Tag Archive: noi


Nội dung của Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ


Ngày 24-6-2004, Chủ tịch nước Việt Nam đã ký Lệnh số 16-2004/L/CTN công bố Nghị quyết về việc phê chuẩn “Hiệp định giữa nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa về phần định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong Vịnh Bắc Bộ”, đã được Quốc hội nước CNXHCN Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15-6-2004.

Ngày 30-6-2004 tại Hà Nội đã diễn ra lễ trao đổi văn kiện thư phê chuẩn Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ giữa hai nước.

Dưới đây là toàn văn Hiệp định:

Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (dưới đây gọi là “hai Bên ký kết”);

Nhằm củng cố và phát triển mối quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống giữa hai nước và nhân dân hai nước Việt Nam và Trung Quốc, giữ gìn và thúc ấy sự ổn định và phát triển của Vịnh Bắc Bộ; Trên cơ sở các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, cùng tồn tại hòa bình;

Trên tinh thần thông cảm, nhân nhượng lẫn nhau, hiệp thương hữu nghị và giải quyết một cách công bằng, hợp lý vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ; Đã thoả thuận như sau:

Điều I

1 . Hai Bên ký kết căn cứ vào Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, các nguyên tắc luật pháp và thực tiễn quốc tế được công nhận, trên cơ sở suy xét đầy đủ mọi hoàn cảnh hữu quan trong Vịnh Bắc Bộ, theo nguyên tắc công bằng, qua thương lượng hữu nghị đã phân định lãnh hài, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong Vịnh Bắc Bộ.

2. Trong Hiệp định này, Vịnh Bắc Bộ là vịnh nửa kín được bao bọc ở phía Bắc bởi bờ biển lãnh thố đất liền của hai nước Việt Nam và Trung Quốc, phía Đông bởi bờ biển bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam của Trung Quốc, phía Tây bởi bờ biển đất liền Việt Nam và giới hạn phía Nam bởi đoạn thẳng nối liền từ điểm nhô ra nhất của mép ngoài cùng của mũi Oanh Ca – đảo Hải Nam của Trung Quốc có tọa độ địa lý là vĩ tuyến 18 o 30 19″ Bắc, kinh tuyến 1080 41 17″ Đông, qua đảo Cồn Cỏ của Việt Nam đến một điểm trên bờ biển của Việt Nam có tọa độ địa lý là vĩ tuyến 160 57 40″ Bắc và kinh tuyến 107o 08 42″ Đông.

Hai Bên ký kết xác định khu vực nói trên là phạm vi phân định của Hiệp định này.

Điều II

Hai Bên ký kết đồng ý đường phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước trong Vịnh Bắc Bộ được xác định bằng 21 điểm nối tuần tự với nhau bằng các đoạn thẳng, toạ độ địa lý của 21 điểm này như sau:

Điểm số 1:

Vĩ độ 210 28’12”.5 Bắc

Kinh độ 1080 06’04”.3 Đông

Điểm số 2:

Vĩ độ 210 28’0”.7 Bắc

Kinh độ 1080 06’01”.6 Đông

Điểm số 3:

Vĩ độ 210 27’50”.1 Bắc

Kinh độ 1080 05’57”.7 Đông

Điểm số 4:

Vĩ độ 210 27’39”.5 Bắc

Kinh độ 1080 05’51”.5 Đông

Điểm số 5:

Vĩ độ 210 27’28”.2 Bắc

Kinh độ 1080 05’39”.9 Đông

Điểm số 6:

Vĩ độ 210 27’23”.1 Bắc

Kinh độ 1080 05’38”.8 Đông

Điểm số 7:

Vĩ độ 210 27’8”.2 Bắc

Kinh độ 1080 05’43”.7 Đông

Điểm số 8:

Vĩ độ 210 16’32” Bắc

Kinh độ 1080 08’05” Đông

Điểm số 9:

Vĩ độ 210 12’35” Bắc

Kinh độ 1080 12’31” Đông

Điểm số 10:

Vĩ độ 200 24’5” Bắc

Kinh độ 1080 22’45” Đông

Điểm số 11:

Vĩ độ 190 57’33” Bắc

Kinh độ 1070 55’47” Đông

Điểm số 12:

Vĩ độ 190 39’33” Bắc

Kinh độ 1070 31’40” Đông

Điểm số 13:

Vĩ độ 190 25’26” Bắc

Kinh độ 1070 21’00” Đông

Điểm số 14:

Vĩ độ 190 25’26” Bắc

Kinh độ 1070 12’43” Đông

Điểm số 15:

Vĩ độ 190 16’4” Bắc

Kinh độ 1070 11’23” Đông

Điểm số 16:

Vĩ độ 190 12’55” Bắc

Kinh độ 1070 09’34” Đông

Điểm số 17:

Vĩ độ 180 42’52” Bắc

Kinh độ 1070 09’34”Đông

Điểm số 18:

Vĩ độ 180 13’49” Bắc

Kinh độ 1070 34’00” Đông

Điểm số 19:

Vĩ độ 180 07’08” Bắc

Kinh độ 1070 37’34” Đông

Điểm số 20:

Vĩ độ 180 04’13” Bắc

Kinh độ 1070 39’09”. Đông

Điểm số 21:

Vĩ độ 170 47’00” Bắc

Kinh độ 1070 58’00” Đông

Điều III

1 . Đường phân định từ điểm số 1 đến điểm số 9 quy định tại Điều II của Hiệp định này là biên giới lãnh hải của hai nước trong Vịnh Bắc Bộ.

2. Mặt thẳng đứng đi theo đường biên giới lãnh hải của hai nước quy định tại khoản 1 Điều này phân định vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải hai nước.

3. Mọi sự thay đổi địa hình đều không làm thay đổi đường biên giới lãnh hải hai nước từ điểm số 1 đến điểm số 7 quy định tại khoản 1. Điều này, trừ khi Hai Bên ký kết có thoả thuận khác.

Điều IV

Đường phân định từ điểm số 9 đến điểm số 21 quy định tại Điều II của Hiệp định này là ranh giới giữa vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong Vịnh Bắc Bộ.

Điều V

Đường phân định lãnh hải của hai nước quy định tại Điều II từ điểm số 1 đến điểm số 7 được thể hiện bằng đường mầu đen trên bản đồ chuyên đề cửa sông Bắc Luân tỷ lệ 1:10.000 do hai Bên ký kết cùng nhau thành lập năm 2000. Đường phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục điạ của hai nước từ điểm số 7 đến điểm số 21 được thể hiện bằng đường mầu đen trên Tổng đồ toàn diện Vịnh Bắc Bộ tỷ lệ 1:500.000 do hai Bên ký kết cùng nhau thành lập năm 2000. Các đường phân định này đều là đường trắc địa.

Bản đồ chuyên đề cửa sông Bắc Luân và Tổng đồ toàn diện Vịnh Bắc Bộ nói trên là bản đồ đính kèm Hiệp định. Các bản đồ trên sử dụng hệ tọa độ LTRF-96. Các tọa độ địa lý của các điểm quy định tại Điều II Hiệp định này đều được xác định trên các bản đồ nói trên. Đường phân định quy định trong Hiệp định này được thể hiện trên các bản đồ kèm theo Hiệp định chỉ nhằm mục đích minh hoạ.

Điều VI

Hai bên ký kết phải tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mỗi Bên đối với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ được xác tính theo Hiệp định này.

Điều VII

Trong trường hợp có các cấu tạo mỏ dầu, khí tự nhiên đơn nhất hoặc mỏ khoáng sản khác nằm vắt ngang đường phân định quy định tại Điều II của Hiệp định này, hai Bên ký kết phải thông qua hiệp thương hữu nghị để đạt được thoả thuận về việc khai thác hữu hiệu nhất các cấu tạo hoặc mỏ khoáng sản nói trên cũng như việc phân chia công bằng lợi ích thu được từ việc khai thác.

Điều VIII

Hai Bên ký kết đồng ý tiến hành hiệp thương về việc sử dụng hợp lý và phát triển bền vững tài nguyên sinh vật ở Vịnh Bắc Bộ cũng như các công việc hợp tác có liên quan đến bảo tồn, quản lý và sử dụng tài nguyên sinh vật ở vùng đặc quyền kinh tế hai nước trong Vịnh Bắc Bộ.

Điều IX

Việc phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa hai nước trong Vịnh Bắc Bộ theo Hiệp định này không gây bất kỳ ảnh hưởng hoặc phương hại nào đến lập trường của mỗi Bên ký kết đối với các quy phạm luật pháp quốc tế về luật Biển.

Điều X

Mọi tranh chấp giữa hai Bên ký kết liên quan đến việc giải thích hoặc thực hiện Hiệp định này phải được giải quyết thông qua hiệp thương và đàm phán hữu nghị.

Điều XI

Hiệp định này phải được hai Bên ký kết phê chuẩn và có hiệu lực kể từ ngày trao đổi các văn luận phê chuẩn. Các văn kiện phê chuẩn được trao đổi tại Hà Nội.

Hiệp định này được ký tại Bắc Kinh, ngày 25 tháng 12 năm 2000 thành hai bản, mỗi bản bằng tiếng Việt và tiếng Trung, cả hai văn bản đều có giá trị như nhau.

Theo BÁO ĐIỆN TỬ ĐẢNG CỘNG SẢN

CỜ VÀNG CHỐNG CỘNG: NÓI NHƯ RỒNG LEO, LÀM NHƯ MÈO MỬA
Không ngạc nhiên gì báo chí của bọn cờ vàng CCCĐ ở hải chỉ là một phương tiện tuyên truyền chống Việt Nam Mà, đã tuyên truyền thì theo quan điểm của trùm phát xít đức quốc xã Goebbels là phải dùng những xảo thuật như ngụy biện, nhồi sọ, và nói láo. Nói láo càng trơ trẽn càng tốt.

Nói trắng thành đen (và ngược lại), càng khó tin càng tốt. Đó là “triết lí” nên tảng cho tuyên truyền của báo chí chống cộng ở hải ngoại .
Nói láo đã trở thành một đặc tính ăn sâu vào xương cốt trong giới báo chí cờ vàng CCCĐ . Trung thành với quan điểm “Đổi trắng thành đen ” của họ, bọn bồi bút cờ vàng không hề tỏ ra ngượng ngùng khi bịa chuyện. Chúng ta đã thấy trường hợp Chẳng hạn như chúng không thấy xấu hổ khi nói một cách “vô tư” rằng : Việt Nam bán đất , bán biển cho trung Quốc. Bọn cờ vàng CCCĐ không thấy mình ngu xuẩn khi nói rằng để Trung Quốc đánh chiếm Việt Nam xong chúng sẽ đánh Trung Quốc sau ?? . Thật là một lũ người điên loạn về đầu óc mới nghĩ ra những điều quái đản như vậy .
Thông thường nói láo thường mất khôn nên ngay cả giới được gọi là “trí thức” cờ vàng cũng tỏ ra rất đần độn trong lập luận.. Bọn trí thức CCCĐ này tổ chức các cuộc được gọi là “Hội thảo” nổ vang trời nào là ” Hội thảo khẩn cấp về tình hình Việt Nam” – “Hội thảo về Trường sa- hoàng sa”- ” Hội thảo về lật đổ chế độ công sản Việt Nam” .” Tuyên cáo về việc trung quốc trang chấp biển đông “..vv và vv.. . Văn từ và chữ nghĩa của các ông ” Trí ngủ” này cho thấy các vị là các người rất nghèo nàn về ý tưởng và chữ nghĩa. Mà khi đã nghèo nàn ý tưởng và chữ nghĩa thì đó là hệ quả của sự ngu dốt và bất tài.
Khi người nghe những câu “nói như rồng leo ” của bọn cờ vàng CCCĐ Thật tình ta không hiểu nổi là những lập luận đó lại được phun ra từ những người được gọi là “cờ vàng yêu nước” ? những ý tưởng cực kỳ hoang tưởng , cực kì ngu xuẩn và vô giáo dục đến như thế, chứ nói gì đến những câu vô cùng thô tục của đám người thất học trong đám cờ vàng CCCĐ . Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, có thể không nên ngạc nhiên, và đó cũng là một điều hay. Cái hay là nó cho mọi người thấy tính lưu manh và hành xử côn đồ của cờ vàng chống cộng không chỉ trong các cuộc biểu tình chống phá đất nước Việt Nam mà còn ngay cả trong cái gọi là ” Hội thảo” các ” tuyên cáo” các danh xưng ” hội đoàn “. Một lần nữa chứng minh rằng cờ vàng CCCĐ là một gã lưu manh đần độn .
Chúng ta nhận thấy rằng, “quy trình chế tác” ra các loại thông tin của cờ vàng CCCĐ và một số cá nhân hoặc nhóm người được gọi là các “nhà dân chủ” ở trong nước , thực hiện một cách xảo quyệt, mang tính chất dẫn dụ đối tượng đọc tới mục tiêu mà chúng luôn muốn nhắm tới là đòi thay đổi thể chế VN theo hướng đa nguyên, đa đảng , thay đổi đường lốichính trị, kinh tế, văn hóa… Chúng chuẩn bị “chế tác” công phu và bài bản như vậy, loại thông tin này đã từng khiến không ít những trí thức trong nước ( thực chất đó là những kẻ cơ hội) “xám hối” về lòng yêu nước mà tiếp tay cho kẻ thù của đất nước, của dân tộc phá hoại sự đồng tâm nhất trí, trên dưới một lòng vì sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.
Cờ vàng CCCĐ lấy tư cách gì mà đòi dân chủ cho Việt Nam ?
Những ngày gần đây, bọn cờ vàng CCCĐ ra sức xuyên tạc quan điểm, chủ trương, chính sách Nhà nước Việt Nam , phủ nhận những thành tựu mà nhân dân VN đã đạt được , lợi dụng các vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “tự do báo chí”, những tiêu cực trong xã hội để chống phá, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ. Ngợi ca, kích thích chủ nghĩa tự do, thực dụng. Những quan điểm “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” cùng với những luận điệu bóp méo sự thật “Việt Nam vi phạm dân chủ”, “mất dân chủ”, vu khống Đảng Cộng sản Việt Nam là “trở lực” cho việc thực hiện dân chủ… Bọn cờ vàng CCCĐ kết hợp với các phần tử được chúng gọi là “phản tỉnh” trong nước liên tiếp tung ra các chiêu bài trong cái gọi là ” chiến dịch diễn biến hoà bình” lại rộ lên như nấm độc sau cơn mưa với những sắc thái mới.

Để tránh né sự thật là VN đang hoà nhập với trào lưu tiến bộ thế giới , những thành tựu vô cùng to lớn đạt được trong công cuộc đổi mới, “dàn đồng ca” của bọn cờ vàng CCCĐ lại “chuyển gam” tập trung tấu lên bản nhạc chung quanh cái gọi là “những vấn nạn trong nước” với những suy diễn, qui chụp võ đoán khi cho rằng: “người dân bất mãn với chính phủ”; rằng nhà cầm quyền cộng sản VN đang đàn áp thẳng tay bắt giữ các nhà vận động nhân quyền , bloggers , những người biểu tình… vv..Xuyên tạc vu cáo vốn là bản chất của cố hữu của đám cờ vàng CCCĐ , song điều cần vạch mặt cái “nghệ thuật” phớt lờ những ý kiến đánh giá của các tổ chức quốc tế, các nhà nghiên cứu đang bàn luận về chính những điều họ nêu ra một cách ấu trĩ và ngu muội.
Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá nhà nước Việt Nam bọn cờ vàng CCCĐ thường nhằm vào những phần tử được coi là trí thức trong nước tìm cách lôi kéo , tài trợ , tâng bốc . Đến lượt mình, số trí thức này, tùy theo trình độ mà “chế tác” cho ra lò các loại thông tin vu khống- phóng đại khác, phát tán ra toàn xã hội. Nói tóm lại, những kẻ tự xưng hay được các nhóm chống Việt Nam phong cho cái nhãn hiệu “nhà dân chủ” ở trong nước và hải ngoại chỉ toàn là một phường chạy theo đuôi những thế lực ngoại bang để phản dân hại nước. Họ mang ảo tưởng làm đối lập, nhưng chẳng ai ủng hộ chúng.
Bọn cờ vàng CCCĐ có hiểu rằng – lịch sử nhân loại và ở cấp độ đặc trưng cơ bản, phân biệt giữa con người với phần còn lại của thế giới, nhu cầu về tự do được xem là một thuộc tính của loài người, là một quyền tự nhiên của con người. Không có tự do thì không có khám phá, không có phát minh sáng chế, không có phát triển …vv… Nhưng ở bình diện cá nhân trong cộng đồng thì nhu cầu về tự do không thể không bị hạn chế vì những lợi ích nhiều mặt của quốc gia, dân tộc, trước hết là ở sự ổn định xã hội – mà thiếu nó thì mọi phát minh, sáng tạo đều trở nên vô nghĩa. Cuộc sống còn chỉ ra rằng, quyền tự do của người này nếu không có những hạn chế nhất định thì có thể xâm hại đến quyền, lợi ích của người khác, trước hết đó là nhân phẩm, danh dự của họ.Vì không hiểu rõ căn nguyên của tự do- dân chủ bọn cờ vàng CCCĐ đã hành động như một lũ vô tri .
Trong khi nhiều người VN ở hải ngoại có trái tim tâm huyết với đất nước đang góp sức mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước theo dõi những chuyển biến tình hình chính trị xã hội thế giới và Việt Nam, thì bọn cờ vàng CCCĐ tổ chức hoạt động hành lang gây áp lực để quốc tế lên tiếng ủng hộ những kẻ gây rối an ninh chính trị gây bất ổn trong nước, những kẻ đó đang bị pháp luật VN trừng trị . Nhưng kết quả như thế nào thì chúng tự khắc biết .
Cờ vàng CCCĐ có hiểu được rằng : mọi hành vi, cho dù xuất phát từ những động cơ rất trong sáng, nhưng vô hình trung tạo ra sự phân tâm hoặc bất ổn xã hội, gây trở ngại cho việc củng cố tiềm lực, triển khai chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa đều có thể làm cho sức mạnh dân tộc bị suy yếu, chỉ có lợi cho những người muốn thấy một nước Việt Nam yếu và chia rẽ. Đó là chưa kể một số kẻ mưu toan “đục nước béo cò”, lợi dụng nhiệt huyết của các tầng lớp nhân dân để phục vụ cho những tính toán riêng của họ”.
Vậy là, bọn cờ vàng CCCĐ những kẻ chuyên nghề lu loa, kích động, xuyên tạc , bôi nhọ đã và đang sử dụng mọi “ngón nghề” để phá hoại chính sách đối ngoại và đối nội của Việt Nam, nhưng kết cục chúng đang luẩn quẩn đi vào “ngõ cụt” , hành động của chúng không thể chấp nhận được . Có bao giờ cờ vàng CCCĐ tổ chức một cuộc gọi là “Hội thảo-tổng kết thành quả 37 năm chống cộng sản và tay sai” như các vị gào thét chưa ? kết quả là gì ? một con số không to tướng phải không ? . Thật đúng như câu châm ngôn dành cho cờ vàng CCCĐ là : “Nói như rồng leo , làm như mèo mửa” quả không oan chút nào .

