Tag Archive: ninh


Với những thông tin chính thức theo biên bản tốc ký các cuộc trao đổi của Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng với các phái đoàn Hoa Kỳ, hẳn bạn đọc có thể hình dung tác hại của sự “tam sao thất bản”.

>> Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ III)

>> Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ II)

>> Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ I)

Đại sứ Michalak:

Chúng tôi đã bày tỏ thái độ rất rõ ràng, cần duy trì khu vực này ở trạng thái mở đối với các hoạt động thông thường và cần phải làm như vậy. Chúng tôi cũng muốn hỏi xem Việt Nam khả năng đi xa đến mức nào, nếu như tôi đưa tàu sân bay vào khu vực tranh chấp đó thì liệu ngài có đi cùng tôi ra tàu sân bay tham quan không?

 Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Nếu ngài đưa tàu sân bay vào đó để nhằm mục đích răn đe, hay cảnh giới thì đó sẽ là một sai lầm lớn. Chúng tôi phải mời tàu sân bay của các ngài ra khỏi khu vực tranh chấp ngay lập tức. Chúng tôi nói về phương diện khác, phương diện về thái độ. Và nếu như ta thực sự tin tưởng lẫn nhau thì quan điểm phải có cái gì đó giải tỏa, có cái gì đó phù hợp. Thí dụ gần đây, cơ quan tình báo hai nước thường đặt vấn đề trao đổi tin về chống khủng bố và một số việc khác. Muốn vậy, quan điểm hai bên phải phù hợp. Về chủ quyền của mình tại một số hòn đảo ở biển Đông, Việt Nam có những dấu ấn lịch sử tại đó để minh chứng.

Những người chống đối Nhà nước trước đây, chúng tôi vẫn cho phép họ gặp những nhân viên nước ngoài trong đó có các nhân viên ngoại giao Mỹ. Thế nhưng những người nước ngoài sau khi đã được gặp mặt những nhân vật chống đối này thường đưa ra những thông tin không chính xác. Tôi thấy, tất cả những đại sứ hay những người mới đều vào Huế để gặp các nhân vật chống đối hay xin gặp Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân. Ngài giải thích với tôi, đó là những nhân vật mà phía Mỹ quan tâm.


Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng kiểm tra công tác bảo vệ ở một đơn vị an ninh

 

Nên ngài phải rút kinh nghiệm rằng, sau này có đi địa phương, cứ đi vào các trại mồ côi, người ta nhìn vào các ngài sẽ khác. Liên quan đến TLSQ tại TP Hồ Chí Minh, theo luật pháp Việt Nam cũng như quốc tế thì cơ quan lãnh sự chỉ thực hiện chức năng về lãnh sự chứ không giải quyết các vấn đề chính trị xã hội. Những người chống đối Chính phủ Việt Nam sau các cuộc gặp với nhân viên ngoại giao Mỹ đều cho rằng họ được Mỹ hỗ trợ. Lãnh đạo các địa phương cũng đã kiến nghị với chúng tôi rằng, nếu các ngài có đi địa phương thì nên báo trước lịch làm việc, sẽ gặp ai, cần thông tin gì, thì họ sẽ bố trí và chủ động cung cấp thông tin. Chính vì lãnh đạo địa phương luôn nghĩ rằng, nhân viên ngoại giao Mỹ gặp tức là sẽ hỗ trợ cho các cá nhân chống đối Chính phủ nên họ sẽ không muốn cho các ngài gặp lần sau nữa. Tôi thì chưa từ chối cho phép các ngài tiếp xúc với bất cứ trường hợp nào.

Đại sứ Michalak:

– Cảm ơn ngài Thứ trưởng, ngài đã rất có nhã ý tạo điều kiện cho tôi gặp những người chúng tôi cần và tôi đánh giá cao sự giúp đỡ của ngài. Và tôi vẫn cần phải gặp những nhân vật đó nữa, nhất là những người đang ngồi tù, vì nếu tôi không làm thế, tôi sẽ chịu áp lực rất lớn từ phía Mỹ và có thể tôi sẽ phải quay về nước. Tôi tin rằng bản thân mình đã làm được rất nhiều cho mối quan hệ hữu nghị Việt Nam – Mỹ và vấn đề nhân quyền cũng chỉ là một phần trong mối quan hệ song phương thôi nhưng lại là một phần rất quan trọng và tôi mong muốn sẽ có thể làm được nhiều hơn. Tôi muốn rằng các ngài sẽ phải tinh tế hơn trong phương thức xử lý vấn đề.

Ngài có nhận ra một điều rằng, năm ngoái không có một công dân Mỹ nào bị bắt vì tội xâm phạm nhân quyền. Năm ngoái cũng có trường hợp Việt Nam bắt quay về nước ngay tại sân bay, không cho nhập cảnh. Chúng tôi đã nói với những người dân của mình rằng, nếu bạn thuộc một tổ chức nào đó thì rất có thể khi nhập cảnh Việt Nam bạn sẽ bị bắt quay trở lại và không được nhập cảnh. Chúng tôi cũng nói với họ rằng, chúng tôi không nhất trí với các quy định của pháp luật Việt Nam và hai bên sẽ thảo luận thêm về vấn đề này. Cũng có những trường hợp rằng có những người ở khách sạn một thời gian sau đó bị thẩm vấn bởi các cán bộ Công an Việt Nam. Ít nhất một trường hợp có 2 phụ nữ khi vào Việt Nam giải quyết các vấn đề nhân đạo thì lãnh đạo trong nước đã yêu cầu một người ở lại trong nước còn một người phải xuất cảnh.

Về trường hợp đó, chúng tôi không thể nói rằng Việt Nam đã có những tiến bộ về nhân quyền. Các ngài đã cho phép Thượng nghị sĩ James Webb đến thăm 2 chủng viện phía Bắc và phía Nam. Tất cả những điều này đã có tác động rất tích cực đối với quan hệ song phương Việt – Mỹ. Tuy nhiên như vậy là chưa đủ. Và những điều chúng ta đang nói đây là để cùng nhau tìm ra một phương thức phù hợp. Chúng tôi muốn bố trí một chuyến thăm nữa của Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế (UB TDTG QT). Tại chuyến thăm lần trước, UB TDTG QT đã làm không được tốt lắm và lần này tôi biết họ sẽ làm thế nào.

Và tôi cho rằng, việc tạo điều kiện cho họ làm việc tại Việt Nam sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy quan hệ hữu nghị 2 nước. Chúng tôi đi bất cứ đâu cùng họ, họ nói lại những điều họ cảm nhận, chúng tôi nói lại những điều chúng tôi cảm nhận và đại diện Bộ Ngoại giao Mỹ đã không nhất trí với những gì mà  UB TDTG QT báo cáo lại. Hãy cứ để cho họ đến những nơi mà họ muốn, nói những gì mà họ muốn, còn chúng tôi sẽ nêu lên ý kiến riêng của bản thân. Tôi muốn nói rằng, trước đây Việt Nam đã đạt được những tiến bộ về tự do tôn giáo, nhưng Mỹ vẫn muốn đưa Việt Nam vào danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo. Và đó là điều không đúng. UB TDTG QT khuyến nghị đưa Việt Nam vào danh sách CPC nhưng Bộ Ngoại giao Mỹ đã nói: “Không, không có lý do để làm như vậy”.

Gần đây có một tổ chức quốc tế mà tôi không nhớ tên chính xác (nếu các ngài muốn tôi sẽ gửi lại sau) đã nói rằng Việt Nam đang thoát dần khỏi vị trí các nước đứng đầu trong việc ngăn cản người dân thực hành quyền tự do tín ngưỡng. Do vậy, tôi nghĩ rằng Việt Nam nên để đoàn UB TDTG QT phát biểu những gì họ muốn để nếu khi họ trở về Mỹ họ có đưa ra những báo cáo tiêu cực về tình hình tôn giáo Việt Nam thì các bạn có thể dẫn chứng từ báo cáo của tổ chức quốc tế kia và báo cáo từ Bộ Ngoại giao Mỹ về sự khác biệt. Và nói về niềm tin lẫn nhau, khi Việt Nam nói đã cải thiện được tình hình tự do tôn giáo và chúng tôi nhận thấy điều đó nên chúng tôi sẽ tiếp tục tin và đưa ra những tuyên bố về sự cải thiện tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Tôi tin rằng, ngài có rất nhiều ý kiến về những điều tôi vừa nói.

 Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Chúng tôi cần nói rằng, chúng tôi chưa từng phản đối những phái đoàn như vậy khi vào Việt Nam, chúng tôi rất hoan nghênh đoàn UB TDTG QT.

Đại sứ Michalak:

– Quan điểm của Bộ Công an là đồng ý phải không?

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Tất cả nhân viên ngoại giao mới phải hiểu pháp luật Việt Nam. Những người đang trong quá trình điều tra thì không được gặp bất cứ ai, kể cả công dân Việt Nam. Còn những người đang thụ án trong trại giam, nếu các ngài có nhu cầu, chúng tôi sẽ tạo điều kiện. Nghiêm cấm các hoạt động gặp gỡ để xúi giục phạm tội. Như chúng tôi đã cho phép các ngài gặp Lê Thị Công Nhân vào dịp tết vừa qua, nhưng đối với ông Hùng, người đang trong quá trình điều tra thì không gặp được. Mai tòa tuyên án ông Hùng, các ông đến mà xem.

Đại sứ Michalak:

– Tình hình sức khỏe của ông Hùng tốt chứ?

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Sức khỏe tốt.

Đại sứ Michalak:

– Chúng tôi cũng thấy Nhân rất khỏe mạnh.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Tôi là bạn của ông, bạn thân nữa là khác. Tôi còn là bạn của lãnh đạo FBI. Ông có nghĩ là bản thân Mỹ nên nhìn lại mình trong các hoạt động quốc tế, những gì Mỹ làm đều chỉ làm hình ảnh của Mỹ xấu đi. Đó là vì các hoạt động của Mỹ ở Iraq, Afghanistan, CHDCND Triều Tiên. Nên tôi nghĩ, Mỹ nên điều chỉnh lại mình trước. Mặc dù chúng tôi biết Mỹ đã giúp đỡ rất nhiều cho các thành viên quốc tế nhưng hình ảnh Mỹ đang bị ảnh hưởng tiêu cực hơn rất nhiều. Trái lại, Trung Quốc lại có thể làm tốt hơn. Nếu các ngài cứ tiếp tục chính sách của mình như hiện nay, sẽ bị coi là can thiệp vào công việc nội bộ của các nước. Tôi thấy trong bài phát biểu nhậm chức của ông Obama có cái mới đó là Mỹ muốn thay đổi vị thế trên trường quốc tế. Mỹ muốn thay đổi quan hệ của các nước đối với Mỹ. Tôi chỉ khuyên ngài rằng, quan hệ hữu nghị Mỹ – Việt đang ở mức tốt nhất từ trước tới giờ, thế nhưng về lịch sử mà nói rằng, cái gì mà Mỹ mang lại cho Việt Nam vẫn còn rất nặng nề đối với đa số người dân Việt Nam. Để có thể thoát khỏi quá khứ, Mỹ nên thúc đẩy quan hệ hữu nghị với Việt Nam hơn nữa, không những thế còn cải thiện được trong nhận thức và tăng sự tin tưởng lẫn nhau. Việc Tổng thống Bush hỗ trợ phòng chống HIV, rà phá bom mìn, giải quyết chất độc da cam là những bước tiến để tạo sự tin tưởng lẫn nhau. Và ông Obama cũng nói Mỹ sẽ giúp đỡ quốc tế về các vấn đề phòng chống bệnh dịch, môi trường hơn là việc sử dụng sức mạnh quân sự đối với các nước khác. Chúng tôi rất hoan nghênh đoàn UB TDTG QT Mỹ tới Việt Nam và hoan nghênh cả những đoàn khác đến thăm và làm việc tại Việt Nam để tạo điều kiện cho mối quan hệ hữu nghị trở nên tốt hơn. Chúng tôi đảm bảo không có hoạt động khủng bố ở Việt Nam.

Đại sứ Michalak:

– Vấn đề là khủng bố theo định nghĩa của ai?

