề cao vai trò của các mạng xã hội và công cụ internet, từ facebook, youtube đến twitter, thậm chí điện thoại di động là “vũ khí hữu hiệu” trong việc tập hợp lực lượng nổi dậy ở nhiều nước. Từ đó, chúng kích động giới trẻ Việt Nam hãy tận dụng lợi thế của sự phát triển internet để “hành động”. Chúng cũng cho rằng cách mạng “hoa sen” thuận lợi hơn vì dân số trẻ, sẽ đi theo từng nấc thang để chính quyền khó đàn áp. Chúng đưa ra các bước hành động: Ban đầu chỉ kêu gọi nhau tụ tập mặc áo trắng ở chỗ đông người rồi dần dần tiến tới tụ tập vì biển, đảo, vì kinh tế khó khăn. “Hương hoa nhài, hoa sen” sẽ khích lệ tiếng nói đối kháng qua các phong trào cùng ký tên vào tâm thư, thỉnh nguyện, các bản tuyên cáo, kiến nghị nào đó để tạo dư luận xã hội. Ở nấc thang cao hơn, sẽ phát động biểu tình sẽ hướng tới phản đối những hạn chế trong điều hành, quản lý kinh tế, những tiêu cực xã hội rồi tiến tới kêu gọi lật đổ chính quyền, phát động phong trào “toàn dân xuống đường… cứu nước”. Chúng lại đưa ra chiêu bài kêu gọi: “Quân đội nhân dân sẽ thực sự là của nhân dân nên sẽ không bắn vào người biểu tình. Lực lượng công an và quân đội hãy trở về với nghĩa vụ giúp đỡ và bảo vệ nhân dân, vốn đã sinh ra và nuôi nấng mình”. Khi các cuộc biểu tình đã được đẩy lên ở mức cao tại các thành phố lớn, sẽ có sự hà hơi tiếp sức của các tổ chức phản động trong và ngoài nước, rồi chúng sẽ kêu gọi sự can thiệp của nước ngoài… Nhìn lại một vài cuộc tụ tập đông người vừa qua, có nhiều dấu hiệu cho thấy đã có bàn tay kích động, đứng sau của các thế lực thù địch theo một “kịch bản” dài hơi.

Đẩy lùi, ngăn chặn và làm thất bại

Những chiêu bài, thủ đoạn thâm độc trên, may thay, đã sớm bị bóc trần. Ngay tại cộng đồng hải ngoại, đã có không ít ý kiến khách quan, phản đối thẳng thừng âm mưu “cách mạng hoa sen”. Ông Phúc Nguyễn, một Việt kiều sống ở Hoa Kỳ khi được hỏi về một cuộc “cách mạng hoa nhài” ở Việt Nam đã thẳng thắn nói: “Không thể có một cuộc cách mạng như thế và cũng không cần phải có. Bởi nó chỉ làm xã hội Việt Nam xấu đi khi đất nước đang phát triển đầu tư, hòa bình. Vả lại, cách quản lý xã hội ở Việt Nam chặt chẽ, không thể xảy ra chuyện như ở một số nước gần đây”.

GoocBachop – kẻ cơ hội

Tuy nhiên, để ngăn chặn, đẩy lùi và làm thất bại hoàn toàn âm mưu phát động những cuộc “cách mạng” như thế, cần sự quan tâm nghiên cứu, phân tích, làm rõ bản chất các trào lưu, hiện tượng xã hội và tình hình thế giới đầy biến động sâu sắc và phức tạp hiện nay. Dư luận xã hội, đặc biệt là nhận thức của thế hệ trẻ cần phải được định hướng rõ ràng, phân biệt giữa bản chất và hiện tượng, các mối liên hệ giữa các sự kiện để tránh sa vào cực đoan, bị kích động, lôi kéo. Nhìn lại một số sự kiện quốc tế vừa qua, các phương tiện báo chí, truyền thông có lúc, có nơi mới chỉ phản ánh được bề nổi của sự kiện, cần có nhiều hơn những đánh giá, bình luận mang tầm khái quát, phân tích rõ bản chất các hiện tượng, sự kiện, định hướng dư luận xã hội một cách tích cực.

Về mặt quản lý, rõ ràng những biện pháp bảo vệ trật tự trị an, an ninh xã hội vừa qua là rất cần thiết và cần được duy trì hiệu quả hơn nữa. Ở Việt Nam, Đảng, Nhà nước khuyến khích các ý kiến phản biện xã hội mang tính xây dựng, khuyến khích đấu tranh chống tiêu cực xã hội, tham ô, quan liêu, cửa quyền… Tuy nhiên, những âm mưu và hành vi lợi dụng đấu tranh chống tiêu cực hay lợi dụng dân chủ để chống đối chế độ XHCN sẽ phải được xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật.

Những kẻ cơ hội Chính trị sẽ trốn khỏi đôi mắt Nhân dân

Chúng ta không cần một cuộc “cách mạng hoa sen, hoa nhài” hay loài hoa nào khác, mà kiên trì con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Chúng ta nhận thức sâu sắc rằng, thời kỳ quá độ lên CNXH là một quá trình đầy khó khăn, gian khổ, kéo dài. Chỉ có sự đoàn kết, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, nhìn thẳng vào sự thật, đấu tranh đẩy lùi tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực xã hội, hạn chế các yếu kém trong quản lý, điều hành xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh mới giúp cho cách mạng XHCN sớm thành công. Cái gọi là “cách mạng màu, cách mạng hoa” mà các thế lực thù địch đang mưu toan chỉ là sự lừa phỉnh nhân dân!

Bài viết của: Nguyễn Văn Minh. [Đã được đăng trên Việt Nam – Đất Nước – Con Người bởi Hoa Phượng Đỏ]

Đừng nhìn vào công nghệ kỹ xảo “ma thuật” mà “choáng váng” trước điện ảnh Mỹ. Họ cũng có những bế tắc, những lối mòn không thể thoát ra nổi. Ví dụ đơn giản như việc thiết kế poster, ở đó cũng có những lối mòn hài hước…

Hình ảnh đôi môi mọng đỏ luôn có sức gợi mở, ẩn chứa nhiều ma lực hấp dẫn. Poster của các thể loại phim, từ phim kinh dị, phim tình cảm cho tới phim hành động đều từng đưa đôi môi lên làm yếu tố điểm nhấn.

Lối mòn hài hước từ điện ảnh Mỹ
Những bờ rìa chênh vênh, nguy hiểm chắc chắn phải để dành cho những người hùng. Trong nhiều poster phim hành động, các nhân vật người hùng thường đứng trên một gờ tường hay một mép đá như thế này.

Lối mòn hài hước từ điện ảnh Mỹ
Những nhân vật nữ cá tính thường có chung một tư thế trên poster: họ quay lưng lại rồi ngoảnh mặt về phía sau.

Chiếc ghế băng ở các địa điểm công cộng là nơi chứng kiến rất nhiều câu chuyện hấp dẫn.
Chiếc ghế băng ở các địa điểm công cộng là nơi chứng kiến rất nhiều câu chuyện hấp dẫn.

Trong những bộ phim có hai nhân vật chính, họ thường đứng “lưng đối lưng” trên poster.
Trong những bộ phim có hai nhân vật chính, họ thường đứng “lưng đối lưng” trên poster.

Trong những bộ phim có hai nhân vật chính, họ thường đứng “lưng đối lưng” trên poster.
Những bộ phim đề cập tới đề tài công lý thường mượn hình ảnh Nữ thần Công lý buộc dải khăn lên mắt để thiết kế poster.

Những bộ phim tài liệu làm về thế giới tự nhiên rất ưa chuộng màu xanh nước biển.
Những bộ phim tài liệu làm về thế giới tự nhiên rất ưa chuộng màu xanh nước biển.

Nhiều bộ phim hài thích chọn màu vàng cho poster.
Nhiều bộ phim hài thích chọn màu vàng cho poster.

Nhiều bộ phim hài thích chọn màu vàng cho poster.
Poster được tạo nên bởi hai màu chủ đạo đen và trắng cùng ánh lửa lóe lên báo hiệu cho một bộ phim hành động.

Nhiều bộ phim hài thích chọn màu vàng cho poster.
Những bức chân dung ấn tượng hoặc kỳ quái thường xuất hiện trên những tấm poster phim trinh thám, phim kinh dị hoặc phiêu lưu, mạo hiểm.

Những đôi mắt chứa đựng cả một thế giới.
Những đôi mắt chứa đựng cả một thế giới.

Biển luôn khơi nguồn cảm hứng cho những câu chuyện tình yêu.
Biển luôn khơi nguồn cảm hứng cho những câu chuyện tình yêu.

Biển luôn khơi nguồn cảm hứng cho những câu chuyện tình yêu.
Những ngõ hẻm tối tăm luôn là nơi lý tưởng để diễn ra những câu chuyện kinh dị rùng rợn hoặc những pha hành động gay cấn.

Những nhân vật nữ ranh ma thường có đôi chân dài quyến rũ và ưa thích màu đỏ.
Những nhân vật nữ ranh ma thường có đôi chân dài quyến rũ và ưa thích màu đỏ.

Theo Dân trí
[http://www.nguoiduatin.vn/loi-mon-hai-huoc-tu-dien-anh-my-a76513.html]

Đường hòa nhập của những nhân sĩ chế độ cũ

Với những nghiên cứu thầm lặng, Nhóm trí thức này đã đóng góp tích cực vào quá trình đổi mới của thành phố. Họ để lại dấu ấn trong những đột phá về cải cách giá – lương – tiền, cải tổ ngành ngân hàng, đề xuất lập khu chế xuất Tân Thuận…

LTS: GS. Đặng Phong trong cuốn Tư duy kinh tế Việt Nam 1975-1989 kể: Ở TP. Hồ Chí Minh có một nhóm chuyên viên kinh tế được nhắc đến với cái tên “Nhóm Thứ Sáu”. Thành phần chủ yếu là những người từng làm việc trong chế độ cũ. Họ được Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh thời đó là ông Võ Trần Chí trọng dụng.

Với những nghiên cứu thầm lặng, Nhóm trí thức này đã đóng góp tích cực vào quá trình đổi mới của thành phố. Họ để lại dấu ấn trong những đột phá về cải cách giá – lương – tiền, cải tổ ngành ngân hàng, đề xuất lập khu chế xuất Tân Thuận…

Thực ra lâu nay, cái tên “Nhóm Thứ Sáu” được nhắc đến rải rác trên một số trang báo, nhưng chưa từng có một tuyến bài nào kể lại đầy đủ hoạt động và đóng góp của nhóm. Tuần Việt Nam vừa có may mắn tiếp xúc với một số câu chuyện thực tế của họ. Chúng tôi trân trọng chia sẻ cùng độc giả.

Hơn hai chục năm trong chiều dài lịch sử không là bao nhiêu, nhưng đối với những người ray rứt với tình hình đất nước đang từng ngày chuyển biến thì quả thật là đáng kể.

Những nhân sĩ, trí thức trong Nhóm Thứ Sáu với điểm xuất phát tuy khác nhau nhưng do cùng hoàn cảnh và tâm tư, đã hội tụ thân thiết như các thành viên trong một gia đình. Mỗi tuần họp mặt ít nhất một lần, anh em cùng nhau lạm bàn chuyện thế sự mà không hề có tham vọng riêng tư. Đây là một nhóm lãng tử tìm đến nhau một cách tình cờ, tập hợp vốn hiểu biết rồi cùng nhau bàn luận, trước hết là để chung vui, còn ai muốn sử dụng những điều ấy như thế nào thì tuỳ hoàn cảnh và công việc.

Bao trùm lên trên cái thực thể của Nhóm là rất nhiều cái Không. Không giấy phép thành lập, không chủ quản, không tổ chức, không nội quy điều lệ, không trụ sở, không ai lãnh đạo, không ai hưởng lương, không vụ lợi, không kỷ luật lẫn khen thưởng, không ràng buộc cũng như không hơn thua với ai và còn nhiều cái không nữa.

Có lẽ nhiều cái không ấy đã làm nên cái có: đó là có anh em, có chuyện để bàn bạc, có tấm lòng và có dịp sinh hoạt với nhau đến nay đã 24 năm liên tục.

Tên gọi của nhóm này thật ra chỉ mới có vài năm gần đây và việc định danh “Nhóm chuyên viên kinh tế Thứ Sáu” cũng rất đơn giản là vì anh em gặp nhau định kỳ vào chiều thứ Sáu hàng tuần.

Nếu ai hỏi Nhóm Thứ Sáu có bao nhiêu người thì cũng khó trả lời chính xác. Trong những năm qua số này có nhiều biến động nhưng “cựu trào” thì còn không quá 10 người. Hiện nay có thường xuyên từ 15 đến 20 anh em gặp gỡ nhau hàng tuần, có thể coi như là những nhân vật nòng cốt.

Thời kỳ cuối thập niên 70 đầu thập niên 80, tình hình kinh tế xã hội ở miền Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng cực kỳ khó khăn.Sau hai đợt cải tạo, tiềm lực kinh tế của thành phố gần như kiệt quệ. Nhiều năm sau ngày giải phóng, nền kinh tế vận hành theo quán tính như một chiếc xe ngày càng cạn nhiên liệu, tạo điều kiện cho hoạt động kinh tế ngầm phát triển với hàng loạt sản phẩm tiêu dùng thuộc loại kém chất lượng vì thành phần nguyên liệu, phụ liệu không đủ, được đưa ra thị trường nhằm giải quyết nhu cầu không thể thiếu của người dân.

Nền kinh tế kế hoạch tập trung và cơ chế bao cấp áp đặt ở miền Nam làm cả hai miền đất nước nghèo như nhau. Đó là thời kỳ mà lần đầu tiên ở Sài Gòn biết thế nào là ăn độn. Trí thức Sài Gòn phần lớn dính dáng vào quân đội và chính quyền cũ nên phải đi học tập cải tạo, một số trở về mang tâm trạng hoang mang chán nản, một số không ít bỏ ra nước ngoài tạo nên tình trạng chảy máu chất xám đến mức báo động. Thêm vào đó, vụ Nạn kiều và những chuyến vượt biên bán công khai càng làm cho tâm lý xã hội thêm nặng nề.

Trong tình hình kinh tế xã hội gay gắt ấy, mô hình công ty xuất nhập khẩu trực dụng được lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh cho ra đời mà Quận 5 đã đi tiên phong với Công ty Cholimex.

Mục đích của công ty này là huy động những đồng vốn tản mát trong dân dưới hình thức cổ phần, tận dụng các mối quan hệ của những nhà kinh doanh người Hoa với bên ngoài để xuất khẩu các loại hàng nông hải sản rồi nhập vật tư nguyên liệu về cung ứng cho các cơ sở sản xuất tại Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh và cho cả các doanh nghiệp nhà nước.

Lúc bấy giờ, ông Phan Chánh Dưỡng sau khi giã từ ngành giáo dục được Quận uỷ đưa về làm Trưởng phòng kế hoạch tại Cholimex. Là một nhà giáo gần như chưa bao giờ tiếp cận với hoạt động kinh doanh ở cấp độ công ty, ông Dưỡng thấy rằng cần phải thu hút chất xám từ những người có kiến thức chuyên môn để bổ sung vào những hạn chế của mình.

Thế là ông Trần Bá Tước, một chuyên viên ngân hàng sau khi đi học tập về đã đến với Cholimex vào năm 1982 với tư cách là một phiên dịch. Tiếng lành đồn xa, nhận ra Cholimex là nơi có thể đóng góp hiểu biết của mình, nhiều trí thức cũ đã gặp ông Phan Chánh Dưỡng và trở thành những người trợ lý đắc lực.

Một trong những người này là ông Phan Thành Chánh, chuyên viên ngân hàng và ông Đỗ Hải Minh, chuyên viên hành chính nhiều kinh nghiệm trước đây làm việc ở Bộ phát triển sắc tộc trong chế độ cũ, sau khi đi học tập về đang tìm một chỗ làm việc để nhẹ gánh mặc cảm.