VÀI CHUYỆN NÓI CHƠI VỚI ĐÁM CCCĐ

1/ Các ông nói Việt Nam ngu dốt và đói nghèo?

Phải rồi, một dân tộc bỊ ngàn năm đô hộ. Một dân tộc hơn 100 năm bị thực dân bóc lột tận xương tủy. Một dân tộc 30 năm phải gồng lưng đánh giặc đế quốc hùng mạnh nhất thế giới và đám tay sai bán nước bẩn thiểu để nhận viện trợ. Đã vậy, còn thêm 20 năm bị cấm vận thì sức lực đâu, của cải đâu mà không nghèo. Thời gian đâu mà học để nâng cao dân trí. Chiến tranh đi qua, bọn giặc cướp nước và đám tay sai để lại những gì? Một đất nước tàn phá tan nát, đến nhà thờ, chùa chiền chúng cũng không tha. Một đất nước còn sót lại hơn 800.000 tấn bom mìn nằm rãi rác. Một đất nước còn hàng triệu lít chất độc da cam. Một đất nước bị kẻ thua trận tức tối bày trò cấm vận và đám tay tru tréo tẩy chay. Thử hỏi như vậy làm sao không đói nghèo, lạc hậu. Một đất nước vừa hòa bình lại phải đánh Nam, dẹp Bắc với bọn diệt chủng, bành trướng. Trong cảnh như vậy, mà đất nước đó còn phải dẹp bọn con rơi của chủ nghĩa thực dân đế quốc rơi rớt lại ở Tây Nguyên, đất nước đó phải dẹp đám chống phá tay sai với các chiến dịch Đông Tiến của đám mất trí.

Như vậy, Việt Nam nghèo nàn, lạc hậu là chuyện hiển nhiên. Nhưng Đất nước đó vẫn tồn tại và phát triển, dẹp được tất cả các môi nguy để trở thành đất nước thanh bình hàng đầu thế giới. Cấm vận hoài mà nó từ đói đến xuất khẩu được gạo tuy không nhiều. Đến khi mở cấm vận thì xuất khẩu gạo vọt lên hàng thứ 2 thế giới và các nông sản khác thì hàng đầu thế giới. Chưa hết, trong thời gian như vậy mà có biết bao nhân tài xuất hiện như Đặng Thái Sơn, Ngô Bảo Châu, Hoàng Tụy… được thế giới biết đến.

Các ông thì sao? Làm tay sai bán nước để ăn cơm ăn. Khi thất trận nó bắt làm cu li thì giả điên, giả bệnh để kiếm tiền chứ biết làm cóc khô gì đâu. Có ăn có học như các ông mà nói năng tục tiểu, bậy bạ thiếu văn hóa còn hơn mấy nhóc chăn bò xóm tôi nữa mà. Đã vậy còn suốt ngày chê bai lớn lối. thật lố bịch.

2/ Các ông nói các ông có chính nghĩa?

Trong chiến tranh, người dân ủng hộ các ông và đế quốc hay công sản? Cái này chắc các ông biết quá mà. Vậy nên các ông mới dồn dân, lập ấp để người dân không ủng hộ kháng chiến. Nhưng chính nghĩa vẫn là chính nghĩa, người dân vẫn theo dù đang đói nghèo. Họ ít học nhưng họ biết lẽ phải để họ theo. Có biết bao nhiêu cuộc biểu tình chống đế quốc và bè lũ tay sai, chắc các ông không đếm nỗi. Chưa hết, hầu hết các nước cũng biểu tình chống các ông và đế quốc xâm lăng, trong đó có cả nước bu của ông nữa đấy. Sau chiến tranh, gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ đã công nhận vào quan hệ với Việt Nam, trong đó có cả Bu các ông đây. Bu các ông còn đề nghị nâng tầm quan hệ lên thành đối tác chiến lược nữa cơ. vậy ai có chính nghĩa? Các ông nói các ông có tri thức mà sao các ông không nhận thấy những chuyện rành rành ra đó. Hay là các ông nói CS đã tuyên truyền cho cả thế giới hết rồi?

3/ Các ông nói các ông lãnh đạo 90 triệu dân trong nước lật đổ CS?

Ở chổ tôi, sáng sáng các anh chăn vịt cùng lùa ra cho vịt chạy đồng, chiều chiều lùa về, vịt ai về quây nấy. Sáng sáng các cháu chăn bò cùng lùa bò lên rẩy, chiều chiều lùa về bò ai về chuồng nấy. Đến mùa, các bác nông dân đi cấy, làm cỏ, gặt lúa vần công cho nhau. Tôi thấy họ học ít mà đoàn kết, sẽ chia, đằm thắm biết bao. Còn các ông bên đó, có biết bao là hội đoàn, suốt ngày chưởi rủa, bêu xấu, tố cáo lẫn nhau. Ông này chụp mũ ông kia, cuối cùng cả đám các ông trở thành cộng sản kiểu hải ngoại hết. Chỉ có bấy nhiêu người mà không tập hợp được với nhau mà đòi về lãnh đạo 90 triệu dân trong nước. Xin lỗi các ông, các ông về chăn bò chung với đám con nít xóm tôi nó còn không cho, sợ các ông lùa bò của nó nữa chứ ở đấy mà lãnh đạo, về đây lãnh đạn thì có.

4/ Các ông nói CS tàn ác?

Các ông biết rỏ là Thím của mấy ông nó bóc lột dân tộc này đến tận cùng xương tủy. Mấy triệu người chết trước mắt các ông đó thôi. Chắc gia đình các ông được thím cho bú nên làm địa chủ, khi CS họ đứng lên, lấy hết tài sản và giết luôn đám địa chủ bán nước hại dân để chia cho dân nghèo giờ tiếc của nên rối loạn tâm thần chứ gì? Các ông nhìn trên bản đồ của các ông thời đó mà xem? Có phải nhà tù nhiều hơn trường học không vậy? biết bao nhiêu cuộc thảm sát của Thím, Bu và các chư hầu đã và đang tiếp tục được giải mã các ông có xem hay không? Các ông có biết luật 10/59 không? “Theo luật 10-59, tội xử chỉ có hai mức: tử hình và khổ sai chung thân. Xét xử chỉ được phép kéo dài tối đa 3 ngày, không có giảm khinh, không có kháng cáo, bản án thi hành ngay”, ai tàn ác vậy? chiến tranh xong, CS không giết các ông là may, họ giam giử các ông để rảnh tay đối phó với diệt chủng polpot, bành trướng bắc kinh, tàn quân Fulro và đám lưu vong chạy thoát về quấy rối nữa. Trong thế thù trong giặt ngoài như vậy, thả các ông ra có mà mang họa à? Thế mà các ông thù hằn gần 40 năm vẫn chưa nuốt trôi. Vậy những người bị các ông nhốt, tra tấn tù đày ở Côn Đảo, Phú Quốc, và hàng trăm nhà tù trong đất liền họ có nuốt trôi không? Họ không giết các ông là may đấy vì họ đâu có ấu trĩ như các ông. Họ muốn hòa giải, hòa hợp từ khi bắt được các ông kìa. Chứ mà trả thù thì tiêu đời các ông rồi.

Hàng triệu lít chất độc gia cam đổ lên đất nước này có phải là tàn ác? Bộ đội, người dân và con cái của họ cũng như con cái của những người lính VNCH phục vụ cho việc rãi này bị đau đớn, biến dạng dị tật là do ai? Tôi nói cho các ông biết rằng trong 2 triệu nạn nhân chính thức bị chất độc gia cam tại Việt Nam có rất nhiều người là con cháu của người lính VNCH chứ không chỉ là bộ độ và người dân không đâu. Chính lính Mỹ và đám chư Hầu còn bị thì nó tha gì đồng đội các ông. Có tàn ác không? Các ông biết rằng 2 triệu nạn nhân có biểu hiện từ nhỏ. Còn có hàng triệu nạn nhân khác bị chết, ung thư mà không rỏ nguyên do cũng xuất phát từ cái thứ tàn độc ấy đấy. Vậy có tàn ác không? Ai tàn ác vậy?

5/ Ai bán đất bán biển?

Hoàng Sa ai làm mất? Đảo Ba Bình tại sao mất?

Ai tuyên bố thà dâng đất cho Vatican chứ không để rơi vào tay công sản?

Ai tuyên bố biên giới của Mỹ kéo dài đến vỹ tuyến 17?

Vì đồng đô la viện trợ mà các ông để chuyện đó xảy ra, bây giờ ra rả CS bán đất bán biển. Đúng là “ngu lâu, dốt bền, khó đào tạo”

Tôi chỉ là nông dân nghèo, được nhà nước kéo dây internet về làng, chúng tôi vào đó để học hỏi kỹ thuật nuôi trồng. Gặp mấy ông trên này nói nhảm dữ quá, cầm lòng không đặng, có vài điều để các ông nghe chơi. Hiểu hay không thì mặc các ông. Nhưng các ông đừng bố láo nhân danh 90 triệu dân chúng tôi nhé. Bây giờ ra thăm ruộng, không nói thêm được. Mà với mây ông thì nói biết bao cho đủ, vì câu nào mấy ông nói ra cũng vô lý hết trơn. Để mấy anh em trong diễn đàn này họ có trình độ, có hiểu biết dạy các ông sẽ hay hơn.

Nhớ nhé, ĐỪNG BỐ LÁO NHÂN DANH 90 TRIỆU DÂN CHÚNG TÔI NHÉ, HÃY LO MẤY CÁI HỘI TÀO LAO CỦA MẤY ÔNG ÊM ẤM ĐI

HAI LÚA NƯỚC VIỆT.

[Nguồn: kbchn.net]

Khi một người Cộng sản nói về một người Cộng sản

“Nhiều người theo đạo họ không sợ chết, vì họ nghĩ khi chết họ được sang một thế giới khác. Người Cộng sản cao hơn họ ở chỗ, người Cộng sản biết cuộc sống chỉ có một, nhưng họ vẫn không sợ chết. Họ sẵn sàng hy sinh cả cái quý nhất của mình, nhưng không có nghĩa họ không cố gắng gìn giữ nó. Vì vậy phẩm chất của người Cộng sản cao hơn người khác”.

Tôi có một ấn tượng đặc biệt về TS. Lê Kiên Thành, con trai cố TBT Lê Duẩn. Lê Kiên Thành là người điềm đạm, chắc chắn và chính xác, nhưng không bao giờ thiếu lửa. Tôi thích cách Lê Kiên Thành nói về cha mình.

Tôi thích niềm tin của Lê Kiên Thành về những việc mà cố TBT Lê Duẩn đã làm và con đường của những người Cộng sản như cha ông đã đi. Trong cảm nhận của tôi và nhiều người khác, Lê Kiên Thành là người con thừa hưởng nhiều nhất tinh thần sống của cha mình. Và bất kỳ trong hoàn cảnh nào, Lê Kiên Thành cũng là một người Cộng sản như nghĩa dung dị và thanh cao của từ này.

Cuộc trò chuyện với TS Lê Kiên Thành được đăng trên báo Nghệ thuật mới.

– PV: Có một điều tôi nhận thấy rằng, càng ngày gương mặt của ông càng giống cha ông – cố TBT Lê Duẩn một cách đáng kinh ngạc. Nhưng ông không chỉ giống cha mình ở những cái bề ngoài đó. Ngoài nó ra, ông kế thừa những gì khác từ cha mình về tư duy, cốt cách, tinh thần?

– Lê Kiên Thành: Hồi xưa, em trai tôi (Lê Kiên Trung – PV) mới là người giống ba nhất. Em tôi đen, còn tôi thì trắng. Trong nhà gọi tôi là “cu trắng” và gọi Trung là “cu đen”. Ba tôi cũng đen. Nhưng bây giờ khi có tuổi, đi nắng nhiều hơn, tôi bắt đầu đen hơn, da mặt bắt đầu có đồi mồi, thì rất nhiều người bảo tôi giống ba. Có người gặp tôi, đưa cánh tay cho tôi xem: “Mày nhìn này, tay tao nổi hết da gà lên. Mày giống ông già quá”!

Tôi nghĩ rằng, trong một gia đình, con cái nhất định sẽ thừa hưởng cha mình cái gì đó về cốt cách, tinh thần, không mặt này thì mặt kia. Ngày xưa mỗi lần ăn cơm xong, ba tôi luôn có thói quen gọi tất cả con cái ngồi quây quần bên cạnh và kể chuyện hoạt động của ông. Nó như một thói quen, mà sau này thì tôi hiểu ra rằng, ba tôi làm thế vì muốn qua những câu chuyện đó truyền cho con cái một tình cảm nào đó, một điều sâu xa nào đó.

Những câu chuyện mà ba tôi kể đúng như ông đã nghĩ: nó tác động vào suy nghĩ, vào tình cảm của chúng tôi. Ba tôi rất hay nói về lòng thương người, ba tôi nói nhiều về lẽ phải, nói nhiều về tình cảm. Ba tôi luôn cho rằng: con người, nếu mà có cả tình thương và lẽ phải, thì đó là sự hoàn thiện. Lớp người như ba tôi, là lớp người có thể san sẻ gần như mọi thứ. Những cái đó luôn ở trong tiềm thức của tôi. Còn thực tế trong cuộc đời, có lẽ không phải lúc nào tôi cũng làm được những điều như thế hay đạt đến mức mà ba tôi mong đợi, nhưng đó là định hướng của tôi, là cái tôi cố gắng vươn tới.

– Tôi từng nhớ ông nói rằng “cái mà tôi kế thừa ở cha tôi là tình thương con người”. Ông đã từng chứng kiến tình thương con người của cha ông như thế nào?

– Ví dụ gần nhất là đối với những chú bảo vệ, cần vụ trong nhà. Gần như giữa ba tôi và các chú không hề có sự cách biệt. Nhất là mỗi lần đi sang nước ngoài, điều đó khiến họ hơi ngạc nhiên: giữa một ông lãnh đạo Đảng và một người cần vụ, mà cư xử trong cuộc sống như anh em, anh em là vì ba tôi lớn tuổi hơn chú đó.

Rất nhiều cái mọi người nhìn vào thấy có lỗi. Nhưng ba tôi không thấy thế. Tôi nhớ có lần đi đến nhà nghỉ ở Quảng Ninh, ba tôi không thấy cô phục vụ đâu. Ba tôi hỏi thì người ta trả lời: cô ấy đã bị kỷ luật vì cô ấy có quan hệ không trong sáng. Ba tôi buồn lắm. Ông nói với người lãnh đạo ở nhà nghỉ: nếu người ta xa chồng hàng chục năm, mà chẳng may có những chuyện như vậy, thì đừng coi cái lỗi đó là cái gì ghê gớm lắm. Mình phải nhìn nhận điều đó trong một góc độ khác. Quan niệm về đạo đức ngày đó luôn nhìn những việc đấy rất ghê gớm. Nhưng ba tôi luôn nhìn những cái sâu xa hơn của vấn đề.

Sau này khi giải phóng miền Nam rồi, ba tôi có nhận được những lá thư của các cô TNXP, xin phép chỉ cần được có con mà không có chồng, ba tôi đã băn khoăn rất nhiều. Ba tôi gọi những người phụ trách phụ nữ lên. Ông nói với họ rằng hạnh phúc nhất của một người phụ nữ là được làm mẹ. Người ta đã hi sinh cả tuổi thanh xuân cho đất nước này. Tặng người ta huân chương, có thể người ta cũng không thích, tặng vật chất, có lẽ người ta cũng không cần, cái người ta mong muốn là được làm mẹ. Vậy xã hội mình có thể chấp nhận một người mẹ có con mà không có bố không? Ba tôi đã hỏi như thế, nhưng gần như tất cả những người phụ trách đều phản đối. Họ nói: thưa anh, nếu anh chấp nhận những cái đó thì nền tảng đạo đức sẽ bị phá hoại hết.

Những điều đó khiến ba tôi buồn kinh khủng. Ông cho rằng nếu chúng ta cứ quan niệm như thế, thì có lẽ chúng ta đang rời xa cái chất của Cộng sản. Bởi Cộng sản đúng nghĩa là phải cực kỳ nhân văn, cực kỳ vì con người, vì con người một cách ghê gớm. Đến cuối đời ba tôi vẫn day dứt vì câu hỏi: tại sao ông đã không thể thuyết phục được những người xung quanh về điều đó? Thời ba tôi là thế, nhưng thời nay người ta nhìn những chuyện này rất đơn giản.

– Khi ông ra làm kinh tế tư nhân, thì cố TBT Lê Duẩn đã qua đời. Nhưng thời điểm đó, người ta vẫn nhìn kinh tế tư nhân với con mắt rất khe khắt, giống hệt như người ta khe khắt với những người phụ nữ không chồng mà có con. Quyết định ra làm kinh tế tư nhân của ông thời điểm đó thực sự là một quyết định can đảm, nhất là ở vị trí của ông – con trai của TBT Lê Duẩn?\

– Đó là một giai đoạn khó khăn! Mặc dù mọi người rất phê phán kinh tế tư nhân, nhưng hầu như người nào cũng làm kinh tế tư nhân, theo góc độ nhỏ hoặc lớn. Họ làm điều đó một cách vừa giấu diếm vừa không giấu diếm. Người ta cứ nói đến kinh tế tư nhân như là một cái gì đó rất xấu xa. Tôi hiểu là lịch sử của chúng ta đã trải qua một giai đoạn phong kiến, thực dân, đế quốc bóc lột rất nặng nề. Những chuyện đó được cắt nghĩa là do kinh tế tư nhân đẻ ra. Khi tranh luận với những người lãnh đạo về vấn đề tại sao không cho đảng viên làm kinh tế tư nhân vì dính đến bóc lột, tôi có nói: những nỗi lo lắng về chuyện bóc lột, chúng ta có thể xử lý. Còn nếu như luật của chúng ta chưa hoàn thiện, chúng ta phải hoàn thiện, chứ chúng ta không thể cấm. Còn nếu một người đã làm đúng luật Lao động đề ra, anh không thể kết tội người ta được.