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Không để bất cứ công dân Mỹ nào chết ở Việt Nam do tội phạm khủng bố. Đó là điều hy vọng nhất của tôi. Còn phải phân biệt rõ đâu là luật pháp. Chúng tôi có quyền cho hoặc không cho nhập cảnh Việt Nam dù việc đó không đảm bảo nhân quyền con người đó. Còn chúng tôi không cho phép ai, chúng tôi sẽ thông báo cho các ngài lý do cụ thể. Hôm nay chúng ta chấm dứt ở đây thôi.

Đại sứ Michalak:

– Lần tới tôi sẽ mời ngài tới nhà tôi và ăn một số món ăn Việt Nam.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Hiện nay, tình hình kinh tế đang trong giai đoạn khó khăn. Trong lãnh thổ Việt Nam có rất nhiều tội phạm từ các nước đến nên Việt Nam sẽ phải kiểm soát rất chặt về xuất nhập cảnh và sẽ xử lý rất kiên quyết. Tôi học được phương pháp này từ người Mỹ đấy. Tôi sẽ cho kiểm tra từ giày lên đầu.

Đại sứ Michalak:

– Tôi thấy, khi chúng ta chưa gặp nhau thì các chủ đề cuối buổi thường hay nhất cho nên lần sau cần bắt đầu từ các vấn đề còn bỏ dở ở các buổi trước đó. Nhưng những điều chúng ta thảo luận với nhau đều là không chính thức, nằm ngoài văn bản.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

-Vì chính thức hay không thì ông vẫn là Đại sứ, còn tôi vẫn là Thứ trưởng Bộ Công an.

Đại sứ Michalak:

– Tôi cũng mừng là ngài đã đề cập đến ông Obama cũng như ông đã nói Mỹ nên nhìn lại bản thân mình và đó cũng là những điều mà nhân dân chúng tôi nhìn lại trong toàn bộ quá trình tổng tuyển cử.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Để một dịp khác chúng tôi sẽ nói với ngài những gì chúng tôi nhìn nhận về Mỹ. Nếu chúng tôi áp dụng đường lối kinh tế như Mỹ, chúng tôi sẽ thất bại. Nếu chúng tôi có các hoạt động như của Mỹ đối với Lào, Campuchia, hình ảnh Việt Nam sẽ xấu đi rất nhiều. Tôi nói với ngài rất tâm huyết, như giúp người bạn thân nhìn lại mình.

Đại sứ Michalak:

–  Vậy cách nhìn của Việt Nam về Lào và Campuchia như thế nào?

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

–  Vậy xin hỏi quan điểm của các ngài?

Đại sứ Michalak:

– Theo tôi được biết thì quan hệ của Việt Nam với Lào và Campuchia là quan hệ anh em.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Lịch sử của chúng tôi có những giai đoạn gắn với nhau, để bảo vệ đất nước, chống lại kẻ thù chung. Tôi mong muốn họ có quan hệ quốc tế tốt, chỉ tiếc rằng Việt Nam quá nghèo không thể giúp nhiều cho họ. Mỹ chỉ cần bớt đi số tiền sản xuất vài quả tên lửa và đem giúp Lào thì Lào sẽ trở nên khá hơn. Chúng tôi coi Lào, Campuchia như anh em, thậm chí chúng tôi còn coi họ là anh.

Đại sứ Michalak:

– Ngài có biết hai nước này nhận được viện trợ ODA nhiều hơn Việt Nam không?

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

–  Tôi không biết nhưng chỉ biết rằng Trung Quốc giúp đỡ nhiều hơn Mỹ.

Đại sứ Michalak (cười):

– Nếu tôi nhập ngũ thì có lẽ giờ tôi cũng là tướng rồi và vẫn có thể gặp ông để nói hết những điều tôi muốn. Theo quy tắc lễ tân, vị trí của tôi ngang với vị trí của tướng 3 sao, thậm chí 4 sao.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

–  Đấy là ngài ước thế thôi. Ngài nên nhớ rằng, khi ngài nghỉ hưu ngài không được gọi là tướng nữa, nhưng chúng tôi vẫn được.

Đại sứ Michalak:

– Nhưng khi tôi nghỉ hưu vẫn được gọi là Đại sứ và Đại sứ quán vẫn nhớ đến tôi.

***

Cùng bạn đọc

Với những thông tin chính thức theo biên bản tốc ký các cuộc trao đổi của Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng với các phái đoàn Hoa Kỳ, hẳn bạn đọc có thể hình dung tác hại của sự “tam sao thất bản”. Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội, báo cáo mật đã không phản ánh  thật trung thực đúng như nội dung cuộc trao đổi với Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng là một việc cần phê phán. Nhưng với  BBC, một cơ quan truyền thông Anh quốc thường tự nhận là khách quan, trung thực thì qua sự việc này càng lộ rõ thái độ của họ đối với Việt Nam là như thế nào. Cũng phải nói thêm rằng, bấy lâu nay, BBC thường xuyên có tin bài xuyên tạc về tình hình Việt Nam, và rất “chịu khó” đăng tải ý kiến của những người luôn có hành động, việc làm đi ngược lại lợi ích của dân tộc, của đa số người Việt.

BBC cần xin lỗi bạn đọc Việt ngữ 

Ngày 23/4, ông Đinh Kim Phúc, nghiên cứu viên của khoa Đông Nam Á học, Trường đại học Mở TP HCM, đã có thư ngỏ gửi Tổng giám đốc BBC Mark John Thompson. Trong thư, ông Phúc khẳng định việc BBC tiếng Việt ngày 17/4/2010 đăng tải bài “Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc” của bà Đỗ Ngọc Bích đã xúc phạm đầy ác ý đến lịch sử Việt Nam. Vì vậy, ông Phúc đề nghị Tổng giám đốc Mark John Thompson có biện pháp thích đáng đối với người có trách nhiệm trong việc đưa bài viết này và BBC phải chính thức xin lỗi công khai đến tất cả bạn đọc và người Việt Nam về sai lầm nghiêm trọng này.

(Theo Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh ngày 24/4/2010)

Nguyễn Như Phong (thực hiện Petrotimes)

Buổi làm việc của  Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng với Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Michalak bắt đầu bằng việc Đại sứ  hỏi Thượng tướng về tình hình biển Đông và nói muốn có vai trò tại khu vực này…

>> Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ I)

>> Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ II)


Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng gặp Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam ông Michael Michalak

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng làm việc với Đại sứ Michael Michalak

Dự buổi gặp, về phía Bộ Công an còn có: Thiếu tướng Tô Lâm, Phó tổng cục trưởng Tổng cục An ninh; Thiếu tướng Vũ Hùng Vương, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát và một số cán bộ giúp việc.

Về phía Hoa Kỳ còn có Phó đại sứ Virginia Palme, ông Marc Owens cố vấn cao cấp của Đại sứ và Trưởng văn phòng chống ma túy Jeffrey Warner.

Cuộc gặp được tổ chức vào ngày 10/2/2010, tại trụ sở Vụ Hợp tác Quốc tế của Bộ Công an và sau đó hai bên đi ăn tối.

***

Mở đầu cuộc gặp, Đại sứ Michael Michalak hỏi Thượng tướng về tình hình biển Đông và nói muốn có vai trò tại khu vực này.

 Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Nếu Mỹ quan niệm rằng, Mỹ muốn đứng giữa mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc thì chúng tôi cho rằng đó là một hạn chế của Mỹ về khu vực. Chúng tôi chưa tin tưởng vào thái độ, chính sách của Mỹ đối với Việt Nam. Nếu chỉ nghĩ về quan hệ song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc thì đó sẽ rất hạn chế do chính sách này động đến 6 nước trong khu vực Đông Nam Á, đụng đến vùng biển của Nhật Bản, toàn bộ đường biển quốc tế.

Trong khi Mỹ nói rằng, Mỹ sẽ cùng các nước trong khu vực đảm bảo sự ổn định, hòa bình trong khu vực, trong đó có quyền lợi của Mỹ. Trong khi tôi làm việc với CIA và ngài Thứ trưởng Bộ Ngoại giao tại phòng làm việc của tôi đều nói rằng lợi ích của Việt Nam trong khu vực đều bị ảnh hưởng bởi chính sách biển Đông của Trung Quốc.

Đại sứ Michalak:

– Lợi ích và mối quan tâm của chúng tôi về biển Đông là những con đường hàng hải quốc tế và đã được quốc tế công nhận. Về phương diện cá nhân mà nói, nếu hỏi rằng chính sách biển Đông của Trung Quốc có phải thái quá không, thì đúng là thái quá. Nhưng theo quan điểm của Chính phủ mà nói thì chúng ta có nhiều vấn đề, nhiều nội dung, nhiều lợi ích chúng ta cần cân bằng.

Trước hết, về biển Đông và các tranh chấp ở biển Đông là của khu vực này, gắn liền với lợi ích các nước trong khu vực do vậy tại sao các nước trong khu vực không tự giải quyết, không quan tâm đúng mức mà lại đợi sự giúp đỡ từ bên ngoài.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Chúng tôi không cần Mỹ can thiệp. Tôi chỉ muốn hỏi rằng, những chính sách ấy có ảnh hưởng tới quyền lợi của Mỹ hay không. Còn tất nhiên về quan hệ song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc, thì chúng tôi phải tự  bàn bạc giải quyết với nhau…

(Còn tiếp)

Nguyễn Như Phong [Petrotimes]

“Chúng tôi không bao giờ theo đuổi mối quan hệ với Việt Nam mà phải hy sinh một quốc gia khác, chúng tôi sẽ không theo đuổi mối quan hệ với Trung Quốc mà hy sinh một quốc gia khác” Negroponte

>> Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ I)

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Tôi nhất trí với ngài. Tôi với ngài Đại sứ thì dường như lúc nào công việc nóng bỏng thì chúng tôi lại gặp nhau.

Negroponte (cười):

– Tôi nghĩ rằng ngài Thượng tướng và ông Đại sứ nên gặp nhau trước khi tất cả các sự việc đó xảy ra.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Ngài Đại sứ Hoa Kỳ, tôi coi như bạn bè. Tôi rất quý trọng ngài Đại sứ. Tôi cũng khẳng định với ngài rằng, trong quá trình quan hệ thì chúng ta cũng thấy được lợi ích của hai quốc gia ở khu vực này có những vấn đề tương đồng với nhau. Trong các cuộc trao đổi với những bạn đồng nghiệp với tôi ở Hoa Kỳ, chúng tôi hiểu rất rõ khu vực chúng tôi đang sinh sống cần phải đảm bảo sự ổn định và hòa bình.

Có người gợi ý với tôi rằng, nên quan hệ với Hoa Kỳ nhằm để chống một nước nào đó. Tôi hỏi họ rằng, tôi thấy nước các ngài cũng quan hệ với Hoa Kỳ, có phải là để chống nước chúng tôi không? Chính sách đối ngoại của Chính phủ Việt Nam là mong muốn làm bạn với tất cả các nước trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau và đôi bên cùng có lợi. Chúng tôi không có ý nghĩ là dựa vào nước này để chống lại một nước khác. Cho nên, thế giới này là thế giới mà các mối quan hệ cùng nhau tồn tại và cùng nhau phát triển.

Như ngài biết, chúng tôi cũng phải giải quyết rất nhiều vấn đề với các mối quan hệ với các nước trong khu vực. Chúng tôi muốn quan hệ tốt với họ, chứ không phải là chống họ. Đặc biệt như Trung Quốc, chúng tôi muốn quan hệ tốt với họ, chúng tôi không muốn gây nên mối bất hòa nào, dù là nhỏ nhất với Trung Quốc. Thời gian qua, Trung Quốc họ thực sự có những quan hệ thúc đẩy rất tốt trên nhiều mặt cho sự phát triển kinh tế hai nước. Nhưng việc biên giới đường lưỡi bò họ đưa ra là không thể chấp nhận được, vì nhiều phần trong đó là chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam. Vậy các nước nhìn nhận vấn đề này như thế nào.