Ông Nguyễn Thông Minh, một chuyên gia mà cũng là một giáo sư đại học dạy vật lý có phương pháp sư phạm rất tốt (nhất là về môn điện tử) lại là một chuyên viên điện toán giỏi, sau khi “đầu quân” đã soạn chương trình vi tính về quản lý lương bổng cho Cholimex, một công việc cực kỳ mới mẻ lúc bấy giờ. Sau đó ông lại đứng ra thành lập Trung tâm Điện toán Cholimex, cơ sở vi tính đầu tiên tại thành phố Hồ Chí Minh.

Từ đó Cholimex thành một nơi đất lành chim đậu, tập hợp rộng rãi các anh em trí thức đang làm việc tại Ban Khoa học Kỹ thuật thành phố, Công ty Đại Dương, Công ty dịch vụ Kỹ thuật như các anh Lê Mạnh Hùng, Võ Hùng, Võc Văn Huệ. Rồi đến Mai Kim Đỉnh, Trương Quang Sáng, Lê Hoà, Nguyễn Chính Đoan, Lê Văn Bỉnh, Trần Văn Tư, Đỗ Trung Đường, Lê Đình Khanh, Lâm Tuấn Anh, Võ Gia Minh, Trần Quí Hỷ, Đỗ Nguyên Dũng, Phan Tường Vân, Lâm Võ Hoàng, Huỳnh Bửu Sơn, Hồ Xích Tú, Nguyễn Ngọc Hồ… cùng một số người khác.

Thời kỳ đầu, họ đã đi thực tế ở nhiều nơi như Duyên Hải, Đồng Nai và các tỉnh miền Tây, nghiên cứu nhiều dự án với hy vọng khái thác tiềm năng cho nhu cầu phát triển kinh tế của thành phố. Thế nhưng đó lại là câu chuyện đội đá vá trời trong tình hình cơ chế xơ cứng đang còn ngự trị. Khi nhìn lại anh em thấy những công việc đã làm chẳng qua cũng là công dã tràng. Nhưng dù sao đây cũng là  nhân tố ban đầu của sự tập hợp một số trí thức cũ có tấm lòng và mong được đóng góp cho sự phát triển kinh tế thành phố nói riêng và đất nước nói chung.

Bước đầu hình thành Nhóm, ngoài hạt nhân là ông Phan Chánh Dưỡng còn có sự ủng hộ của ông Võ Trần Chí khi ấy đang làm Bí thư Quận 5- một người cầu thị, trân trọng trí thức, trong giao tiếp không bao giờ nói chuyện đao to búa lớn.

Ông Chí cũng nhận ra rằng không dễ dàng khai thác kiến thức của những người trí thức. Muốn anh em đóng góp thì phải tạo cho họ có được cảm giác tự do, không một mảy may gò bó. Cũng trong tư cách một người anh, ông chấp nhận ngay cả việc anh em có thể nói sai, cho rằng đó chẳng qua vì anh em chưa hiểu thấu đáo, lần lần rồi cũng sẽ hiểu ra. Chính sự bao dung đó đã thuyết phục được anh em.

Thời gian này, Nhóm Thứ Sáu sinh hoạt định kỳ ba lần một tuần tại Cholimex vào thứ Hai, thứ Tư và thứ Sáu, gặp gỡ nhau để bàn bạc, tranh luận. Đó vừa là cơ hội để kết thân vừa giải toả được mặt cảm nên ai cũng thấy rất vui, dần dần trở thành nhu cầu mà tuần nào không gặp nhau là cảm thấy như thiếu điều gì đó, một thứ thiếu vắng không có tên gọi.

Giai đoạn 1986-1990: Những công trình nghiên cứu

Sau mấy năm sinh hoạt tại cơ ngơi của Mạnh Thường Quân Cholimex, cùng nhau mổ xẻ một số vấn đề gay gắt trong đời sống kinh tế xã hội, cho đến một lúc họ bỗng giật mình nói với nhau: Cả Nhóm ngồi lại nhiều năm nói chuyện trên trời dưới đất nhưng nếu ai đó không hiểu thì lôi thôi, không chừng lại bị “hỏi thăm”.

Suy nghĩ này được ông Phan Chánh Dưỡng đề đạt lên ông Võ Trần Chí khi đó đang làm Bí thư Thành uỷ: nếu thấy tin cậy được thì đề nghị cấp cho một giấy chứng nhận hợp thức hoá sự tập hợp trí thức cũ. Rất may, do quá trình hiểu biết anh em nhiều năm, ông Võ Trần Chí đồng ý và giao nhiệm vụ này cho ông Năm Ẩn, lúc đó là Trưởng ban Kinh tế Thành uỷ.

Thế là một danh sách 24 người được gửi lên cho lãnh đạo, anh Năm Ẩn ký giấy xác nhận danh sách “Nhóm nghiên cứu chuyên đề kinh tế của Thành uỷ”. Đây không phải là giấy khai sinh mà chỉ là tấm lá chắn nhưng cũng đã đánh dấu thời điểm “hợp pháp” từ tháng 10 năm 1986.

Bắt đầu từ đấy, nhóm trí thức cũ sinh hoạt định kỳ hàng tuần, vẫn tại Cholimex và hoàn toàn có tính tự nguyện. Cũng từ đó các lãnh đạo thành phố như các ông Võ Trần Chí (Hai Chí), Nguyễn Vĩnh Nghiệp (Sáu Tường), Năm Ẩn, Tư Triết, Phạm Chánh Trực (Năm Nghị) thỉnh thoảng xuống tham dự hội họp với họ.

Cái tư cách pháp nhân lưng chừng ấy cũng đã khiến nhóm nhân sĩ này nghĩ đến một cách sinh hoạt có tính chủ đề hơn. Vì vậy đây chính là thời kỳ hình thành nhiều công trình nghiên cứu có tính bài bản của nhóm. Có thể kể ra đây một số công trình nghiên cứu được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, qua đó tâm huyết của anh em đã có cơ hội góp phần vào việc hình thành chính sách của nhà nước sau này.

  1. Nghiên cứu về Giá – Lương – Tiền:

Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên được thực hiện rất bài bản. Có mô tả hiện trạng, có phản biện, có cơ sở lý luận và chuẩn bị bảo vệ ý kiến của mình.

Bài toán giá – lương – tiền được mổ xẻ thấu đáo mà đáp số của nó theo quan điểm của nhóm có cự ly rất xa với nhận định của các nhà lập chính sách ở Trung ương vào lúc ấy. Sau nhiều tuần cọ xát quan điểm, anh em hoàn thành bản nghiên cứu về giá – lương – tiềm thì vào cuối năm 1986 ông Phạm Chánh Trực viết thư giới thiệu công trình này với ông Võ Văn Kiệt lúc ấy đang làm Chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước và đề nghị ông trực tiếp nghe anh em trình bày.

Các ông Phan Chánh Dưỡng, Huỳnh Bửu Sơn, Trần Bá Tước ra Hà Nội báo cáo đề tài này với các chuyên viên cấp cao của Chính phủ, buổi làm việc do ông Sáu Dân chủ trì, Đề tài nghiên cứu này có tính thuyết phục, được các chuyên viên như ông Trần Đức Nguyên, Vũ Quốc Tuấn, Lê Đăng Doanh đánh giá cao. Trước khi trở về thành phố Hồ Chí Minh, các anh Dưỡng, Sơn, Tước còn được ông Nguyễn Cơ Thạch (lúc ấy là Bộ trưởng Ngoại giao) mời trình bày đề tài này và cũng được ông đánh giá cao.

  1. Nghiên cứu đề tài Cải tổ Ngân hàng:

Sau chuyến thuyết khách ở Hà Nội, Nhóm Thứ Sáu nắm bắt thêm thực tế và phát hiện ra rất nhiều nghịch lý trong điều hành vĩ mô. Một trong những vấn đề đó là hoạt động thiếu hiệu quả của hệ thống ngân hàng của thời kế hoạch hoá tập trung. Đề tài này do hai ông Huỳnh Bửu Sơn và Lâm Võ Hoàng là những người có kinh nghiệm thực tiễn nhiều năm trong lĩnh vực ngân hàng chủ trì.

Nghiên cứu của họ đi sâu vào cơ thể dị dạng của hai bộ phận Ngân hàng và Tài chính dính chặt vào nhau, sự bất hợp lý trong điều hành chính sách tiền tệ và đề xuất một cơ chế hoạt động cho Ngân hàng theo hướng kinh tế thị trường. Đề tài nghiên cứu này cũng được Chính phủ quan tâm, những suy nghĩ và đề xuất của các thành viên trong Nhóm dường như có sự lan toả cho nên vào năm 1988, khi Chính phủ chẩn bị Pháp lệnh Ngân hàng, hai ông Lâm Võ Hoàng và Huỳnh Bửu Sơn đã được mời tham gia vào việc soạn thảo.

  1. Nghiên cứu phát triển Ngoại thương:

Đây là đề tài nghiên cứu khá gay gắt bởi vào thời điểm ấy thành phố Hồ Chí Minh chủ trương cho các công ty xuất nhập khẩu tự cân đối tài chính. Đề tài này làm rõ chủ trương vừa nói là sai lầm vì đó chính là một trong nguyên nhân đẩy giá cả tăng lên.

Do được quyền tự cân đối nên các công ty xuất nhập khẩu mua nông sản với bất cứ giá nào bất chấp giá thị trường để xuất khẩu, rồi dùng ngoại tệ bán được để nhập khẩu bán lại cho trong nước với giá cao để kiếm lời mà Nhà nước không can thiệp vào. Do tự cân đối mà giá cả nông sản tăng keo theo hàng công nghệ phẩm lên giá, góp phần làm tăng áp lực lạm phát.

  1. Đề tài Kinh tế vùng:

Đề tài này được giao cho ông Nguyễn Ngọc Hồ chủ trì và được bản thảo lâu nhất, kéo dài khoảng nửa năm. Công trình này được ông Lê Văn Triết lúc bấy giờ là Thứ trưởng Thương mại đánh giá cao và sau đó góp phần vào việc hình thành chính sách.

  1. Công ty tư vấn Đầu tư và Khu chế xuất:

Vào năm 1987, dưới tác động của chính sách mở của, Nhóm tập trung thảo luận về khả năng thu hút đầu tư nước ngoài và thống nhất thành lập Công ty tư vấn đầu tư (IMC). Đây là một chuyển biến quan trọng trong sinh hoạt của Nhóm, chuyển từ bàn bạc sang thực hiện. Ông Phan Chánh Dưỡng được giao làm Phó Giám đốc Công ty, nhưng sau đó do số cán bộ từ thành phố điều xuống áp dụng cách làm việc theo kiểu cũ nên vai tròg hạn chế, không phát huy được công năng của công ty. Vì vậy ông Dưỡng và một số anh em trong Nhóm từng bước rút lui khỏi công ty.

Năm 1989, ông Dưỡng đề nghị thành lập Hiệp hội Xuất nhập khẩu đầu tư (Infotra) và đề tài được anh em tập trung nghiên cứu là Khu chế xuất. Đây cũng là thời gian ông Dưỡng rút khỏi vị trí Giám đốc Cholimex và chú tâm vào việc biến công trình nghiên cứu trở thành hiện thực.

Có thể nói đây là công nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao vì sau đó nội dung này được áp dunhgj vào việc hình thành Khu chế xuất Tân Thuận dưới hình thức Công ty liên doanh trong đó anh Phan Chánh Dưỡng đại diện cho đối tác trong nước làm Phó Tổng Giám đốc. Và để thực hiện ý tưởng phát triển thành phố Hồ Chí Minh ra biển Đông, Công ty Phát triển Công nghiệp Tân Thuận sau đó được thành lập làm pháp nhân nghiên cứu và thực hiện các chương trình như đại lộ “Bắc Nhà Bè – Nam Bình Chánh” nay là đại lộ Nguyễn Văn Linh, khu đô thị mới Nam thành phố Hồ Chí Minh, Khu công nghiệp Hiệp Phước…

  • Mời theo dõi tiếp kỳ 2.
    [Tác giả: ĐÔNG HẢI]
    [link: http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-04-06-duong-hoa-nhap-cua-nhung-nhan-si-che-do-cu]

Đi tìm sự thật về nhà thờ của gia đình Thủ tướng

Xung quanh thông tin Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xây dựng ngôi “nhà thờ họ” nguy nga ở Kiên Giang, suốt lâu nay đã được loan truyền râm ran và trở thành một đề tài nóng thu hút sự quan tâm của công luận. Sự thật ra sao?

Nguồn tin khởi đầu được tung ra bởi một số mạng thông tin không chính thống. Rồi tiếp tục xuất hiện cả một số đơn thư được lan truyền đã len lỏi tới đông đảo công chúng; càng khiến dư luận không ngớt xì xầm, bàn tán.

Theo các thông tin được mô tả thì: Ngôi nhà thờ này là một lâu đài đồ sộ, sang trọng gấp nhiều lần nhà thờ họ Hồ ở Nghệ An; nguy nga hơn cả đền thờ vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực; được tọa lạc trên khuôn viên rộng tới hơn 4.000m2 với quy mô rất hoành tráng, số tiền đầu tư xây dựng trị giá tới hơn 40 tỉ đồng. Đặc biệt, khuôn viên hơn 4.000m2 này là đất thu hồi của người dân địa phương.

 

Cổng chính ngôi nhà số 1108

 

 

“Nhà thờ họ” này đã và đang trở thành “bia miệng” trong dân chúng Việt Nam… Sức nóng của dư luận đã khiến không ít cán bộ lão thành cách mạng phẫn nộ, dân chúng hoài nghi và có người đã phải thốt lên rằng: “Ai đời đương kim Thủ tướng mà lại làm cái việc xa hoa đến thế!”.

Nhà báo vốn có đặc tính là luôn “săm soi” các nguồn tin nên tôi đã được chứng kiến không ít cuộc luận bàn xung quanh câu chuyện “nhà thờ họ” của đương kim Thủ tướng. Bản thân tôi đã có lúc thấy rất hoài nghi và thiếu tin cậy về những thông tin loan truyền ấy. Có một số người cũng nói với tôi rằng đó chỉ là sự đồn thổi, bịa đặt: “Làm gì có lâu đài, biệt điện nào! Chẳng qua chỉ là chuyện thêu dệt nhằm bôi đen lãnh đạo, gây mâu thuẫn trong nội bộ Đảng và kích động lòng dân…”.

Nhưng sự hoài nghi trong tôi lại lập tức bị tan biến bởi có không ít lời khẳng định như đinh đóng cột với tôi rằng họ đã trực tiếp mắt thấy tai nghe: “Không tin ông cứ đến TP. Rạch Giá, gặp bất cứ ai, từ anh xe ôm cũng đều đàm tiếu vanh vách!”.

Là người cầm bút, trước một sự việc tuy đang rất “bán tín bán nghi” – nhưng quả thực nó tác động mạnh đến dư luận xã hội, đến tâm trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân là điều có thật – đã thực sự làm tôi trăn trở. Và chính vì điều đó đã thôi thúc khiến tôi quyết định phải thực hiện một cuộc hành trình để kiếm tìm sự thật. Vào đầu tháng 12 năm 2012, nhân có chuyến vào TP. Hồ Chí Minh công tác tôi đã quyết định “phi” xuống Kiên Giang để đích thân “mục sở thị” xem hư thực ra sao.

Sự thật ra sao?

Cách đây hơn 20 năm tôi đã có dịp về Kiên Giang công tác – lúc đó tôi đang là phóng viên báo Quân đội Nhân dân (khi ấy Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đang là Chủ tịch tỉnh. Đồng chí Thiếu tá Quỳnh – Trợ lý Tuyên huấn Tỉnh đội – đã bố trí cho tôi phỏng vấn Chủ tịch tỉnh về công tác quân sự địa phương và việc thực hiện chính sách hậu phương quân đội. Và cũng suốt từ ấy đến nay tôi không có một cuộc tiếp kiến nào khác với ông).

Hơn 20 năm sau trở lại Kiên Giang, tôi thấy nơi đây đã thay đổi quá nhiều. Rạch Giá thời đó còn là thị xã, ngày nay đã trở thành thành phố. Ngày ấy Rạch Giá chỉ có bến xe ôtô, bến tàu biển; bây giờ đã có cả sân bay. Từ bến xe đi về các ngả, lúc đó phương tiện chủ yếu là xe lôi và Honda ôm. Bây giờ ở bến nào cũng thấy taxi nườm nượp. Bất giác tôi bỗng thấy nao nao nhớ về ký ức xe lôi thời ấy. Ngắm nhìn đường phố sạch đẹp và thoáng đãng, tôi cảm nhận rõ một quang cảnh thật thanh bình.