Tôi nghĩ rằng vấn đề này, phải qua cả một quá trình nhận thức người ta mới hiểu được. Thời mà tôi đi làm kinh tế tư nhân, tôi cứ nghĩ: tại sao lại cấm những điều vô lý như thế? Khi tôi ở trong Nhà nước, tôi được trả một cái cục tiền nhỏ. Tôi nhìn cái cục tiền đó và hiểu mình không thể sống được. Vậy tại sao người ta nghĩ ra công ăn việc làm, anh lại cấm người ta, lại bắt người ta phải sống bằng cái cục tiền đó và ép người ta nghĩ rằng đó là đúng? Tôi cầm cục tiền đó về, tôi không thể nuôi cá nhân tôi, không thể nôi con tôi, vậy thì đúng ở chỗ nào???

Hiện nay chúng ta nói đến đạo đức, đến tham nhũng, đến tiêu cực, nhưng cái gốc của vấn đề chúng ta không xử lý được thì rất khó. Hỏi tất cả mọi người, và nói sòng phẳng với nhau đi: với ăn uống bây giờ, nuôi con đi học bây giờ, những chi phí như bây giờ, thì cái lương này sống đượ c bao nhiêu? Không thể sống được! Trên một bối cảnh như thế, làm sao chúng ta đòi hỏi những điều công bằng, trong sạch? Nó như một phản xạ tự nhiên, anh bịt mũi họ, thì họ sẽ phải há mồm ra để thở!

– Rất nhiều người nói : Lê Kiên Thành có đầy đủ tố chất và cả nền tảng để phát triển con đường chính trị. Nhưng ông lại không đi theo con đường đó mà lại đi làm kinh tế tư nhân. Ông có phải trả giá không?

– Khi tôi làm kinh tế tư nhân, có lần tôi đã nằm trong danh sách bị đưa ra khỏi Đảng, vì ngày đó cấp ủy nơi tôi sinh hoạt đưa ra quy định: một đảng viên được làm cơ sở kinh tế không quá 13 lao động. Người đảng viên chỉ được có không quá 30% vốn trong cơ sở không quá 13 lao động đó. Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười gọi tôi lên hỏi chuyện, tôi đã nói: chúng ta phải có luật để ngăn chặn bóc lột, chứ chúng ta không cấm kinh tế tư nhân. Còn nếu nói đảng viên làm kinh tế tư nhân là bóc lột, thì bóc lột một người cũng là không đúng, vậy tại sao Đảng lại cho bóc lột 13 người? Mà tại sao lại nghĩ là bóc lột 13 người thì tốt hơn bóc lột 14 người? Tôi đã nói với bác Đỗ Mười tôi không hiểu về khái niệm, về lý do người ta đưa ra con số đó, và cả về bản chất của việc đó. Nó không thuyết phục được tôi phải tuân theo nó.

Hồi đó bác Đỗ Mười đã đề nghị Thành ủy gặp tôi. Lúc đó chú Sáu Phong (nguyên Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết – PV), khi ấy là Phó Bí thư Thành ủy gặp tôi. Chú Sáu Phong nói: “Tao có 30 phút để nói chuyện với mày”. Nhưng cuối cùng ông ấy đã nghe tôi nói chuyện suốt 2 tiếng. Chứng tỏ những điều tôi nói đã thuyết phục được ông ấy. Tôi nhớ chú Sáu Phong đã nói một điều mà đến giờ tôi vẫn rất cảm động mỗi lần nhớ lại, không biết chú Sáu Phong còn nhớ hay không: “Mày cứ yên tâm làm đi. Nếu người ta bắt mày ra khỏi Đảng, tao sẽ đi ra cùng mày”. Câu nói đó của chú Sáu Phong động viên tôi rất ghê gớm: một người như ông mà dám nói câu đó, nghĩa là còn có những người hiểu tôi. Đó là yếu tố cho tôi niềm tin để sống, để làm việc.

Khi có nguy cơ bị đưa ra khỏi Đảng, tôi đã nói: nếu các anh không cho tôi sinh hoạt Đảng ở Tp.HCM, tôi sẽ về địa phương khác sinh hoạt. Nếu địa phương khác cũng thế, tôi sẽ tiếp tục chuyển đến một địa phương khác nữa. Tôi sẽ đi đến nơi nào cuối cùng của đất nước này cho phép tôi vừa làm đảng viên, vừa làm kinh tế. Đến lúc đó mà không còn cách nào khác thì như tôi đã nói với mẹ tôi khi đứng trước bàn thờ cha tôi: “ Khi đó con mới chấp nhận ra khỏi Đảng”.

– Vậy sau những cuộc đấu tranh, những tranh luận thẳng thắn đó, ông vẫn là đảng viên?

– Đúng thế! Đến giờ này tôi vẫn là đảng viên.

– Ông đi làm kinh tế tư nhân, vì khát khao thoát khỏi cuộc sống khó khăn với đồng lương công chức eo hẹp và khẳng định bản thân?

– Tôi chỉ muốn sống như tôi muốn sống. Tôi chỉ nghĩ làm sao để những người làm việc với mình không khổ, bản thân mình cũng không khổ. Bởi vì cái thời điểm trước khi tôi ra làm kinh tế tư nhân, tôi cực kì khổ.

– Khi nghe điều ông vừa nói, hầu như mọi người rất khó hình dung tại sao con trai của TBT Lê Duẩn đã sống không hề sung sướng, bởi vì như cái sự thật hiển hiện mà tôi đang thấy trong xã hội hiện nay, con cái của các quan chức có những thứ mà người bình thường nằm mơ nhiều đời cũng không có được?

– Thời của tôi, không phải vì tôi là con ông TBT mà tôi có thêm nửa cân thịt một tháng. Tôi chỉ có thế, đúng theo tiêu chuẩn. Không phải vì con ông TBT mà ở trong đơn vị, người ta được phát một bộ quần áo, tôi được phát hai. Không có điều đó! Đến mức mà khi sinh đứa con trai đầu tiên, vợ tôi không có sữa, mỗi lần được phát một bộ quần áo mới, tôi lại nhìn bộ quần áo cũ tôi đang mặc và tự hỏi mình có thể mặc bộ quần áo này thêm một năm nữa không, để bán bộ quần áo mới này đi. Dĩ nhiên bộ đội thì không thể ăn mặc rách rưới. Nhưng nếu cố được, tôi sẽ cố. Bán đi thì sẽ có tiền mua sữa cho con. Hồi đó ở đơn vị tôi có tôi và Võ Điện Biên (con trai Đại tướng Võ Nguyên Giáp – PV). Nhiều anh em trong đơn vị nói là nếu không sinh hoạt cùng Lê Kiên Thành, cùng Võ Điện Biên, họ sẽ nghĩ những người như chúng tôi sống khác. Và khi sinh hoạt cùng, họ phát hiện ra chúng tôi không có mảy may gì khác biệt.

Tôi không biết, trong tâm những người lãnh đạo của tôi, họ có ý định tốt với tôi cái gì không, nhưng những cái gì thuộc về quyền lợi, thì tôi không có khác biệt so với những người khác. Nếu không muốn nói, đôi khi tôi bị đối xử khắt khe hơn. Đố kị là điều khó tránh khỏi trong cuộc sống. Cái gì qua rồi, tôi không muốn nói lại. Nhưng chắc chắn một điều là có những sự không công bằng với tôi, chỉ vì tôi đã xuất thân từ gia đình đó.

– Ông ra làm kinh tế tư nhân khi cha ông đã qua đời. Nhưng có bao giờ ông hình dung rằng nếu cha ông còn sống, thì cha ông sẽ phản ứng thế nào với quyết định của ông?

– Câu hỏi của bạn rất giống câu hỏi của một người làm Tham tán kinh tế trong Đại sứ quán Mỹ khi gặp tôi. Anh ta hỏi tôi: Tôi với anh, chúng ta có thể nói chuyện thẳng thắn được không? Ok, chúng ta nói chuyện thẳng thắn, vì chúng ta đã từng đánh nhau cơ mà, còn chuyện gì không nói được. Và anh ta hỏi tôi: Nếu cha ông còn sống, cha ông sẽ nhìn những việc ông đang làm như thế nào? Tôi nói: ông không hiểu ba tôi thì là đương nhiên rồi. Vì rất nhiều người trong đất nước tôi còn không hiểu ba tôi. Tôi thì tôi hiểu một điều, ba tôi không phải một người Cộng sản cứng nhắc như nhiều người nghĩ. Nhà tôi ở gần đường Phan Đình Phùng, có một hiệu cắt tóc có đề bảng “HTX cắt tóc”, có lần ba tôi đi qua nhìn thấy, ba tôi buồn lắm. Cắt tóc cũng bắt người ta làm HTX! Chẳng lẽ ta sợ những người cắt tóc đi lên tư bản?

Khi ba tôi đi thăm một cơ sở dệt xuất khẩu, ba tôi hỏi: Cháu có biết đồng đô-la là gì không? Hồi đó đang chiến tranh, đến tiền Việt còn khó chứ đừng nói là đồng đô-la, thì ông Đoàn Duy Thành ở cạnh nghe thấy liền nói: thưa anh, đến tôi còn không biết đồng đô-la là gì chứ đừng nói đến cô này. Ba tôi nói: Thế này là quá sai! Bây giờ mình đang đánh Mỹ, nhưng sau khi đất nước giải phóng, rồi Mỹ sẽ là đối tác làm ăn lớn nhất của mình. Tại sao ba tôi lại hiểu điều đó? Tại sao không phải là Liên Xô hay Trung Quốc, khi mà hồi đó ba tôi không bao giờ nghĩ Liên Xô sẽ sụp đổ? Tại sao ba tôi lại nghĩ Mỹ – sau khi là kẻ thù, thì rất có thể sẽ là một đối tác? Tôi không hiểu!

– Những điều cố TBT nói, là hiện thực mà chúng ta đang trải qua!

– Đúng là như vậy! Tôi rất tâm đắc với một câu nhận xét của một người về ba tôi, ông ta nói đại ý: Lê Duẩn là một người mà sau lưng một kẻ thù, ông thấy có thể đến một lúc nào đó, là một người bạn. Và sau lưng một người bạn, đến một giai đọan nào đó, có thể là là một kẻ thù. Ba tôi luôn lường được, luôn nhìn thấy những cái mà người ta không nhìn thấy. Ba tôi không được học ở Liên Xô, không được học ở Trung Quốc. Nhưng ba tôi nhìn thấy những điều đó, qua lăng kính của lòng yêu nước. Khi người ta yêu nước đến vô cùng, người ta sẽ rất sáng, người ta sẽ cảm nhận được cái gì là đúng, cái gì là tốt với dân tộc mình. Và ông đã thuyết phục những người lãnh đạo chỉ với lòng yêu nước của mình.

– Như những gì mà chúng ta đã nói nãy giờ, tôi đã có câu trả lời cho câu hỏi của mình: nếu còn sống, cố TBT Lê Duẩn sẽ hoàn toàn ủng hộ những việc mà con trai mình làm.

– Tôi nghĩ thậm chí còn lớn hơn thế, nếu ông còn đủ thời gian. Tôi có nói với người bạn ở Đại sứ quán Mỹ là một trong những cái mà ba tôi tiếc, và tôi cũng tiếc là ba tôi chưa có dịp đến một đất nước tư bản. Hồi đó ba tôi rất muốn đi Pháp, nhưng không được. Nước duy nhất ngoài các nước XHCN mà ba tôi đi là nước Ấn Độ. Nhưng mặc dù chưa đi, ba tôi vẫn hiểu và vẫn đang cố gắng làm là cải biến cái cũ, cải biến những cách hiểu cứng nhắc về CHXH.

Tôi từng nói rất nhiều lần về câu chuyện Giá – Lương – Tiền. Ở thời điểm khó khăn, người ta phê phán Giá – Lương – Tiền. Nhưng Giá – Lương – Tiền là cái gì? Giá – Lương – Tiền là sự cố gắng của chúng ta trong việc xóa bỏ sự bao cấp, để không còn chuyện giá mậu dịch thế này, còn giá ngoài lại thế kia. Giá – Lương – Tiền là một cú sốc, đánh động cả xã hội, bẻ ngoặt suy nghĩ của người ta, buộc người ta phải suy nghĩ khác đi.

Trận Mậu Thân 1968, tổn thất của mình rất lớn, nhưng nó bẻ ngoặt cuộc chiến sang một giai đoạn khác và tiến đến thắng lợi. Trong kinh tế, có thời điểm đã có một đòn choáng váng như vậy. Chúng ta phải chấp nhận hi sinh. Nó đã gây ra sự đảo lộn về mọi cái, nhưng cái được là chúng ta đã thay đổi được suy nghĩ của xã hội, hướng cái suy nghĩ đó sang một hướng khác. Làm điều đó không đơn giản! Liên Xô, Tiệp, Ba Lan, khi thay đổi cơ chế, họ “tung tóe” bằng mấy lần Việt Nam, và họ phải trả giá bằng sự thay đổi chế độ. Còn chúng ta không làm cái đó. Tự chính chúng ta thay đổi và kiểm soát sự thay đổi.

Tôi phải nhấn mạnh rằng mỗi thời kỳ đặc biệt, nó có một cái đúng riêng. Anh không thể nói thời bao cấp là sai. Tôi nói ví dụ này: Tại sao đứa bé trong bụng mẹ có miệng mà không ăn, lại ăn qua dây rốn? Vì đó là thời kỳ đặc biệt của nó. Thằng anh ở ngoài cũng không thể ích kỷ so bì: tại sao mày sống xấu thế, mày có miệng mà không ăn, mà lại bắt mẹ nhai, mẹ nuốt rồi để cho mày? Không thể nói thế được. Nhưng khi đứa bé ra đời, nếu nó mang theo cuống rốn để ăn, thì lại không đúng. Cho nên cái đúng của thời kỳ kia là gì? Thời chiến tranh, nếu chúng ta chia ruộng đất, nếu chúng ta không đưa vào tập thể thì ai sẽ là người đi đánh giặc? Ai đi đánh giặc sẽ sẵn sàng hy sinh? Chúng ta đã làm ra cơ chế đó, và chỉ như thế mới đủ sức đánh giặc. Nhưng chúng ta không thể duy trì cơ chế đó mãi được.

Khi Liên Xô chất vấn ba tôi về việc cho xí nghiệp định giá sản phẩm, họ nói: các đồng chí mà cho phép làm như vậy là các đồng chí giống tư bản rồi. XHCN chúng ta không vậy, XHCN chúng ta có ủy ban vật giá nhà nước và ủy ban vật giá đó quyết định giá cả. Ba tôi đã giải thích: chúng tôi khác các đồng chí ở chỗ nhà nước không thể cung cấp tất cả cho nhà máy, cái chúng tôi cung cấp chỉ là một phần nhỏ thôi. Phần nhỏ đó chúng tôi định giá được. Nhưng phần lớn còn lại, xí nghiệp phải lo bên ngoài, họ phải tự định giá. Lúc đó Liên Xô đang giúp ta rất nhiều cái: cung cấp máy bay, phân bón, họ sẽ cắt hết nếu họ thấy họ đang giúp một ông mà không biết ông ta thành cái gì? Mình phải chứng minh cho họ thấy là cái mà chúng ta đang làm là cái mà rồi tất cả đều phải nghĩ đến.

Trong những lần ngồi ăn với các nhà lãnh đạo Liên Xô, ba tôi luôn tranh luận với họ. Ông nói: Có lẽ đối với những Đảng, những nước anh em, họ sẽ tìm một cách riêng của họ để đi lên, chứ không thể như chúng ta được đâu. Phía Liên Xô không đồng tình. Họ nói: Có nhiều con đường, nhưng Lê -Nin khẳng định đây là con đường duy nhất đúng. Lúc đó ba tôi chỉ cười, im lặng không nói gì. Đến giờ tôi hiểu ba tôi đúng, hoàn toàn đúng. Tôi nói thế này nhiều người không hiểu sẽ nói con thì bao giờ chẳng khen cha. Nhưng tôi sống ở đó, tôi đã chứng kiến ông nghĩ gì, nói gì, làm gì. Và thực tế đang diễn ra nó dần dần đúng với những cái mà ba tôi hình dung.

Trên tạp chí “Xưa và Nay” có đăng một bài của tác giả Đinh Phong nhận định về tình hình kinh tế vào năm 1976. Ông Đinh Phong đã nói rằng: thực ra ông ấy đã không nghĩ rằng ông Lê Duẩn lại có một tư tưởng như vậy vào thời đó. Không phải cái gì ba tôi muốn làm, cũng làm được đúng như ý ông muốn.

– Đó là lý do đến giờ vẫn còn những đánh giá rất khác nhau về cố TBT Lê Duẩn?

– Anh Nguyễn Anh Tuấn khi còn làm TBT báo VietNamNet đã từng bị một cô chuyên gia người Mỹ gọi điện nói là: “Chúng mày đang có những cái nhầm lẫn cơ bản. Tao nghiên cứu thì tao thấy người đổi mới đầu tiên ở Việt Nam là Lê Duẩn. Chúng mày đang có những cái nhầm lẫn cơ bản”. Cô ấy viện diễn ra những gì cô đọc được. Sau này anh Tuấn có trao đổi với tôi: ‘Trước đây em nghĩ về ông già khác. Nhưng khi em theo những tài liệu mà cô ấy hướng dẫn thì em hiểu khác”.