Chúng tôi rất ủng hộ chương trình về cơ chế đối thoại chiến lược và cái đó chúng ta có thể trao đổi với nhau. Riêng mối quan hệ với đồng nghiệp chúng tôi, có sự cam kết là chúng tôi sẽ đi sâu về vấn đề này. Chúng tôi sẽ thúc đẩy quan hệ với các nước trong tình hình hiện nay. Trên lĩnh vực của chúng tôi, chúng tôi cũng thảo luận và sẽ đẩy mạnh hơn nữa trong thời gian sắp tới.


Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng tiếp ông John Hanford, Đại sứ lưu động về Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ.

 

Negroponte:

– Vâng, cảm ơn ngài. Tất cả những điều ngài phát biểu đều rất thú vị. Chúng tôi cũng vậy, chúng tôi không bao giờ theo đuổi mối quan hệ với Việt Nam mà phải hy sinh một quốc gia khác, chúng tôi sẽ không theo đuổi mối quan hệ giữa chúng tôi với Trung Quốc mà hy sinh một quốc gia khác. Nhưng mà tôi phải nói rằng, trong những năm vừa qua, nhất là những năm dưới chính quyền Tổng thống Bush thì mối quan hệ giữa Việt Nam với Hoa Kỳ rất tốt, chúng ta đã có nhiều sự hợp tác với nhau trên nhiều lĩnh vực như lĩnh vực an ninh, lĩnh vực giáo dục, lĩnh vực chiến tranh… cũng giống sự mong muốn của chính phủ ngài và chính phủ của chúng tôi muốn rằng sâu rộng thêm mối quan hệ giữa hai quốc gia chúng ta.

Vấn đề biển Đông giống như ngài đã nói, Chính phủ Hoa Kỳ không về một phía nào cả, nhưng chúng tôi tin tưởng rằng tất cả những công ty kinh doanh của Hoa Kỳ trong lĩnh vực này phải có quyền để thúc đẩy các hoạt động kinh doanh của họ tốt. Ngài nói tất cả những hợp tác giữa Bộ của ngài và rất nhiều bộ, ngành khác của Hoa Kỳ, nhất là trong lĩnh vực chống khủng bố, chúng tôi hoan nghênh điều đó. Sau này, nếu ngài có dịp sang Hoa Kỳ, hình như ngài sắp sang Hoa Kỳ thì phải, thì tôi chào đón ngài sang Hoa Kỳ.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Có lẽ sắp tới chúng tôi sẽ có một đoàn thăm Hoa Kỳ, Bộ trưởng của chúng tôi sẽ đi.

Negroponte:

– Vâng, điều đó rất tuyệt.


Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng gặp Thượng tọa Huyền Quang năm 2008.

 

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Tôi cũng nói với ngài rằng, qua chuyến đi của tôi sang Hoa Kỳ tháng 6 vừa qua thì tôi đã gặp được tất cả các cơ quan liên quan đến hợp tác với chúng tôi, tôi cũng đã đến cơ quan mà ngài đã từng phụ trách, nói tóm lại là chúng tôi đã tìm được tiếng nói chung. Chúng tôi đang xây dựng cơ chế hợp tác để đạt kết quả tốt. Điều đó tôi vẫn đang giấu ngài Đại sứ.

Hôm nay tôi rất vui mừng, ngài là một chuyên gia về Việt Nam, một nhà lãnh đạo biết tiếng Việt, đối với tôi đây là một điều lý thú. Tôi hy vọng ngài sẽ dẫn dắt quan hệ hai nước chúng ta đạt được nhiều thuận lợi. Chúng ta đang xây dựng lòng tin, lòng tin ấy đang ngày càng tăng lên. Chúng ta phải làm sao để cho người dân hai nước chúng ta hiểu rằng nếu mối quan hệ của chúng ta tốt thì mối quan hệ vật chất, tinh thần của họ cũng tốt lên; làm sao chúng ta để cho nhân dân Việt Nam cũng như trong khu vực thấy được vai trò của Hoa Kỳ, Hoa Kỳ đến để giữ gìn hòa bình chứ không phải mang đến chiến tranh.

Như ngài biết, nhân dân Việt Nam rất nhạy cảm về vấn đề này, họ chỉ cần nghe thấy tiếng “Mỹ” là đã hình dung có một vấn đề gì đó rất không bình thường?  Cho nên chúng ta phải thúc đẩy quan hệ hai nước để hai bên hiểu rõ về nhau. Ngài thông cảm rằng, đất nước chúng tôi đang trong quá trình đi lên và đang  hoàn chỉnh các mối quan hệ xã hội nên tôn giáo cũng có vấn đề. Đời sống người dân tộc cũng đã cải thiện hơn nhiều. Nếu ngài Đại sứ cùng các bộ, ngành khác của Hoa Kỳ giúp đỡ thì sẽ tạo thêm sự thúc đẩy. Tôi nói với ngài rằng, tôi rất ấn tượng với ngài Đại sứ, chúng tôi có những cuộc trao đổi rất thân thiện. Tôi hiểu rằng, nếu ngài Tổng thống Bush không làm xong nhiệm kỳ này, thì chính sách của Mỹ vẫn không có gì thay đổi. Qua các buổi gặp với các cơ quan của Hoa Kỳ, tôi tiên lượng được vấn đề này.

Nói chung, tương lai quan hệ giữa hai nước chúng ta sẽ tốt đẹp. Sau chuyến đi của ngài, ngài cũng sẽ khẳng định được rằng, quan hệ giữa hai nước chúng ta vẫn liên tục phát triển. Tôi đánh giá rất cao vai trò của ngài, trong việc xây dựng mối quan hệ, Bộ Ngoại giao là rất quan trọng.

Negroponte:

– Ý của ngài nói về vai trò của Bộ Ngoại giao là rất quan trọng thì tôi không dám đánh giá, nhưng tôi chia sẻ những ý kiến lạc quan mà ngài vừa phát biểu. Tôi còn nhớ, sau chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Bush, thì ngay ngày hôm sau, sau khi trở về nước, tôi và ngài Tổng thống có gặp nhau và lúc đó ngài Tổng thống đã tỏ ra rất hồ hởi đối với tất cả mối quan hệ giữa hai nhân dân chúng ta. Tôi nghĩ rằng chúng ta đã có nền tảng rất tốt để tiến lên phía trước. Tôi nghĩ rằng tất cả những điều đó không còn liên quan gì đến chiến tranh cả, nó hoàn toàn liên quan đến lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực y tế hoặc lĩnh vực giáo dục. Cảm ơn ngài ngày hôm nay đã tiếp tôi và tôi mong sẽ trở lại trong tương lai. Sẽ có rất nhiều sự hợp tác với Bộ của ngài.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Có vấn đề gì ngài cứ nói với ngài Đại sứ, ngài Đại sứ sẽ nói với tôi. Tôi với ngài Đại sứ đã có cam kết rồi, hai bên sẽ hợp tác tốt với nhau để giải quyết, thúc đẩy mối quan hệ không chỉ riêng hai chúng tôi. Tôi thấy có nhiều cơ quan của Việt Nam cũng mến ngài Đại sứ. Tôi cũng phải nói với ngài rằng, tôi và Đại sứ đây có hứa ăn cơm với nhau một bữa nhưng vẫn chưa ăn với nhau được. Tôi sẽ xem xét lại ý kiến của ngài, không hiểu tại sao ngài Đại sứ, nhân viên từ Hà Nội vào tận các tỉnh mà không ủy quyền cho TLS, điều này tôi với ngài sẽ tìm hiểu sau.

Hôm nay chúng ta có thể kết thúc tại đây!

***

Ở phần tiếp, chúng tôi sẽ đăng tải những ghi chép về buổi làm việc của  Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng với Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Michalak.

Bạn đọc có thể theo dõi trên Petrotimes vào lúc 15h ngày 1/10/2011.

Buổi làm việc được bắt đầu bằng việc Đại sứ Michael Michalak hỏi Thượng tướng về tình hình biển Đông và nói muốn có vai trò tại khu vực này…

(Còn tiếp)

Nguyễn Như Phong (thực hiện)

BBC Việt ngữ: Một kiểu làm báo thấp tầm! 

Đó là tiêu đề của một bài viết đăng trên Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh số ra ngày 23/4/2010 của tác giả Ngọc Khánh liên quan tới bài “Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc” của một tác giả là nghiên cứu sinh người Việt ở Mỹ được trang mạng BBC Việt ngữ đăng tải ngày 17/4/2010.

Theo tác giả Ngọc Khánh, trong bản quy tắc biên tập của mình, BBC quy định: Đối với các chủ đề gây tranh cãi, “chúng ta (biên tập viên) phải luôn nhớ rằng phần lớn nội dung của BBC giờ đây đã hiện diện ở nhiều nước trên khắp thế giới… Khi vấn đề rất gây tranh cãi, chúng ta phải đảm bảo rằng tất cả các quan điểm chính đều được phản ánh trong những nội dung của BBC, có thể bằng một chương trình riêng, một bài viết riêng”.

Tác giả nhận định, có thể thấy các quan điểm sai trái, thiếu hiểu biết và ngụy biện trong các bài viết nêu trên của BBC Việt ngữ chắc chắn là quan điểm gây tranh cãi và khi được đăng tải nguyên vẹn trong một bài viết trên mạng thì nghĩa là chúng đã hiện diện ở nhiều nước trên khắp thế giới.

Ngọc Khánh cho rằng, cách hành xử của BBC Việt ngữ rõ ràng đang đi ngược lại quy tắc biên tập của chính họ. Thêm vào đó, cách xử lý của BBC Việt ngữ sau khi bị độc giả phản ứng dữ dội cũng đang đi ngược lại “truyền thống chuyên nghiệp” mà họ vẫn tự hào.

G.K

[Bài của Petrotimes]

Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ I)

Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ II)

Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ III)

Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ cuối)

Ngày 31/8/2011, Báo Điện tử BBC bản tiếng Việt đăng bài: “Tướng Hưởng than phiền về biển Đông”. Nội dung bài báo là đăng lại bức điện mật của Đại sứ Mỹ báo cáo về cuộc gặp của Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng Thứ trưởng Bộ Công an và Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Hoa kỳ John Negroponte và Phó trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ Scott Marciel vào ngày 11/9/2008, với sự tham gia của Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Michalak. Bức điện này bị Wikileaks thu được.

Theo BBC thì nội dung bức điện là, trong cuộc gặp này, Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng đã trách Hoa Kỳ không đứng về phía Việt Nam trong vấn đề biển Đông. Bức điện còn viết: “Ông Hưởng còn thể hiện ý kiến rằng an ninh khu vực, hòa bình và thịnh vượng không thể có được nếu như không có sự hiện diện của Hoa Kỳ tại khu vực này và nói thêm sự có mặt của Hoa Kỳ có thể điều phối quan hệ trong khu vực”.

Chúng tôi cũng có trong tay hai bức điện của Đại sứ quán Hoa Kỳ và thấy nội dung cuộc họp đã không được phản ánh trung thực, bởi lẽ Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng chưa hề có lời nào như thế (hoặc tương tự như thế), trong các cuộc gặp với John Negroponte và Scott Marciel cùng Đại sứ Michael Michalak.

Tôi (Nguyễn Như Phong, Đại tá an ninh,  nguyên là Phó tổng biên tập Báo Công an Nhân dân, phụ trách chuyên đề An ninh thế giới tuần) – là người được dự nhiều cuộc gặp giữa Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng với phái đoàn Hoa Kỳ, cũng rất ngạc nhiên trước sự việc này.

Để bạn đọc hiểu rõ sự thực về những cuộc gặp  này và từ đó sẽ thấy được sự cắt xén nội dung bức điện nhằm “đổi trắng thay đen”, “thọc gậy bánh xe” của BBC, được phép của Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, Báo Năng lượng Mới xin đăng nguyên văn biên bản cuộc đối thoại giữa Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng (hiện là phái viên của Thủ tướng Chính phủ về an ninh và tôn giáo) với Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Negroponte, Phó trợ lý Ngoại trưởng Scott Marciel và Đại sứ Michael Michalak.

I. Cuộc gặp của Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng với Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Mỹ John Negroponte.

Cuộc gặp được tổ chức vào ngày 11/9/2008 tại phòng khách Tổng cục An ninh, 15 Trần Bình Trọng, Hà Nội.