Cùng đi với tôi là anh bạn thân ở Sài Gòn nhưng rất thông thạo Rạch Giá – Kiên Giang. Chúng tôi tìm đến số nhà 1108 đường Nguyễn Trung Trực một cách chẳng khó khăn gì. Đường Nguyễn Trung Trực trước đây chỉ là một con đường nhỏ nằm trong lòng Rạch Giá; bây giờ trở thành con phố đường đôi huyết mạch rộng rãi, phong quang. Đứng trước cổng số nhà 1108, quan sát toàn cảnh khuôn viên tôi thấy lòng đầy nghi hoặc. Có phải cái “lâu đài” đang lan truyền gây xôn xao dư luận ấy chính là đây? Không lẽ tôi đã có một sự lầm lẫn nào khác?…

Nhưng hoàn toàn không phải như sự ngờ vực của tôi. Số nhà 1108 này chính là địa chỉ ngôi nhà của người em trai út và thân mẫu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hiện đang sinh sống ở Kiên Giang miền quê nơi ông sinh trưởng. Bước chân vào khuôn viên, đảo hết một vòng, mang thông tin loan truyền ra đối chiếu, tôi bỗng thấy sửng sốt…

 

Phần mộ thân phụ Thủ tướng tại nghĩa trang liệt sĩ Kiên Giang

 

 

Toàn bộ khuôn viên này theo con mắt ước tính của tôi chỉ cỡ năm sáu trăm mét vuông là “kịch đường tàu”, chứ không phải tọa lạc trên diện tích tới hơn 4.000 m2 như đồn thổi! Qua xác minh tôi được biết, vào khoảng những năm 1980, nơi đây vốn là một xưởng sản xuất nước mắm của tư nhân rất ô nhiễm. Con lộ khang trang nơi mặt tiền bây giờ, ngày ấy chỉ là một con đường xấu xí và nhỏ hẹp. Lúc bấy giờ, Thủ tướng ngày nay đang là Bí thư ở huyện Hà Tiên. Mẹ và em trai của Thủ tướng là Tư Thắng đã mua mảnh đất này với thời giá lúc đó “rẻ như bèo” và được cấp đầy đủ quyền sử dụng. Như thế là thông tin mảnh đất này là đất thu hồi từ đất ruộng của dân rồi qui hoạch… thật sự chỉ là sự thêu dệt!

Tiếp tục quan sát từ ngoài vào trong tôi thấy: Chiều dài mặt tiền của khuôn viên ước tính chỉ khoảng ba, bốn chục mét. Một bờ tường bao nơi mặt tiền cao trên dưới 3 mét, ốp vật liệu bình thường chứ không hề thấy một loại vật liệu quý nào. Phía ngoài tường bao là một rặng cau cao vút. Toàn bộ khuôn viên được chia dọc làm hai phần, từ đường nhìn vào thì bên tay trái là nhà ở, và bên phải là nhà thờ. Lối chính vào nhà là một cái cổng quá đơn sơ, lợp ngói thô. Một mảnh sân nho nhỏ ước chừng vài chục mét vuông không thấy có kiến trúc gì tạo dựng hay trang trí cảnh quan mang tính mĩ thuật. Căn nhà ở của gia đình được xây một trệt, một lầu, hết sức bình dị như trăm ngàn ngôi nhà khác trên khắp phố phường Việt Nam. Hoàn toàn không có một chút kiến trúc hay vật liệu gì quí giá theo hình mẫu, phong cách và dáng dấp của các loại biệt thự đương thời. Bước chân vào phòng khách tại tầng trệt, đi qua phòng của mẫu thân Thủ tướng rồi xuống nhà bếp của gia đình tôi thấy thật sự ngỡ ngàng. Phòng khách chỉ rộng chừng ba chục mét vuông, chỉ có một bộ sa-lông gỗ rất mộc mạc. Tôi đã từng đến nhiều phòng khách đẹp lộng lẫy của không ít anh em bè bạn. Trước khi bước vào phòng khách này tôi cũng mường tượng như vậy. Nhưng quả là nhầm to! Phòng khách đơn sơ tới mức vượt xa trí tưởng tượng của tôi. Thân mẫu của Thủ tướng năm nay đã 87 tuổi hiện đang sống trong căn nhà này. Tôi không thể ngờ rằng căn phòng đang sinh sống của thân mẫu Thủ tướng lại đơn sơ, mộc mạc và bình dị đến mức thật khó tin!

Kề bên căn nhà ở là nhà thờ của gia đình nằm chung trong một khuôn viên, có cổng riêng. Quan sát toàn cảnh nhà thờ tôi thấy: Đó là một ngôi nhà gồm 3 gian, 3 tầng mái truyền thống, tọa lạc cuối khuôn viên, được xây dựng trên cốt nền cao, gồm 9 bậc thềm, đá lát là loại đá xanh bình thường. Tôi sải bước đo chiều dài áng chừng chỉ 10m, chiều ngang sâu khoảng 5m. Nhẩm tính tổng diện tích ngôi nhà thờ chỉ vào khoảng 50m2. 3 gian trong nhà thờ, mỗi gian được đặt một ban thờ. Ban chính giữa là ban thờ gia tiên, trên cùng là thờ ảnh Bác, tiếp phía dưới là di ảnh phụ thân rồi đến di ảnh người chị của Thủ tướng. Thân phụ của Thủ tướng là ông Nguyễn Tấn Thử (tức Mười Minh), chính trị viên Tỉnh đội Kiên Giang, hi sinh trong một trận Mỹ ném bom B52 vào ngày 16/4/1969.

Ban thờ phía bên phải là Ban thờ Má chiến sĩ – tức Má Tư cùng 3 chiến sĩ cũng hi sinh trong trận bom ngày 16/4/1969 với ông Nguyễn Tấn Thử. Ban thờ phía bên trái là Ban thờ ông Phan Thái Quí (tức Chín Quí), Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Kiên Giang – đồng đội của thân phụ Thủ tướng – cũng hi sinh trong trận bom ngày 16/4/1969. Quan sát kĩ thêm tôi thấy: Ban chính phía trên nóc có một chùm đèn và dưới là một chiếc sập gỗ cũng quá đơn sơ mộc mạc. Hai bên phía hồi nhà thờ ngay lối cửa ra vào là 2 lọ lục bình lớn nom y hệt bằng đồng nhưng kỳ thực chỉ là 2 bình đất nung, sản vật của Vĩnh Long. Toàn bộ hệ thống cửa chính hoàn toàn là gỗ mộc, đã hư hỏng, xuống cấp. Quan sát hết lượt từ ngoài vào trong, từ trong ra ngoài tôi chẳng thấy có một vật dụng gì được cho là quí giá! Còn ở ngoài khuôn viên phía trước nhà thờ chỉ thấy toàn là cây cau, xoài, mít và vài cây đại nhỏ, không hề có một cây cảnh đắt tiền hay quí hiếm nào cả. Qua kiểm chứng, ngôi nhà thờ này được anh em trong gia đình Thủ tướng xây dựng vào khoảng năm 2000.

Như vậy là đích thân tôi đã “tai nghe, mắt thấy, tay sờ” và hoàn toàn không hề thấy có “lâu đài xa hoa” nào như dư luận loan truyền, đồn thổi! Đến đây thì bạn đọc đã hiểu đầy đủ rằng câu chuyện về “Nhà thờ Họ của Thủ tướng” tất cả chỉ là sự thêu dệt mà thôi! Và từ sự thêu dệt ấy đã được thổi phồng thành sự thật! Sau khi đã tìm hiểu rõ ngọn ngành, tôi thầm nghĩ, sự thật hiển nhiên đến như thế mà được tạo dựng thành chuyện “như có thật” thì có lẽ những thông tin thị phi khác về Thủ tướng và gia đình bấy lâu loan truyền trong công luận chỉ là xuyên tạc! Trong khoảng thời gian ở Kiên Giang tôi cũng đã đến thăm và thắp hương ở Đình thờ vị Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực. Đến đây tôi mới sáng tỏ rằng việc đồn thổi “nhà thờ họ” của Thủ tướng “nguy nga gấp nhiều lần đình thờ vị Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực” sự thật chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng và hư cấu! Tôi được biết, mới rồi nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã vào tận đây và cũng đã phải thốt lên rằng “Hóa ra tất cả chỉ là sự thêu dệt!”.

Sự thật nói lên điều gì?

Sau khi đã thực hiện xong cuộc thị sát tường tận, tôi rời Rạch Giá về Sài Gòn trên một chuyến xe khách tốc hành. Định bụng lên xe là “đánh” một giấc nhưng tiếc thay vớ phải chiếc vé nằm tầng 2, lại ở phía cuối xe nên cứ bị lay lắc như đánh võng. Suốt 6 tiếng đồng hồ trong cuộc hành trình không hề chợp mắt, tâm trí tôi cứ miên man suy nghĩ…

 

Bia thờ liệt sĩ tại khuôn viên nhà thờ

 

 

Trước khi thực hiện cuộc hành trình tìm kiếm sự thật, một anh bạn rất thân đã gay gắt phê phán tôi rằng: “Bao nhiêu việc lớn sao không quan tâm vào cuộc, hà cớ gì mà phải mất thời giờ cho một việc nhỏ nhoi như thế!” Nhưng lương tâm chức nghiệp đã mách bảo tôi rằng: “Việc tuy nhỏ nhưng nếu không minh bạch ắt đủ khiến lòng người ly tán!

Họa lớn âu cũng khởi nguồn từ những đốm lửa nhỏ! Bởi vậy, sự việc dẫu nhỏ hay lớn cũng đều cần tới sự quang minh!” Nói tới chuyện nhà thờ – thờ tự – tức là nói tới việc tâm linh. Phàm đã là việc tâm linh thì không thể nói không thành có hoặc nói có thành không được. Câu chuyện về “nhà thờ họ” của Thủ tướng đang được công luận loan truyền đã thực sự gây hoài nghi, bức xúc trong dư luận, vì thế rất cần được kiểm chứng, phân minh.

Tôi đã được trực tiếp chứng kiến sự thật! Và sự thật ấy đã khiến tôi phải ngỡ ngàng bởi nó hoàn toàn trái ngược với những thông tin được loan truyền trong đời sống dư luận suốt bấy lâu nay. Sự thật ấy đã nói lên điều gì và đã tác động ra sao trong đời sống xã hội? Không còn nghi ngờ gì nữa, xuất phát từ những thông tin xấu độc được bịa đặt, từ đồn đại đã được thêu dệt và thổi phồng tạo thành một “sự thật giả dối”! Trong mỗi chúng ta ai cũng đều nhận diện được chân lý nhưng không phải tất cả đều tỉnh táo. Cái “sự thật giả dối” ấy đã thực sự gây xúc động trong tâm lý xã hội, tạo sự hoài nghi trong công chúng, gieo rắc sự bất an trong đời sống… Hơn thế nữa, cái “sự thật giả dối” ấy đã bóp méo hình ảnh của người đứng đầu Chính phủ, gây nghi kỵ, phân hóa, chia rẽ, mất đoàn kết trong nội bộ Đảng và khiến lòng tin của nhân dân bị hao tổn. Nguy hiểm hơn nữa đó là, từ sự giảm sút niềm tin vào người lãnh đạo đất nước tới việc đánh mất niềm tin vào chế độ, ranh giới chỉ là “trong gang tấc”. Và càng trở nên nguy hiểm bởi trong khi đất nước đang cần trên dưới một lòng thì lại “mắc ngay vào bẫy” của các thế lực thù địch một cách vô cùng ấu trĩ…

Tôi vừa đọc một bài báo mới đây của nhà báo lão thành Hữu Thọ. Ông viết rằng: “Chiến đấu cho thông tin sự thật và nhanh chóng công bố thông tin là cuộc chiến đấu sinh tử trong cuộc cạnh tranh thông tin ngày càng gay gắt hiện nay. Thông tin sai là thua mà thông tin chậm, cũng là thua!”. Và “…Không chỉ nói sự thật mà phải tới sự “chân thật” – tức là sự thật phải được phản ánh “đúng hiện thực khách quan” – chân thật tức là bản chất của sự thật! Ông kết luận: “Thông tin sai sự thật có nhiều loại, có số ít do bịa đặt, thêm bớt là sai phạm nặng nề nhất về mặt đạo đức của người làm báo… Có trường hợp thông tin “sai sự thật” do suy diễn chủ quan dẫn đến sự thật bị thổi phồng, bóp méo cũng không còn là sự thật như nó vốn có, gây hiểu lầm tai hại trong xã hội” (theo Tạp chí Tuyên giáo số tháng 12/2012)…

Trước lúc trở về TP. Hồ Chí Minh tôi đã đến thắp nhang ở nghĩa trang liệt sĩ Kiên Giang. Mộ các liệt sĩ hàng hàng, lớp lớp quần tụ uy nghi. Người quản trang đã đưa tôi đến thắp hương trên mộ phần của thân phụ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Mộ của thân phụ Thủ tướng nằm đây, hết sức khiêm nhường hòa lẫn cùng hàng cùng lối với các liệt sĩ đang an giấc ngàn thu. Người quản trang kể với tôi rằng: Đã không ít lần lãnh đạo các khóa của tỉnh Kiên Giang có nguyện vọng muốn di dời mộ phần của thân phụ Thủ tướng vào khu an táng các quan chức lãnh đạo được qui hoạch ở một khu riêng gần đó, trước hết là để tỏ lòng thành kính; sau nữa là được khang trang hơn. Song cứ mỗi lần nhắc đến, Thủ tướng đều nhất quyết một mực rằng: “Bố tôi sống, chiến đấu cùng đồng đội, nay hãy cứ để yên cho ông được an nghỉ bên đồng đội của ông!”.

Giây phút đứng đây – tại nghĩa trang liệt sĩ này – tôi chợt nhớ tới lời hứa của Thủ tướng trên diễn đàn Quốc hội mới rồi: “… Chính phủ, Thủ tướng và từng thành viên sẽ nghiêm túc với mình, đoàn kết, hết lòng làm việc… tất cả vì Tổ quốc, nhân dân, vì Đảng, chế độ, vì sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước…”. Điều đó đã gieo vào tôi một niềm tin vững chãi, cũng như sự kỳ vọng của các tầng lớp nhân dân rằng: Sứ mệnh của Thủ tướng không có gì cao cả hơn ngoài việc một lòng một dạ phụng sự dân tộc và dốc lòng dốc sức tận tụy vì sự bình an của xã tắc sơn hà – tức chế độ này!

Theo Nhà báo và Công luận
http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/103097/di-tim-su-that-ve-nha-tho-cua-gia-dinh-thu-tuong.html

Nguy cơ xâm lăng văn hoá Hàn Quốc vào Việt Nam

– “Về mặt trình độ nghệ thuật, chúng ta có thể làm được như Hàn Quốc”, cục trưởng cục NT biểu diễn khẳng định trong cuộc phỏng vấn.

Từ trường hợp Thái Lan – Lào

Trong cuộc gặp gỡ với Cục trưởng Cục nghệ thuật biểu diễn Lào – một người đàn ông rất thành thạo tiếng Việt, ông Vương Duy Biên, Cục trưởng Cục nghệ thuật biểu diễn Việt Nam đã chia sẻ những mối lo lắng trước nguy cơ văn hóa bị xâm thực tại Việt Nam cũng như ở Lào hiện nay.

Nếu như Việt Nam đang đối mặt với sự xâm lăng của làn sóng Hallyu trên các phương diện giải trí, nghe nhìn; thì với Lào, là cơn sóng băng đĩa từ nước Thái Lan láng giềng đang tràn ngập.

Kao JiraYu – một ngôi sao thần tượng của Thái Lan hiện nay

Ông Xayxavat Singnamvong đã chia sẻ với giọng nói đầy lo lắng: “Băng đĩa, bài hát, phim ảnh từ Thái Lan đổ sang Lào. Người Lào không hiểu được sự nguy hiểm này, chỉ sửa một chút rồi mang đi bán. Lẽ ra người Thái phải bảo vệ bản quyền của họ, nhưng họ không làm thế, cốt để có thị trường. Họ lôi cuốn chúng tôi làm theo văn hóa của họ. Điều này rất nguy hiểm, chúng tôi không biết làm thế nào.