Hồi đó tôi đi chơi ở nhà một số người bạn, có những chuyện rất đau lòng. Ông bà, bố mẹ bạn tôi biết tôi là con ai, cứ cố tình nói đổng lên: “Dân tình khổ lắm! Có ai biết không?”. Tôi biết họ cố tình nói để cho tôi nghe. Tôi có mang điều đó về kể với ba, ba tôi nói: “Những cái khó khăn nhất của dân tộc qua rồi. Những cái như bây giờ sẽ qua”.

Một lần tôi sang Hàn Quốc, được ông ĐBQH Hàn Quốc tiếp. Tôi hỏi: “Ông sang Việt Nam, ông thấy kinh tế Việt Nam cách Hàn Quốc bao nhiêu năm?”. Ông ta trả lời: “Chừng 30 năm”. Tôi hơi buồn khi ông ta nói thế. Nhưng ông ta nói tiếp một câu: “Thế nhưng về thống nhất đất nước, chúng tao cách chúng mày không biết bao nhiêu năm!”. Tự nhiên tôi thấy lòng mình đầy tự hào. Có lẽ chỉ có người ngoài, những người đồng cảnh, người ta mới nhìn thấy cái vĩ đại của một cái dân tộc khác.

Lần đầu tiên tôi sang Mỹ, nhìn nước Mỹ giàu có, gần như làm gì cũng được: một bãi cát sa mạc, họ muốn trồng 1 thảm cỏ, họ làm được; Nước đang ầm ầm, nhưng lửa phun lên được. Toàn những cái trái chiều, toàn những cái nghịch lý, toàn những cái không thể, họ đều làm được. Giống như là họ có quyền lực có thể thay đổi thế giới. Tôi nhận ra nước Việt Nam không thể tình cờ thắng Mỹ được. Mình phải mạnh hơn Mỹ một điều gì đó. Tự nhiên tôi bước đi đầy tự hào, thấy ngực mình ưỡn ra, và thấy mình – một người Việt Nam nhỏ bé, trở nên to lớn bên cạnh những người Mỹ to lớn.

Theo nguyên lý, khi A lớn hơn B, thì 2A phải lớn hơn 2B, 3A càng phải lớn hơn 3B. Nhưng trong cuộc chiến tranh của chúng ta, A lớn hơn B, nhưng 2A chỉ bằng 2B và 3A có thể nhỏ hơn 3B. Khi anh liên kết những cái lớn lại, nó có thể trở thành một cái nhỏ hơn. Quy luật đó áp dụng với chính cuộc chiến của Việt Nam. Và để hiểu nó, phải hiểu một cách thông minh. Người Mỹ không hiểu tại sao những người Việt Nam đi chân đất, lại thắng được họ – những người đi giày, họ không hiểu nổi tại sao người Việt Nam ngô nghê lại thắng họ? Tôi có nói với những người Mỹ: “Các ông cứ thử một lần chống lại một kẻ thù bên ngoài mạnh hơn các ông 1000 lần đi. Các ông toàn chống lại những người yếu hơn. Các ông phải chống lại những người mạnh hơn các ông, các ông mới hiểu chúng tôi”.

Người Mỹ đã nói rằng họ nghiên cứu và phát hiện ra người Việt Nam rất thông minh. Thông minh ở chỗ họ có thừa lòng dũng cảm, nhưng cũng thừa khôn ngoan để không lao vào chỗ chết. Họ cố gắng giảm thiểu thương vong ở mức thấp nhất. Vì chúng ta biết tổ chức, chúng ta đã thắng trong cuộc chiến mà nhiều dân tộc khác thất bại. Người Mỹ nói với tôi: “Nếu các ông chỉ có lòng dũng cảm, bom đạn của chúng tôi sẽ chà đạp lên lòng dũng cảm”. Nhưng ngoài sự dũng cảm, người Việt Nam còn có nhiều thứ khác. Chúng ta có nhiều phẩm chất khác, và vào một cái thời điểm, mọi phẩm chất đó ở trong chúng ta tụ hội, khiến chúng ta mạnh hơn chính chúng ta thực sự, và chúng ta làm được một điều kỳ diệu, kỳ diệu nhưng thật ra lại rất hợp lý.

Cha tôi nói: “Nhiều người theo đạo họ không sợ chết, vì họ nghĩ khi chết họ được sang một thế giới khác. Người Cộng sản cao hơn họ ở chỗ, người Cộng sản biết cuộc sống chỉ có một, nhưng họ vẫn không sợ chết”. Họ sẵn sàng hy sinh cả cái quý nhất của mình, nhưng không có nghĩa họ không cố gắng gìn giữ nó. Vì vậy phẩm chất của người Cộng sản cao hơn người khác.

– Trước những tiếng nói trái chiều về cố TBT Lê Duẩn, ông đã từng nói: “Cha tôi là một người Cộng sản chân chính với nghĩa đúng nhất của từ này”. Tôi rất thích cách ông bảo vệ cha mình trước những tiếng nói trái chiều, có thể trong đó có sự chủ quan của một người con, nhưng không thiếu những lập luận chính xác. Nhưng tôi thực sự muốn hỏi ông về cảm giác của ông trước những điều người ta nói về cha mình?

– Tôi nghĩ lịch sử là công bằng. Như ông Nguyễn Trãi dù có tru di tam tộc, thì dù mất cả hàng trăm năm, lịch sử vẫn không cưỡng lại được, vẫn phải công nhận ông. Với ba tôi, tôi luôn cố gắng nhìn ông như một nhân vật lịch sử. Tôi cố gắng tách phần ruột thịt ra, để nhìn ba tôi như một con người, xem họ sống thế nào, nghĩ thế nào. Muốn nói gì thì nói, lớp người như cha tôi là một lớp người đặc biệt, không phải lúc nào cũng xuất hiện trong lịch sử dân tộc.

Có một cái hay là người bố khó giả dối với con cái mình. Rất nhiều người ra ngoài nói thế này, nhưng về lại nói với con cái thế khác hoặc vô tình con cái nhìn thấy họ khác. Tôi thấy ba tôi sống thực với tất cả những gì mà ba tôi trăn trở, với tất cả những điều ý nghĩa của cuộc đời ông. Ba tôi luôn kể một câu chuyện về bà nội. Bà nội tôi đi ngang qua một ngôi nhà, họ có một nồi khoai to, bà nội tôi ước: “Trời ơi, bao giờ mình có một nồi khoai to như thế?”. Ba tôi đã khóc, khóc kinh khủng. Mỗi khi ra đường, ông luôn thấy trong những người nghèo kia có mẹ mình ở đó. Cả đời ông phấn đấu làm sao cho con người không nghèo nữa. Những cái đó là những cái rất thật về con người ba tôi. Như ba tôi đã từng nói: “Người Cộng sản đi ra đường nhìn thấy một người đẩy xe bò mà không biết xót xa thì không còn là một người Cộng sản”.

Một lần ba tôi sang Liên Xô lúc chúng tôi đang học ở đó. Tôi ở bộ đội, nhưng họ vẫn phát cho một bộ comple, cà- vạt, ba tôi nhìn và nói: Nhìn mấy đứa này người ta bảo chắc không phải con của ba mất. Thật ra tôi không khác so với những sinh viên khác ở Liên Xô. Nhưng tôi hiểu ba tôi muốn nói điều gì đó: tôi không khác với những sinh viên ở Liên Xô, nhưng tôi khác so với những người đang ở trong nước.

Năm 1974, mẹ tôi từ miền Nam ra và chuẩn bị sang Liên Xô chữa bệnh. Trước khi đi, mẹ thấy em tôi đi đôi dép cao su chật lên chật xuống, nên gọi em vào: “Lại đây mẹ đo chân cho. Sang đó có đôi giầy nào mẹ sẽ mua cho”. Tự nhiên ba tôi quát: “Giầy gì mà giầy? Ở ngoài kia người ta còn không có dép mà đi”. Mà em trai tôi là đứa con mà ba tôi yêu chiều nhất.Trong hồi ký của mình, mẹ tôi có viết lại chuyện đó. Mẹ tôi đã rất tủi thân. Mẹ đã rất sững sờ khi bị ba tôi mắng, vì ba mẹ tôi người Nam kẻ Bắc, 10 năm mới gặp nhau. Những cái đó ba tôi thể hiện với vợ con mình, không phải với người ngoài, ông đâu cần phải giấu diếm điều gì về con người ông.

– Nhắc đến cái tên Lê Kiên Thành, người ta có thể đưa ngay ra những cái gạch đầu dòng: Con trai của cố TBT Lê Duẩn. Là người đầu tiên sáng lập ra ngân hàng Techcombank, một trong những ngân hàng lớn nhất hiện nay. Là một doanh nhân thành đạt nhưng lại rất tâm huyết với các vấn đề chính trị xã hội…Trong những điều đó, cái gì đúng là Lê Kiên Thành nhất, và còn điều gì thiếu?

– Tôi không biết bên ngoài họ nhìn tôi ra sao, nhưng nhiều người quanh tôi nhận xét: tôi quá hiền để làm kinh tế, cũng quá hiền để làm chính trị. Những điều họ nói về tôi, không phải là ca ngợi, mà có lẽ “chê” nhiều hơn. Hiện nay, tôi có làm tổ trưởng dân phố. Có những việc con con, không ai chịu làm thì tôi làm. Đó có lẽ là “chức vụ” cao nhất của tôi về mặt chính quyền. Làm kinh tế đôi khi phải lạnh lùng, tàn nhẫn, không được để tình cảm xen vào thì mới dễ thành công. Làm chính trị trong một giai đoạn nào đó có thể phải có thủ đoạn: chắc là thế, hoặc người ta bây giờ hình dung như thế. Tôi đều không có cả hai cái đó. Nên có lẽ nhận xét của mọi người về tôi là đúng. Mình rất khó để tự hiểu mình là ai. Có khi người ngoài lại hiểu mình hơn.

– Ông từng nói ông tự hào “là con của một người Cộng sản chân chính với nghĩa đúng nhất của từ này”. Ông sinh năm 1955. Thời điểm này, sau khi cố TBT Lê Duẩn mất gần 30 năm, ông cũng đã gần 60 tuổi, đã lên chức ông nội. Vậy nhìn lại chặng đường ông đã sống, đã trưởng thành, đã phấn đấu cho những gì ông cho là đúng, và đã đạt được những thành công như ông đang đạt được: ông đã thấy mình sống xứng đáng là con của một người Cộng sản chân chính chưa?

– Chưa!

– Tại sao?

– Rất nhiều việc mà tôi muốn làm, hoặc có thể làm, nhưng chưa thể làm được, vì nhiều lý do. Nhưng cái đích của tôi là luôn cố gắng trở thành một người tốt. Có thể tôi chưa làm được những điều ba tôi muốn, hoặc tôi đã làm nhưng chưa được như ba tôi kỳ vọng, nhưng tôi vẫn luôn hướng tới những điều đó, như là cái đích của đời mình.

– Kể từ sau khi bắt “Bầu” Kiên – một người rất nổi tiếng trong lĩnh vực ngân hàng, được cho là người có quyền lực lớn, có sự ảnh hưởng lớn với nhiều ngân hàng ở nước ta, hiện tượng thâu tóm ngân hàng và sự xuất hiện của những nhóm lợi ích đang là vấn đề được nói đến rất nhiều trong thời gian qua. Ông có bình luận gì về vấn đề này?

– Tôi là doanh nhân và có rất nhiều bạn bè là doanh nhân. Phần lớn họ là người tốt, luôn cố gắng đóng góp cho đất nước bên cạnh mục tiêu làm giàu cá nhân. Tôi tin ở đâu, ở môi trường nào trong xã hội, cũng luôn có người tốt và người tốt là chủ yếu, hoặc ít nhất bản chất họ là tốt. Nhưng nếu cách hành xử, nếu những chính sách của Nhà nước ta không hợp lý, thì sẽ rất có thể dẫn đến việc chúng ta đẩy họ ra xa, chúng ta làm bản năng họ ngày càng méo mó, càng xấu xí đi. Có thể xuất hiện nhiều doanh nhân thích và biết lợi dụng vào những kẽ hở, lợi dụng sự che chở, tiếp tay của các quan chức nhà nước, để thao túng một phần nền kinh tế, tạo một siêu lợi nhuận cho chính bản thân họ.

– Từ trước đến nay, chúng ta vẫn biết ở các nước Tư bản Chủ nghĩa, các tập đoàn kinh tế khi lớn mạnh đến một mức nào đó, sẽ có thể thao túng kinh tế, sau đó chi phối chính trị, chi phối kết quả các cuộc bầu cử, vậy việc có một bộ phận các nhóm lợi ích thao túng kinh tế và có thể có khả năng chi phối chính trị đang xuất hiện ở nước ta, điều đó sẽ gây ra những hậu quả gì lâu dài cho những thành quả mà chúng ta đã xây dựng bằng cả máu xương và bao mồ hôi nước mắt?

– Để nói về lâu dài, thì như TBT Nguyễn Phú Trọng đã nói, nó sẽ ảnh hưởng đến sự tồn vong. Chẳng đâu xa lạ, người ta nói rất nhiều về việc các tập đoàn tài phiệt của Nga chi phối chính trị vào cái thời Liên Xô sụp đổ. Nó sẽ lặp lại y chang như vậy ở nước ta, nếu chúng ta không cảnh giác và không chủ động đẩy lùi !

– Vấn đề của nước Nga – Xô Viết ngày xưa ở thời điểm đó rất trầm trọng. Còn chúng ta hiện nay thì sao?

– Với kinh nghiệm của nước Nga, sự nguy hiểm chỉ diễn ra trong vòng 1 ngày, và sau đó nó sụp đổ. Nên việc chúng ta chưa nguy hiểm, chưa nói lên điều gì. Việc nó chưa xảy ra không thể nói lên điều gì cả. Có thể những nguy cơ chỉ xuất hiện trong vòng một ngày, và ngay khi nó xuất hiện, nó làm sụp đổ mọi thứ, sụp đổ đến tận gốc rễ.

Vào giữa thập niên 80, tôi đang học ở Liên Xô. Tình hình chính trị, xã hội bề ngoài có vẻ bình thường. Bất ngờ trên tờ báo Văn hóa có bài viết phản ánh về phiên đại hội đầu tiên của mafia Liên Xô khiến đất nước này rung chuyển. Bài báo viết, đại hội này được tổ chức tại cảng Ô-đét-xa có đại diện mafia quốc tế đến dự. Sau đại hội, mafia Liên Xô đã cử đại biểu đi họp mafia quốc tế… Sau này Liên Xô sụp đổ, mafia Nga mọc lên như nấm tạo nên một thế giới tội phạm, khủng bố, bắt cóc, bắn giết tàn khốc… hơn hẳn mafia Mỹ hay Ý và các nước trên thế giới. Người ta nghi ngờ rằng mafia Nga đã hình thành từ trong lòng chế độ XHCN.

Thế giới có hai loại mafia: mafia cổ điển, là những mafia phát sinh ở tầng lớp dưới đáy xã hội, bắt đầu với việc đi bảo kê bài bạc, đĩ điếm, tầng lớp mafia đó có thể có cung điện nguy nga, có nhiều quyền lực ngầm, nhưng họ vẫn ở ngoài vòng xã hội. Họ không bao giờ bước vào được giới thượng lưu, không bao giờ có những ảnh hưởng có thể chi phối được giới thượng tầng của đất nước. Nó và một số cá nhân trong chính quyền có thể có những mối liên hệ làm ăn, chia sẻ lợi nhuận, nhưng chắc chắn nó và chính quyền vẫn luôn ở vị trí đối lập nhau. Nhưng mafia của nước Nga xuất phát từ tầng lớp thượng lưu, từ những người có tiền, có quyền trong xã hội. Nên mafia của Nga, khi nó hình thành đã tạo ra một thứ mafia không giống mafia cổ điển và hung dữ hơn các mafia cổ điển, nó làm những chuyện tàn bạo hơn mọi mafia cổ điển khác. Đó chính là mafia hiện đại.

Câu chuyện trên muốn nói rằng: chúng ta đừng quá mải mê chống các nguy cơ bên ngoài mà bỏ quên nguy cơ nội tại. Chúng ta có nhiều nét tương đồng với thể chế Liên Xô cũ. Trong đó có sự tương đồng về tư duy phòng chống mafia. Tư duy đó là kẽ hở cho chúng hình thành… Cách đây 5 năm, tôi đã từng đặt ra vấn đề “Quả trứng mafia Việt Nam bao giờ nở?”, nhưng vì nhiều lý do, vấn đề đó tôi chưa có điều kiện chia sẻ trên báo chí. Tôi đặt ra vấn đề này, và có liên hệ với sự hình thành mafia ở nước Nga. Người ta nói ở Việt Nam, mafia chính là trùm giang hồ Năm Cam. Nhưng thật ra Năm Cam có phải là mafia không? Không phải! Mafia theo đúng nghĩa của nó là không phải.

Tôi định nghĩa mafia là một xã hội thu nhỏ có tổ chức hẳn hoi, chặt chẽ, nó có “luật pháp” riêng của nó, và cái “luật pháp” này tồn tại song song với luật pháp của một đất nước. Cái “luật pháp” của nó cũng rất chặt chẽ, vì nó ảnh hưởng quyết định sự tồn vong, sự sống còn của nó. Mafia bao năm qua vẫn tồn tại ở cả những nước tiên tiến nhất, bởi vì nó có kết cấu chặt chẽ như một “xã hội mafia”. Những Năm Cam, Dung Hà như ở Việt Nam, tôi nghĩ đó mới chỉ là những liên kết, những móc nối để cùng chia sẻ lợi ích, lãnh thổ, dựa vào nhau để sống, chưa phải là một xã hội mafia. Nhưng đến một lúc nào đó, những nhóm liên kết này sẽ thấy rằng nếu họ không tổ chức lại, họ sẽ bị đánh sập, và cái đó chính là cái nguy cơ hình thành một xã hội mafia, như mafia Nga. Tôi chỉ sợ điều đó sẽ xảy ra ở Việt Nam, và tôi nghĩ ở Việt Nam, đang có “quả trứng mafia” đó rồi, chỉ là bao giờ nó sẽ nở? Việc chúng ta cần phải làm là làm sao ngăn chặn, không cho nó có cơ hội được nở!