Tham dự cuộc họp về phía Việt Nam có các ông: Thứ trưởng Nguyễn Văn Hưởng; ông Tô Lâm, Phó tổng cục trưởng Tổng cục An ninh và một số cán bộ giúp việc khác. Phiên dịch cho phía Việt Nam là Phan Thanh Mỹ.

Về phía Hoa Kỳ gồm các ông: John Negroponte, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Mỹ; Scott Marciel, Phó trợ lý Ngoại trưởng Mỹ về Đông Á – Thái Bình Dương; Michael Michalak, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam; Brian Aggeler, Tham tán chính trị Sứ quán Mỹ; Monica Lam, Thư ký Đại sứ Mỹ; Vương Thanh, phiên dịch.


Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng trong một lần gặp Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam ông Michael Michalak

Sau những lời chào hỏi xã giao, Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Tôi biết ngài từng ở Sài Gòn khá lâu. Hôm nay gặp nhau, tôi muốn nghe chút tâm sự của ngài?

 Negroponte:

– Lần đầu tiên tôi trở lại Việt Nam kể từ năm 1973, cũng là một thời gian khá dài. Tôi có thời gian làm việc 4 năm ở Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn ngày xưa.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Từ đó ngài đã có lần nào quay lại chưa?

Negroponte:

– Chưa, bây giờ quay lại Việt Nam tôi thấy điều kiện và hoàn cảnh đã khác nhiều. Cũng nhờ những nỗ lực của hai chính phủ, chúng ta đã gặt hái được những điều tốt đẹp.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Tôi đồng ý. Tôi rất vui mừng được đón tiếp ngài tại Bộ Công an. Quan hệ tốt của hai nước đã tạo cơ hội cho các cơ quan có cơ hội cùng làm việc. Tôi cũng đã có cơ hội được đến thăm Hoa Kỳ 3 lần, được tiếp kiến ngài Tổng thống và phải nói thực rằng, đánh giá sự phát triển của hai nước chúng ta ngày càng toàn diện. Xin cảm ơn Đại sứ đã gửi tôi bức ảnh chụp với Tổng thống Bush. Tôi biết rằng ngài Thứ trưởng trong chuyến đi Việt Nam lần này giải quyết rất nhiều vấn đề trong quan hệ hai nước. Hôm nay Bộ Công an được tiếp ngài, hy vọng được nghe ý kiến của ngài về quan hệ với Bộ Công an.

Negroponte:

– Trước hết tôi thấy rằng hai quốc gia chúng ta còn nhiều lĩnh vực mà chúng ta có thể tiếp tục làm việc, công tác với nhau nhiều hơn. Tôi biết cách đây một tuần, cộng sự viên của chúng tôi, ông Kappes đã có dịp được làm việc với ngài. Ông Kappes với tôi có một thời gian dài được làm việc gần gũi với nhau, khi mà lúc đó đó tôi là Giám đốc tình báo quốc gia. Tôi là người thuyết phục ông Kappes trở lại làm việc cho chính phủ vì ông đó đã về hưu nhưng tôi thuyết phục thì ông ấy trở lại. Đấy là một trong những lĩnh vực mà chúng ta có thể hợp tác. Chúng tôi đã làm việc với ngài Bộ trưởng và Thứ trưởng Bộ Ngoại giao để nói lên mong muốn của chúng tôi để những nhân viên của chúng tôi ở Tổng lãnh sự quán (TLSQ) Mỹ tại TP HCM có được những cơ hội để thực hiện công việc lãnh sự của họ sâu rộng ra. Bởi vì những sự việc tới hạn hiện tại họ đang gặp phải, họ có cơ hội nới rộng những dịch vụ lãnh sự ở những nơi tôi nghĩ họ nên có mặt ở đó. Tôi mong ngài hiểu rằng, tất cả những gì chúng tôi muốn làm hoàn toàn không có ý định giấu giếm trong công việc lãnh sự mà bổn phận chúng tôi phải làm. Việc này chúng tôi sẽ làm việc với Bộ Ngoại giao Việt Nam. Chúng tôi muốn nói với ngài là để tất cả nhân viên của Bộ Công an Việt Nam biết được sự di chuyển của nhân viên Hoa Kỳ khi họ thực hiện bổn phận của họ. Tôi nói với ngài để tỏ lòng biết ơn nếu trong tương lai ngài Đại sứ của chúng tôi có cơ hội được làm việc với ngài để giải nghĩa những chi tiết về những việc mà tôi vừa trình bày.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Tôi rất hiểu ý nghĩa của việc TLSQ tiến hành công việc. Trong quan hệ của chúng ta ngày càng phát triển thì việc mở rộng các hoạt động, phạm vi của cơ quan đại diện các ngài thì  tới được các tỉnh, thành phố khác là cần thiết. Tôi thông báo cho ngài rằng, trong khi chưa hoạt động một cách chính thức thì các hoạt động của ngài Đại sứ và bộ phận khác vẫn bình thường, từ trước tới giờ, chúng tôi đã tạo điều kiện cho các ngài tốt và sẽ tiếp tục như vậy.

Chúng tôi cũng nói với ngài rằng, chúng tôi không coi hoạt động của nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ đe dọa an ninh Việt Nam. Điều này tôi đã khẳng định với ngài Đại sứ trong một dịp làm việc cách đây khoảng một tháng. Tuy nhiên, chúng tôi có tính đến đặc điểm từng vùng miền. Đặc điểm vùng miền này là vùng dân tộc thiểu số, đặc biệt là dân tộc Khmer. Ở đây cũng có những mối quan hệ về đường biên giới, cho nên những bước mở rộng của chúng ta còn phụ thuộc vào những đặc điểm này và chúng ta phải tính toán những bước đi cho phù hợp.

Chúng tôi khẳng định trong những cái như vậy cũng không có trở ngại gì đối với nhân viên của ngài Đại sứ. Tóm lại, tôi rất ủng hộ ý kiến của Bộ Ngoại giao. Tôi ghi nhận ý kiến của ngài và sẽ có phản ứng tích cực.

Negroponte:

– Tôi có một điều muốn làm rõ, nếu tôi nói sai thì ngài Đại sứ sẽ sửa cho tôi. Trong việc lãnh sự, ví dụ như xảy ra tại Cà Mau thì hiện thời bây giờ nhân viên lãnh sự của Hoa Kỳ xuất phát từ Hà Nội phải đến Cà Mau làm việc, nhân viên của Hoa Kỳ tại TP HCM lại không được phép đến Cà Mau làm việc.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng (quay sang hỏi các cán bộ giúp việc):

– Có phải như thế không?

Một sĩ quan trả lời:

– Báo cáo anh, không hẳn là như thế. Đứng về mặt phạm vi thì đúng là theo quy định của hai bên thì phạm vi hoạt động lãnh sự của TLSQ tại TP HCM thì chỉ trong phạm vi đấy thôi. Cũng như TLS của ta ở San Francisco thì Hoa Kỳ cũng chỉ cho (hoạt động) trong phạm vi đấy thôi. Thế nên về mặt nguyên tắc thì khó nhưng trên thực tế ta vẫn tạo điều kiện cho họ đi.

Negroponte:

– Chúng tôi không giới hạn hoạt động của TLSQ Việt Nam tại San Francisco. Tôi nghĩ rằng, về việc này chúng ta cần phải có một cuộc đối thoại để có thể tìm được một giải đáp thực tế cho vấn đề này. Tôi chỉ đề nghị thế thôi.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

–  Những vấn đề cụ thể tôi sẽ làm việc với ngài Đại sứ nhưng tôi nghĩ không có giới hạn nào. Tôi chưa thấy có việc nào Sứ quán phải cử nhân viên từ Hà Nội vào, tôi nghĩ các nhân viên của TLSQ tại TP HCM khi đi thì các ngài có thể thay mặt Đại sứ ở đây, không có gì cản trở. Chúng tôi sẽ kiểm tra lại, chúng tôi sẽ điều chỉnh. Tôi nghĩ ngài Đại sứ có thể ủy quyền TLSQ đi gặp. Sao phải từ ngoài này vào? Ngày hôm nay tôi mới được nghe thấy việc này. Tôi sẽ làm việc với ngài Đại sứ. Nếu đúng như vậy thì từ khi tôi gặp ngài Đại sứ, TLSQ có thể đi thay các ngài từ Hà Nội vào.


Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng đang kiểm tra một đơn vị đặc nhiệm của Công an Hà Nội

Negroponte:

– Rất vui mừng. Cảm ơn ngài.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Tôi nghĩ sau này có mở rộng phạm vi hoạt động thì đó chỉ là cái chính thức thôi, còn phạm vi hoạt động các ngài thì các ngài đại diện ở đây thì chúng tôi không hạn chế về việc đó.

Hôm nay có ngài Thứ trưởng ở đây cùng ngài Đại sứ, tôi cũng nói về việc hết sức là nội bộ quan hệ của chúng ta, một điều mà việc tiếp xúc địa phương ở Việt Nam, nhân viên của các ngài có nhiều vấn đề mà địa phương người ta phàn nàn. Tôi nhận được rất nhiều ý kiến của địa phương, người ta rất khen ngài Đại sứ trong thời gian vừa qua đã chịu khó xuống các tỉnh, thăm các nơi nghèo khó, thăm các trại mồ côi… Người ta rất trân trọng ngài Đại sứ về một số nghĩa cử. Thế nhưng một số nhân viên TLSQ Mỹ tại TP HCM gần đây thường hay gặp không chính thức rồi chính thức đối với những người mà địa phương cho rằng, đó là những người mà không tốt với chính quyền, hay nói thẳng ra đó là những kẻ chống đối. Tôi cho rằng những việc gặp như vậy sẽ không có lợi cho địa phương, làm cho những người có thái độ xấu không hợp tác với chính quyền, họ cho rằng phía Hoa Kỳ và Đại sứ ủng hộ họ. Điều này làm cho quan hệ giữa địa phương và TLSQ Hoa Kỳ tại TP HCM chưa được thân thiết. Nhân viên các ông thường xuyên gặp những người luôn có những hành động, việc làm chống đối chính quyền. Chúng tôi hiểu rằng việc đó sẽ giúp cho các ngài tìm hiểu thông tin, về khía cạnh này, khía cạnh khác cho nên phía Bộ Công an không có ý kiến gì về việc này. Thậm chí tôi có nói với ngài Đại sứ rằng có thể đi gặp thêm một số người nữa. Tôi nghĩ rằng, để giải quyết vấn đề này đôi khi các ngài ở TLSQ khi gặp thì nên thông báo cho chính quyền địa phương, những người này không liên quan gì đến TLS hoặc số nhân viên của phía Hoa Kỳ. Tôi nói về vấn đề này có tính chất xây dựng, làm thế nào để giúp cho địa phương và cơ quan lãnh sự có quan hệ tốt. Tôi cũng nói với ngài Thứ trưởng rằng, mặc dù như vậy nhưng mà các địa phương cũng không có hành vi gì cản trở các nhân viên ngoại giao làm việc cả. Đây là vấn đề nhạy cảm. Chừng mực nào đó thì một số cán bộ địa phương người ta nghĩ rằng các ngài đứng sau những người có hành vi chống đối. Chúng tôi muốn sau này, giữa cơ quan ngoại giao Hoa Kỳ có đường thông tin chính thức với chúng tôi, có những hợp tác để giúp ích chúng tôi tìm hiểu thông tin về nhân sự. Gần đây, có một số trường hợp các ngài tự đi xác minh, tự đi tìm hiểu thì gây cho địa phương những thắc mắc. Trong quá trình hoạt động quan hệ thì vẫn còn có những tồn tại như vậy, chúng ta phải hợp tác làm thế nào để sự phối hợp đó được tốt; người ta tôn trọng cái quyền của địa phương người ta, chúng ta thì có những việc riêng và làm thế nào để chúng ta có những thông tin được tốt.

Đại sứ Michalak:

– Tôi khẳng định với ngài Thứ trưởng rằng, trong việc thúc đẩy quan hệ giữa hai nước chúng ta, nhất là quan hệ giữa Hoa Kỳ và dân tộc Việt Nam ngày càng tốt. Vì vậy nên những vấn đề quan tâm của tôi về TLSQ  cũng là những vấn đề mà chúng tôi thấy rằng chúng ta cần có sự hợp tác rất tốt, chúng ta tạo điều kiện cho những nhân viên của TLSQ và địa phương hoàn thành tốt nhiệm vụ của họ.