Vì có đường biên giới dài tiếp giáp (gần 2.000km – PV), nên phong tục tập quán, lời ăn tiếng nói, phía chúng tôi và Thái Lan cũng gần giống nhau. Họ lại được trang bị kĩ thuật và công nghệ mới, nên các phương tiện, hình thức nghe nhìn rất phát triển. Không chỉ ở băng đĩa, họ còn có TV phát liên tục. Có 5-6 kênh Thái Lan trên truyền hình của chúng tôi. 

Văn hóa của họ không chỉ xuất hiện ở quanh biên giới mà giờ đây vào ngay phòng ngủ của chúng tôi rồi. Chúng tôi cũng không biết làm thế nào, mong học hỏi từ các bạn.”

Nhìn từ phía Việt Nam, ông Vương Duy Biên cho biết: “Đường biên giới giữa Lào và Thái Lan rất dài, có ảnh hưởng mạnh đến văn hóa dân tộc, vì vậy việc giữ gìn bản sắc và quản lý biểu diễn rất quan trọng.

Cả Lào và VN đều là những nước nhỏ, chúng ta đều có nguy cơ bị xâm lăng văn hóa, vì vậy phải nương tựa vào nhau. Hiện nay tuy còn có những khó khăn trong công tác quản lý nghệ thuật biểu diễn, nhưng Việt Nam vẫn sẽ giúp đỡ các bạn, dựa trên nguyện vọng của các bạn và những điều chúng tôi có thể đáp ứng. 

Không chỉ về phương diện chuyên môn: xiếc tạp kĩ, múa rối, cải lương, ca múa nhạc… chúng ta còn phải giúp đỡ và hợp tác lẫn nhau trên phương diện quản lý. Sắp tới chúng tôi hoàn thành nghị định về tổ chức biểu diễn, trình Quốc hội thông qua; sau đó sẵn sàng cung cấp để các bạn tham khảo để điều chỉnh phù hợp cho các bạn ”.

Ông cũng nhìn nhận: “Việt Nam là 1 quốc gia mới hội nhập thế giới, nên chúng tôi cũng mới xây một loạt điều luật mới để điều hành đất nước. Để điều hành tốt 1 quốc gia phải từ 600-700 bộ luật. Hiện nay chúng tôi mới chỉ có rất ít, phải cần nhiều thời gian để xây dựng thêm.”

VN học gì từ chính sự xâm lăng văn hóa của Hàn?

Trả lời phỏng vấn của phóng viên VietNamNet về việc Cục đã nhận ra khả năng bị xâm thực văn hóa của nước ta trong bối cảnh hiện tại, ông Vương Duy Biên cho hay: “Đây là tình trạng chung của những nước nhỏ như chúng ta trong bối cảnh hội nhập với thế giới. Việc bảo tồn và giữ được bản sắc văn hóa trở nên rất quan trọng. Giữ được bản sắc văn hóa là giữ được tự cường của dân tộc.

Nhóm Super Junior biểu diễn tại Hà Nội vào tháng 3/2012 – Ảnh: Nguyễn Hoàng

Từ những hoạt động biểu diễn thời gian gần đây, có thể thấy giới trẻ đang thần tượng các ngôi sao giải trí Hàn Quốc cũng như các ngôi sao nước ngoài quá nhiều. Tôi thấy nên cân nhắc thời lượng chiếu phim, ca nhạc của nước ngoài trên truyền hình, đưa thêm phim Việt Nam, các loại hình nghệ thuật của Việt Nam. Giới trẻ trước hết phải trân trọng văn hóa của nước mình, tự hào với truyền thống của nước mình. Hội nhập giao lưu, tiếp nhận, học hỏi văn hóa của nước ngoài là cần thiết; nhưng không có nghĩa là lấy giá trị đó lấp lên văn hóa của mình“.

Làm sao để truyền thống có thể gặp gỡ được giới trẻ là một điều không dễ. Trả lời câu hỏi này, ông chia sẻ: “Tôi cho rằng ý thức và hành động của ta phải hết sức đồng bộ. Trước hết hoạt động biểu diễn phải lành mạnh, trang phục biểu diễn không nhố nhăng, phản cảm. Tác phẩm ca nhạc như thế nào để có nét truyền thống; phim ảnh, nghệ thuật cũng phải làm sao để giới thiệu được đến với lớp trẻ, để chúng yêu thích. Nghệ thuật truyền thống không phải cái nào cũng dễ hấp dẫn, nhưng phải tìm cách làm thế nào để cho lớp trẻ thấy rằng “À, nó cũng hay”.

Đó là trách nhiệm của những người làm nghệ thuật. Họ phải chứng minh cho lớp trẻ thấy là nghệ thuật truyền thống hay, hấp dẫn… Ở đây có 2 mặt: 1 mặt giữ cái nguyên gốc, mặt khác phải đưa nó tiếp cận xã hội, phát triển cùng xã hội. Rối nước, cải lương hay tuồng cách đây 100 năm có thể khác, nhưng để nó sống được và đồng cảm được với xã hội thì phải có những kênh mới tiếp cận với xã hội, tiếp cận giới trẻ. Những nhà nghệ thuật, những đơn vị nghệ thuật phải làm được điều đó”.

 Nhóm hâm mộ trong buổi biểu diễn – Ảnh: Nguyễn Hoàng

“Chúng ta có thể học gì từ chính sự xâm lăng văn hóa Hàn Quốc vào Việt Nam?”, ông Vương Duy Biên cho biết: “Thực ra điều kiện kinh tế của Hàn Quốc hơn ta rất nhiều. Họ có các tập đoàn lớn đứng sau tài trợ cho các hoạt động văn hóa và biểu diễn. Họ đầu tư xuất khẩu văn hóa”. Tuy nhiên ông khẳng định: “Về mặt trình độ nghệ thuật chúng ta có thể làm được như họ“.

Hàn Quốc – Nhật Bản và bài học đắt giá mang tên “lập quốc”

Lùi lại 1 tháng trước, trong một buổi luận đàm mang tên “Văn hóa lập quốc” vào cuối tháng 3 tại Hà Nội, ông Oriza Hirata- một nhà văn hóa, tư tưởng của Nhật Bản đã chia sẻ hết sức chân thành với Việt Nam về cái gọi là “vết xe đổ” của Nhật Bản sau thời kì buộc phải tập trung tái thiết kinh tế bởi các thảm họa thiên tai như động đất, sóng thần … và bỏ quên văn hóa. Ông thừa nhận, Hàn Quốc đã quan sát, rút kinh nghiệm và tránh được sai lầm này từ Nhật Bản.

Ông đưa ra ví dụ về hiệu quả du lịch và sự bền vững trong cộng đồng của 2 thành phố Nhật: Furano và Ashibetsu trong thập niên 90. Từng được đầu tư 10 tỷ yên với định hướng phát triển du lịch và xây dựng các công trình khổng lồ như tượng Phật lớn, khu resort…; nhưng khi bong bóng nền kinh tế vỡ, sự thiếu vắng bản sắc của Ashibetsu cũng chính là nguyên nhân khiến thành phố này không thể thu hút được khách du lịch. Trong khi đó, chỉ từ vài ruộng hoa lavender còn sót lại sau khi từng bị các nhà máy xâm lấn trong những năm 80, thành phố Furano cách đó 24km lại trở thành điểm du lịch sáng giá.

Thành phố Furano nay đã trở thành điểm du lịch nổi tiếng của Nhật Bản

Trong sự chia sẻ ý tưởng với Việt Nam, Oriza đã viện dẫn tư tưởng của những nhà viết kịch trước đó của Nhật Bản, những người đã cho rằng phải giữ vững văn hóa từ làng xã. Mỗi một ngôi làng đều trở thành trung tâm của thế giới thì là một điều tuyệt vời. Người dân không phải hướng về các thủ đô, các thành phố lớn nữa, mà họ có thể có những quảng trường, trung tâm văn hóa của riêng mình.

Cây viết Quốc Đạt đã biên lược lại những ý quan trọng trong buổi tọa đàm của ông Oriza Hirata như sau: “ Các hoạt động văn hóa chỉ phát sinh cái lợi sau 100-200 năm nữa và nó cần được đầu tư vào các hoạt động trong cả chiều sâu và bề rộng.

Các nhà hoạch định phải đối mặt với 2 hướng là phát triển văn hóa truyền thống trong nước như mặt nền cơ bản và bên cạnh đó là phát triển các văn hóa tiên phong để giao lưu với thế giới. Việc cân đối tỉ lệ giữa 2 hướng này là một vấn đề mà mỗi quốc gia luôn phải đối mặt và tìm ra trong các hoàn cảnh cụ thể.

Thành phố Osaka (Nhật Bản)

Nước Nhật chính là một ví dụ điển hình khi chỉ tập trung vào phát triển kinh tế để trở thành một cường quốc kinh tế đứng thứ 3 thế giới, nhưng các hoạt động văn hóa chỉ bằng 1/5 so với Pháp hay các nước châu Âu khác. Hàn Quốc là láng giềng nước Nhật, phát triển sau Nhật 20 năm và họ đã tìm mọi cách để tránh khỏi vết xe đổ này khi tập trung nguồn lực đầu tư vào văn hóa chứ không tập trung duy nhất vào phát triển kinh tế. Việt Nam đang phát triển trong tương lai và cũng đừng nên đi vào vết xe đổ của Nhật“.

 

Và lại một lần nữa, câu chuyện phát triển văn hóa của người Hàn Quốc được quay trở lại, lần này được kể bằng chính quan sát của người trong cuộc. 

“…Cách đây khoảng 20 năm, Hàn Quốc hết sức lo âu trước hình ảnh giới trẻ cuồng theo hip hop của phương Tây. Nam thanh nữ tú đua nhau nhuộm tóc vàng, ăn mặc, đeo trang sức lạ lẫm. Vô số cuộc hội thảo được tổ chức, với những câu hỏi được đặt ra: Phải chăng giới trẻ đang muốn chối bỏ truyền thống? Phải chăng giới trẻ đang muốn rập khuôn theo phương Tây? Liệu lòng yêu nước có bị mai một trong giới trẻ?…

Và rồi mọi người cũng nhận ra rằng giới trẻ chọn thần tượng là những ngôi sao phương Tây, một phần là bởi nội lực của làng giải trí Hàn Quốc còn yếu, không đủ sức hấp dẫn giới trẻ. Từ đó, đã có những chính sách đưa ra khuyến khích thay đổi.

Tôi lấy ví dụ như chuyện âm nhạc Hàn Quốc bây giờ, với những người thuộc thế hệ của tôi hoặc lớn hơn thật sự nghe không quen. Đơn giản vì người ta đã thuê cả các nhạc sĩ phương Tây qua dạy cho giới sáng tác nhạc của Hàn, hoặc khuyến khích giới sáng tác đi học từ nước ngoài nhằm tìm ra một hướng đi mới.

Họ nghiên cứu làm thế nào để âm nhạc vừa không mất đi tính dân tộc, nhưng cũng phải mang tính toàn cầu. Lời nhạc cũng thay đổi như thế. Tôi biết có nhiều nhạc sĩ Hàn Quốc đã thuê người nước ngoài để tư vấn cho các tác phẩm của mình sao cho thanh niên Hàn cũng mê và thanh niên nước ngoài cũng thích! Và không chỉ âm nhạc, các nhà làm phim, người dạy múa, ca sĩ, các công ty liên quan đến biểu diễn… đã nỗ lực rất lớn để thay đổi. Rõ ràng Hallyu không phải ngẫu nhiên mà có, mà đó là kết quả của một sự nỗ lực thay đổi của từ chính phủ cho đến tất cả các thành phần tham gia làng giải trí…”.

Trích bài viết của GS.TS Bae Sang Soo – trưởng khoa tiếng Việt ĐH Ngoại ngữ Busan, Hàn Quốc – trên báo Tuổi trẻ ngày 22/4/2012. 

Hồ Hương Giang

[http://vietnamnet.vn/vn/van-hoa/69592/nguy-co-xam-lang-van-hoa-han-quoc-vao-viet-nam.html]

Đại hội Đảng lần thứ XI tiếp tục khẳng định nguyên tắc Đảng lãnh đạo QĐND Việt Nam tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt. Đây là một vấn đề chiến lược không chỉ có ý nghĩa quyết định đối với sức mạnh chiến đấu của quân đội, mà còn liên quan trực tiếp đến sự an nguy của đất nước, sự sống còn của chế độ XHCN.

Theo dòng lịch sử cho thấy, trong quá trình lãnh đạo công cuộc xây dựng và bảo vệ nước Cộng hòa Xô-viết còn non trẻ, V.I.Lê-nin rất quan tâm xây dựng Hồng quân vững mạnh làm nòng cốt bảo vệ Tổ quốc, trong đó Người đặc biệt chú trọng việc Đảng Cộng sản (ĐCS) nắm vững quyền lãnh đạo đối với quân đội, coi đó là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Nhờ kiên định nguyên tắc đó, Hồng quân và nước Cộng hòa Xô-viết đã vượt qua những thử thách nghiệt ngã của thời kỳ nội chiến chống các thế lực phản cách mạng cùng sự can thiệp của 14 nước đế quốc, tiếp tục vượt qua những gian khổ hy sinh to lớn trong Đại chiến Thế giới lần thứ II, làm nên những chiến thắng vĩ đại, khẳng định sức mạnh vô địch của quân đội kiểu mới và sức sống mãnh liệt của Tổ quốc XHCN, tác động to lớn đến sự phát triển của phong trào cách mạng trên thế giới…. Vào những năm 1986-1991 M.Goóc-ba-chốp làm Tổng bí thư ĐCS Liên Xô, những người lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô đã xa rời các nguyên tắc xây dựng quân đội kiểu mới, mắc sai lầm rất nghiêm trọng về chiến lược, nhất là xóa bỏ cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, thực hiện chủ trương “Quốc gia hóa quân đội”, làm cho quân đội bị “Phi chính trị hóa” và bị vô hiệu hóa. Đó là một nguyên nhân rất quan trọng dẫn tới sự sụp đổ và tan rã của Liên bang Cộng hòa XHCN Xô-viết vào cuối năm 1991. Dù lúc đó Quân đội Liên Xô có 3,9 triệu quân thường trực, trang bị rất hiện đại, vượt xa các nước về lực lượng chiến đấu thông thường và lực lượng hạt nhân chiến lược, nhưng bị tha hóa về chính trị nên mất sức chiến đấu, không thể bảo vệ được Tổ quốc XHCN… Thực tế ở Liên Xô để lại nhiều bài học.

 

Kiên định nguyên tắc Đảng lãnh đạo quân đội. Ảnh: Internet

Trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch tăng cường những âm mưu, thủ đoạn nhằm “phi chính trị hóa” quân đội, tập trung bài xích cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, kích động khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò của chỉ huy, hạ thấp vai trò của hệ thống tổ chức đảng, hệ thống chính ủy (chính trị viên), cơ quan chính trị và chế độ công tác Đảng, công tác chính trị (CTĐ, CTCT) trong quân đội. Chúng ra sức truyền bá quan điểm và thúc đẩy xu hướng đòi “Quốc gia hóa quân đội”, yêu cầu “Luật hóa mọi vấn đề về tổ chức và hoạt động của quân đội” theo kịch bản “Cách mạng pháp luật” của phương Tây tư bản chủ nghĩa. Một số cán bộ, đảng viên và nhân dân ta cũng ngộ nhận đối với quan điểm này, có lập luận cho rằng, trong kháng chiến chống Pháp quân đội ta đã từng là “Quân đội quốc gia”.