– Khi ông suy nghĩ về vấn đề “quả trứng mafia ở Việt Nam bao giờ nở?” từ 5 năm trước, cho đến thời điểm này, ông đã nhìn thấy “quả trứng mafia” đó ở đâu trong xã hội Việt Nam, hay đó chỉ là sự thổi phồng, lo xa?

– Không phải là lo xa, không chỉ là cảnh báo mà tôi thấy hồn vía mafia đã ngay bên chúng ta. Chúng ta chưa nhìn tận mắt, bắt tận tay bởi vì Việt Nam hiện chưa có mafia thực thụ. Nó mới đang là hồn vía lượn quanh “quả trứng” mafia sắp nở mà thôi. Nói ra cụ thể thì rất khó. Nhưng từ trong tài chính, sản xuất, xây dựng, nói chung là tất cả các lĩnh vực của nước ta, tôi đều nhìn thấy những mầm mống, những điều kiện để có thể phát sinh những “quả trứng” đó, giống như Liên Xô trước đây. Ở những nước như Việt Nam, mafia không đi lên từ đĩ điếm, từ thuốc phiện, vì con đường đó sẽ rất lâu, mà có lẽ nó đi lên từ những tầng lớp khác, đó mới là điều nguy hiểm. Nói tóm lại, “quả trứng mafia” hình thành ở những nơi có lợi nhuận, chính xác hơn thì phải là những nơi siêu lợi nhuận, và nó chỉ chờ cơ hội để “nở”!

Xét những vụ trọng án trong 20 năm qua, ta thấy sự xuất hiện những tổ hợp tội phạm có tính chất “tiền mafia”. Đó là chính khách, quan chức liên minh với xã hội đen. Các vụ án kiểu này ngày một lớn về quy mô, chặt chẽ về tổ chức, nguy hiểm về hành vi và trầm trọng về tác hại. Những vụ Trần Đàm, Khánh “trắng”, Năm Cam… và PMU 18 đã cho thấy: một số chính khách nắm giữ một số bộ phận quan trọng của đất nước như thứ có mặt trong liên minh với những ông trùm trong nhiều lĩnh vực. Trên thực tế, chúng ta cũng thấy có rất nhiều những chính khách cấp cao có hàng tá con nuôi, con đỡ đầu, em kết nghĩa hay “hàng đàn” cháu “xã hội”… là những “đại gia” tài sản kếch sù, quyền lực khuynh đảo nhưng làm ăn đầy tai tiếng, không học hành, không địa vị, thậm chí xuất thân từ lưu manh. Họ có quan hệ với nhau từ kín đáo đến công khai.

– Nói như vậy tức là nguy cơ mafia đã hiển hiện?

– Hiện chúng ta chưa có mafia là do chúng chưa “chín muồi”. Sự “chín muồi” đó thường hình thành theo những quy luật chung và dựa vào “thời cơ” riêng của chúng tại mỗi quốc gia. Quy luật chung là: xã hội phát triển đến đâu thì tội phạm phát triển đến đó. Ví dụ khi tham nhũng hay bảo kê mà chúng có vài tỷ đồng, chúng sẽ mua bất động sản. Có vài chục tỷ thì gửi ngân hàng nhưng khi có tới vài trăm, vài ngàn tỷ đồng thì chúng sẽ rửa tiền, sẽ chuyển ra nước ngoài. Tương tự như vậy, người ta đánh bạc, cá độ ở mức nhỏ thì có thể chơi ở cơ quan, ở khu phố, ở Hà Nội hay ở Việt Nam nhưng đến một mức khổng lồ thì phải chơi với những nhà cái quốc tế… Đó là sự lớn dần tự nhiên của tội phạm…

Mặt khác, đứng trước sự đấu tranh của xã hội, đến một ngày nào đó, giới tội phạm dù siêu quyền lực cũng sẽ hiểu rằng chúng không phải là bất khả xâm phạm. Và theo luật sinh tồn, chúng sẽ phải tìm cách tự bảo vệ… Nghĩa là chúng sẽ tự ý thức, tự chuyển đổi tư duy. Cơ hội để chuyển từ tư duy đến thực tế của chúng không khó bởi chúng có tiền và quyền lực. Một phần tài sản của đường dây tội phạm vụ PMU 18 đã có thể gấp 5-7 lần thu ngân sách cả năm của một tỉnh. Với lượng tài chính ấy, với quyền ấy thì chúng có thể làm được rất nhiều việc về mặt tổ chức… Một khía cạnh nữa là những tổ chức tội phạm quốc tế không ngừng mở rộng địa bàn, chân rết khắp thế giới. Chúng giống như các nhà đầu tư mở rộng thị trường. Đến một ngày chúng sẽ có mặt ở Việt Nam. Kẻ đón rước chúng chính là những tổ chức tội phạm đang có trong nước.

Chúng ta không nên lầm hiểu là xã hội XHCN của mình tự thân đã có “vắc-xin” phòng ngừa mafia. Theo tôi, nếu một Nhà nước XHCN có quá nhiều tham nhũng, không có biện pháp hữu hiệu ngăn chặn sự thoái hóa cán bộ cũng như dùng người kém đức tài thì xã hội ấy còn màu mỡ cho mafia hơn là xã hội tư bản. Hiện nay nhiều người cho rằng mafia Việt Nam là một cái bóng rất xa xôi. Có người tránh nhắc đến nó, sợ như một sự cố tình tiêu cực hóa vấn đề. Chống rửa tiền là công việc cần nhất, dễ nhất và cũng là đầu tiên nhất để chống mafia, thế nhưng đến nay chúng ta sau nhiều năm hội nhập toàn diện nhưng vẫn chưa có Luật này. Nghị định chống rửa tiền đã ban hành gần như chỉ để đối phó với đòi hỏi hội nhập. Hiện chúng ta vẫn nhận bất cứ đồng tiền nào gửi vào ngân hàng. Các quy chế công khai minh bạch tài sản cán bộ, công chức hay các hiện tượng “doanh nghiệp ngoài khơi”, “công ty gia đình” không có biện pháp khống chế hữu hiệu… Những điều đó thể hiện một tư duy quá chủ quan với mafia.

Có nhiều chính sách của chúng ta hiện nay chưa ổn, tôi nghĩ không phải do trình độ, mà có thể là vì một động cơ khác. Tôi rất không hiểu sao chúng ta lại không cảnh giác trước những việc đó. Vừa rồi việc Nhà nước độc quyền vàng SJC cũng là một việc tôi cho là không ổn. Những chính sách dạng như vậy sẽ là điều kiện, là “môi trường” để những nhóm lợi ích, hoặc nếu như chưa có nhóm lợi ích thì sẽ thúc đẩy sự ra đời của các nhóm lợi ích để lợi dụng chính sách đó. Nghĩa là chúng ta đang tạo ra môi trường, tạo ra cơ hội để hình thành những nhóm lợi ích đó. Hoặc có thể, biết đâu đó, những nhóm lợi ích đó đã có sẵn rồi.

– Vậy chúng ta phải làm gì để ngăn chặn nguy cơ “quả trứng” sẽ nở?

– Chúng ta không thể đi từng nơi, tiêu diệt từng “quả trứng”, vì chúng ta tiêu diệt được “quả trứng” này, sẽ có một “quả trứng” khác mọc lên ở chỗ đó hoặc ở một nơi khác. Cách duy nhất là chúng ta không cho những “quả trứng” ấy có môi trường để “nở”, không cho mafia có bất cứ cơ hội nào để hình thành ở Việt Nam. Đây là thách thức toàn cầu, không chỉ của riêng Việt Nam. Người ta mới dừng ở mức khống chế nó càng nhiều càng tốt. Theo tôi thì nguyên tắc lớn nhất trong các vấn đề xã hội của nhân loại là hãy để cho nhân loại tự lo liệu. Nhân loại ở đây hiểu theo nghĩa người dân. Tức là không có bộ máy nào bảo vệ xã hội tốt hơn chính người dân. Nói ngắn gọn là chỉ có xã hội dân chủ, sự làm chủ thực sự của người dân, mới có thể chống mafia tốt nhất. Họ sẽ giám sát các quan chức chính quyền, sẽ loại bỏ những đối tượng có vấn đề. Tóm lại họ có nhiều cách làm tốt để bảo vệ quan chức chính quyền khỏi rơi vào tay ma quỷ hay ma quỷ lọt vào chốn công đường. Khi cắt rời được quyền lực nhà nước khỏi quyền lực tội ác thì việc khống chế nó trở nên dễ dàng hơn.

– Một trong những vấn đề được nhân dân cả nước bàn luận nhiều nhất hiện nay, chính là việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 của Đảng. Cá nhân ông, ông kỳ vọng gì vào Nghị quyết Trung ương 4 và những gì mà Đảng đang quyết tâm thực hiện?

– Là một người dân, tôi cũng chỉ biết hy vọng. Tôi hy vọng vì tôi luôn nghĩ rằng, bản năng của một dân tộc trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng luôn sống. Bao giờ cái tốt cũng là cái thúc đẩy sự đi lên của cả dân tộc. Đến một lúc nào đó, cái tốt ấy sẽ phá vỡ mọi sự trì trệ đang tồn tại, dù sự trì trệ đó nó ẩn dưới hình thức nào đi chăng nữa. Tôi chỉ sợ không biết cái chu kỳ tất yếu đó bao giờ đến? Tôi chỉ sợ cái chu kỳ đó sẽ không đến khi tôi còn có thể chứng kiến nó. Nhiều khi chu kỳ của nó chỉ xảy ra nhiều năm sau nữa. Nhưng tôi vẫn hy vọng.

Tôi từng nghe rất nhiều câu chuyện cảm động về những nhà Cách mạng của chúng ta trước đây. Tôi nhớ một câu chuyện về Phó Chủ tịch nước Nguyễn Lương Bằng. Khi Nguyễn Lương Bằng làm người phụ trách công tác tài chính cho Đảng, trong ngân quỹ của Đảng chỉ còn hơn 20 đồng tiền Đông Dương rách nát. Ngày ngày, ông đẩy xe mật mía đi bán, dù cho có bán được rất nhiều tiền, nhưng cả ngày ông chỉ dám mua 1 xu tiền bánh, 1 xu tiền nước, còn lại để dành tiền gây quỹ cho Đảng. Sau này, dù làm ở bất cứ chức vụ gì, ngay cả khi tình hình cách mạng bớt đi khó khăn, ông vẫn không hề thay đổi. Đi đâu, tiêu 1 xu tiền nước, 1 xu tiền đò, ông cũng ghi lại. Khi đi thăm con gái đi học, ông ra bến xe bắt xe khách như một người dân bình thường. Thế hệ những người như Phó Chủ tịch nước Nguyễn Lương Bằng, họ đã cống hiến, đã hi sinh, không một chút toan tính. Nhưng nhìn vào lớp Đảng viên bây giờ, những người như Phạm Thanh Bình, Dương Chí Dũng… khiến chúng ta vừa xót xa, vừa phẫn nộ. Nhân dân sẵn sàng hi sinh cả xương máu cho độc lập dân tộc, nhưng không sẵn sàng hi sinh cho những cán bộ nhà nước mất chất như thế.

– Theo ông, điều gì khiến khá nhiều Đảng viên hôm nay đã không còn giữ được cái tinh thần của thế hệ những người Đảng viên thời chống Pháp, chống Mỹ?

– Tôi cũng muốn hỏi thế! Vì tôi thấy điều đó thật vô lý. Khi tôi ra nghĩa trang Hàng Dương ở Côn Đảo, ra nghĩa trang Trường Sơn ở Quảng Trị, nhìn thấy những nấm mồ của bao nhiêu con người đã nằm xuống ở đó, tôi càng thấy điều đó vô lý. Tại sao trong khó khăn, chúng ta đã sống tốt như thế, đã chiến đấu anh dũng và tự hào như thế. Vậy mà trong thời điểm này, khi chúng ta đang thừa hưởng những thành quả, chúng ta có điều kiện để làm tốt hơn thế gấp nhiều lần, mà chúng ta lại không làm được? Cái khó nhất là giành độc lập dân tộc, chúng ta làm được, mà tại sao xây dựng đất nước trên nền tảng hòa bình, chúng ta lại làm không tốt?

Tôi đã từng nói với nhiều người, đã từng trả lời trên báo chí: ngày xưa khi anh là đảng viên, anh sẽ bị kẻ địch bỏ tù; anh là bí thư chi bộ, giặc sẽ xử bắn; anh là Ủy viên Trung ương, nó sẽ bắn cả nhà. Còn bây giờ, nếu anh là Trưởng phòng, anh phải là đảng viên; anh muốn làm Bộ trưởng, anh phải là Ủy viên Trung ương. Cái “phê và tự phê” để phát triển của chúng ta còn yếu. Chính điều này làm chúng ta suy yếu đi. Vì chứa trong lòng nó rất nhiều người cơ hội.

– Vừa rồi, TBT Nguyễn Phú Trọng đã can đảm thay mặt Đảng, thừa nhận những tồn tại, những yếu kém trong Đảng, thừa nhận việc chúng ta có sửa chữa được những yếu kém đó hay không sẽ ảnh hưởng đến sự tồn vong của Đảng. Đây là lần đầu tiên chúng ta dám nhìn trực diện vào sự lâm nguy mà chúng ta đang đối mặt…

– Cũng là lần đầu tiên chúng ta nhìn thấy sự nguy hiểm đó do chính chúng ta tạo ra. Hôm trước tôi có dịp nói chuyện với nguyên TBT Đỗ Mười, tôi có nói: “Trước một sự lâm nguy, chúng ta phải có những hành động đặc biệt. Cũng giống như là trước họa xâm lăng của đất nước, chúng ta phải tổ chức hội nghị Diên Hồng, chúng ta phải tổng động viên, chúng ta phải dốc hết lòng để đánh giặc.

– Là con trai của một người Cộng sản, ông có cảm thấy buồn khi điều mà cha ông – cố TBT Lê Duẩn và thế hệ đó đã tin vào, bây giờ đang bị lung lay?

– Tôi nghĩ niềm tin đó vẫn còn, nó chỉ bị biến tướng đi ở hình thức khác. Đó là điều làm tôi đau khổ. Đau khổ vì có một bộ phận lớp thế hệ hôm nay người ta lợi dụng sự hi sinh của nhân dân, của các đồng chí, lợi dụng niềm tin của dân tộc để trục lợi cho mình và làm méo mó nhiều thứ, có thể là tất cả.

– Ông có đang bi quan?

– Tôi nhìn vào quỹ thời gian của tôi và hiểu rằng, tôi không còn nhiều cơ hội để hy vọng nữa, không còn nhiều thời gian để chờ đợi nữa, nói là cơ hội cuối cùng, hy vọng cuối cùng, tuy hơi quá, nhưng có lẽ chỉ là như vậy. Tôi xin chia sẻ một điều rất cá nhân này, từ khi tôi có cháu nội, thì cái khao khát làm được một cái gì đó bỗng nhiên bùng lên.

Trước đó tôi nghĩ là đời mình thôi thế cũng xong, đời con mình như thế cũng xong, nhưng khi tôi có cháu nội, tôi bỗng cảm thấy cuộc sống thật mong manh. Tôi băn khoăn mãi với cái ý nghĩ cuộc sống của cháu nội tôi sau này sẽ thế nào, tôi có thể hình dung ra cuộc sống của con trai tôi và chấp nhận nó một phần, nhưng không thể hình dung ra điều gì sẽ đến với cuộc sống của cháu nội tôi.

Việt Nam ta có một câu rất hay: “Thương người như thể thương thân” – chừng nào anh biết thương người khác như thương chính bản thân mình, chừng nào anh biết làm điều tốt cho người khác như chính bản thân mình, thì sức mạnh sinh tồn sẽ trở nên rất mạnh mẽ. Đến cái tuổi này, khi nhìn thấy một sinh linh bé nhỏ như cháu nội tôi chào đời, cần sự bao bọc, che chở của tôi, cái bản năng khao khát được làm cái điều thiện cho những đứa trẻ giống như cháu tôi, cho một thế hệ giống như thế hệ cháu tôi, bỗng nhiên trỗi dậy. Trước đây tôi đi ra ngoài đường, gặp người ta bế một em bé đi ăn xin, tôi vô cùng xót xa, nhưng bây giờ nếu ra ngoài đường, cũng gặp một cảnh tương tự, tôi thấy không thể chịu nổi và chỉ ao ước có thể làm được điều gì đó, có thể có sự thay đổi nào đó.

Tôi vẫn tin là sức sống của một dân tộc, suy cho cùng, là vĩnh cửu. Tôi tin không phải lúc này hay lúc khác, dù có sống trong tăm tối, trong đau thương, đổ nát đến bao nhiêu, sẽ có những lúc sức sống của chúng ta trỗi dậy, và vì thế, sẽ không bao giờ là quá muộn để hành động. Nhưng tôi hy vọng, với trí tuệ của người Việt Nam, với lòng can đảm và sức mạnh tinh thần kỳ lạ của người Việt Nam, chúng ta đã vượt qua 1000 năm nô lệ phương Bắc, đã vượt qua những kẻ thù đế quốc thực dân mạnh nhất như Pháp, Mỹ, thì chúng ta cũng biết vượt qua chính mình.

– Nhưng Phật đã dạy: “Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình” – vượt qua chính mình dường như chưa bao giờ là một chuyện dễ dàng?

– Vượt qua chính mình – với ý nghĩa cá nhân, là một cuộc chiến khó khăn với từng cá nhân, nhưng vượt qua chính mình – với ý nghĩa một tập thể, thì đó sẽ là một cuộc chiến thực sự, một cuộc chiến dữ dội.

 Và đôi khi trong cuộc chiến dữ dội đó, chúng ta có thể bị thương, nhưng chúng ta vẫn nhất định phải hành động ?

– Nếu đúng như Chủ nghĩa Mác về phủ định của phủ định, thì sau một cái phủ định, sẽ có một sự phát triển lớn. Hoa tàn đi thì sẽ ra trái, trái già và hỏng đi thì sẽ ra hạt để nảy mầm. Quy luật đương nhiên luôn là như thế. Chỉ có điều là chúng ta đang sống trong thời đại này, chúng ta đủ sức không bị phụ thuộc vào khoảng thời gian, chúng ta càng nỗ lực vượt qua chính mình trong thời gian càng ngắn bao nhiêu, thì sẽ càng tốt cho xã hội bấy nhiêu. Ví dụ, nhìn vào những nước chưa giải phóng, chưa thống nhất trên thế giới, chúng ta thấy chúng ta đã giải phóng đất nước sớm từng đó, nghĩa là về mặt nào đó chúng ta đã đi trước họ, đi trước rất xa.