Negroponte:

– Vâng thưa ngài, tôi muốn nói với ngài một điều đầu tiên là nếu như ngài nghĩ lại và thấy rằng tất cả những chuyện gì xảy ra giữa mối quan hệ Hoa Kỳ và Việt Nam trong 8 năm qua, trong thời kỳ của Tổng thống Bush thì tôi cho rằng ngài sẽ đến một kết luận rằng mối quan hệ giữa hai nước chúng ta đã có những bước tiến rất tốt. Vâng thưa ngài, chúng tôi muốn nói rằng chúng tôi không có một chú ý nào trong cuộc gặp với người nào đó hoặc có chú ý nào đe dọa đến Việt Nam. Đã có những cuộc đối thoại giữa hai ngài Tổng thống và ngài Chủ tịch nước của hai quốc gia đã có những cuộc trao đổi rất nhiều từ các cấp của hai quốc gia, tại sao chúng ta lại biết rõ được những điều tốt xảy ra, chú ý nào đe dọa đến Việt Nam. Vâng, tất cả những hoạt động của chúng tôi đã xảy ra là vì chúng tôi muốn hiểu rõ thêm suy nghĩ của những người dân Việt Nam và đây có thể nói những khác biệt trong lịch sử, chính trị, hoặc là những quan điểm trong quá khứ giữa hai nước chúng ta nhưng chuyện đó không phải là quan trọng. Vâng, dựa theo tất cả những điều phát biểu của ngài, tôi thấy rằng, trong tương lai giữa ngài và ngài Đại sứ của chúng tôi ở đây sẽ phải gặp nhau thường xuyên hơn nữa để chúng ta có những dịp để mà bàn làm cho những việc hiện thời đã hữu ích rồi càng hữu ích thêm.

BBC (viết tắt cụm từ tiếng Anh: British Broadcasting Corporation), được thành lập năm 1922, là thông tấn xã quốc gia của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Sản phẩm của BBC là bao gồm các chương trình và thông tin trên TV, trên đài phát thanh và trên Internet.
Hiện tại, do nhiều thay đổi về ngân sách và chính sách, BBC chỉ còn truyền tin bằng 28 ngôn ngữ, gồm trang tin trên mạng internet của BBC Tiếng Việt. Từ tháng 4/2011, BBC Tiếng Việt đã ngừng phát chương trình trên làn sóng ngắn để tập trung vào truyền thông trên Internet.

(Còn tiếp)

 Nguyễn Như Phong [Bài của Petrotimes]

Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ I)

Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ II)

Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ III)

Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ cuối)

Bức điện tối mật của Đại sứ Mỹ về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng – Thứ trưởng Bộ Công an Việt Nam đã bị Wikileaks thu được.

Ngày 31/8/2011, Báo Điện tử BBC bản tiếng Việt đăng bài: “Tướng Hưởng than phiền về biển Đông”. Nội dung bài báo là đăng lại bức điện mật của Đại sứ Mỹ báo cáo về cuộc gặp củaThượng tướng Nguyễn Văn Hưởng – Thứ trưởng Bộ Công an với Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Hoa kỳ – John Negroponte và Phó trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ – Scott Marciel vào ngày 11/9/2008, với sự tham gia của Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Michalak.

Theo BBC thì nội dung bức điện là, trong cuộc gặp này, Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng đã trách Hoa Kỳ không đứng về phía Việt Nam trong vấn đề biển Đông.

Bức điện còn viết: “Ông Hưởng còn thể hiện ý kiến rằng an ninh khu vực, hòa bình và thịnh vượng không thể có được nếu như không có sự hiện diện của Hoa Kỳ tại khu vực này và nói thêm sự có mặt của Hoa Kỳ có thể điều phối quan hệ trong khu vực”.


Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng trong một lần gặp Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam ông Michael Michalak

Chúng tôi cũng có trong tay hai bức điện của Đại sứ quán Hoa Kỳ và thấy nội dung cuộc họp đã không được phản ánh trung thực, bởi lẽ Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng chưa hề có lời nào như thế (hoặc tương tự như thế), trong các cuộc gặp với John Negroponte và Scott Marciel cùng Đại sứ Michael Michalak.

Tôi (Nguyễn Như Phong, Đại tá an ninh, nguyên là Phó tổng biên tập Báo Công an Nhân dân, phụ trách chuyên đề An ninh thế giới tuần) – là người được dự nhiều cuộc gặp giữa Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng với phái đoàn Hoa Kỳ, cũng rất ngạc nhiên trước sự việc này.

Để bạn đọc hiểu rõ sự thực về những cuộc gặp này và từ đó sẽ thấy được sự cắt xén nội dung bức điện nhằm “đổi trắng thay đen”, “thọc gậy bánh xe” của BBC, được phép của Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, Petrotimes xin đăng nguyên văn biên bản cuộc đối thoại giữa Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng (hiện là phái viên của Thủ tướng Chính phủ về an ninh và tôn giáo) với Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Negroponte, Phó trợ lý Ngoại trưởng Scott Marciel và Đại sứ Michael Michalak.

Nguồn bài Petrotimes

>> Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ cuối)

>> Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ III)

>> Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ II)

>> Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ I)

‘Việt Nam không chấp nhận sự can dự xâm hại chủ quyền’

 

Trong thế giới mở, sự can dự lợi ích của các quốc gia là điều không thể ngăn cấm. Nhưng nếu đó là sự can dự xâm hại chủ quyền thì không được phép chấp nhận.
Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh trao đổi với VnExpress.

– Đối thoại Shangri La lần thứ 12 vào cuối tháng 5 đầu tháng 6 tới diễn ra trong bối cảnh an ninh khu vực nhất là Biển Đông có nhiều căng thẳng. Việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được mời với tư cách là diễn giả chính mang thông điệp gì thưa ông?

– Lời mời dành cho Thủ tướng Việt Nam được Giám đốc Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế (IISS) của Vương quốc Anh đưa ra, đồng thời Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long có lời mời chính thức. Như vậy, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ là khách mời chính thức của IISS và là Quốc khách của Singapore.

Từ khi Việt Nam chính thức công bố Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dự đối thoại Shangri La và có bài phát biểu quan trọng mở đầu hội nghị, các hãng tin quốc tế đều đưa tin này với độ nóng cao. Họ đang chờ đợi Thủ tướng Việt Nam sẽ nói gì trong hội nghị này.

Trong bối cảnh tình hình an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương có nhiều vấn đề phức tạp, cả thuận lợi và thách thức, thì việc Thủ tướng Việt Nam được mời phát biểu đầu tiên chứng tỏ Ban tổ chức, nước chủ nhà cũng như cộng đồng quốc tế đánh giá cao vai trò của Việt Nam, đặc biệt trong đóng góp vào hòa bình, an ninh ổn định và hợp tác trong khu vực. Đồng thời, sự tham gia của Thủ tướng cho thấy Việt Nam rất quyết tâm mở rộng quan hệ quốc tế đa dạng, không chỉ song phương mà còn đa phương; quyết tâm hội nhập, trở thành đối tác tin cậy của tất cả các nước.

– Đối thoại Shangri La sắp diễn ra tại Singapore sẽ bàn đến sự can dự của Mỹ vào vấn đề an ninh khu vực cũng như vai trò của Trung Quốc đối với an ninh toàn cầu. Là một quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng, quan điểm của Việt Nam trước những vấn đề này như thế nào, thưa Thứ trưởng?

– Trong một thế giới mở, sự can dự lợi ích các quốc gia là điều không thể ngăn cấm. Họ có quyền bảo về chủ quyền và can dự lợi ích đồng thời tìm lợi ích trong quan hệ với các quốc gia khác. Sự can dự ấy nếu là can dự hòa bình, hợp tác và phát triển thì đó là tích cực. Điều này có lợi cho các nước nhỏ, các nước đang phát triển bởi nó tạo điều kiện hội nhập mạnh mẽ hơn giữa các nước trong khu vực, nhất là các nước đang phát triển như Việt Nam. Chúng ta kỳ vọng những can dự này sẽ đem lại sức sống mới, năng động mới cho cả khu vực.

Nhưng nếu việc can dự mang mục đích lợi ích đơn phương, cục bộ, cao hơn là mang tính bạo lực, xâm hại chủ quyền lợi ích quốc gia khác sẽ không được chấp nhận.

Tôi muốn nói thêm là sự can dự nếu quá thiên về quốc phòng, an ninh sẽ gây nguy cơ tiềm tàng va chạm trong khu vực. Hãy hình dung tình trạng này như có nhiều thùng thuốc súng để gần nhau quá sẽ có ngày bắt lửa. Sự hiện diện quân sự ấy có thể đem lại lo lắng dẫn đến cuộc chạy đua vũ trang mới trong khu vực mà gần đây đã có dấu hiệu của cuộc chạy đua này.

– Việt Nam từng trở thành bài toán mặc cả trong thỏa hiệp lợi ích của các nước lớn. Trong bối cảnh phức tạp hiện nay thì Việt Nam cần làm gì để tránh bị các nước thỏa hiệp trên lưng mình?

– Việc các nước thỏa hiệp mặc cả hy sinh lợi ích của Việt Nam chỉ xảy ra khi ta mất độc lập tự chủ, ngả về bên này hoặc bên kia. Việt Nam đã tuyên bố rõ đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, không tham gia liên minh quân sự, không đi với bên này để chống bên kia.

Thế giới xác định có 3 cách để bảo đảm hòa bình, tự chủ: Một là trở thành nước lớn để hạn chế đối phương hại đến hòa bình lợi ích nước mình. Hai là kiểu “đu dây”, lúc ngả theo bên này, lúc ngả bên kia, sẵn sàng hy sinh lợi ích chiến lược và uy tín quốc gia trong từng thời điểm để đạt mục tiêu trước mắt. Cách thứ ba, khó nhưng bền vững nhất là giữ được độc lập tự chủ, làm bạn với tất cả các nước. Trước hết là độc lập về chính trị, rồi đến độc lập về kinh tế, văn hóa, độc lập về quốc phòng an ninh.

Với Việt Nam, tính chất địa chính trị không cho phép chúng ta chọn “chỗ vắng” được mà buộc phải chọn “chốn đông người”. Vì vậy, trong khi giữ độc lập tự chủ thì mình phải đẩy mạnh mở cửa, trở thành bạn, thành đối tác với tất cả các nước. Đây là vấn đề có tính sống còn cho giữ gìn ổn định, hòa bình, phát triển, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và chế độ chính trị của đất nước ta.

– Quy tắc ứng xử trên Biển Đông chưa ra đời, Việt Nam đề xuất cơ chế hợp tác gì để có thể tránh các vụ va chạm, xung đột trên biển giữa các quốc gia trong khu vực?

– Những va chạm đáng tiếc trên Biển Đông hiện nay khiến ta rất quan ngại. Thậm chí đó là nguy cơ cho an toàn tính mạng của người dân. Điều này trước hết làm xáo trộn môi trường hòa bình của người lao động trên biển. Lợi ích của các nước có chủ quyền bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tôi quan ngại trước hành vi bạo lực nếu nó xuất hiện trên Biển Đông, nhất là khi nó trở thành có tính hệ thống.

Để đẩy lùi nguy cơ này, ta kiên quyết theo đuổi biện pháp hòa bình. Điển hình là Thỏa thuận về nguyên tắc xử lý các vấn đề trên Biển Đông mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký với Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào vào năm 2011. Thỏa thuận này không chỉ giải quyết vấn đề giữa Việt Nam – Trung Quốc mà còn đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định trong khu vực.

Thứ hai, ta đấu tranh mạnh mẽ với các hành vi bạo lực, với người sử dụng vũ lực, gây ra xung đột. Chúng ta cần công khai minh bạch, yêu cầu không tái diễn.