Đúng là khi Đảng ta rút vào hoạt động bí mật (11-1945/2-1951), trong tình thế hiểm nghèo phải thực hiện sách lược nhân nhượng để thêm bạn bớt thù, bộ máy Nhà nước có người của lực lượng Việt quốc, Việt cách và người không đảng phái, quân đội ta có lúc mang tên Quân đội quốc gia Việt Nam (1946-1950), nhưng Đảng ta vẫn giữ vững sự lãnh đạo đối với quân đội. Tháng 1-1946, Ban Chấp hành Trung ương (BCHTW) Đảng quyết định thành lập Trung ương Quân ủy nhằm tăng cường sự lãnh đạo đối với quân đội và cuộc kháng chiến. Tháng 5-1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký một số sắc lệnh quan trọng như Sắc lệnh số 71/SL, Sắc lệnh số 47/SL, Sắc lệnh số 60/SL. Theo các sắc lệnh đó, đồng chí Võ Nguyên Giáp (khi ấy là Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, Bí thư Trung ương Quân ủy) được giao trọng trách là Tổng chỉ huy quân đội và dân quân toàn quốc, Chủ tịch Quân sự ủy viên hội là cơ quan quân sự tối cao có nhiệm vụ điều khiển quân đội toàn quốc; trong quân đội từ cấp trung đội đến cấp trung đoàn có Chính trị viên, cấp chiến khu có Chính trị ủy viên do Chủ tịch nước ký quyết định bổ nhiệm. Điều này thể hiện sâu sắc bản lĩnh, trí tuệ của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa kiên định nguyên tắc chiến lược, vừa mềm dẻo về sách lược để lãnh đạo dân tộc vượt qua hiểm nguy, giành thắng lợi vẻ vang.

Trong bối cảnh đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc diễn ra rất gay go và phức tạp, thực chất của quan điểm “Quốc gia hóa quân đội” là nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, làm cho quân đội mất định hướng chính trị, hiệu lực lãnh đạo, chỉ huy bị suy yếu, bị tha hóa biến chất và không đủ sức bảo vệ Tổ quốc XHCN; đồng thời làm cho Đảng không nắm được quân đội, dẫn đến mất vai trò đảng cầm quyền, đưa đất nước lâm vào tình trạng mất ổn định và nguy cơ suy thoái… Với lẽ đó, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội không chỉ có ý nghĩa chiến lược, mà còn mang tính cấp thiết.

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong thời kỳ mới, trước hết cần tập trung cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nghiêm túc cơ chế, hệ thống định chế và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Cần nhận thức sâu sắc hơn về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của quân đội trong thời kỳ mới; kiên quyết khắc phục nếp nghĩ “nuôi quân ba năm dùng một giờ”, coi việc xây dựng quân đội chỉ để dùng trong chiến tranh và lo đối phó với chiến tranh. Tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc XHCN đòi hỏi phải sử dụng hợp lý và phát huy tối ưu vai trò của quân đội trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” và “cách mạng màu” của các thế lực thù địch, trong xử trí các tình huống an ninh phi truyền thống và các hoạt động quân sự phi chiến tranh, trong thực hiện các nhiệm vụ của đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất, sẵn sàng đối phó thắng lợi với mọi tình huống phức tạp có thể xảy ra, bảo đảm cho đất nước luôn chủ động về chiến lược. Để thực hiện điều này cần có những quy định thật rõ ràng, cụ thể về trách nhiệm và thẩm quyền của BCHTW, Bộ Chính trị (BCT), Ban Bí thư (BBT) và Quân ủy Trung ương (QUTƯ), của Tổng bí thư đồng thời là Bí thư QUTƯ, của Chủ tịch nước đồng thời là Thống lĩnh các LLVT đối với các vấn đề tổ chức và hoạt động của quân đội.

Cần thấy rõ sự thống nhất nhưng không đồng nhất trong cơ chế lãnh đạo, điều hành của Đảng và Nhà nước đối với QĐND Việt Nam và Bộ Quốc phòng, trong đó đáng chú ý là cơ chế lãnh đạo, điều hành đối với Bộ Tổng tham mưu và Tổng cục Chính trị khác với các cơ quan Bộ Quốc phòng. Cần có những định chế cụ thể để BCT, BBT, QUTƯ và Tổng bí thư trực tiếp, thường xuyên chỉ đạo, điều hành đối với tổ chức và hoạt động của hai cơ quan này như đối với các ban của Đảng ở Trung ương, bảo đảm cho Đảng luôn nắm vững quyền lãnh đạo đối với quân đội và kiểm soát toàn diện đối với chỉ huy quân đội.

Mặt khác cần phát triển và vận hành thống nhất, đồng bộ, có hiệu quả các yếu tố hợp thành cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Đảng thực hiện sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội thông qua hệ thống tổ chức đảng, hệ thống chỉ huy, hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp và các tổ chức quần chúng ở cơ sở. Do đó, cần tăng cường bồi dưỡng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, chú trọng cấp ủy đảng ở cơ sở và cơ quan tham mưu chiến dịch – chiến lược; tập trung nâng cao năng lực quán triệt, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nghị quyết, chất lượng sinh hoạt của cấp ủy, chi bộ. Cùng với đẩy mạnh Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” có chiều sâu và độ bền vững, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng, nhất là việc chấp hành nghị quyết và Điều lệ Đảng, chấp hành các nguyên tắc tổ chức và hoạt động, chế độ công tác, quy chế và quy trình làm việc trên các lĩnh vực hệ trọng, nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực. Xử lý nghiêm túc những trường hợp vi phạm nguyên tắc, mất đoàn kết nội bộ, kém tính đảng, thiếu trách nhiệm trong công tác.

Một trong những đặc trưng bản chất đồng thời là yếu tố vượt trội của quân đội ta là sự thống nhất, đồng bộ cơ chế lãnh đạo, chỉ huy, trong đó tổ chức và hoạt động chỉ huy phục tùng tổ chức và hoạt động lãnh đạo, đồng thời hiệu lực lãnh đạo thể hiện tập trung rõ nét trong phát huy có hiệu quả tính chủ động, sáng tạo của tổ chức chỉ huy. Do đó, cần chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ chỉ huy và cơ quan chỉ huy tham mưu có tính đảng cao và bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực trí tuệ và trình độ tổ chức hoạt động thực tiễn tốt, nắm vững và thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc, nội dung, quy trình và chế độ công tác chỉ huy tham mưu đồng thời am hiểu CTĐ, CTCT trong quân đội, có phương pháp, tác phong làm việc khoa học đáp ứng chức trách, nhiệm vụ được giao, thực sự là những “chỉ huy đỏ” gương mẫu, trung thành và tin cậy của Đảng.

Trong cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, hệ thống cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị là lực lượng nòng cốt tiến hành CTĐ, CTCT nhằm giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị. Do đó, cần coi trọng kiện toàn và bồi dưỡng, nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị, nhất là những chính ủy, chính trị viên trong quân đội thật sự tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, năng lực trí tuệ, tính tiền phong gương mẫu, năng lực tư duy lý luận và trình độ tổ chức hoạt động thực tiễn, nắm vững và thực hiện tốt các nguyên tắc, nội dung, chế độ công tác và quy trình, phương pháp tiến hành CTĐ, CTCT, đồng thời am hiểu khoa học nghệ thuật quân sự và nghệ thuật tổ chức chỉ huy theo chức trách, nhiệm vụ được giao, thực sự là người đại diện mang tinh thần và kỷ luật của Đảng vào trong tổ chức và hoạt động của quân đội…

Đồng thời phải xây dựng và thực hiện có hiệu quả chiến lược cán bộ đúng đắn trong quá trình chuyển tiếp các thế hệ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy của quân đội, nhất là cấp chiến dịch – chiến lược. Những năm gần đây, hầu hết tướng lĩnh, sĩ quan dạn dày trận mạc, được tôi luyện và kiểm nghiệm nghiêm ngặt cả về bản lĩnh và trí tuệ, đạo đức và lối sống, phong cách lãnh đạo, chỉ huy và năng lực tổ chức thực tiễn trong những năm chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh từng bước chuyển giao trọng trách cho lớp cán bộ lớn lên trong thời bình, được đào tạo cơ bản nhưng còn ít trải nghiệm thực tiễn, nhất là trong xử trí các tình huống chính trị – quân sự phức tạp. Trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch tăng cường “can dự” sâu hơn vào quá trình chuyển tiếp các thế hệ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy của quân đội ta, ra sức mua chuộc, lôi kéo những cán bộ có biểu hiện tha hóa về đạo đức và lối sống để thúc đẩy “tự chuyển hóa” về chính trị, nhằm tạo ra lớp cán bộ “đỏ vỏ, xanh lòng” làm nhân cốt thực hiện “phi chính trị hóa quân đội”. Do đó, để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, vấn đề then chốt có ý nghĩa quyết định là xây dựng, thực hiện tốt chiến lược cán bộ lãnh đạo, chỉ huy của quân đội, nhất là cán bộ cấp chiến dịch – chiến lược.

Cần quán triệt sâu sắc, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nghiêm túc nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ. Tập thể cấp ủy đảng trực tiếp quyết định mọi vấn đề về cán bộ theo phân cấp quản lý, tránh tình trạng người đứng đầu độc đoán, gia trưởng áp đặt theo ý chí cá nhân, nhất là khi người đứng đầu nắm giữ các cương vị chủ chốt cả về đảng và chính quyền. Kiên quyết không để các “tập đoàn lợi ích đặc biệt” thông qua vận động hành lang để can dự, thậm chí thao túng các vấn đề nhân sự cán bộ. Đồng thời phải thực sự phát huy dân chủ trong công tác cán bộ. Cần bổ sung, hoàn thiện và tổ chức thực hiện nghiêm túc cơ chế, quy chế, quy trình và chế độ công tác cán bộ nhằm phát huy trách nhiệm, trí tuệ của cấp ủy đảng, của chính ủy (chính trị viên) và người chỉ huy, cơ quan chính trị và các tổ chức quần chúng trong công tác cán bộ.

Cùng với đó, không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả CTĐ, CTCT trong quân đội. Đây là hoạt động nhằm trực tiếp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị. Cần quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, bám sát thực tiễn, hướng mạnh về cơ sở, tập trung bồi dưỡng nâng cao chất lượng chính trị – tư tưởng của quân đội, làm cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, nhận thức đúng về đối tượng và đối tác, về hợp tác và đấu tranh, kiên định nền tảng tư tưởng, đường lối quan điểm và nguyên tắc của Đảng, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước XHCN và nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Xây dựng các tổ chức đảng trong quân đội thực sự trong sạch vững mạnh, có năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu cao, là hạt nhân lãnh đạo hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội có số lượng và cơ cấu hợp lý, đồng bộ và chất lượng cao, làm nòng cốt trong tổ chức thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ và xây dựng đơn vị. Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác bảo vệ chính trị nội bộ, phòng giam giữ bí mật, xây dựng đơn vị an toàn gắn với địa bàn an toàn, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn xâm nhập, cài cắm, móc nối để phá hoại của các thế lực thù địch. Làm tốt công tác dân vận, tăng cường đoàn kết quân dân, tích cực góp phần xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở và giữ vững ổn định chính trị của đất nước, đồng thời xây dựng vững chắc nền tảng chính trị – xã hội của quân đội. Giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ, tạo chuyển biến mạnh mẽ, có chiều sâu và độ vững chắc về đoàn kết, dân chủ và kỷ luật trong quân đội.

Thực hiện nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội là vấn đề chiến lược có tính khoa học cao, chúng ta cần tích cực tổng kết thực tiễn kết hợp với nghiên cứu lý luận để nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về vấn đề này, không ngừng bổ sung, hoàn thiện và nâng cao hiệu lực cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong thời kỳ mới./.

Trung tướng PGS, TS Nguyễn Tiến Bình

Quân đội Nhân dân

VÀI CHUYỆN NÓI CHƠI VỚI ĐÁM CCCĐ

1/ Các ông nói Việt Nam ngu dốt và đói nghèo?

Phải rồi, một dân tộc bỊ ngàn năm đô hộ. Một dân tộc hơn 100 năm bị thực dân bóc lột tận xương tủy. Một dân tộc 30 năm phải gồng lưng đánh giặc đế quốc hùng mạnh nhất thế giới và đám tay sai bán nước bẩn thiểu để nhận viện trợ. Đã vậy, còn thêm 20 năm bị cấm vận thì sức lực đâu, của cải đâu mà không nghèo. Thời gian đâu mà học để nâng cao dân trí. Chiến tranh đi qua, bọn giặc cướp nước và đám tay sai để lại những gì? Một đất nước tàn phá tan nát, đến nhà thờ, chùa chiền chúng cũng không tha. Một đất nước còn sót lại hơn 800.000 tấn bom mìn nằm rãi rác. Một đất nước còn hàng triệu lít chất độc da cam. Một đất nước bị kẻ thua trận tức tối bày trò cấm vận và đám tay tru tréo tẩy chay. Thử hỏi như vậy làm sao không đói nghèo, lạc hậu. Một đất nước vừa hòa bình lại phải đánh Nam, dẹp Bắc với bọn diệt chủng, bành trướng. Trong cảnh như vậy, mà đất nước đó còn phải dẹp bọn con rơi của chủ nghĩa thực dân đế quốc rơi rớt lại ở Tây Nguyên, đất nước đó phải dẹp đám chống phá tay sai với các chiến dịch Đông Tiến của đám mất trí.

Như vậy, Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu là chuyện hiển nhiên. Nhưng Đất nước đó vẫn tồn tại và phát triển, dẹp được tất cả các môi nguy để trở thành đất nước thanh bình hàng đầu thế giới. Cấm vận hoài mà nó từ đói đến xuất khẩu được gạo tuy không nhiều. Đến khi mở cấm vận thì xuất khẩu gạo vọt lên hàng thứ 2 thế giới và các nông sản khác thì hàng đầu thế giới. Chưa hết, trong thời gian như vậy mà có biết bao nhân tài xuất hiện như Đặng Thái Sơn, Ngô Bảo Châu, Hoàng Tụy… được thế giới biết đến.

Các ông thì sao? Làm tay sai bán nước để ăn cơm ăn. Khi thất trận nó bắt làm cu li thì giả điên, giả bệnh để kiếm tiền chứ biết làm cóc khô gì đâu. Có ăn có học như các ông mà nói năng tục tiểu, bậy bạ thiếu văn hóa còn hơn mấy nhóc chăn bò xóm tôi nữa mà. Đã vậy còn suốt ngày chê bai lớn lối. thật lố bịch.

2/ Các ông nói các ông có chính nghĩa?

Trong chiến tranh, người dân ủng hộ các ông và đế quốc hay công sản? Cái này chắc các ông biết quá mà. Vậy nên các ông mới dồn dân, lập ấp để người dân không ủng hộ kháng chiến. Nhưng chính nghĩa vẫn là chính nghĩa, người dân vẫn theo dù đang đói nghèo. Họ ít học nhưng họ biết lẽ phải để họ theo. Có biết bao nhiêu cuộc biểu tình chống đế quốc và bè lũ tay sai, chắc các ông không đếm nỗi. Chưa hết, hầu hết các nước cũng biểu tình chống các ông và đế quốc xâm lăng, trong đó có cả nước bu của ông nữa đấy. Sau chiến tranh, gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ đã công nhận vào quan hệ với Việt Nam, trong đó có cả Bu các ông đây. Bu các ông còn đề nghị nâng tầm quan hệ lên thành đối tác chiến lược nữa cơ. vậy ai có chính nghĩa? Các ông nói các ông có tri thức mà sao các ông không nhận thấy những chuyện rành rành ra đó. Hay là các ông nói CS đã tuyên truyền cho cả thế giới hết rồi?

3/ Các ông nói các ông lãnh đạo 90 triệu dân trong nước lật đổ CS?

Ở chổ tôi, sáng sáng các anh chăn vịt cùng lùa ra cho vịt chạy đồng, chiều chiều lùa về, vịt ai về quây nấy. Sáng sáng các cháu chăn bò cùng lùa bò lên rẩy, chiều chiều lùa về bò ai về chuồng nấy. Đến mùa, các bác nông dân đi cấy, làm cỏ, gặt lúa vần công cho nhau. Tôi thấy họ học ít mà đoàn kết, sẽ chia, đằm thắm biết bao. Còn các ông bên đó, có biết bao là hội đoàn, suốt ngày chưởi rủa, bêu xấu, tố cáo lẫn nhau. Ông này chụp mũ ông kia, cuối cùng cả đám các ông trở thành cộng sản kiểu hải ngoại hết. Chỉ có bấy nhiêu người mà không tập hợp được với nhau mà đòi về lãnh đạo 90 triệu dân trong nước. Xin lỗi các ông, các ông về chăn bò chung với đám con nít xóm tôi nó còn không cho, sợ các ông lùa bò của nó nữa chứ ở đấy mà lãnh đạo, về đây lãnh đạn thì có.