Người Hàn Quốc đến giờ vẫn chưa hình dung được họ sẽ thống nhất đất nước như thế nào và sẽ sống thế nào sau khi thống nhất. Người CHDCND Triều Tiên lại càng không thể hình dung ra được. Thời của tôi, cái gì mà không làm được, người ta đều nói “đợi đến Thống nhất”. Nói thế để thấy việc thống nhất đất nước nó quan trọng thế nào, khó khăn, gian khổ thế nào và chặng đường xa vời vợi ra sao. Vậy mà chúng ta đã làm được điều kỳ diệu đó, điều khiến cả thế giới phải khâm phục. Tôi hy vọng rằng, có thể có lúc thế nọ thế kia, nhưng khi cả dân tộc đã cùng đồng lòng, quyết tâm, chúng ta sẽ vượt qua được những khó khăn như hiện nay. Còn nếu chúng ta không vượt qua được, đó sẽ là một điều quá cay đắng, quá phi lý, quá nghiệt ngã.

– Xin chân thành cám ơn những lời tâm huyết và chân thực của ông!

Theo BÁO NGHỆ THUẬT MỚI

http://reds.vn/index.php/chinh-tri/cnxh-cntb/2402-mot-nguoi-cong-san-noi-ve-mot-nguoi-cong-san

Ông Nguyễn Tấn Dũng bị nói xấu như thế nào?

Nếu là một người dân Việt Nam chịu quan tâm tới các vấn đề nóng của đất nước và đặc biệt là tìm hiểu thông tin về vị thủ tướng đương nhiệm: ông Nguyễn Tấn Dũng thì có lẻ chúng ta sẽ được tiếp thu hầu như là các thông tin có thể nói là xấu, bội nhọ, không đúng so với những gì ông đã làm cho đất nước…. Các thông tin chính thống gần như không thể đấu lại với các thể loại tin này trên trang tìm kiếm Google.

Thời đại ngày nay quá dễ để đưa một thông tin nào đó lên Internet, đã qua rồi cái thời mà nhà nhà người người viết về các cảm xúc cá nhân, thay vào đó giờ đây họ đã đưa các chính kiến, các suy nghĩ về nhiều vấn đề của đất nước lên Internet, có thể là nhiều mục đích khác nhau, tốt thì là lo lắng cho đất nước xấu thì là xuyên tạc người khác (cấp độ thấp có thể là ca sĩ, diễn viên, cao hơn nữa là lãnh đạo quốc gia cụ thể ở bài viết này là thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng).

Tập Viết Báo chỉ đơn thuần là một tờ blog cập nhật các thông tin về tình hình đất nước bên cạnh đó cũng hay đưa các tin về lãnh đạo của chúng ta, qua quá trình thanh lọc tin tức TVB (từ đây xin viết tắt Tập Viết Báo thành TVB) phát hiện rất nhiều các tin tức, bài viết trên các blog cá nhân cố tình viết xấu về ông Nguyễn Tấn Dũng, TVB đứng ở vị thế trung lập không phán xét các bài viết đó chỉ biết rằng thông tin một khi không có kiểm chứng mà chỉ nói càn và cố tình bôi nhọ ai đó thì thông tin đó không đáng được tin tưởng và trân trọng. Nhưng với người đọc bình thường và lần đầu tiên tiếp cận các thông tin đó rất dễ cho đó là… đúng.

TVB xin lấy ví dụ về một loạt các bài viết cách đây khoảng 5 tháng về một từ khoá được tìm kiếm khá nhiều trên mạng: Lâu đài/Biệt thự Nguyễn Tấn Dũng <- xuất phát điểm của vấn đề này nếu người dùng chịu tìm hiểu kĩ thì đó là do 1 sự nhầm lẫn tại của 1 website lấy các hình của một lâu đài nước ngoài và gán cho ông Nguyễn Tấn Dũng [Chi tiết xin đọc ở đây: Sự thật về Biệt thự của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng,http://www.yeutoquoc.org/threads/97/ ], một ví dụ như trên thôi cũng đủ để 1 bộ phận đọc thông tin này cho rằng thủ tướng Dũng là người tham nhũng, tham ô, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh của một nguyên thủ quốc gia…. từ đó sẽ có ác cảm dẫn đến các tin tức xấu về sau tiếp cận sẽ tin hơn nữa, cứ thế.

Bạn đọc cứ để ý hễ đất nước Việt Nam có một cái gì đó xấu về kinh tế hay quốc phòng là cứ y như rằng trên Internet có ngay những bài viết xoi mói nói xấu thủ tướng Dũng (chưa nói là còn các các vị lãnh đạo khác).

Như đã nói ở bên trên một thông tin mà không có kiểm chứng mà lại đi nói xấu người khác thì không đáng tin tưởng. Tình thế hiện nay đất nước ta đang phải chống chọi với Trung Quốc về các vấn đề trên Biển Đông, mọi người cần phải là một khối đồng lòng mới có thể chống được các tư tưởng ngoại xâm đang lăm le bờ cõi vì thế hãy nhìn vào những gì mà ông Dũng đã làm tốt cho đất nước, đừng tin vào những bài viết xăm xoi đời tư của ông Dũng, xăm xoi đến cá gia đình và con cái của thủ tướng thì hết nói.

TVB rất ít khi thấy các blog “đó” viết các bài dạng như: kế sách để phát triển kinh tế, bày kế cho thủ tướng tăng GDP, tâm thư gửi thủ tướng về Trường Sa Hoàng Sa,…. đại loại là các bài viết chia sẽ kinh nghiệm, kế sách,… để đất nước cùng phát triển mà suốt ngày chỉ thấy toàn tin tào lao về các vấn đề không một chút nào có thể giúp cho đất nước VN này khá hơn được.

—> Những thành tựu mà TVB cho rằng website nguyentandung.org đưa ra ở đây rất đáng để người dân VN biết đến và để thấy sức làm việc của ông đáng nể đến nhường nào: Hoạt động của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng 6 tháng đầu năm 2012 (http://www.yeutoquoc.org/threads/97/ ) .

(Phần này kenminhthien.net tôn trọng nguồn nên giữ nguyên bài viết. Kenminhthien.net không khuyến khích việc truy cập vào các trang web có tên các vị lãnh đạo mà không có giấy phép cụ thể.)

Và cũng xin lưu ý là website này các bạn nên đọc thường xuyên để cập nhật các tin tức tổng hợp về tình hình đất nước cũng như các hoạt động, ý kiến của ông Nguyễn Tấn Dũng.

Bài từ TVB

Nói không với giả dối

“Công nghệ” sao chép

TT – Điển hình là trường hợp lập bản báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) của dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A. Dự án thủy điện này nằm trong vườn quốc gia Cát Tiên (Lâm Đồng) – một khu vực thuộc loại cấm “đụng chạm”.

 

Loài chà vá chân đen được ghi nhận trong đợt khảo sát tại nơi dự kiến xây dựng thủy điện Đồng Nai 6 (ảnh chụp tháng 7-2011) – Ảnh: Đ.tuyên

 

Sau khi bản ĐTM của Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam về dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A bị báo chí lật tẩy những “đường nét” sao chép, chủ đầu tư dự án là Công ty cổ phần Tập đoàn Đức Long Gia Lai lại phải thuê một đơn vị khác lập bản ĐTM mới. Tuy nhiên, ngay cả bản ĐTM thứ hai cũng bộc lộ không ít điều rất đáng ngờ.

Lòi đuôi

 

45

Đó là số ý kiến cũng như bài viết của bạn đọc gửi về trong ngày đầu tiên Tuổi Trẻ mở diễn đàn “Nói không với giả dối”.

Đơn vị đầu tiên lập ĐTM dự án thủy điện 6, 6A là Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam. Trong bản báo cáo này có đoạn khẳng định ảnh hưởng đến môi trường sinh thái dự án là “do việc chặt bỏ cây cối ven bờ kênh trong quá trình giải phóng mặt bằng xây dựng các hạng mục, đặc biệt là dừa nước hai bên bờ”. Nhưng thực tế là sông Đồng Nai chỉ có những thác ghềnh và dòng nước ào ào cuộn chảy, không hiền hòa như kênh rạch miền Tây. Đặc biệt khu vực này chẳng có một cây dừa nước nào.

 

Bản ĐTM này còn nêu: “Việc đào bới lòng hồ và kênh dẫn qua vùng đất chua, lầy úng đọng sinh phèn, nước mang chất phèn muối, axit, chất độc… lan truyền rộng”. Thế nhưng dọc sông Đồng Nai, cụ thể là vùng đất dự kiến xây dựng thủy điện Đồng Nai 6, 6A là vùng đất rừng bazan, đồi núi nối tiếp nhau cùng những con suối với nước ngọt mát lịm, không hề có “chua, lầy úng đọng sinh phèn”.

Trong phần kết luận về các lợi ích của hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A, Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam còn nâng cao hơn nữa “công nghệ” sao chép: “Các lợi ích kinh tế – xã hội do hai công trình thủy điện đem lại là thúc đẩy sự phát triển kinh tế khu vực, đặc biệt là các huyện vùng sâu vùng xa của tỉnh Quảng Nam”.

Dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A dự kiến được xây dựng trên sông Đồng Nai, nằm trên địa phận tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông và một phần nhỏ tỉnh Bình Phước, chẳng hề dính dáng gì đến tỉnh “Quảng Nam”?

Theo ông Trần Ký – một thành viên tham gia soạn thảo bản ĐTM, đoàn khảo sát của Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam chỉ đi thực tế khu vực vườn quốc gia Cát Tiên có bảy ngày, trong đó có ba ngày đi lạc. Cái giá mà chủ đầu tư phải trả cho bản ĐTM này là 420 triệu đồng. Đúng là làm giả mà ăn tiền thật.

Nói lấy được

Do xài “công nghệ” sao chép nên ĐTM của Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam bị bỏ. Thay vào đó, Viện Môi trường và tài nguyên (ĐHQG TP.HCM) được chủ đầu tư thuê lập lại bản ĐTM lần hai cho hai dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A. Bản ĐTM mới này vẫn thực hiện theo mong muốn của chủ đầu tư, cho rằng khu vực xây dựng thủy điện Đồng Nai 6, 6A có hệ sinh thái rừng nghèo nàn, nên có thể triển khai dự án.

Tại bản ĐTM này người ta kết luận: “Hầu hết là rừng tái sinh, rừng tre, nứa, lồ ô, rừng sản xuất, ruộng lúa, rừng nguyên sinh hầu như không có…”. Kết luận trên giống y chang kết luận của các cán bộ thuộc Bộ TN&MT, Bộ NN&PTNT, Bộ Công thương… sau khi đi khảo sát (cuối tháng 8-2012) khu vực dự kiến xây dựng thủy điện Đồng Nai 6, 6A. Kết luận này còn khẳng định “không phát hiện dấu hiệu của các loài động vật quý hiếm…”.

Nhiều cán bộ vườn quốc gia Cát Tiên cùng đi với đoàn khảo sát của các bộ cho biết đoàn chỉ làm việc trong hai ngày 24 và 25-8. “Đáng lẽ phải xuống đến tận khu vực dự kiến xây dựng đập thủy điện, nhưng họ chỉ đi tới khu vườn điều, ruộng lúa của bà con dân tộc – nơi cách xa địa điểm xây dựng đập hàng cây số”, một cán bộ vườn quốc gia Cát Tiên cùng đi với đoàn khảo sát thuật lại.

Dù còn nhiều thiếu sót, cắt dán, làm ẩu… nhưng cũng có một điều đáng chú ý là trong bản ĐTM đầu tiên do Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam lập có ghi nhận trong khu vực dự kiến xây dựng thủy điện Đồng Nai 6, 6A còn hiện diện rất nhiều loài động, thực vật quý hiếm. Trong khi đi khảo sát, đoàn cán bộ của Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam ghi nhận có gặp rất nhiều loài động, thực vật quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam và danh mục đỏ của Quỹ Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN).

Trong lần tiến hành khảo sát độc lập (phóng viên Tuổi Trẻ có tham gia) hồi tháng 7-2011, TS Vũ Ngọc Long, phó viện trưởng Viện Sinh thái học Việt Nam (Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam) và nhóm chuyên gia cũng ghi nhận tại khu vực dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A có 98 loài chim, trong đó năm loài quý hiếm có tên trong Sách đỏ. Riêng hệ thú có 14 loài và có những loài quý hiếm nằm trong Sách đỏ Việt Nam và quốc tế. Đặc biệt, đoàn của TS Long cũng phát hiện một loài thực vật mới – hoa trà Cát Lộc Camellia sp và mới đây loài này đã được công bố quốc tế về loài mới phát hiện và mang tên Camellia longgi.

Vậy là chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, những loài động, thực vật quý hiếm nêu trên bỗng nhiên biến khỏi bản ĐTM của Viện Môi trường và tài nguyên (ĐHQG TP.HCM) và cũng biến luôn khỏi kết luận của đoàn khảo sát của các bộ, ngành. Thật không thể hiểu nổi!

ĐỨC TUYÊN

 

“Lợi thì có lợi, hàm răng chẳng còn”

Theo số liệu thống kê, đến nay đã có không dưới 200 dự án thủy điện đã được xây dựng hoặc nằm trong quy hoạch ở miền Trung – Tây nguyên, trong đó Quảng Nam là nơi dẫn đầu về số lượng với 68 dự án nằm trải rộng trên tất cả các sông suối của địa phương này.

Lợi ích kinh tế tất nhiên là có và người hưởng thụ không ai khác chính là các nhà đầu tư. Nhưng hậu quả về môi trường phải trả giá do việc ngăn sông phá rừng để làm thủy điện thì địa phương phải “chịu trận”.

Còn nhớ đầu tháng 10-2010, cả huyện Đại Lộc của tỉnh Quảng Nam bất ngờ chìm trong lũ dữ, nhiều gia đình bỏ hết của nả chạy lũ trối chết trong đêm… Khi bình tĩnh trở lại, người dân ven sông Thu Bồn mới nghiệm ra rằng chính thủy điện A Vương nằm ở đầu nguồn con nước là thủ phạm gây ra trận lũ bất thường và kinh hoàng ấy. Tưởng câu chuyện “xả lũ A Vương” đã được ngành điện rút kinh nghiệm, nhưng rồi chỉ một thời gian ngắn sau đó người dân vùng hạ lưu của thủy điện An Khê Kanat ở Gia Lai đã phải kêu trời vì trâu chết, hoa màu trôi sạch chỉ trong một đêm.

Tiếp theo đó là TP Tuy Hòa (Phú Yên) cũng “trắng trời” vì nước lũ của thủy điện Sông Ba Hạ… Liên tiếp các bộ ngành kéo nhau vào miền Trung họp bàn để rồi một quy trình xả lũ liên hồ cuối cùng cũng đã được xây dựng, hình thành.

Sự hủy hoại về môi trường của thủy điện cũng thể hiện rất rõ. Vì lợi ích kinh tế, khi lập báo cáo nghiên cứu khả thi, nhà đầu tư thủy điện Đak Mi 4 là Tổng công ty Đầu tư phát triển đô thị và khu công nghiệp VN – IDICO (Bộ Xây dựng) quyết định chuyển toàn bộ nguồn nước từ sông Đak Mi cho đổ về sông Thu Bồn để phát điện. Với cách tính toán này, hơn 80km sông Đak Mi trở thành con sông chết và hậu quả cuối cùng là cả một vùng hạ lưu rộng lớn bao gồm cả Đà Nẵng và Hội An rơi vào cảnh khát nước trong mùa khô hạn.

“Cuộc chiến” đòi lại nước từng diễn ra giữa địa phương và chủ đầu tư, cuối cùng Chính phủ phải buộc IDICO hoàn trả một phần nước cho hạ lưu Đak Mi… Tương tự, sông Ba Hạ (Phú Yên) cũng bị chuyển mất nước, khiến cánh đồng Cam – vựa lúa chính của Phú Yên – nhiều năm rơi vào cảnh khô hạn chưa từng có.

Vì thủy điện mà hàng nghìn hecta rừng bị biến mất. Hình ảnh cả một dòng sông gỗ lậu nổi lên sau trận lũ kinh hoàng vào tháng 10-2010, hay những bè gỗ dài tít tắp nằm ở lòng hồ thủy điện A Vương tại Quảng Nam là minh chứng không thể chối cãi cho nạn phá rừng khi làm thủy điện.

ĐĂNG NAM

Nguồn: http://tuoitre.vn/Ban-doc/514139/%E2%80%9CCong-nghe%E2%80%9D-sao-chep.html

Từ khi sinh ra, Lý Thái Tông sau gáy có đến 7 nốt ruồi tụ lại như chòm sao Bắc Đẩu, được xem là điềm báo xứng đáng nối ngôi thiên tử.

Lý Thái Tông tên húy Phật Mã, sinh năm Canh Tý (1000) ở chùa Duyên Ninh thuộc cố đô Hoa Lư. Ông là con trai trưởng của Vua Lý Thái Tổ và bà Lê Thị Phất Ngân, con gái Vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn) và Dương Vân Nga.

Tượng Lý Thái Tông tại đền Lý Bát Đế.

Tương truyền, ngay từ khi lọt lòng, Lý Phật Mã đã có những dấu hiệu lạ lùng. Lúc bé, chơi đùa với bọn trẻ trong cung, ông thường bắt chúng dàn hàng tả hữu trước sau để làm quân hầu hộ vệ cho mình. Ông cho một vị đạo sĩ cái áo. Đạo sĩ treo cái áo trong quán, nửa đêm thấy rồng vàng hiện ra, khiến người ta duy tâm đây là lời “sấm truyền” cho một đế vương.

Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) rất chú ý tới Phật Mã và có ý nuôi dạy ông kế vị. Năm Nhâm Tý (1012), lúc mới 13 tuổi, Lý Phật Mã đã được lập làm Đông cung Thái tử, rồi được phong làm Khai Thiện Vương, đồng thời nhiều lần được cử làm tướng cầm quân đi dẹp loạn và lập được công lớn. Vì thế, triều thần cũng như thần dân lúc bấy giờ rất tôn kính Phật Mã. Năm 1028, vua cha mất, Lý Phật Mã lên ngôi.

Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhận xét về Lý Thái Tông: “Vua là người trầm mặc, cơ trí, biết trước mọi việc, giống như Hán Quang Vũ đánh đâu được đấy, công tích sánh với Đường Thái Tông”. Ông là vị vua giỏi thời nhà Lý. Hơn 30 năm chinh chiến và trị quốc, ông đã củng cố nền cai trị của nhà Lý, chống lại những nguy cơ chia cắt, bạo loạn, xâm lấn, thu phục lòng dân, khiến cho nước Đại Cồ Việt trở nên vững mạnh.

Trần Nhân Tông: Có màu da như vàng ròng

Trần Nhân Tông tên thật là Trần Khâm, sinh ngày 11/11 năm Mậu Ngọ (1258), là con trưởng của Vua Trần Thánh Tông và Nguyên Thánh Hoàng thái hậu. Khi mới sinh toàn thân màu da như vàng ròng – sáng chói. Vua cha đặt tên là Phật Kim. Sách Thánh Đăng ngữ lục chép: “Đến khi vua ra đời, màu da như vàng ròng. Thánh Tông đặt tên là Kim Phật…”.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi: “Được tinh anh của Thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng ròng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng… Vai bên tả có một nốt ruồi đen, các nhà tướng số cho rằng: ngày sau sẽ gánh vác việc lớn”.

Ảnh thờ Vua Trần Nhân Tông.

Trần Khâm được vua cha Trần Thánh Tông nhường ngôi vào ngày 22/10 năm Mậu Dần (1278). Ông ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi, qua đời ở am Ngọa Vân núi Yên Tử, đưa về táng ở Đức lăng (nay thuộc tỉnh Thái Bình). Các sử gia thời Hậu Lê đã viết về Trần Nhân Tông: “Vua nhân từ hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng sáng ngời thuở trước, thực là bậc vua hiền của nhà Trần. Song để tâm nơi kinh Phật, tuy nói là để siêu thoát, nhưng đó không phải là đạo trung dung của thánh nhân”.

Lê Thái Tổ: Miệng rộng, mũi cao và bả vai có 7 nốt ruồi

Về lý lịch xuất thân của Lê Thái Tổ (Lê Lợi), sách Đại Việt thông sử chép: “Vua sinh giờ Tí (tức từ khoảng 23h đến 1h sáng) ngày mùng 6 tháng 8 năm Ất Sửu (1385), niên hiệu Xương Phù thứ 9 nhà Trần, tại làng Chủ Sơn, huyện Lôi Dương. Nguyên trước, xứ Du Sơn, thôn Như Áng Hậu thuộc làng này (Chủ Sơn), có một cây quế, dưới cây quế này có con hùm xám thường xuất hiện, nhưng nó hiền lành, vẫn thường thân cận với người mà chưa từng hại ai.

Từ khi Vua ra đời thì không thấy con hùm ấy đâu nữa. Người ta cho là một sự lạ. Ngày Vua ra đời thì trong nhà có hào quang đô chiếu sáng rực và mùi thơm ngào ngạt khắp làng. Khi lớn lên thì thông minh dũng lược, độ lượng hơn người, vẻ người tươi đẹp hùng vĩ, mắt sáng, miệng rộng, sống mũi cao, xương mi mắt gồ lên, bả vai bên trái có 7 nốt ruồi, bước đi như rồng như hổ, tiếng nói vang vang như tiếng chuông. Các bậc thức giả biết ngay là một người phi thường”.

Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế ở Đông Kinh, mở đầu triều Lê sơ, triều đại lâu dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

Lê Lợi sinh ra trong một gia đình “đời đời làm quân trưởng một phương”. Năm ông 21 tuổi cũng là năm nhà Minh đem 80 vạn quân sang xâm lược nước Việt. Cuộc kháng chiến chống Minh của vương triều Hồ thất bại, nước Đại Việt rơi vào ách thống trị tàn bạo của giặc Minh. Trước cảnh đất nước bị kẻ thù giày xéo, tàn phá, Lê Lợi đã nung nấu một quyết tâm đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi.

Đầu năm 1416, tại núi rừng Lam Sơn trên đất Thanh Hóa, Lê Lợi cùng với 18 người bạn thân thiết, đồng tâm cứu nước đã làm lễ thề đánh giặc giữ yên quê hương. Đó là hội Thề Lũng Nhai đã đi vào sử sách. Rồi sau một thời gian chuẩn bị chín muồi, đầu năm 1418, Lê Lợi xưng là Bình Định Vương, truyền hịch đi khắp nơi, kêu gọi nhân dân đứng lên đánh giặc cứu nước. Lê Lợi là linh hồn, là lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩa ấy.

Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế ở Đông Kinh, mở đầu triều Lê sơ, triều đại lâu dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Mặc dù ở ngôi ngắn ngủi được có 6 năm nhưng những việc làm của ông vua này có ý nghĩa đặt nền móng vững chắc cho cả một triều đại và nên độc lập phồn vinh của quốc gia Đại Việt. Việc làm đầu tiên của Lê Thái Tổ là bàn định luật lệnh. Và nhờ cố gắng đó, hai năm sau (1430), Lê Thái Tổ đă cho ban hành những điều luật đầu tiên của triều đại mình”.

Quang Trung: Mắt lập lòe như ánh điện

Nguyễn Huệ (1753 – 1792), còn được biết đến là Vua Quang Trung hay Bắc Bình Vương, là vị hoàng đế thứ hai của nhà Tây Sơn (ở ngôi từ 1788 tới 1792). Ông là một trong những lãnh đạo chính trị tài giỏi với nhiều cải cách xây dựng đất nước, quân sự xuất sắc trong lịch sử Việt Nam với những trận đánh nội chiến và chống ngoại xâm chưa thất bại lần nào.

Quang Trung – Nguyễn Huệ cũng được xem là người anh hùng áo vải của dân tộc Việt Nam.

So với các hoàng đế khác trong lịch sử Việt Nam, có lẽ Quang Trung – Nguyễn Huệ được các sử thần lưu lại những miêu tả chi tiết hơn về vóc dáng, thậm chí miêu tả cả đến làn da, mái tóc và đặc biệt là đôi mắt: “Quang Trung là người cao lớn, tóc quăn, da sần, tiếng nói sang sảng như chuông. Kỳ lạ nhất là cặp mắt sáng như chớp, có thể nhìn rõ mọi vật trong đêm tối, nó khiến nhiều người khi thấy đều run sợ, hãi hùng…“không một người nào dám nhìn thẳng vào mắt ông” (Hoàng Lê nhất thống chí). “Đôi mắt lập lòe như ánh điện” (Đại Nam chính biên liệt truyện), “con mắt nhỏ nhưng cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi không có đèn, ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu” (Tây Sơn thuật lược)…

Sách Những khám phá về Hoàng đế Quang Trung cũng trích dẫn tướng mạo của Hoàng đế Quang Trung theo mô tả của một quan viết sử dưới thời Nguyễn: “Huệ tóc quăn, mặt đầy mụn, có con mắt nhỏ, nhưng cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi không có đèn, ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu, lúc lâm trận thì thế thắng uy nghi, anh hùng lẫm liệt, cho nên mới bình định được phương Nam, dẹp phương Bắc, tiến đến đâu thì không ai hơn được… Óc thông minh đó sẽ làm nên sự nghiệp lớn, tiếng nói sang sảng như chuông sẽ là lệnh truyền hiệu nghiệm đầy sức thuyết phục. Với đôi mắt như ánh điện, thay được đèn soi sáng cả chiếu vào lúc ban đêm, có thể xuyên thấu mọi tâm can sâu thẳm của mỗi con người, của đối phương nên đã làm người người đều kinh sợ. Cái nhãn quang đó cùng bộ óc thông minh của ông đã làm nên sự nghiệp phi thường như lịch sử đã ghi lại”.

Ngoài ra, trong một phác họa chân dung vua Quang Trung in trên một tờ tiền giấy, hậu thế có thể thấy đôi mắt của vua là một đôi mắt đẹp đặc trưng kiểu người Việt Nam, nghĩa là đôi mắt to, hai mí lớn, nhãn cầu hơi lồi và ánh nhìn ngay thẳng, chính trực. Có lẽ do quá ấn tượng về nhân cách, tài trí vô song của vị vua áo vải này mà các sử gia đã phần nào “thần thánh hóa” đôi mắt của vua, nhằm cho đời sau cảm nhận được uy lực lạ lùng của đôi mắt ấy. Việc miêu tả chi tiết đôi mắt, làn da cũng như mái tóc của vua Quang Trung càng cho thấy sự gần gũi của vị vua có xuất thân dân dã này.

 

Theo Đất Việt [tiêu đề gốc: 

Tướng mạo dị thường của các ông vua Việt]

Đừng đau đầu vì tiền, điên đầu vì tình, rồi lại đâm đầu vào tường ^^

Quê tôi Long An trung dũng kiên cường
Toàn dân đánh giặc mượn chiếc xuồng hổng cho.

tiên học lễ,hậu học văn
hai đứa lăng nhăng làm sao mà học

yêu nhau mấy núi cũng trèo
đến khi có chửa mấy đèo cũng dong

Đàn ông LÊN & RA và Đàn bà LA & RÊN

Thằng cho vay là thằng dại
Thằng trả lại là thằng ngu

Còn thời cưỡi ngựa bắn cung
Hết thời xuống chợ lượm thun bắn ruồi.

Nhà nghèo là phải ăn khoai
Ăn khoai là lại nóng ruột
Nóng ruột là lại không ngủ được
Không ngủ được là lại đông con
Đông con là nhà lại nghèo
Nhà nghèo là phải ăn khoai
Ăn khoai là lại nóng ruột…

Học không chơi đánh rơi tuổi trẻ
Chơi không học vừa khỏe lại vừa vui
Hãy cứ chơi cho hết đời trai trẻ
Để về già lặng lẽ… đạp xích lô

Ớt nào là ớt chẳng cay
Hotgirl là ẻm rất hay khoe hàng

Vì thời gian không có nhiều nên tôi không đọc phần “Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam…”

Nhớ vợ thương con thèm thịt chó, vợ con chưa có chó chưa nuôi!

Kinh nghiệm… ăn chơi
Trẻ không xông pha, già … hối hận!

“KIÊNG”
Con thầy, vợ bạn, gái cơ quan, bồ của sếp!

nguyên nhân của tất cả các cuộc ly hôn là do kết hôn

Ngồi buồn tự tử chết chơi, ai dè chết thiệt buồn ơi là buồn

Gái một con trông mòn củ ấu, trai một ấu rủ rỉ gái 1 con

Danh dự như cái bao cao su chỉ dùng được một lần thôi !

Đừng tự hào vì bạn nghèo mà vẫn giỏi, hãy tự hỏi vì sao giỏi mà vẫn nghèo. Đừng tự ti vì sao giàu mà vẫn dở, hãy tự tin vì sao dở vẫn giàu

phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam

Chỉ tay lên trời hận đời vô đối
Úp mặt xuống gối nói dối ngại ghê.

Nhớ mãi phút giây em nhìn vào mắt anh. Anh ước gì có thề nhìn sâu vào tận trong mắt em và nói với em rằng: “Nhìn gì tao hả mày”.

* Nhà ko cần to, quan trọng là nhiều Đất!

* Nhà mặt phố, bố làm Quan: xưa rồi diễm ơi! Chỉ cần Nhà gần đường Ôtô, bố không ai sờ tới được là ok!

đừng bao giờ đánh phụ nữ dù chỉ là một cành hoa mà hãy lấy khăn mùi soa gói thêm cục “gạch”

Giận dữ không tự mất đi, nó chỉ chuyển từ cơn giận của người này sang nỗi sợ hãi của người khác !!

Quân tử lông chân – Tiểu nhân lông bụng! Em có hai loại thì làm thế nào ?

sống trên đời có 2 điều cần phải biết:
1. không nói những gì bạn biết cho người khác biết
2. nhìn lại điều số 1

_Luôn luôn lắng nghe,lâu lâu mới hiểu.
_Dù gái hay trai có thai là đẻ
_Bình tĩnh tự tin đừng cay cú,âm thầm chịu đựng trả thù sau.

cuộc đời thật bất công. giầu thì nó ghét. nghèo thì nó khinh, thông minh thì nó đố kỵ

vạn sự khởi đầu nan
gian nan bắt đầu nản
chán nản sinh bần cùng
bần cùng sinh đạo tặc

Giang hồ đẫm máu anh không sợ, chỉ sợ đường về… thấy bóng em!

xưa kia ta ở trên trời
bởi hay uống rượu trời đày xuống đây.
xuống đây ta uống cho say
xơ gan cổ chướng mới bay về trời.

gần mực thì đen
gần đèn thì cháy.

Cha Ông Đức Độ Ban Cho Rượu. Con Cháu Thảo Hiền Thoả Sức Say!!!

Nam thực như hổ, nữ thực hơn nam
Một tay làm chẳng nên chi, thêm ba tay nửa thành sòng tiến lên

Rượu bất khả ép… ép bất khả từ
Rượu bất khả ép… ép uống tì tì !

học quan trọng hay yêu quan trọng
yêu là chuyện nhỏ học là chuyện lớn,
=> việc nhỏ không làm thì sao làm được việc lớn

-Tiền thì không thiếu, mà nhiều thì không có.
-Điều gì bạn cũng nên biết, chỉ duy nhất 1 điều không nên biết là: Không biết điều.

– Đàn ông thành đạt = 1, 2, 3, 4 (1 Vợ, 2 Con, 3 Tầng, 4 Bánh).

Đất lành chim đậu, đất không lành đất nhậu luôn chim !

Tiền là giấy, thấy là lấy !

Thất bại vì ngại thành công

Ai cũng hiểu chỉ… 1 người không hiểu
Có đồ chơi mang đến… lại mang về…

Buồn buồn ngồi chửi sếp chơi
Hôm sau mất việc buồn ơi là buồn !

Làm giàu không khó, nhưng khó ở chỗ làm mãi mà không giàu!

Đêm năm canh em nhớ anh canh đầu
bốn canh sau em u sầu ngủ tiếp

Yêu nhau trong sáng, phang nhau trong tối.

Quê tôi nghèo lắm. Chó ăn đá, gà ăn sỏi, người ăn chó gà.

Quay đầu là bờ mà bơi sang bên kia…. cũng là bờ.

Người đàn ông đích thực là người khi vô đến cây xăng phải mạnh miệng: “Đầy bình cho tao ”

Làm trai cho đáng nên trai, vắt chanh bỏ vỏ mấy ai… đã từng

Chân lý đố cãi
Sông có thể cạn, núi có thể mòn… Nhưng những người lùn không bao giờ cao lên được

Đối với bác sĩ thuộc nằm lòng câu “Lương y như từ mẫu”
còn Công chức thì: “Lương y….như tháng trước”

Có cái chết hóa thành bất tử
và có cái chết hóa thành … chết thử
Có những người do chân lý sinh ra
Nhưng, có những người do… sơ ý sinh ra.

Ngày xưa: đi xe ôm uống bia hơi… ngày nay: đi xe hơi uống bia ôm

Thà chết chứ không chịu hi sinh

Hữu duyên SH lăng tương ngộ , vô duyên đi bộ bất tương phùng.

Diễn biến của một cuộc hôn nhân bao giờ cũng là: Bí mật rồi đến trăng mật và cái kết có hậu của nó là vỡ mật…

CÂY NGAY KHÔNG SỢ CHẾT ĐỨNG… CHỈ SỢ CHẾT NGAY..

Hồng nào mà chẳng có gai.
“Đua đòi” ắt phải phá thai đôi lần !

Trăm năm bia đá cũng mòn, ngàn năm bia rượu vẫn còn trơ trơ
trăm năm bia đá cũng mòn , bia chai cũng bể chỉ còn ………………. bia ôm !

Dân ta phải biết sử ta… Cái gì không biết thì tra Googe

Cuộc sống hôn nhân rất khó chịu. Năm thứ nhất của hôn nhân ngừơi vợ nói và người chồng nghe, đến năm thứ hai người chồng nói và người vợ nghe, đến năm thứ ba thì cả hai cùng nói và hàng xóm phải nghe!

Bản chất tốt nhưng dòng đời xô đẩy
Xô không được ta đẩy lại dòng đời!

Trước đây đẹp trai lắm, bây giờ đỡ hơn nhiều rồi.

Xấu nhưng phải biết phấn đấu.

Bố em bảo chém gió là không tốt mẹ em bảo chém gió có lợi cho sức khoẻ vì cười nhiều, em không biết nghe ai?

Quân tử nhất ngôn là quân tử dại
Quân tử nói lại là quân tử khôn!

Nam quốc sơn hà Nam đế cư, rượu ngon không uống để rượu hư !

Nhìn lên thì chẳng bằng ai, nhìn xuống thì chẳng thấy ai thèm nhìn !

Đau đớn thay phận đàn bà
Hơn năm ba tuổi vẫn là đàn em.

Cảm ơn đời mỗi sáng mai thức dậy
Ta thấy mình vẫn còn sống nhăn răng.

Trông bạn quen quen, hình như tôi chưa gặp bạn bao giờ?!

Tiền là giấy, thấy là lấy.

Nếu em cần một kẻ có thể sẵn sàng chết vì em, thì anh thề với Chúa anh không phải thằng ngu đó

Bố mẹ ta nuôi ta lớn lên, còn vợ ta nạt (dạy) ta nên người.

Đàn ông ko sợ mỏi ko sợ mệt chỉ sợ mềm
Đàn bà ko sợ khó ko sợ khổ chỉ sợ khô.”

Phong ba bão táp không bằng mạng lag Võ Lâm

Bắc thang lên hỏi ông Trời
Con ăn thịt chó rồi đời ra sao???
Ông Trời 2 má đỏ au…
Nhậu mà không rủ – tội chồng gấp 3… !!!
***
Bắc thang lên hỏi ông Trời…
Côn Lôn theo kiếm hay là theo đao???
Ông trời bứt tóc – gãi tai…
Tao chơi Ngũ Độc làm sao chỉ mày… !!!