– Nhưng trong những tình huống thực tế, khi phải đối mặt với hành động bạo lực của lực lượng quân sự tấn công người dân như vụ tàu cá ở Quảng Ngãi bị tàu hải quân Trung Quốc bắn vừa qua thì lực lượng trên biển của ta phải hành động gì để đối phó?

– Chúng ta có cách để hạn chế họ dùng vũ lực và không để xảy ra xung đột. Trước hết là đấu tranh ngoại giao trực diện trên các diễn đàn song phương và đa phương. Trên thực địa, ta có nhiều biện pháp linh hoạt, hiệu quả như sử dụng lực lượng chấp pháp kết hợp với tàu đánh cá để bao vây, đẩy đuổi.

Về một số hành động vũ lực đối với tàu cá của ngư dân Việt Nam vừa qua, tôi hy vọng rằng đây mới chỉ là hành động cục bộ chứ chưa phải là chủ trương, tuy nhiên vẫn cần đấu tranh kiên quyết ngay từ những dấu hiệu ban đầu này, không để những hiện tượng tương tự tái diễn.

Lực lượng thực thi luật pháp trên biển của Việt Nam luôn đề cao tính nhân đạo trong xử lý các vấn đề trên biển với lao động bình thường. Xử lý nghiêm minh nhưng nhân đạo, đặc biệt không dùng vũ lực, bạo lực đe dọa ức hiếp người dân Trên bình diện đa phương, ta cũng cần nêu vấn đề công khai minh bạch, để cộng đồng quốc tế hiểu rõ chính sách của Việt Nam và hiểu rõ các vấn đề mà ta đang gặp phải.

– Cách đây một năm, ông từng nói Biển Đông sẽ có những diễn biến bất thường và khó lường. Vậy tại thời điểm này, ông đánh giá tình hình như thế nào?

– “Nhiệt độ” trên Biển Đông đã đến điểm mà các nước phải có tính toán rất kỹ nếu đi thêm bất kỳ bước nào nữa. Ví dụ như vừa qua nói rằng một số nước lớn phát triển chiến lược biển, có nhiều động thái đơn phương, không theo đúng luật pháp quốc tế, tuy mang nặng tính biểu tượng, mặc dù vậy đã gây ra nhiều quan ngại. Nhưng nếu họ đi từ tuyên bố đến hành xử trên thực tế thì vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn rất nhiều. Ta cần đấu tranh với từng thái độ, từng hành động để mọi tuyên bố đi ngược lại với luật pháp quốc tế, đi ngược với cam kết giữa các bên, phương hại đến hòa bình, ổn định trong khu vực không xảy ra trên thực tế.

NGUYỄN HƯNG (VNEXPRESS)

Khôi hài “ RÂN TRỦ “ RỞM chống Cộng.

Lũ “ RÂN TRỦ “ chống Cộng luôn ví Đảng CSV

N với các triều đại phong kiến. Lũ “RÂN TRỦ “ luôn tự cho mình là những người làm cách mạng giống như lực lượng Việt Minh (thời chống Pháp, chống Nhật) hay Mặt Trận Giải phóng Dân tộc (thời chống Mỹ) lũ “ rân trủ “ lại luôn cấu kết cùng các thế lực bên ngoài để tìm cách lật đổ chính quyền Việt Nam , hòng cai trị nhân dân Việt Nam. Chúng khôi hài luôn ví mình với … Việt Minh , với những người Cộng sản đấu tranh chống Pháp , rồi lại chống Nhật , rồi lại chống Pháp quay lại , vẫn chưa hết , lại phải chống Mỹ …

Mõ làng “ rân trủ “ SBTN hải ngoại thỉnh thoảng lén lút dùng những video quay cảnh ở Việt Nam rồi dựng thành phim xuyên tạc , bịa đặt.

hình ảnh Nguyễn Văn Lý bị nhân viên an ninh khống chế vì la hét và đập phá tòa án trong phiên xét xử

Bức ảnh mà bọn Rận chủ mang đi xuyên tạc.

Bức ảnh mà bọn Rận chủ mang đi xuyên tạc.

rồi chúng cứ thế mà rêu rao khắp nơi rằng Việt Nam không có tự do . (Hoang đường ! Xưa nay, nơi công đường đâu phải để ngươi xem thường làm loạn ? Người đâu, phạt tên này 10 trượng cho bản phủ !)

Thực ra thì lũ rân trủ rất muốn phát hành riêng những tờ báo của riêng chúng để tha hồ mà bịp bợm người dân . Nhưng chúng ta cũng biết rằng , lũ này không hề tuân thủ pháp luật . Những khi bị xử lý theo pháp luật Việt Nam vì những thông tin sai trái , chúng thường bảo đó là không có “tự do” . Vậy thử hỏi , thứ “tự ro” mà chúng đang “đấu chanh” đòi bằng được đó là thứ tự RỦI RO mà thôi. Chứ tự do theo cách của riêng chúng , phục vụ mục đích cá nhân và phe nhóm của chúng thì Tổ Quốc Việt Nam loạn ngay.

Lũ “ RÂN TRỦ “ bất chấp luật pháp len lỏi vào những thiểu số Cong giáo , Tin Nành , của cái gọi là Giáo Hội Phật giáo VN TN … thường được chính quyền xử lý rất nhẹ nhàng với mục đích muốn cải hóa những kẻ cuồng tín hoặc núp bóng tôn giáo , phục vụ cho mục tiêu Đại Đoàn Kết Dân Tộc . Chúng đắc trí cho rằng “CSVN sợ” . Còn khi sự vi phạm pháp luật quá đáng bị ngăn chận thì chúng lại hô hoán bảo “bạo quyền khát maú”, phải lên tiếng kêu gọi “cộng đồng quắc tế” can thiệp vào nội bộ Việt Nam. Cái máu “rước voi mà giày mả tổ” , “cõng rắn cắn gà nhà” của Lê Duy Kỳ (tức Chiêu Thống) , Trần Ích Tắc, Trần Kiện, Trần Thiểm Lại … quả là chảy quá mạnh trong não bộ bọn rân trủ.

KẺ PHÀN ĐỘNG ĐÙNG TRÒ HÈN HẠ GIẢ MẠO TÊN LÃNH ĐẠO cảnh báo chẳng bao giờ thấy thừa. mặc dù đã được nhắc nhở. nhưng còn rất nhiều men yêu nước bị bọn phản động dùng trò hèn hạ dẫn đi sai hướng. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hiện nay chỉ có trang thông tin duy nhất tại địa chỉ http://thutuong.chinhphu.vn/

. Trang thông ti

n này được chính thức công bố từ tháng 8-2007 và được Cổng thông tin điện tử Chính phủ xác nhận “là trang tin chính thức, duy nhất của Thủ tướng được xây dựng như một trang thành viên của Cổng thông tin điện tử Chính phủ”. một loạt tên miền tự xưng là trang thông tin cá nhân của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đều dẫn về cùng một trang thông tin với tên “Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng”. Bài viết trong các chuyên mục vừa có tác giả viết đứng tên, vừa có lấy lại từ các nguồn báo mạng trong nước và đều được “ĐĂNG BỞI BAN BIÊN TẬP” (!?). lượt đến từ gần 30 quốc gia khác nhau. Trong đó lượng truy cập đông nhất chủ yếu từ VN và Mỹ. Về mặt kỹ thuật, các trang web trên đều có địa chỉ mạng ở nước ngoài, máy chủ lưu trữ thông tin cũng đang đặt ở nước ngoài, có chức năng giấu chủ sở hữu tên miền. www.nguyentandung.org

www.nguyentandung.biz

www.nguyentandung.us

www.thutuongnguyentandung.net

www.thutuongnguyentandung.org

www.thutuongnguyentandung.info

www.thutuongnguyentandung.biz

Đặc biệt trên mạng YouTube cũng có trang thông tin hoạt động của Thủ tướng như một kênh truyền hình riêng. Bên cạnh đó, trang web trên còn liên kết đến các trang thông tin dạng blog trên các mạng xã hội nổi tiếng: Facebook, Multiply, Blogspot, Blog, WordPress, Flickr, Twitter… và cũng đều xuất hiện dưới tên trang tin cá nhân của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. ngoài Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, các vị lãnh đạo cấp cao khác như Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, các vị bộ trưởng, thứ trưởng các bộ, Bí thư Thành ủy TP Đà Nẵng Nguyễn Bá Thanh… đều bị mạo danh trang thông tin cá nhân. Hiện nay ông Nguyễn Bá Thanh: bí thư Thành ủy TP Đà Nẵng” tại địa chỉhttp://www.nguyenbathanh.com/

không do ông sáng lập. Tương tự, các trang web cá nhân mang tên Nguyễn Bá Thanh tại các trang mạng xã hội đều là mạo danh. VÌ sao chúng phải dùng trò hèn hạ mạo danh??? Vì chủ trang web muốn tạo được sự quan tâm, tin tưởng từ phía người đọc, trước tiên luôn tạo ra uy tín bằng cách cung cấp những thông tin nhanh và đúng như các tờ báo chính thống tại VN. Sau một thời gian khi mức độ uy tín tăng lên, niềm tin người đọc gửi vào đó càng lớn, chủ trang web có thể đưa lên những thông tin có sức tác động không nhỏ với người đọc. Chỉ cần một thông tin thất thiệt về chính sách từ trang này cũng đủ gây xáo trộn không nhỏ trong xã hội Hy vọng mọi cán men nhà ta hãy thận trọng với những web thế này

Thêm một màn kịch chính trị trơ tráo của SBTN
Lợi dụng kỷ niệm Ngày Quốc tế nhân quyền (10-12-2012), SBTN (đài truyền hình phát bằng tiếng Việt tại Mỹ), do Trúc Hồ làm Giám đốc điều hành, vừa phát động cái gọi là “chiến dịch triệu con tim, một tiếng nói”.

Căn cứ vào các hành vi mà SBTN từng thực hiện trong thời gian qua, có thể khẳng định đây thực chất là một màn kịch chính trị bị thao túng bởi các thế lực thù địch, nhằm vu cáo Nhà nước Việt Nam.

Theo SBTN, cái gọi là “chiến dịch triệu con tim, một tiếng nói” được phát động trong thời gian hai tháng, từ ngày 15-10-2012 đến ngày Quốc tế nhân quyền 10-12-2012. Màn mở đầu của vở kịch lố lăng này là thu thập 100 nghìn chữ ký vào “thỉnh nguyện thư” gửi Chủ tịch Ủy ban nhân quyền Liên hợp quốc, Ðại diện cấp cao của Liên minh châu Âu về ngoại giao và chính sách an ninh, Bộ trưởng Ngoại giao các nước Anh, Mỹ, Ô-xtrây-li-a, Ca-na-đa, Pháp, Ðức, Nhật, Hà Lan, Na Uy, Thụy Sỹ… “Thỉnh nguyện thư” trắng trợn vu khống Nhà nước Việt Nam kiểm duyệt internet, bắt giam tùy tiện và đối xử khắc nghiệt với “tù nhân lương tâm”, blogger và một số đối tượng “đấu tranh dân chủ ôn hòa”. Các đối tượng gửi “thỉnh nguyện thư” kêu gọi Ủy ban nhân quyền Liên hợp quốc, Liên minh châu Âu và các quốc gia tự do cử đặc phái viên tới Việt Nam để điều tra về tình trạng vi phạm nhân quyền, yêu cầu Việt Nam tôn trọng Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, hủy bỏ các điều luật về an ninh quốc gia (điều 79, 87 và 88 Bộ luật Hình sự) và “thả ngay lập tức các tù nhân chính trị”! Luận điệu trong cái gọi là “thỉnh nguyện thư” không có gì mới, yêu sách đưa ra cũng đã nhàm, vì đó là mấy điều mà các thế lực thù địch vẫn lải nhải lâu nay.