4/ Các ông nói CS tàn ác?

Các ông biết rỏ là Thím của mấy ông nó bóc lột dân tộc này đến tận cùng xương tủy. Mấy triệu người chết trước mắt các ông đó thôi. Chắc gia đình các ông được thím cho bú nên làm địa chủ, khi CS họ đứng lên, lấy hết tài sản và giết luôn đám địa chủ bán nước hại dân để chia cho dân nghèo giờ tiếc của nên rối loạn tâm thần chứ gì? Các ông nhìn trên bản đồ của các ông thời đó mà xem? Có phải nhà tù nhiều hơn trường học không vậy? biết bao nhiêu cuộc thảm sát của Thím, Bu và các chư hầu đã và đang tiếp tục được giải mã các ông có xem hay không? Các ông có biết luật 10/59 không? “Theo luật 10-59, tội xử chỉ có hai mức: tử hình và khổ sai chung thân. Xét xử chỉ được phép kéo dài tối đa 3 ngày, không có giảm khinh, không có kháng cáo, bản án thi hành ngay”, ai tàn ác vậy? chiến tranh xong, CS không giết các ông là may, họ giam giử các ông để rảnh tay đối phó với diệt chủng polpot, bành trướng bắc kinh, tàn quân Fulro và đám lưu vong chạy thoát về quấy rối nữa. Trong thế thù trong giặt ngoài như vậy, thả các ông ra có mà mang họa à? Thế mà các ông thù hằn gần 40 năm vẫn chưa nuốt trôi. Vậy những người bị các ông nhốt, tra tấn tù đày ở Côn Đảo, Phú Quốc, và hàng trăm nhà tù trong đất liền họ có nuốt trôi không? Họ không giết các ông là may đấy vì họ đâu có ấu trĩ như các ông. Họ muốn hòa giải, hòa hợp từ khi bắt được các ông kìa. Chứ mà trả thù thì tiêu đời các ông rồi.

Hàng triệu lít chất độc gia cam đổ lên đất nước này có phải là tàn ác? Bộ đội, người dân và con cái của họ cũng như con cái của những người lính VNCH phục vụ cho việc rãi này bị đau đớn, biến dạng dị tật là do ai? Tôi nói cho các ông biết rằng trong 2 triệu nạn nhân chính thức bị chất độc gia cam tại Việt Nam có rất nhiều người là con cháu của người lính VNCH chứ không chỉ là bộ độ và người dân không đâu. Chính lính Mỹ và đám chư Hầu còn bị thì nó tha gì đồng đội các ông. Có tàn ác không? Các ông biết rằng 2 triệu nạn nhân có biểu hiện từ nhỏ. Còn có hàng triệu nạn nhân khác bị chết, ung thư mà không rỏ nguyên do cũng xuất phát từ cái thứ tàn độc ấy đấy. Vậy có tàn ác không? Ai tàn ác vậy?

5/ Ai bán đất bán biển?

Hoàng Sa ai làm mất? Đảo Ba Bình tại sao mất?

Ai tuyên bố thà dâng đất cho Vatican chứ không để rơi vào tay công sản?

Ai tuyên bố biên giới của Mỹ kéo dài đến vỹ tuyến 17?

Vì đồng đô la viện trợ mà các ông để chuyện đó xảy ra, bây giờ ra rả CS bán đất bán biển. Đúng là “ngu lâu, dốt bền, khó đào tạo”

Tôi chỉ là nông dân nghèo, được nhà nước kéo dây internet về làng, chúng tôi vào đó để học hỏi kỹ thuật nuôi trồng. Gặp mấy ông trên này nói nhảm dữ quá, cầm lòng không đặng, có vài điều để các ông nghe chơi. Hiểu hay không thì mặc các ông. Nhưng các ông đừng bố láo nhân danh 90 triệu dân chúng tôi nhé. Bây giờ ra thăm ruộng, không nói thêm được. Mà với mây ông thì nói biết bao cho đủ, vì câu nào mấy ông nói ra cũng vô lý hết trơn. Để mấy anh em trong diễn đàn này họ có trình độ, có hiểu biết dạy các ông sẽ hay hơn.

Nhớ nhé, ĐỪNG BỐ LÁO NHÂN DANH 90 TRIỆU DÂN CHÚNG TÔI NHÉ, HÃY LO MẤY CÁI HỘI TÀO LAO CỦA MẤY ÔNG ÊM ẤM ĐI

HAI LÚA NƯỚC VIỆT.

[Nguồn: kbchn.net]

Tôn giáo nào không làm bạn trở nên mù quáng?

Theo tôn giáo một cách mù quáng không có chút hiểu biết nào cả sẽ tước đọat giá trị tâm linh của tôn giáo và phẩm giá của mình.

Nhiều người trên thế giới này đi theo tôn giáo, và tôn giáo đó phù hợp với tâm trí của họ. Một người phạm các giới điều của tôn giáo sẽ trở thành người nguy hiểm cho xã hội. Điều không có nghi ngờ rằng các nhà khoa học, tâm lý có thể mở rộng phạm vi trí thức, nhưng họ không thể nói với chúng ta mục đích cuộc sống, những điều mà một tôn giáo đúng đắn có thể nói được.

Con người chọn một tôn giáo có ý nghĩa và dựa trên lý trí tùy theo niềm tin của người đó chứ không chỉ đơn thuần dựa vào đức tin truyền thống tập quán và giáo điều. Không ai có quyền buộc tội một người phải chấp nhận đi theo một tôn giáo, không ai được lợi dụng sự nghèo khổ, nạn thất học, hoặc kêu gọi lòng xúc cảm để khiến người vào đạo. Tôn giáo phải được tự do lựa chọn.

Người ta nên được tự do để lựa chọn tôn giáo của riêng mình tùy theo sở thích và khả năng hiểu biết. Theo tôn giáo một cách mù quáng không có chút hiểu biết nào cả sẽ tước đọat giá trị tâm linh của tôn giáo và phẩm giá của mình. Nhân loại có khả năng hiểu biết và ý thức sẳn có để có thể phân biệt những gì là đúng và những gì là sai. Họ có thể thích nghi với hòan cảnh, do đó nên chọn một tôn giáo mà thích hợp với họ và phù hợp với hiểu biết nhân sinh của họ. Họ phải được hướng dẫn một cách đúng đắn và cho họ một cơ hội để quyết định tùy thích mà không có sự ép buộc nào cả.

1. Con đường trung đạo

Tôn giáo được giới thiệu ở đây là một hệ thống giáo dục thực tiển cho việc tu dưỡng tâm trí mà việc tu dưỡng đó được phát hiện trên thế giới cách đây 25 thế kỷ bởi một bậc đạo sư đầy lòng từ bi và trí tuệ. Tôn giáo này được biết là “Trung đạo, một cách sống chân chánh, một hệ thống triết học đạo đức, một tôn giáo của tự do và lý trí”. Tôn giáo này dạy chúng ta thực hành 3 điều chính, đó là: tránh làm các điều ác, vâng giữ các điều lành,và giữ tâm ý thanh tịnh.

Thông điệp này rất giản dị, đầy ý nghĩa và thực tiển, nhưng người ta gặp phải những khó khăn khi họ bắt tay vào tu tập do tính chất non kém vốn có của con người. Đức hạnh của con người đóng vai trò quan trọng trong tôn giáo này. Có lần Đức Thế tôn nói rằng: “giáo pháp của ta không phải đến để tin, mà đến để thấy và tu tập “. Điều này khuyến khích chúng ta nghiên cứu giáo lý của Đức Phật một cách đầy đủ và do đó cho phép chúng ta dùng trí phán xét của chính mình để quyết định về việc liệu chúng ta có nên chấp nhận giáo pháp này hay không. Không ai được yêu cầu đến và chấp nhận đi theo tôn giáo này mà chưa có chút hiểu biết nào về giáo lý của nó. Nghi lễ và cầu nguyện rườm rà sẽ không có giá trị hay ý nghĩa tôn giáo đích thực. Không có đức tin và tu tập mù quáng hoặc các giáo lý bí truyền trong phật giáo. Tất cả mọi thứ đều được mở ra cho sự lựa chọn của những người đi theo mà họ được quyền tự do xem xét các giáo lý và đặt vấn đề bất cứ lúc nào họ muốn làm sáng tỏ nghi ngờ của mình. Theo Đức Phật , một người không nên tin bất cứ điều gì chỉ vì do bậc thánh nói ra hoặc chỉ vì nó được chấp nhận bởi truyền thống, hoặc được chấp nhận bởi nhiều người, nhưng một người nên vận dụng ý thức và trí tuệ của mình cũng như chấp nhận nó chỉ khi nào nó có giá trị trong khi thực hiện điều đó.

Đức Phật dạy về con đường tám ngành bao gồm: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm va chánh định. Con đường trung đao độc nhất vô nhị này dẫn chúng ta đến cuộc sống thánh thiện và an lạc.

Trung đạo không phải là con đường siêu hình hoặc lễ nghi, cũng không phải là chủ nghĩa giáo điều hoặc chủ nghĩa hoài nghi, cũng không phải là tham đắm dục lạc hoặc ép xác khổ hạnh, cũng không phải là thuyết trường tồn hoặc thuyết đọan diệt, cũng không phải là chủ nghĩa bi quan hoặc lạc quan mà là con đường gíac ngộ, một phương pháp giải thóat khỏi khổ đau. Tôn giáo này không đồng ý rằng nhân loại đau khổ ngày nay bởi vì những tội lỗi do tổ tiên của con người đã gây ra. Trái lại, mỗi con người tự chiêu cảm cho chính mình phước đức hoặc tội lỗi. Chính con người có trách nhiệm đối với khổ đau hoặc hạnh phúc của chính mình. Một người đi theo con đường trung đạo sẽ tìm ra an lạc và hạnh phúc đích thực và có thể dẫn đến một đời sống cao quý mà không làm nô lệ cho các căn của chính mình, vì sự đóng góp cho hòa bình, hòa hợp của thế giới .

2. Gieo gì gặp nấy

Tôn giáo này đáp ứng cho những khát vọng cao quý và sâu sắc nhất của con người và có thể xoa dịu những căng thẳng trong đời sống hàng ngày và trong giao tiếp với những người khác; ngoài ra, phật giáo còn gợi ra một cuộc sống có ý nghĩa.Nó không đem đến sợ hãi trong lòng người. “Ở hiền gặp lành” , ” Gieo gió gặt bão”. Đó là những quy luật phổ quát. Tôn giáo này hòan tòan đồng ý với quy luật này, từ đó người ta phải “gặt hái những gì người ta gieo trồng “. A飠nghiệp mà con người gây ra là do bởi tham, sân, si của họ. Khuyết điểm này chỉ có thể vượt qua bằng chính sự chứng ngộ của mình. Hạnh phúc và khổ đau mà con người thụ hưởng trên thế gian này không phải do các tác động bên ngòai mà do chính những hành động thân khẩu ý thiện hay ác mà họ đã tạo ra. Vì lý do này, phật giáo nói rằng : “Hiện tại là kết quả của quá khứ và tương lai là kết quả của hiện tại “.

Theo lời dạy này, nguyên nhân và kết quả đóng vai trò quan trọng trong đời sống chúng ta. Trong vòng nhân quả, nguyên nhân đầu tiên thì không thể thấy vì nguyên nhân đó đã trở thành kết quả và kết quả này lần lượt trở thành nguyên nhân.

3. Bậc đại đạo sư

Người sáng lập tôn giáo này không phải là một nhân vật thần thoại mà là một bậc đại đạo sư thật sự đã sống trong cuộc đời này. Ngài chưa từng coi mình như một bậc siêu nhân mà coi mình như là một con người gíac ngộ chân lý tối thượng, đó là biết được bí mật cuộc đời, nguyên nhân đích thực của khổ đau và hạnh phúc. Ngày nay, bậc đạo sư này không chỉ được kính ngưỡng bởi hàng trăm triệu tín đồ của Ngài mà còn bởi giới trí thức và có văn hóa trên khắp thế giới. Bậc thánh thiện, bậc giải thóat, bậc cải cách xã hội, bậc có tư tưởng dân chủ, và bậc nâng cao đời sống con người, đã nhập diệt ở tuổi 80 để lại đằng sau một đạo lý cao thượng cho nhân loại tu tập như là một phương tiện cho việc giải thóat khỏi đau khổ, sợ hãi và lo âu của con người. Đạo lý này cũng có thể giúp con người đạt được hạnh phúc trong cuộc đời tại thế gian này và cuộc đời mai sau và đưa đến giải thóat hòan tòan mọi khổ đau của nhân loại.

Bậc đạo sư này đã an ủi gia quyến của những người quá cố và đã giúp những người nghèo bị bỏ quên bên lề xã hội, làm thanh cao những cuộc đời bị lừa gạt, làm trong sáng những người lầm lạc tội lỗi. Người khuyến khích những người yếu đuối, đòan kết những người bị chia rẽ, gíac ngộ những người vô minh, sáng tỏ những người thần bí, nâng cao những người thấp hèn, và tán dương những người cao thượng. Cả giàu lẫn nghèo, thánh nhân hoặc người phạm tội đều kính mến Ngài như nhau. Các vua anh minh hoặc hôn quân, các công tôn vương tử nổi danh hoặc vô danh, những trưởng giả hào phóng hoặc keo kiệt,các học giả kiêu căng hoặc khiêm tốn, người nghèo túng thiếu thốn, người bị áp bức, người làm công việc hạ tiện, kẻ giết người độc ác, gái điếm bị khinh rẽ…Tất cả nghe lời dạy trí tuệ và từ bi của Đức Phật đều được lợi ích và sống đời sống an lạc thánh thiện.

Tấm gương cao quý của Ngài là một nguồn truyền cảm cho tất cả . Vẻ mặt đầy đặn và sáng rỡ của Ngài thật sự tạo những cảm giác êm dịu trong ánh mắt của những người sầu muộn. Thông điệp an lạc và độ lượng của ngài được chào đón với tràn đầy hỉ lạc và làm lợi ích bất tận cho tất cả mọi người có cơ duyên được nghe và thực tập. Ý chí sắt đá của Ngài, trí tuệ thậm thâm, lòng từ bi bao la vô bờ bến, vị tha, cuộc xuất thế có tính chất lịch sử, sự thanh tịnh hòan tòan, nhân cách vĩ đại, những phương pháp mẫu mực của Ngài đều được vận dụng để tuyên bày giáo pháp của Ngài – tất cả những yếu tố này truyền cảm cho khỏang 1/5 dân số thế giới ngày nay đã hoan nghênh và tôn thờ Ngài như một bậc vô thượng sư.

Bậc đạo sư cao thượng này đã hy sinh các dục lạc trần gian vì lợi ích của nhân lọai khổ đau mà tìm cầu chân lý để chỉ dạy con đường giải thóat khỏi khổ đau. Ngài thăm viếng những người nghèo trong khi các vua chúa đều viếng thăm Ngài. 45 năm sau khi thành đạo, Ngài đã cống hiến đời mình cho sự gíac ngộ chúng sanh lầm đường lạc lối.

Bậc đạo sư này không làm ai sợ hãi và cũng không bị sợ hãi bởi bất cứ ai. Đây là một trong những nguyên lý mà cần nên được trau giồi trong thế giới do chiến tranh tàn phá- nơi mà những điều quý giá nhất là mạng sống thì bị cúng tế ở bàn thờ bạo lực hung ác và là nơi mà các lọai vũ khí đang gây ra sự sợ hãi, căng thẳng và hận thù.