Tình yêu với tôi đến thật dễ dàng
Một lần phũ phàng đẩy bạn gái xuống ao
Mẹ bắt được lôi vào đánh tôi bê bết .
Cô gái ngoi lên nhìn tôi cười gần chết
Miệng há to tròn để lộ cả hàm răng
Tình vụt đến như một ánh sao băng
Tôi giật mình nhưng vội cười ha hả
Xưa tôi yêu em vì có hàm răng giả
Nay tôi yêu em vì có cả cái răng sâu !

nguồn : sưu tầm bên vn-zoom.com & một số wed khác .

Nhiều người đọc những bài giảng của Thượng Toạ Chân Quang đều công nhận trong tất cả các bài giảng Thầy đều khuyên các Phật tử tôn kính Tam Bảo,tin hiểu Nhân Quả,đi theo Chánh Đạo của Phật,đoàn kết với các tông phái khác,khuyên các Phật tử sống đạo đức,vị tha nhân ái.Rất nhiều người tu theo lời dạy của Thầy đã có kết quả rất tốt,cuộc sống của họ thay đổi thấy rõ so với trước khi tu.
Gần đây có rất nhiều các tin đồn nói xấu Thượng Toạ Thích Chân Quang gây hoang mang nghi ngờ trong lòng một số Phật tử.Chúng tôi cũng đã nghe những lời nói xấu đó trên mạng,chẳng hạn như họ bảo Thầy chống Tịnh độ tông,phủ nhận kinh đại thừa…thậm chí có những lời bịa đặt nói xấu nghe khá ngô nghê như đồn rằng Thầy đi nhậu bia ôm,Thầy có…9 tỷ đồng,Thầy có vợ bé,Thầy bị … pede, vậy mà vẫn có người tin.Hôm nay chúng ta sẽ từ từ xem lại những âm mưu gì ẩn chứa sau đó.
— Thầy Thích Chân Quang có phủ nhận kinh điển Đại thừa không ?

Kinh điển Đại thừa xuất hiện sau Phật là điều mà tất cả các học giả trên thế giới đều biết cả.Các bậc Hoà thượng tôn túc ở Việt Nam,các vị bên Nam tông cũng công nhận như thế và Thầy Chân Quang chỉ nhắc lại thôi.Các nhà học giả ,sử học trên thế giới khi nghiên cứu đã chứng minh rất rõ ràng , bản kinh Nguyên thuỷ Nikaya do đích thân Đức Phật thuyết ,được viết bằng tiếng Pali,truyền sang Tích Lan (Srilanka) và được Phật giáo Nam tông gìn giữ đến tận ngày nay.Các bản kinh Đại thừa ,ra đời sau Phật vài trăm đến hàng nghìn năm,đều được viết bằng tiếng Sancrit  rồi dịch ra tiếng Hán,trong kinh Đại thừa có nhiều nhân vật không hề có thật thời Đức Phật,và không hề được nhắc đến trong Kinh Nikaya.
Như vậy là Thầy Chân Quang chỉ nói ra sự thật chứ Thầy không hề chống gì cả.Thầy cũng không hề chê bai kinh điển Đại thừa,ngược lại Thầy rất trân trọng nhiều bộ kinh Đại thừa và đã giảng nhiều bộ Đại thừa như Kinh Kim Cang ,Bát Nhã Tâm Kinh, Kinh Pháp Hoa…
Nhiều bộ kinh Đại Thừa tuy không phải Phật thuyết nhưng là do các vị Bồ Tát sau này thị hiện,các vị Thánh viết ra,rất đúng ý Phật và hợp đạo lý.Vì vậy chúng ta vẫn tôn kính và học theo các bộ kinh Đại Thừa đó là vì thế.Chính Thầy Chân Quang cũng đã từng nói “kinh Đại thừa có nhiều ý rất hay”.
Nhưng vấn đề là không phải 100% các bộ kinh sau này đều do các vị Bồ Tát các vị Thánh viết,có những bộ của người thường viết theo kiến giải chủ quan của riêng mình,lẫn cả tà kiến ngoại đạo ở trong đó,rồi lại ghi là do Phật thuyết ,làm cho chúng ta nào giờ vẫn tin mấy bộ đó là do Phật thuyết thật và cứ tụng theo.Chỉ những vị có trí tuệ mới nhận ra thật giả,đâu là chân kinh Phật thuyết,đâu là chân kinh của các vị Bồ Tát các vị Thánh,đâu là kinh “dỏm” của người bình thường,ngoại đạo trà trộn vào.

— Thầy Chân Quang có chống Tịnh Độ tông và Mật tông không ?

Có nguồn tin cho rằng ,Thầy Chân Quang bảo Mật tông là “dâm đãng” ?
Thầy không hề nói vậy.Chỉ có một số ít hệ phái trong Mật tông hoàn toàn xa rời Phật giáo khi đi ngược lại giới luật căn bản của Phật,họ cổ xuý cho việc sinh hoạt tình dục như là một phép tu.Họ là ngoại đạo giả dạng,trà trộn vào Mật tông trà trộn vào đạo Phật chứ Đức Phật không bao giờ dạy như vậy.Chính Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng lên tiếng phê phán lối tu kì quái của họ.Còn với những hệ phái tu Mật tông chân chính mà đúng với Bát Chánh Đạo thì ai cũng phải tán thán.Chính Thầy Chân Quang trong một bài giảng cũng nói “có một điều khiến chúng ta đều ấm lòng vì Đức Đạt Lai Lạt Ma hiện nay giảng Phật pháp rất hay”
Thầy Chân Quang nói rằng Thầy vẫn hay niệm Phật những khi rảnh rang.Thầy cho rằng các pháp môn có tính bổ xung cho nhau và pháp môn nào cũng nên phù hợp với Bát Chánh Đạo để Đạo Phật có mẫu số chung trên con đường tìm lại một đạo Phật duy nhất.Thầy cũng góp phần truyền bá pháp môn Tịnh Độ ví dụ như bài giảng Tiến trình niệm Phật.

—Thầy Chân Quang đề cập đến vấn đề tình dục trong một số bài giảng ?

Chúng ta biết rằng người bình thường chúng ta chưa chứng Thánh thì ai cũng có tình dục cả,có thể chúng ta muốn tránh né nói về vấn đề nhạy cảm này,nhưng hàng ngày chúng ta vẫn phải đối mặt với nó,và vẫn có thể phạm giới tà dâm nếu không hiểu biết.Trong bài giảng về Ái dục Thầy có giảng :4 điều nên tránh :quan hệ quá sớm(quá trẻ tuổi),quan hệ trước hôn nhân,quan hệ ngoài hôn nhân(ngoại tình),quan hệ quá nhiều(vô độ). Tình dục đưa đến 4 điều : mất sức khoẻ,mất tư cách,mất trí tuệ,mất phước(vì hưởng thụ khoái cảm).Tất cả những điều đó đều rất đúng.Những người cư sĩ nghiệm lại về đời sống tình dục của mình đều thấy chính xác.Chúng ta phải hiểu rõ thế nào là tà dâm để mà tránh,có một cuộc sống hôn nhân lành mạnh.
Vậy sự thật đằng sau những chuyện bịa đặt nói xấu Thầy Chân Quang là gì ?

Trần Văn Nhật,trước năm 1975 là người phiên dịch cho các mục sư đạo Tin lành của Mỹ.Ông ta theo các mục sư đi khắp nơi truyền đạo,sau một thời gian ông ta quen với công việc và bắt đầu trực tiếp giảng Tin lành thay cho các mục sư của Mỹ.Ông ta học được cách chửi rủa mạt sát các tôn giáo khác,học được cách gài bẫy xúi giục quần chúng chán ghét đạo Phật,đạo Nho để đi theo Tin Lành.
Năm 75 ,Nhật chạy sang Mỹ.Khi Hoà thượng Thiền sư Thích Nhất Hạnh nổi tiếng ở châu Âu thì Nhật đến xin quy y có pháp danh là Tâm Kiến Chánh.Không biết là quy y thật lòng hay được lệnh trà trộn vào đạo Phật mà sau vài năm,ông ta quay sang chê bai bài xích Hoà thượng Nhất Hạnh đủ chuyện
Trần Văn Nhật có chút nghề về audio và video,ông ta kinh doanh bằng cách lấy những cuốn sách Phật giáo nào được nhiều người ưa thích,đọc,thu vào băng catxet bán kiếm lời không trả tiền bản quyền.Năm 98,Nhật bắt gặp các băng đĩa giảng của Thầy Chân Quang được nhiều người ở Mỹ thích nghe.Nhật copy lại để bán rộng rãi với giá 3.5 USD và nhờ đó tạo được quan hệ rộng rãi với các bạn đạo ở Mỹ.
Khi về Việt Nam ,Trần Văn Nhật gặp xin Thầy Chân Quang cho ông ta độc quyền phát hành băng đĩa của Thầy ở hải ngoại nhưng Thầy không đồng ý.Sau đó ông ta dùng thủ đoạn quen thuộc khi còn là trợ giảng Tin lành,ông ta bài bác đạo Phật,ca ngợi Hoà Hảo,vừa lấy lòng Hoà Hảo vừa ly gián chia rẽ đạo Phật giáo với Phật giáo Hoà hảo.Ông ta thiết lập một số đầu mối quen biết để nhờ vả sai khiến sau này.Nhận thấy ý đồ nguy hiểm của ông ta trong việc chia rẽ dân tộc và tôn giáo,Thượng Toạ Chân Quang đã viết một bức thư qua email khiển trách Nhật nghiêm khắc.
Quay về Mỹ ,Nhật bắt đầu viết một loạt bài đặt điều,chửi rủa,nói xấu Thầy Chân Quang.Đầu tiên Nhật đặt điều trắng trợn rằng Thầy là tay sai cộng sản,là cháu…Bác Hồ để các Phật tử hải ngoại(nhiều người vốn không thích cộng sản) ghét Thầy.Nhiều khả năng ông ta cũng là thành viên một tổ chức lưu vong chống nhà nước Việt nam
Ông ta đã sửa chữa,edit,xử lý âm thanh,cắt xén làm thay đổi nội dung các bài giảng của Thầy,lấy một số câu nói của Thầy,bớt đầu bớt đuôi đổi hẳn ý nghĩa đi để làm bằng chứng kết luận rằng Thầy chống lại Tịnh Độ và Mật tông.Đây cũng chính là thủ đoạn quen thuộc của Tin Lành khi muốn bao vây cô lập,hạ uy tín các vị Thầy trong các tôn giáo khác.Quả nhiên một làn sóng chống đối Thầy Chân Quang bùng lên lan rộng khắp nơi
Nhật cho in các bài viết công kích Thầy Chân Quang thành một tập tài liệu có tên rất kêu là Chướng ma thời mạt pháp,in thành đĩa CD để dễ dàng phổ biến.Nhật chuyển các tài liệu đó về Việt Nam,gửi tiền về cho các tay sai của mình sao chép tài liệu đưa đến các nơi nhạy cảm như các chức sắc tôn giáo,các Thầy trong các Tông phái.Nhiều người cả tin chưa biết nếp tẻ ra sao vội quay ngay ra chửi Thầy Chân Quang,vô tình tiếp tay cho Nhật khi chuyền các tài liệu đó đi.

 Vậy là đã trúng kế của Tin Lành : Các Thầy,các vị tôn túc trong đạo Phật hiểu lầm chỉ trích chống đối nhau.Đạo Phật mất đoàn kết,suy yếu thì ngoại đạo sẽ nhảy vào truyền giáo lôi kéo tín đồ!

Trần Văn Nhật là kẻ ham tiền,kiếm lời từng tí một qua bán đĩa CD,catxet,ông ta lấy đâu ra một đống tiền để nuôi đám tay sai đi làm chuyện đó nếu không phải là cái tổ chức kia lót lưng.Xét cho cùng Nhật cũng là con rối mà thôi.
Một số Phật tử hoang mang về việc Hoà thượng Thích Thanh Từ cũng quay sang chỉ trích Thượng Toạ Chân Quang.Thượng Toạ biết Hoà thượng chỉ là hiểu lầm nên có nói “các Phật tử thương kính Thầy 1 thì phải thương kính Hoà Thượng gấp 1000 lần” (xem trong loạt bài giảng Tứ Diệu Đế)
Chúng ta đã biết rõ những thủ đoạn thâm hiểm gây chia rẽ chống phá đạo Phật của Tin Lành.

Họ chống đạo Phật bằng cách triệt hạ những vị Thầy nào giảng hay đúng đạo lý,triệt hạ những vị Thầy nào có uy tín,đức độ vì những vị đó đang chấn hưng được Phật pháp.Họ còn triệt phá đạo Phật bằng cách dùng tiền bí mật mua chuộc lôi kéo một số thầy thiếu đạo tâm,ly gián nói xấu để các Thầy,các Tông phái hiểu lầm chống lẫn nhau,đặt điều vu khống để các Phật tử giảm lòng tin vào quý Thầy quý Cô,giảm lòng tin vào Chánh Đạo.Thậm chí chúng còn tính đến khả năng ám sát các Thầy.Chúng ta hãy chờ xem,các thế lực xấu sẽ còn giở nhiều trò nữa chứ không chỉ gây chia rẽ không.
Chúng ta biết rằng thời xưa chính Đức Phật cũng bị ngoại đạo chống phá ghê gớm.Họ nói xấu,xúi giục nhiều người phỉ báng chỉ trích Đức Phật,có người còn lăn đá xuống muốn giết Phật.Trong kinh Pháp cú phẩm Hiền trí Đức Phật cũng có nói ” Những người hay khuyên răn dạy dỗ,can ngăn tội lỗi của kẻ khác,được người lành kính yêu bao nhiêu thì bị người dữ ghét bỏ bấy nhiêu”

Lê Nguyển 11-11-2009

http://cusiphatgiao.wordpress.com/2009/12/01/t%E1%BA%A1i-sao-co-cac-tin-d%E1%BB%93n-noi-x%E1%BA%A5u-tt-thich-chan-quang/

– Sáng đi chụp biểu tình thật à?

– Anh hỏi đùa như thật.

– Thật hả? anh tưởng đùa.

– Anh không đi, có nghĩa là anh bỏ trận địa cho bọn rận tha hồ tuyên truyền láo, “nào là đàn áp, nào là bắt bớ”.

– Anh thấy bọn nó èo uột lắm, không nên cơm cháo gì đâu. Xong rồi lại lên mạng la lớn đại thắng lợi, lửa đã nhóm, giờ đã điểm, xong có để làm gì đâu.

– AP, BBC sẽ đưa tin này. Biểu tình với lý do “Trung Quốc xâm phạm quyền chủ quyền của Việt Nam”.

– Thế em sẽ thay đổi được?

– Được hay không thì tùy anh thôi. Quan điểm của em biểu tình là cần thiết và cần sử dụng đứng mực (biết dừng đúng lúc). Hồi xưa có một vở kịch về Liên Xô sụp đổ, trong đó có một câu khá hay: ” Một ngôi nhà sụp thì con chuột cũng phải chịu trách nhiệm”.

– Vấn đề là bọn biểu tình này thực chất không chống Trung Quốc. Anh không muốn đứng chung hàng ngũ với bọn Bùi Hằng – Xuân Diện.

– Anh nhầm. Đấy không phải duyệt binh đâu mà anh nói chuyện hàng ngũ. Đấy là mặt trận. Và nếu anh bỏ mặt trận cho đối phương tức là anh đầu hàng. Có thể có người có thái độ chống chính phủ nhưng chắc chắn họ cũng chống Trung Quốc. Việc chống ai, chống bao nhiêu là do thành phần tham gia. Những người như anh và em bỏ trận địa cho bọn họ thì sẽ có ngày biểu tình chuyển thành chống chính phủ.

 

– Thực sự nếu có biểu tình chống Trung Quốc mà không lẫn bọn chống chính quyền vào thì anh cũng khoái đấy. Nhưng mình tham gia cùng bọn đấy chả hóa ra tiếp tay cho bọn nó.

– Có cuộc biểu tình như thế thì lúc ấy thì lửa cháy và máu đổ ở biên giới rồi anh ạ, như năm 1979 ấy.

– Mặt trận thì những chiến sỹ ở cùng một chiến tuyến, phải có chung một lý tưởng, đằng này… Ngu gì để bọn nó lợi dụng lòng yêu nước của mình.

– Ở Trung Quốc những năm 1930-1940, Quốc Cộng vẫn hợp tác chống Nhật đấy thôi. Việt Minh cũng đứng chung hàng ngũ với nhiều kẻ thù để giành độc lập – tự do đấy.

– Ha ha, thôi được rồi, anh thì nghĩ có bọn đang núp bóng lợi dụng thôi còn tùy quan điểm của em.

– Có kẻ lợi dụng là chắc chắn, nhưng có lợi dụng được mình hay không là do mình.

– Giờ em cầm biểu ngữ, mặc áo cờ đỏ sao vàng nhưng đứng cạnh Bùi Hằng – Xuân diện rồi chụp hình, post lên mạng… có bao nhiêu người ko tin rằng em cùng một giuộc với bọn ấy? Hôm nay, biểu ngữ chống Trung Quốc bé tí bằng tờ A4. Còn cái biểu ngữ to cái gì mà tiền thuế của dân. Trung Quốc đâu? Hoàn toàn không có mặt trong cái biểu ngữ đấy, biểu ngữ đấy là nhằm vào chính phủ.

– Nếu có trường hợp thế em sẽ cầm theo ảnh của 2 người đó bị gạch chéo. Em sẽ có 1 biểu ngữ chống Trung Quốc và 1 biểu ngữ chống lại bọn rận. Sao anh không có mặt và làm cái biểu ngữ to hơn chúng nó. Nhiều biểu ngữ chống Trung Quốc thì cái biểu ngữ kia sẽ cô đơn và lạc lõng.

– Anh deny bọn này, quan điểm của anh là ko cho troll ăn, mạc xác chúng nó tự chết.

– Anh và những người suy nghĩ như anh sẽ bị đào thải.

– Đào thải đi đâu?

– Bị đào thải vào cuộc sống ảo, như bọn ba que ở hải ngoại sống bằng ảo tưởng. Cái gì trống, nó sẽ được lấp đầy còn lấp đầy bởi cái gì thì phụ thuộc vào ai là người chịu khó lấp đầy.