Ðiều đáng nói là trong khi kêu gào như vậy, những kẻ chủ mưu sản xuất ra “thỉnh nguyện thư” cố tình phớt lờ, thậm chí phủ nhận nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền. Vì trên thực tế, Việt Nam luôn quan tâm mở rộng các kênh trao đổi về nhân quyền với Mỹ, EU và các nước khác thông qua các chuyến thăm, tìm hiểu thực tế hoặc đối thoại nhân quyền thường niên nhằm thu hẹp khác biệt trong quan điểm của các bên về vấn đề này. Việt Nam cũng là một trong những quốc gia đi đầu trong việc thực hiện các công ước, tuyên ngôn, chương trình hành động của Liên hợp quốc, trong đó có Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị. Trong khi vu cáo Việt Nam vi phạm các nội dung của Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị thì những kẻ chủ mưu “thỉnh nguyện thư” lại phớt lờ một vấn đề cốt lõi. Ðó là chính các văn bản này đã quy định việc thụ hưởng nhân quyền phải tuân thủ quy định của pháp luật và các nghĩa vụ, trách nhiệm đặc biệt để “tôn trọng các quyền và uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe và đạo đức xã hội”. Ðó cũng là lý do để Việt Nam ban hành và thực thi Bộ luật Hình sự, trong đó có các quy định về “Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân” (Ðiều 79), “Tội phá hoại chính sách đoàn kết” (Ðiều 87) và “Tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” (Ðiều 88). Cần khẳng định đây là việc làm cần thiết để bảo đảm an ninh quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi công dân. Ở Việt Nam không có “tù nhân lương tâm” hay “tù nhân chính trị” như các thế lực thù địch vẫn rêu rao, mà chỉ có những đối tượng vi phạm pháp luật cần phải xử lý nghiêm minh theo pháp luật.

Bên cạnh việc xuyên tạc, bóp méo sự thật và đưa ra các yêu sách vô căn cứ, cách thức ký tên vào “thỉnh nguyện thư” cũng rất kỳ quặc. Người tham gia chỉ việc điền họ tên (bất kể tên thật hoặc tên giả), tên thành phố và quốc gia cư trú rồi xác nhận bằng địa chỉ email. Với phương thức này, một người có thể tự lập hàng chục, thậm chí hàng trăm email ảo để tham gia ký “thỉnh nguyện thư”. Do đó, số người tham gia do SBTN công bố thực chất chỉ là con số ảo, vì không thể kiểm chứng. Thêm nữa, theo danh sách ký vào “thỉnh nguyện thư” có thể nhận ra những cái tên quen thuộc, có tiền sử chống Việt Nam về dân chủ, nhân quyền như Dân biểu Hạ viện Mỹ Loretta Sanchez, các đối tượng thuộc tổ chức khủng bố thuộc “đảng Việt Tân” (như Ðỗ Hoàng Ðiềm, Hoàng Tứ Duy) hay những đối tượng từng bị chính quyền Việt Nam bắt giữ, xét xử vì các hành vi tuyên truyền, chống phá Nhà nước như Nguyễn Văn Ðài, Bùi Thị Minh Hằng, Trần Khải Thanh Thủy, Nguyễn Hữu Giải,…

Bước tiếp theo trong chiến dịch “triệu con tim, một tiếng nói” là kêu gọi cộng đồng gọi điện thoại hoặc fax 24/24 giờ đến Ðại sứ quán hoặc Lãnh sự quán Việt Nam trên toàn thế giới. Tác giả của màn kịch “triệu con tim, một tiếng nói” gọi đây là hành động “biểu tình qua điện thoại và fax”. Ðể làm việc này, thông qua website của SBTN và một trang mạng khác, họ cung cấp danh sách và số điện thoại của các cơ quan đại diện Việt Nam; đồng thời hướng dẫn chi tiết cách thức, nội dung gọi điện thoại và fax, đề nghị người tham gia sao chép lại nội dung trao đổi để phát tán trên các mạng xã hội như facebook, Youtube, blog… Hành động quấy nhiễu hệ thống thông tin liên lạc của các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài có thể xem là một biến tướng của khủng bố thông tin. Ðây là loại hình khủng bố mới xuất hiện khi công nghệ thông tin phát triển. Theo Luật Cơ quan đại diện nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ở nước ngoài ban hành năm 2009, cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài (Ðại sứ quán, Lãnh sự quán) có nhiệm vụ thúc đẩy quan hệ chính trị – xã hội, quốc phòng – an ninh, văn hóa, phục vụ phát triển kinh tế đất nước, đồng thời thực hiện nhiệm vụ lãnh sự như liên hệ, tiếp xúc với công dân Việt Nam trong trường hợp họ bị bắt, tạm giữ, tạm giam, xét xử hoặc đang chấp hành hình phạt tù tại quốc gia tiếp nhận; cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, cấp đổi, cấp lại, hủy bỏ các loại hộ chiếu, giấy thông hành và giấy tờ khác có giá trị xuất cảnh, nhập cảnh Việt Nam, cấp và gia hạn, sửa đổi, bổ sung, cấp lại, hủy bỏ thị thực và giấy miễn thị thực của Việt Nam… Việc duy trì sự thông suốt mạng lưới thông tin của các cơ quan đại diện ở Việt Nam ở nước ngoài là tối cần thiết. Hành động khủng bố hệ thống điện thoại và fax của các cơ quan đại diện Việt Nam sẽ cản trở hoạt động của các cơ quan đại diện, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, pháp nhân và tác động trực tiếp tới lợi ích của chính cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài, vì thế cần phải lên án nghiêm khắc và cần phải xử lý.

Vậy đằng sau chiến dịch “triệu con tim, một tiếng nói” là gì? Thực ra, đây không phải là lần đầu tiên SBTN phát động chiến dịch “thỉnh nguyện thư”. Trước đó, từ ngày 8-2 đến ngày 5-3-2012, Trúc Hồ (SBTN) đã phối hợp với Nguyễn Ðình Thắng và Tổ chức cứu người vượt biển – BPSOS, phát động chiến dịch “thỉnh nguyện thư” trên diễn đàn We the people của Nhà Trắng để kêu gọi chính quyền Mỹ gây sức ép với Việt Nam để thả Việt Khang (đối tượng bị cơ quan An ninh Việt Nam bắt giữ vì có hành vi tuyên truyền chống Nhà nước), kêu gọi Mỹ “chấm dứt phát triển thương mại với Việt Nam nếu không cải thiện về nhân quyền”. Tuy nhiên, cái gọi là “chiến dịch thỉnh nguyện thư” đó đã thất bại thảm hại, bộ mặt thật của mấy kẻ chủ mưu đã bị người Việt ở nước ngoài vạch trần. Họ cho rằng, SBTN và BPSOS đã lừa đảo và lợi dụng cộng đồng để mưu lợi cho tổ chức. SBTN bị cáo buộc lợi dụng “chiến dịch” này để thu lợi từ quảng cáo, tăng số lượng thuê bao để tránh bị Hệ thống truyền hình vệ tinh Direc TV cắt sóng (vì từ năm 2006, số lượng thuê bao của SBTN bị sụt giảm liên tục xuống dưới mức quy định). Không phải ngẫu nhiên mà Trúc Hồ giúp mấy “nhà dân chủ”, liên tục phát động các “chiến dịch thỉnh nguyện thư vì dân chủ nhân quyền”. Ðằng sau những mục tiêu mà SBTN đưa ra để mị dân, là những toan tính của Trúc Hồ để gây tiếng vang, chứng minh ảnh hưởng của SBTN. Hơn nữa, núp sau “chiến dịch triệu con tim, một tiếng nói” là các tổ chức đã có tiền sử chống phá Việt Nam như “Nhân quyền cho Việt Nam”, “đảng Việt Tân”, “Tổ chức Dân chủ nhân dân”,… Các tổ chức này đang hà hơi, tiếp sức cho chiến dịch của SBTN để đánh bóng tên tuổi, làm dày “thành tích chống cộng”, thu hút sự chú ý của cộng đồng và các thế lực cực hữu nhằm dễ bề vận động tài chính.

Là một đài truyền hình, lẽ ra SBTN phải đi đầu trong việc cung cấp thông tin trung thực, khách quan về tình hình Việt Nam, giúp cộng đồng người Việt tại Mỹ hiểu thêm về đất nước, từ đó góp phần xây dựng và phát triển đất nước, đó là cái tâm và cái đích mà người làm báo chân chính hướng tới. Nhưng SBTN lại đi chệch hướng, tự biến mình trở thành công cụ của các tổ chức đội lốt nhân quyền để chống phá Việt Nam. Việc làm đó không mang lại vinh dự và uy tín mà trái lại chỉ càng làm cho hình ảnh của SBTN thêm xấu xa. Chính vì thế, chắc chắn cái gọi là chiến dịch “triệu con tim, một tiếng nói” sẽ thất bại thảm hại, như các “chiến dịch” do SBTN phát động trước đây mà thôi.

LAM SƠN

[Nguồn: Treonline.com :http://treonline.com/them-mot-man-kich-chinh-tri-tro-trao-cua-stbn.htm]

– Giang hồ hiểm ác
không bằng mạng lag thất thường 

– Phận làm trai gõ phím bình thiên hạ.
Thân anh hùng click chuột định giang sơn 

– Mấy đời bánh đúc có xương.
Mấy đời chơi Net không vương tơ tình

– Đang đi trên đường. Bỗng thấy bất thường.
Úp mặt vào tường. Lại thấy… bình thường

– Trái tim em chỉ 2 lần mở cửa.
Đón anh vào và tống cổ anh ra

– Bước đến nhà em, bóng xế tà.
Đứng chờ năm phút bố em ra.
Lơ thơ phía trước vài con ****.
Lác đác đằng sau chổi lông gà 

– Tình yêu là vĩnh cửu.
Và chỉ duy nhất một thứ được phép thay đổi.
Đó là người yêu

– Cần bán gấp nhà 3.000 m2, tường chống đạn, nhiều phòng, an ninh tốt, có camera, công an tuần 24/24. Địa chỉ: Nhà tù bộ công an. Giá thương lượng

– Xin thề : tôi với anh kết nghĩa anh em , tuy không sinh cùng năm cùng tháng cùng ngày , nhưng nguyện sống cùng ngày cùng tháng cùng năm.

– Thuý Kiều là người rất thương bồ , trước khi ra đi còn đưa tiền cho Kim Trong , bằng chứng : ” Trăm nghìn lạy gửi tình quân ” <– trích truyện Kiều.

– Định nghĩa mới về vợ : ” học dốt nói ngông , đi chơi lông bông , mồm thì khoác lác , mua sắm nát đời , mà câu nào nói ra cũng lời lời đạo lý ” 

– Trăm năm bia đá cũng mòn , bia chai cũng bể , chỉ còn bia … ôm.

– Khi yêu nhau thì người ta thề sống chết có nhau , còn khi ghét nhau rồi thì người ta thường thề sẽ sống chết với nhau.
– Hôn nhân luôn tặng bạn một đặc ân : chỉ có ai có nó mới có thể ly dị được.

– Nếu bạn lật một cái bình lại thì nó sẽ không có chỗ để cắm hoa, nếu xem xuống phía dưới thì bạn sẽ phát hiện một điều rất hay : ” nó cũng không có cả đáy ”

– Nếu có ai đó khen bạn ” bạn có ½ là đẹp , ½ còn lại là tài năng , gộp lại thì vừa đẹp vừa tài năng ” , bạn hãy coi chừng { ½ đẹp tức là ½ đó không có chút chất xám nào , ½ tài năng , tức là ½ đó không có chút sắc đẹp nào –> hợp lại hoá ra bạn là một con người vừa xấu vừa ngu đó sao }

– Nghệ thuật che lấp sự bất tài cũng đòi hỏi không ít tài năng.

– Không ít phụ nữ già đi nhanh chóng có khi do họ động não suy nghĩ phải làm sao để mình trẻ lại.
– Chết cho người phụ nữ mình yêu vẫn dễ hơn là phải sống chung với họ.

– Phụ nữ đem lại niềm vui nhưng không phải lúc nào cũng vậy , còn thuốc lá thì lúc nào cũng có khói.

– Nhục không phải là nghèo khó , nhưng nghèo khó thì thật là nhục. 

– Ngắn gọn thể hiện sự thông minh nhưng không đúng trong trường hợp người ta nói ” Anh yêu em ”

– Đằng sau sự thành công của một người đan ông luôn có hình bóng của một người đàn bà , và đằng sau sự thất bại của một gười đan ông là một người đàn bà thật sự .