Ngài là một nhà khoa học hoàn hảo trong lãnh vực của đời sống. Ngài là một nhà tâm lý học tòan thiện, người có thể phân tích bản chất đích thực của tâm – lời dạy của Ngài được hoan nghênh được tán dương như là một tôn giáo khoa học duy nhất. Đối với các đại triết gia và những nhà tư tưởng không thành kiến, Ngài là một bậc thầy đã thấu hiểu các pháp hữu vi trong bối cảnh thích ứng của nó. Đối với những nhà đạo đức, Ngài có quy tắc giới luật cao nhất và biểu tượng cho sự hòan thiện nhất. Ngài là một gương mẫu hòan hảo của tất cả giới đức mà Ngài tuyên thuyết. Đối với các nhà duy lý, Ngài là một bậc đạo sư có tâm hồn rộng rãi nhất, đã nhận thức đúng các vấn đề tranh cải của con người. Đối với những nhà tư tưởng tự do, Ngài là một bậc đạo sư luôn khuyến khích mọi người tư duy tự do mà không có dựa vào các giáo điều tôn giáo. Đối với những nhà theo thuyết bất khả tri, Ngài là một con người đầy trí tuệ hiểu biết và từ bi.

Không còn nghi ngờ gì nữa, Ngài là một trong những bậc đạo sư có sức thuyết phục nhất. Ngài không bao giờ sử dụng sự ép buộc hoặc gây sợ hãi như là một phương tiện để đạt mục dích giáo hóa. Ngài đã giới thiệu một cách sống có ý thức cho mọi người để được an tịnh mà không lưu tâm đến nhãn hiệu tôn giáo.

Ngài là một người phục vụ khiêm tốn của nhân loại, bình thản trước những lời khen hoặc chê, không nao núng ngay cả lúc bịnh tình nguy ngập nhất.

4. An lạc, hạnh phúc và giải thóat

Bậc đạo sư này đã chỉ con đường đi tới an lạc, hạnh phúc và giải thóat. Phương pháp hướng dẫn của Ngài là phóng khóang, hợp lý, khoa học và có thể hiểu được đưa đến gíac ngộ .

Ngày nay thông điệp an lạc của bậc đạo sư này quan trọng và đặc biệt cho con người đang bị cuốn vào hận thù, tham lam, hiềm tỵ, kiêu mạn, tham muốn nắm giữ thế giới này.

Bậc đạo sư này đã sanh ra trong thế gian này, đã xua tan màn đêm vô minh và cứu độ thế gian khỏi những tai ách của nó. Khắp nơi trên thế giới nhiều người sống không có niềm tin hoặc không có tu tập bất kỳ hình thức của tôn giáo nào. Tuy nhiên, nếu họ chỉ lấy một chút vấn đề rắc rối để nghiên cứu và những gì bậc đạo sư này đã dạy, họ có thể dể dàng làm trong sáng những nghi ngờ của mình nếu có và được thuyết phục theo tôn giáo mà tôn giáo đó có thể đóng góp tốt đẹp nhất cho hạnh phúc của con người.

Liệu người ta có tin vào Ngài hay không , tuy nhiên giáo pháp của Ngài đã có ảnh hưởng sâu sắc đối với tất cả mọi người. Thông điệp của Ngài trao tặng cho thế giới không có bất kỳ bạo lực, cũng không làm rơi một giọt máu nào. Đây là một điều đáng nhớ trong lịch sử thế giới mà đã được ấn dấu vào bằng hàng chữ vàng. Giáo pháp này minh họa lộ trình mà theo đó nhân loại có thể vượt thóat từ một thế giới của bất mãn đến một thế giới mới của ánh sáng từ bi, an lạc, hạnh phúc và thỏa mãn. Giáo pháp 2500 tuổi của bậc đạo sư này có đầy đủ năng lực để đối đầu với bất kỳ thách thức nào mà không thể đảo lộn hoăphải đưa ra một lời diễn dịch mới cho giáo lý nguồn gốc của nó. Gíao lý này có thể được chấp nhận mà không sợ mâu thuẫn với những khám phá và phát minh khoa học hiện đại. Giáo lý này coi trọng giới đức như là một trong những yếu tố cần thiết cho việc đạt đến giải thóat. Yếu tố khác là trí tuệ. Giới đức và trí tuệ có thể được so sánh như đôi mắt và đôi chân của một người. Giới đức giống như cổ xe có thể mang con người đi tới cổng giải thóat nhưng chìa khóa thật sự để mở cổng đó là trí tuệ.

5. Hạnh phúc tối thượng

Những người theo tôn giáo này không coi chính mình như là những người được cho duy nhất có thể có được cơ hội để đến hạnh phúc tối thượng. Họ tin rằng con người tạo ra địa ngục hoặc thiên đường của chính mình tùy theo cách sống và đau khổ trong địa ngục hoặc chứng nghiệm an lạc tối thượng có thể được thực nghiệm ngay trên cuộc đời này, thay vì trong cuộc sống kế tiếp, như phần đông người ta đã tin tưởng. Bậc đạo sư này không bao giờ nỗ lực thuyết giảng giáo pháp của mình bằng sự đe dọa người ngang qua hỏa ngục, hoặc bằng sự ấn chứng cho họ có đời sống trên thiên đường vĩnh hằng, mà bằng sự phơi bày chân lý. Theo những lời dạy này, bất cứ ai cũng có thể thọ hưởng hạnh phúc tối thượng miễn là người đó có cách sống chân chánh. Thiên đàng không phải giành riêng hoặc độc quyền cho một giáo phái hoặc cộng đồng tôn giáo đặc biệt nào cả mà nó nên được mở rộng cho tất cả bất cứ ai sống đời sống cao thượng.Khoan dung, nhẫn nhục và sự hiểu biết là đức hạnh đáng kính mà những người theo tôn giáo tán thành giữ gìn. Từ bi, bác ái và cảm thông không chỉ đối với con người mà còn mở rộng ra cho tất cả các lòai có tình thức – Vì sự phá họai đời sống con người và sinh vật, là sự độc ác và phi lý và tương phản lại với giáo lý của tôn giáo này.

Tôn giáo này của khiến những tín đồ của mình tôn trọng quan điểm của những người khác để sống đời sống hòa hợp.

6. Phương thức sống

Tôn giáo này trong sáng hợp lý và đưa ra những câu trả lời hoàn thiện cho tất cả mọi khía cạnh và những vấn đề quan trọng của đời sống chúng ta. Tôn giáo đã cung cấp một nền tảng vững chắc để giúp nhân loại hướng đến một đời sống tốt đẹp và tích cực hơn.

Tôn giáo này không phân chia con người thành 2 nhóm: “được cứu rỗi” và “bị ruồng bỏ” mà là một tôn giáo có hiểu biết văn minh và dạy chúng ta phương cách chế ngự cũng như thanh lọc tâm.

Những người theo tôn giáo này không nên cầu nguyện van xin. Họ tin vào tầm quan trọng của tự lực và trong hiệu năng của thiền định mà đưa con người đến tự chinh phục, tự điều ngự, tự thanh tịnh, khinh an và gíac ngộ bản chất thiền định có công năng như là một liều thuốc bổ cho thân và tâm.

7. Con người có thể họach định cuộc đời của mình

Tôn giáo này cho rằng tâm là có sức mạnh lớn – là đấng sáng tạo, kẻ hủy diệt con người và cũng là kiến trúc sư cho số phận của mỗi con người. Do đó, con người có khả năng hoạnh định bất kỳ điều gì nếu vị ấy biết cách phát triển và sử dụng tâm mình một cách đúng đắn.

Thật ra, tôn giáo này là ngọn hải đăng tuyệt vời cho việc hướng dẩn nhân loại đi đến an lạc, hạnh phúc vĩnh viễn. Sự thật là thế giới ngày nay đang bị rối rắm với sự hiểu lầm về chủng tộc, chính trị, tôn giáo, các nhóm đối lập và ý thức hệ. Để giải quyết những vấn đề phức tạp này, con người cần phải rèn luyện tinh thần vị tha và độ lượng lẫn nhau và điều này có thể được trau giồi dưới sự hướng dẫn của tôn giáo này mà đã in đậm tính chất đạo đức cho lợi ích rộng lớn.

Con người phải đến để thấy rằng sự phát triển tâm linh là quan trọng hơn trong việc đạt được tiến bộ vật chất vì hạnh phúc và an lạc đích thực của nhân loại. Con người cũng nên tu tập chân lý, phụng sự, bố thí và yêu thương nếu muốn thế giới này trở thành một nơi tốt đẹp hơn để sống còn.

8. Thực tại

Bậc đạo sư ngang qua sự gíac ngộ của mình đã tuyên bố rằng :

  1. Đạo đức cao cả nhất có thể đạt được trong việc trau giồi lòng từ bi bao la.
  2. Hạnh phúc tối thượng là hạnh phúc xuất phát từ định tĩnh của tâm hồn.
  3. Chân lý cứu cánh là chân lý được đòi hỏi ngang qua sự hiểu biết các nguyên nhân đau khổ của con người.
  4. Tôn giáo cao thượng nhất là tôn giáo chỉ dạy về phát triển trí thức, đạo đức và sự thanh tịnh tâm.
  5. Triết lý vĩ đại nhất là triết lý giới thiệu phương cách sống thực tiễn có thể khả thi mà không chỉ dựa vào giáo điều và niềm tin.

Tôn giáo này không cản trở bất kỳ ai đọc và học giáo lý của tôn giáo khác và không cho phép sự cuồng tín. Một kẻ cuồng tin không thể cho phép chính mình được hướng dẫn vì lý trí hoặc ngay cả vì nguyên lý quan sát và phân tích khoa học. Do đó, người theo tôn giáo này là một người tự do với tâm mở rộng và không có phụ thuộc vào bất cứ ai trong việc phát triển tâm linh của mình.

Nếu bạn chú ý học ít nhiều về các nguyên lý tôn giáo hoặc những nguyên tắc đạo đức và tu tập tâm theo tôn giáo này thì bạn sẽ vứt bỏ những sự hiểu lầm trước đây mà bạn đã có về nó. Một người không chỉ nên phán xét giá trị của một tôn giáo chỉ bởi sự xem xét một số các điều tu tập nào đó do những người lầm đường, thay vì vậy bạn nên cố gắng để hiểu giáo lý nền tảng của tôn giáo đó.

9. Tin vào trí tuệ của mình

Thay vì đặt con người và số mệnh của mình dưới sự kiểm sóat tùy tiện của những thế lực vô danh bên ngòai và buộc mình quỵ lụy trước năng lực siêu nhiên như vậy, tôn giáo này đã nâng cao vị trí con người và ban cho con người lòng tự tin vào trí tuệ của chính mình. Trí tuệ dạy con người các cách tu tập và phát huy tiềm năng con người .

Tôn giáo này của dạy chúng ta có lòng vị tha đối với những người khác. Những người theo tôn giáo này tránh xa các điều ác không chỉ bởi vì sợ quả báo từ một vài nguyên nhân không thấy mà còn bởi vì chứng nghiệm các ác nghiệp gây ra đau khổ cho chúng sanh.

Động cơ làm thiện của họ giúp cho những người khác không phải là để làm hài lòng đấng tối thượng để được ban ơn mà vì lòng từ bi và giải thóat họ khỏi khổ đau.

Ở đây trong tôn giáo này chúng ta có thể tìm ra con đường đi tới trí tuệ và sự thánh thiện hoàn tòan mà không dựa vào bất kỳ năng lực bên ngòai nào. Chúng ta có thể đạt được trí tuệ cao nhất ngang qua sự thực chứng mà không ngang qua sự “mặc khải”. Chúng ta có thể rửa sạch tội lỗi mà không cần sự trợ giúp của người đại diện đấng cứu rỗi nào. Chúng ta có thể đạt được giải thóat trong chính đời này bởi sự tu tập chân chánh với khả năng của chúng ta mà không mong đợi nó xuất hiện trong kiếp tới. Tôn giáo này dạy rằng con người không phải vì tôn giáo mà tôn giáo phải vì con người. Điều đó có nghĩa là không trở thành nô lệ cho bất kỳ tôn giáo nào, con người phải tự nỗ lực để áp dụng tôn giáo cho sự giải thóat và tốt đẹp hơn của mình.

10. Điều gì có thể thực hiện

  1. Không có dục lạc trần gian thì cuộc đời có thể tồn tại được không ?
  2. Không có đức tin vào sự bất tử thì con người có thể có đạo đức không?
  3. Không có dựa vào sự trợ giúp từ những năng lực bên ngòai thì con người có thể hướng đến sự chân chánh không ?
  4. Không có lễ nghi cúng kiến, con người có thể sống đời sống tôn giáo không ?
  5. Không có đức tin và lòng trung thành, con người có thể tu tập không ?
  6. Không có khổ đau ngang qua sự trừng phạt tôn giáo nào đó, con người có thể đạt đến giải thóat không ?
  7. Không có tạo sự sợ hãi trong tâm, con người có thể đi theo các nguyên lý tôn giáo nào đó không ?
  8. Không có cưỡng bách và đe dọa người khác chúng ta có thể giới thiệu một tôn giáo đúng đắn không ?
  9. Không có những đức tin mù quáng và tư tưởng giáo điều trong danh xưng tôn giáo thì tôn giáo có thể thuyết phục quần chúng sống đời sống đúng đắn không ?
  10. Một người có thể truyền bá tôn giáo mà không phải là bậc huyền bí hay tu sĩ không ?

” Vâng! ” nhà sáng lập tôn giáo đã trả lời như vậy. Những mục đích này có thể đạt được bởi sự giúp đở, thanh tịnh, giới đức và trí tuệ.

Việc nhận thức quy luật nhân quả như đã được giải thích trong tôn giáo này đã làm sáng tỏa và giải quyết những vấn đề khổ đau của con người, bí mật về vận mệnh và trên hết là sự bất bình đẳng của con người. Hiểu được quy luật này sẽ đưa chúng ta sự khuây khỏa, niềm hy vọng, sự tự tin và quả cảm.

11. Tôn giáo hiện đại

Đây không phải là một lý thuyết hay một tôn giáo chỉ để tin mà là một phương thức sống thánh thiện và thực tiễn. Đây là một trong những tôn giáo cổ xưa nhất trong lịch sử mà đã đem đến sự tu dưỡng tốt đẹp nhất cho nhân loại. Giờ đây tôn giáo này là hiện đại nhất trên mọi phương diện khi chúng ta so sánh với những thành quả hiện đại. Tôn giáo khuyên bảo mọi người không nên trở thành nô lệ cho bất kỳ năng lực ngọai lai nào mà nên trau giồi tiềm năng đang tiềm ẩn trong chính mình và dùng nỗ lực cũng như trí tuệ của chính mình để hóa giải những vấn đề của chính mình.

Tôn giáo này có tất cả những phẩm chất mà đòi hỏi một tôn giáo chân chánh phải có và những phẩm chất đó luôn luôn thích hợp trong thế giới hiện tại và tương lai. Đó là lý trí tiến bộ và hợp lý. Thật là một điều lợi ích cho bất cứ ai nghiên cứu và chứng nghiệm giá trị của tôn giáo này trong thế giới hiện đại . Tôn giáo này được công nhận là khoa học hơn khoa học, tiến bộ hơn mọi tiến bộ trong lãnh vực tâm linh. Nó là một trong những phương tiện hữu hiệu nhất để ứng dụng cho việc duy trì hòa bình, hòa hợp và hiểu biết của thế giới.

12. Vô phân biệt

Chính tôn giáo này, lần đầu tiên trong lịch sử thế giới đã nổi lên cuộc cách mạng chống lại hệ thống phân chia giai cấp và đem đến sự bình đẳng cho con người, tùy theo, cơ hội bình đẳng đối với tất cả mà chia họ thành mỗi tầng lớp xã hội. Cũng chính tôn giáo này, lần đầu tiên đã giải phóng phụ nữ bằng sự khuyến khích họ tu tập tôn giáo mà tôn giáo đó ban cho sự bình đẳng xã hội. Bậc đạo sư đã tuyên bố rằng các cửa thành công và thịnh vượng được mở ra cho tất cả trong mọi hòan cảnh sống dù cao hay thấp, thánh hay phàm, bất cứ người nào mà quan tâm, truy tìm và khát vọng về sự hoàn thiện.Ngài đã không ép buộc đệ tử của mình làm nô lệ cho chính Ngài hoặc lời dạy của ngài nhưng ban cho họ sự tự do tư tưởng hoàn tòan để họ có thể đạt đến sự tự tin.