– Thể thao là có hại . Nếu ta sống được thêm 10 năm nhờ luyện tập thì ta cũng mất 15 năm vào các buổi tập luyện đó.

– Tại sao chỉ có danh hiệu bà mẹ việt nam anh hùng mà không có danh hiệu ông bố việt nam anh hùng nhỉ ? .
– Tình yêu là bất tử , chỉ có người yêu là thay đổi.

– Hài kịch sẽ chuyển sang bi kịch nếu không bán được vé.

– Một người vợ tốt luôn tha thứ cho chồng khi cô ta sai.

– Ly dị là sự kiện mà người đàn ông phải giặt đồ cho mình … thay vì trước đó phải giặt đồ cho cả hai .

– Con đường ngắn nhất để đi từ một trái tim đến 1 trái tim là con đường truyền máu.

– chân lý là mặt trời chói lọi . Nếu bạn không nghiên cứu về nó thì đừng có điên mà nhìn vào nó .
Theo lý thuyết thì Lý thuyết không khác với thực tế là mấy , nhưng thực tế thì thực tế khác xa lý thuyết. 

– Thuoc la co hai suc khoe == hút thuốc lá thì ta có được đến 2 sức khoẻ dại gì mà không hút.

– Lương tâm là cái gì đó cảm thấy tổn thương trong khi các phần khác của cơ thể cảm thấy dễ chịu.

– Lương tâm là cái buộc ta phải kể hết mọi bí mật cho người tình trước khi có ai đó mách.

– Thà sống hèn còn hơn chết dại.

– Bạn có thể mua một người trung thực không ? Không ! nhưng bán một người như vậy dễ hơn .

– Khi một cô gái được nhiều người theo đuổi cô ta sẽ làm cao , khi cô ấy được một người theo đuổi thì cô ta sẽ làm dáng , khi không có ai theo đuổi cô ấy cô ta sẽ làm … thơ , và khi cô ta theo đuổi nhiều người cô ta sẽ làm ca … ve.
– Bia độc hơn rượu , bằng chứng trên thế giới chỉ có ” mộ bia ” mà không có ” mộ rượu ”

– Đàn ông không khóc là đàn ông nhút nhát (không dám làm gì (khóc) là nhút nhát rồi).

– Không có gì tiết kiệm thời gian và tiền bạc hơn là yêu ngay từ cái nhìn đầu tiên.

– Một người phụ nữ toàn diện : sáng diện , trưa diện , chiều diện , tối diện.

– Thiếu nữ là chữ viết tắt của thiếu … nữ tính. 

– ” Quân với dân như cá với nước ” Nước thì nuôi sống cá còn cá thì ị vào nước.

– Phim sạch là phim trong sáng . Phim sạch là phim mà diễn viên lúc nào cũng ở trạng thái sạch sẽ và được người khác liếm láp cho sạch.

– Trăm lời anh nói không bằng làn khói a còng @

– Rõ ràng là trên đời này không có gì là rõ ràng

– Vì tao chắc chắn là trên đời này không có gì là chắc chắn.

– Cách tốt nhất để giữ lời hứa là đừng hứa gì cả.

– Tôi đã nói “không” với ma túy, nhưng tụi nó không chịu nghe

– Luôn luôn nhớ rằng bạn là duy nhất … giống như những người khác

– Luôn cố gắng khiêm tốn, và hãy lấy làm … tự hào về điều đó 

– Khổ quá, sướng không chịu nổi

– Đừng tự ti vì mình nghèo mà vẫn giỏi mà hãy tự hỏi tại sao mình giỏi mà mình vẫn nghèo.

– Sáng soi, trưa đánh, chiều chờ
Cầm tờ kết quả cứ đờ mặt ra.

– Điều tuyệt đối nhất chính là tất cả chỉ là tương đối

(Sưu tầm)

NGƯỜI MỸ CÓ THẬT SỰ … LÊN MẶT TRĂNG HAY KHÔNG ?

20% người Mỹ được hỏi không tin rằng người Mỹ đã từng lên Mặt trăng và cho rằng đây chỉ là một vụ bịp bợm lớn.

Cho đến nay, có lẽ ai cũng đinh ninh rằng Mỹ đã thắng Liên Xô trong cuộc chạy đua lên Măt trăng. Phi công vũ trụ Neil Amstrong là người đầu tiên đặt chân lên đó.

Từ con tàu bước ra, anh đã nói một câu nổi tiếng làm cả thế giới xúc động, rằng “đây là một bước nhỏ của một con người nhưng là một bước đi khổng lồ của nhân loại”. Mọi sự đều như hết sức rõ ràng.

Nhân ngày Vũ trụ quốc tế, người ta xới lại vấn đề này. Một cuộc thăm dò lại cho thấy ngay trên đất Mỹ, 20% số người được hỏi không tin rằng người Mỹ đã từng đặt chân lên Mặt Trăng. 20% là một tỷ lệ khá cao. Những người này cho rằng chẳng phải Amstrong hay bất cứ ai khác đã đổ bộ lên Mặt trăng, mà đó chỉ là một vụ bịp bợm lớn.

Quả thật khi nghiên cứu các sự kiện trong Chương trình Mặt trăng sẽ phát hiện những vấn đề khó giải thích một cách thuyết phục trong khuôn khổ những giả thuyết quen thuộc về một chuyến bay lên Mặt trăng.

Từ năm 1970, tại Mỹ đã xuất bản cuốn sách của J. Krainy “Có thật con người đã đặt chân lên Mặt Trăng không?”, và năm 1976 nhà văn Mỹ Bill Keysing cũng cho phát hành một cuốn sách tựa đề “Chúng ta chưa bao giờ lên Mặt Trăng”.

Sau đó tại những nước khác nhau trên thế giới những phân tích về vấn đề này được đưa ra ngày càng nhiều với những lý lẽ khó bác bỏ của những người không tin vào những tuyến bố chính thức về thành công của Chương trình Mặt trăng của Mỹ. Trong một bài không thể trình bày tỉ mỉ tất cả mọi lý lẽ người ta đã đưa ra mà chỉ có thể tóm tắt những ý chính.

1. Khi các nhà du hành vũ trụ cắm lá cờ trên Mặt trăng, nó bay phấp phới thật sinh động. Rõ ràng gió thổi khá mạnh. Điều này cực kỳ vô lý. Bởi ai cũng biết rằng trên Mặt trăng không hề có khí quyển. Vậy thì gió ở đâu ra. Đã thế, trên hai tấm ảnh của cùng một lá cờ do NASA công bố, bóng của nó trên một tấm ở bên trái, tấm kia ở bên phải.

Ảnh: NASA

2. Luồng khí nóng từ động cơ phun lúc hạ cánh phải thổi rất mạnh, đương nhiên nó sẽ làm tung lên một đám bụi hình phễu ngay lại địa điểm con tàu đỗ xuống. Thế nhưng trên những bức ảnh do NASA công bố không hề thấy hiện tượng này. Bề mặt Mặt trăng vần phẳng lỳ, không một vết lõm.

3. Trong điều kiện trong lực của Trái đất, nhà du hành cùng bộ quần áo bay của anh ta có khối lượng lên tới 160 kg. Còn theo tính toán, trên Mặt trăng con số đó chỉ còn là 27 kg thôi. Vậy vì sao các nhà du hành không thể hiện các bước nhảy bật rất cao do sức hút của Mặt trăng chưa bằng 1/5 so với Trái đất? Bước nhảy trong video clip không cao quá 45 cm, chẳng khác gì khi đi trên bề mặt địa cầu. Vì sao vậy?

4. Trong các bức ảnh về phong cảnh Mặt trăng, ánh sáng rất không đồng đều. Kiểu ánh sáng như vậy là tính chất điển hình của việc dùng đèn chiếu chứ không phải ánh sáng tự nhiên.

Có một số lý do khác nữa được coi là gián tiếp. Ví dụ, Mỹ tuyên bố đã đưa tàu Apollo lên vũ trụ bằng tên lửa chuyên chở khổng lồ “Saturn-5”. Chỉ 20 năm sau, Liên Xô mới chế tạo được tên lửa nổi tiếng “Energia” có những tính năng về chuyên chở tương tự. Không lẽ Liên Xô vốn đang chiếm ưu thế về tên lửa so với họ, bỗng nhiên bị họ “qua mặt” tới 2 thập kỷ?

Lại nữa, sau khi thực hiện được Chương trình Mặt trăng, vì sao tên lửa “Saturn-5” của họ chỉ được dùng một lần duy nhất – phóng tàu vụ tru “Skylab” vào năm 1973. Loại tên lửa độc đáo đó của Mỹ nếu quả là có thật tại sao họ lại vội vã đình chỉ việc sản xuất ra chúng và 3 chiếc đã chế tạo phải lập tức bị đưa vào Viện bảo tàng?

Điều ngạc nhiên nữa là vì sao học phải dùng một chiếc xe đi trên Mặt trăng to lớn và nặng nề đến vậy, trong khi sức hút của Mặt trăng nhỏ hơn sức hút của Trái đất nhiều lần? Chúng ta hãy nhớ rằng đưa một vật thể vào vũ trụ, người ta phải cân nhắc đến từng gam, vì thêm mỗi một kg có nghĩa là phải bỏ thêm cả một số kinh phí khổng lồ.

Nói chung rất nhiều vấn đề, có đầy đủ cơ sở để nghi ngờ Chương trình Mặt trăng của Mỹ. Có ý kiến khẳng định người Mỹ chưa bao giờ lên Mặt trăng, lại có ý kiến cho là chuyến bay lên Mặt trăng đầu tiên ấy của họ chỉ là bịa đặt, sau đó, thì họ cũng lên được Mặt trăng thực sau này. Loại ý kiến thứ ba lập luận: Mặc dù Chương trình Mặt trăng của Mỹ được phủ vòng nguyệt quế nhưng tuyệt nhiên không xứng đáng. Tất cả những hình ảnh, quay phim đều thực hiện trên Trái đất.

Báo Komsomolskaia Pravda đã gặp nhà văn nổi tiếng Andrei Pashev để hỏi về chuyện này, thì ông nói: “Тôi đã từng tham gia vào cuộc tranh luận về chuyến bay lên Mặt trăng của Mỹ. Những ý kiến không tin là người Mỹ đã lên Mặt trăng không phải xuất phát từ Liên Xô trước đây. Người ta lúc đó chỉ dựa trên tính phiêu lưu và không tưởng (với trình độ khoa học lúc đó) của chương trình này”.

“Ví dụ, chính Khrushev đã, tuyên bố, chúng ta sẽ không tham gia vào cuộc chạy đua lên Mặt trăng, vì điều đó vô cùng rủi ro.Trong lịch sử của ngành du hành vũ trụ Xô Viết đã có những trường hợp chỉ vì việc tiếp xúc giữa bộ phận chỉ huy dưới mặt đất và con tàu chỉ trục trặc trong giây phút một con tàu đã lệch ra khỏi quỹ đạo và chuyến bay bị thất bại. Huống hồ xa như Mặt trăng.

Trước những dẫn chứng quá sắc bén trong cuộc tranh cãi về Chương trình Mặt trăng của Mỹ, NASA đã buộc phải đứng ra thừa nhận rằng, để minh họa việc hạ cánh của con tàu Apollo trên Mặt trăng, họ đã phải dùng những clip video và ảnh chụp không liên quan đến chuyến bay thực sự. Một số vấn đề được đưa lên trên các phương tiện truyền thông đúng là những bức ảnh chụp khi luyện tập, sở dĩ họ đưa ra vì nó rất giống với cảnh thực trên Mặt trăng.

Song họ mới đề cập đến sự bịa đặt của các đoạn phim và ảnh chụp. Những vấn đề khác họ chưa giải thích được và cũng không xin lỗi. Một vài chuyên liên quan cũng dần dần lộ ra. Chẳng hạn, chuyện thất lạc những tài liệu khi Apollo hạ cánh. Lại còn chuyện những viên đá cuội mà các phi hành gia lượm từ bề mặt của Mặt trăng đã đem tặng các bảo tàng châu Âu, được biết NASA cũng đã bị thanh minh là họ “nhầm” với viên đá của Trái đất chứ không có cố ý.