Tôn giáo này phân lọai chúng sanh thành danh và sắc trong một trạng thái biến đổi liên tục trong từng sát năm. Danh và sắc sanh diệt tương tục như một vòng xoay liên tục.

Do đó không có gì tồn tại vĩnh viễn hoặc trong thế giới này hoặc cảnh giới khác. Vì mọi vật tồn tại ở bất kỳ nơi nào trong vũ trụ cũng đều là trống không, chỉ là sự kết hợp của các yếu tố và năng lực. Đó chính là bản chất của các pháp mà ngày nào đó sẽ tan rã và các pháp sẽ biến mất hòan tòan. Tôn giáo này cũng đã dạy chúng ta rằng các pháp do nhân duyên cấu thành đều bị chi phối bởi sự thay đổi và xung đột theo các quy luật chung của vũ trụ.

Những nguyên lý mà do tôn giáo này quán sát thì không phải là giáo điều. Do sự trì giữ các giới như : không sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối và uống rượu thì hành giả có thể thanh tịnh chính mình và có khả năng làm người khác sống an lạc.

13. Mục đích

Mục đích của chúng tôi trong việc xuất bản quyển sách này là không phải giáo hóa những người khác đi theo niềm tin của chúng tôi mà là để gíac ngộ họ làm thế nào để tìm kiếm an lạc và hạnh phúc cũng như tu tập sự nhận thức đúng đắn mà không dựa vào niềm tin mù quáng. Chúng tôi khuyến khích mọi người thực hành tôn giáo riêng của họ một cách đúng đắn nếu họ có thể tìm thấy một cách đúng đắn, cao quý mà không làm giảm chân giá trị con người của mình.

Tuy nhiên tôn giáo này có thể là lời giải đáp cho những vấn đề nhân sinh, tâm lý và tôn giáo của bạn. Hoặc có thể gợi ra một hướng đi trong sáng cho suy nghĩ của bạn về các vấn đề tôn giáo và triết học. Tôn giáo cũng có thể giúp bạn hiểu biết cách sống và di sản văn hóa Châu Á. Bạn có thể tìm thấy trong tôn giáo này sự hướng dẫn tâm linh cho các nhu cầu thế giới hiện đại.

Tôn giáo này đem lại cho thế giới một tinh thần, một hy vọng mới, một hướng đi mới, chân lý của nó và sự cần thiết của nó được tìm thấy và cảm nhận trong hôm nay cũng như ngày xưa. Tôn giáo vĩ đại này được nói ở đây là “Phật giáo” và người sáng lập tôn giáo giáo này không ai khác hơn là “Đức Phật Cồ Đàm”.

Cái đó cũng có thể là mục đích của các bạn, chúng tôi mời các bạn hãy đến gần hơn để nhìn tôn giáo và ý tưởng của người sáng lập tôn giáo này. Chúng tôi sẳn sàng giúp đỡ các bạn trong việc tìm cầu chân lý. Vì vậy, phải không có thành kiến, tránh định kiến giáo điều tôn giáo và cố gắng tim cầu chân lý.

Thích Nữ Diệu Hương dịch từ nguyên tác tiếng Anh “What is this Religion ” của Đại lão HT. K. Sri Dhammananda, trong tác phẩm “Các Viên Ngọc Trí Tuệ của phật giáo” (Gems of Buddhist Wisdom), CBBEF, Taiwan, 1996, trang 17-33.

S.T

[Nguồn: REDS.vn]

Tham nhũng mà được bao che thì rất nguy hiểm. Không thể quy kết rằng, do thu nhập thấp, đời sống khó khăn mà tham nhũng.

Báo chí vừa đưa tin các đại biểu Hội đồng Nhân dân (HĐND) thành phố Hà Nội đã được trang bị máy tính bảng iPad 2. Và dự án công nghệ thông tin hiện đại này cho các dân biểu thủ đô như thông tin trên tờ Tuổi trẻ, tốn khoảng 6,04 tỉ đồng. Trước thắc mắc việc thay vì trang bị máy tính xách tay bằng máy tính bảng iPad 2 cho các đại biểu, khi máy tính bảng là thiết bị giải trí, hiệu quả công việc như soạn thảo văn bản không thể bằng máy tính xách tay, một vị lãnh đạo HĐND thành phố cho rằng, iPad 2 vẫn “đáp ứng đầy đủ chức năng của máy tính và rất tiện lợi cho việc trao đổi thông tin giữa đại biểu và Trung tâm Thông tin của HĐND”. Xin nhớ rằng, đa số đại biểu HĐND là thủ trưởng các cơ quan, đơn vị và chắc rằng đã có máy tính xách tay để làm việc. Phóng viên dự kỳ họp kể rằng, máy tính bảng iPad 2 được cấp đúng hôm chất vấn UBND nên có vẻ như các đại biểu bận nghiên cứu máy tính bảng nên ít chất vấn. Phải “học” cách dùng iPad 2, với các đại biểu lớn tuổi chắc không dễ dàng, nhưng đây là chế độ mà, nếu “cụ” không dùng được thì cho cháu mượn chơi games cũng tốt chứ sao!? Nếu bây giờ cả 63 tỉnh đều “chịu chơi” trang bị iPad 2 cho các dân biểu theo chế độ thì ngân sách sẽ gánh thêm bao nhiêu tiền, chắc sẽ là 300 tỉ đồng.

Câu chuyện máy tính bảng iPad 2 cho dân biểu Hà Nội, nếu có gì đáng bàn thì bất quá cũng chỉ là “chút chút” đầu tư công không đáng là bao. Tất cả đã có trong chế độ quy định! Mà đã là chế độ thì miễn bàn nhé!

 

Không có thông tin nên không biết đầy đủ các chế độ lương, phụ cấp của dân biểu Hà Nội chuyên trách và các khoản phụ cấp khi họp hành, làm việc, đi lại của các đại biểu kiêm nhiệm để biết các dân biểu có đủ sống hay không?

Còn nhớ mới đây, cựu Thứ trưởng Bộ Nội vụ Thang Văn Phúc đã tâm sự thật lòng rằng, lương thứ trưởng cũng không đủ sống! Có người bật cười mà rằng, hình như ở câu này in thiếu chữ. Câu nói của ông cựu Thứ trưởng phải hiểu là với mức lương thứ trưởng, các quan chức ở ta cũng không thể nào sống sung túc, sang trọng. Xin nhớ rằng, mức lương thứ trưởng chỉ gấp 9-10 lần lương tối thiểu, nhưng các vị có phụ cấp chức vụ, có xe công vụ (mà thực chất thì được sử dụng như xe riêng, lại không mất tiền xăng, lương lái xe và chi phí cho xe), được mua nhà giá ưu đãi, chữa bệnh không mất tiền và ốm đau nặng có thể được đi chữa ở nước ngoài… Cho nên thu nhập thực tế của các vị là “khủng”, chứ không phải “còm”.

Trong cuộc chiến chống tham nhũng hiện nay, vấn đề lương bổng, thu nhập và tham nhũng lại được đặt ra. Trước hết, hiện tượng những công chức, viên chức cấp thấp ở các cơ quan công quyền, hưởng mức lương thấp không đủ sống nên phải tìm cách kiếm thêm thu nhập qua những phong bì “bồi dưỡng” của công dân, doanh nghiệp khi có công việc liên quan. Đây là dạng tham nhũng vặt nhưng quy ra thóc cũng đủ nâng cao mức sống. Tham nhũng vặt đã được mặc nhiên chấp nhận theo kiểu “sống chung với lũ” dù tác hại lương tâm cao hơn lương thực!

Ai đó cho rằng, nâng lương cho công chức, viên chức lên gấp 2-3 lần hiện nay thì sẽ chống được tham nhũng vặt là không tưởng. Một khi còn người muốn được việc cho mình nên chấp nhận chi phong bao thì chừng đó vẫn còn tham nhũng vặt. Hôm nay cấp thấp tham nhũng vặt, nay mai lên chức cao hơn sẽ tham nhũng nhiều hơn, bạo liệt hơn. Thực tế, trong thời gian qua đã có nhiều vụ án tham nhũng được đưa ra xét xử mà người lĩnh án tù, thậm chí án tử hình, đâu có mấy kẻ nghèo túng, thu nhập thấp! Ai dám bảo ông phó giám đốc sở, ông chủ tịch quận, ông giám đốc chi nhánh ngân hàng… ra tòa vì can tội tham nhũng do thu nhập thấp?

Các chuyên gia cho rằng, lòng tham của những con người đó là vô hạn. Họ đã giàu rồi nhưng lại luôn muốn được giàu thêm. Quyền lực tạo ra một khoản thu nhập cho người có nó nên không ít trường hợp phải chạy chọt để có chức, quyền và đã phải chi phí không ít. Đó là một khoản “đầu tư” và khi đã có chức, có quyền, người ta phải tìm cách thu hồi.

Như vậy, có thể thấy thu nhập thấp không phải là nguyên nhân chính của nạn tham nhũng. Nói như vậy không có nghĩa là không quan tâm gì đến thu nhập, đời sống của cán bộ, công chức. Bởi không thể hô hào một người cống hiến khi họ không có thu nhập để trang trải những nhu cầu ở mức trung bình của xã hội.

Tuy nhiên, điều cần hơn là phải có sự công khai, minh bạch trong quản lý và điều hành. Chẳng hạn, rất cần công khai, minh bạch về thu nhập của cán bộ, công chức. Vì sao một công chức bình thường, một cảnh sát giao thông với quân hàm cấp úy… mức lương rất khiêm tốn nhưng lại dễ dàng mua nhà lầu, xe hơi đắt tiền hoặc chu cấp cho con đi du học nước ngoài mỗi năm tới hàng trăm ngàn đôla Mỹ?

Theo Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật có thể khẳng định rằng, công tác chống tham nhũng nói chung và việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 nói riêng trong nhiệm kỳ qua chưa đạt mục tiêu “ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí” như đã đề ra. Tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, gây bức xúc trong xã hội. Ngoài ra, việc xử lý trách nhiệm người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng chưa được thực hiện nghiêm. Nhiều cấp ủy, chính quyền còn nể nang, né tránh trong việc xử lý. Việc kê khai tài sản, thu nhập tuy đã thực hiện ở nhiều nơi nhưng vẫn còn hình thức, tác dụng phòng ngừa tham nhũng còn rất hạn chế, hiệu quả thấp.

Vào các dịp lễ, tết, người ta lợi dụng phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc để biếu xén “trên mức tình cảm” vẫn diễn ra khá phổ biến. Hẳn vì vậy, nhiều Đảng bộ tỉnh, huyện đã có văn bản cấm biếu xén nhân dịp lễ, tết. Tuy nhiên, không có thông tin về xử lý các vi phạm quy định này. Một giám đốc doanh nghiệp kể rằng, ông chỉ chi “cò con” để chúc tết lãnh đạo địa phương có 3.000USD, thua xa các doanh nghiệp khác. Hãy nhẩm tính xem, nếu có vài chục doanh nghiệp chúc tết “cò con” thì một cái tết vị này thu được bao nhiêu “bổng”?

Tham nhũng khó chống còn bởi số vụ việc tham nhũng được phát hiện và xử lý qua công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán còn ít. Trong 5 năm qua, nhiều địa phương không phát hiện được vụ án tham nhũng nào qua kiểm tra, thanh tra… Pháp luật chưa nghiêm và một số cán bộ lãnh đạo quản lý ở các cấp, các ngành, lãnh đạo ở Trung ương chưa nêu gương về đạo đức, lối sống. Nhiều cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, quên đi trách nhiệm, bổn phận của mình.

Dư luận công dân cho rằng, hiện nay việc công khai minh bạch còn tù mù, đặc biệt là công khai các dự án thì làm sao nhân dân giám sát được. Có nơi, người tham nhũng thì được về hưu, còn người tố cáo thì bị trù dập. Tham nhũng mà được bao che thì rất nguy hiểm. Không thể quy kết rằng, do thu nhập thấp, đời sống khó khăn mà tham nhũng.

THỌ VINH (NĂNG LƯỢNG MỚI)

Bài viết “Sự ngạo mạn nguy hiểm của Trung Quốc” (China’s Dangerous Arrogance) đăng trên The Diplomat cho rằng việc Trung Quốc tìm cách độc chiếm vùng biển châu Á và đe dọa quyền tự do hàng hải quốc tế đang trở thành vấn đề không chỉ đối với các nước láng giềng.

Theo bài viết, thái độ quyết đoán của Trung Quốc về ngoại giao và quân sự rõ ràng được thúc đẩy bởi sự tự tin thái quá và khiến cho người khác cảm thấy vô cùng lo ngại, đặc biệt về tự do hàng hải.

Thái độ tự tin thái quá của Trung Quốc thường được thể hiện qua những tuyên bố của Hồng Lỗi, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc. Ảnh THX

Khi Trung Quốc có nhiều ảnh hưởng, nước này càng trở nên quyết đoán hơn trong lĩnh vực ngoại giao. Thái độ quyết đoán này ngày càng gia tăng cùng với sức mạnh hải quân của Trung Quốc và khiến cho người ta tự hỏi liệu nó có biến thành ngạo mạn, đặc biệt ở Biển Đông.

Sự kết hợp giữa hoạt động hải quân ráo riết và các tuyên bố chủ quyền biển đảo của Trung Quốc cho thấy chỉ dấu đáng báo động: sự quyết đoán của Trung Quốc về đòi hỏi chủ quyền đang tăng lên nhanh chóng cùng với sự giàu có và nhận thức về quyền lực. Trung Quốc đang đi ngược với ý nguyện của cộng đồng thế giới, khi không chỉ muốn biến tây Thái Bình Dương thành “vùng cấm” đối với các thế lực bên ngoài mà còn coi vùng biển này là một phần trong phạm vi ảnh hưởng của nước này.

Điều này thể hiện rất rõ ràng trong thái độ của Trung Quốc đối với Biển Đông. Bắc Kinh đã từng ám chỉ Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” của Trung Quốc, giống như các khu tự trị Tây Tạng, Tân Cương và vùng lãnh thổ Đài Loan. Trên thực tế, Trung Quốc đã dẫm đạp khái niệm chung của cộng đồng quốc tế về tự do hàng hải, hàng không… trong một thế giới toàn cầu hóa. Trung Quốc đã thách thức các nguyên tắc của cộng đồng quốc tế về luật pháp, tự do đi lại và đặt mình ở vào vị thế đối đầu với Mỹ.

Đối với các khu vực nhất định, Trung Quốc hoặc độc quyền thống trị hoặc nói với các nước khác “đừng có can thiệp vào”. Trên thực thế, theo quan điểm của Trung Quốc, những khu vực này “không phải là của chung”. Trung Quốc coi Biển Đông là “lợi ích cốt lõi” nhằm hạn chế cộng đồng thế giới thực thi những quyền chính đáng của mình theo luật pháp quốc tế.

Bắc Kinh tùy tiện tuyên bố chủ quyền đối với 80% diện tích Biển Đông và dành cho mình cái quyền kiểm soát các hoạt động hàng hải và nghiên cứu ở vùng biển này, chứ không chỉ kiểm soát đánh cá và các nguồn tài nguyên dưới đáy biển trong phạm vi cái gọi là các Khu vực độc quyền kinh tế (Exclusive Economic Zones) của Trung Quốc. Nếu không bị phản đối, thái độ quyết đoán biến thành ngạo mạn của Trung Quốc sẽ dẫn tới nhiều rủi ro về luật pháp vì luật pháp quốc tế dựa trên những chuẩn mực đã được các nước công nhận.

Trung Quốc coi việc Mỹ hoạt động cái gọi là bên trong chuỗi đảo thứ nhất của nước này là xâm phạm chủ quyền. Bắc Kinh có cách diễn giải “ngược đời” về Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) cũng như thẩm quyền của nước này trong phạm vi các Khu vực độc quyền kinh tế EZZ, kể cả ở các khu vực đang có tranh chấp.

Sự kết hợp giữa chiến lược pháp lý với lực lượng hải quân của Trung Quốc cho thấy không giống như các bên tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông khác, Trung Quốc hậu thuẫn tuyên bố chủ quyền của họ bằng sức mạnh quân sự.

MINH BÍCH (ĐẤT VIỆT ONLINE)