Tag Archive: nước trong


Chiều 20/5, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý trình bày trước Quốc hội “Báo cáo về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trên cơ sở ý kiến nhân dân”.

Cột cờ Hà Nội
“Báo cáo về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trên cơ sở ý kiến nhân dân” đề nghị giữ tên nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo cáo cho biết, về tên nước qua tổng hợp, có nhiều ý kiến nhân dân đóng góp về vấn đề này. Nhìn chung các ý kiến cho rằng Điều 1 của Dự thảo đã thể hiện rõ những tiêu chí cơ bản của Nhà nước như tên nước, hình thức chính thể, chủ quyền quốc gia. Riêng về tên nước, còn có các loại ý kiến như sau:

Loại ý kiến thứ nhất đa số ý kiến đề nghị tiếp tục quy định tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tên gọi này ra đời trong bối cảnh nước ta vừa hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, thống nhất đất nước, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, khẳng định rõ con đường, mục tiêu xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Tên gọi này đã được sử dụng ổn định từ tháng 7 năm 1976 đến nay, đã được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992. Hơn nữa, việc thay đổi tên nước trong thời điểm hiện nay sẽ dẫn đến những hệ quả không có lợi, thậm chí có thể bị xuyên tạc là ta đang xa rời mục tiêu, con đường lên chủ nghĩa xã hội và làm phát sinh nhiều thủ tục hành chính, gây tốn kém, phức tạp.

Loại ý kiến thứ hai đề nghị lấy lại tên gọi Việt Nam dân chủ cộng hòa vì tên gọi này gắn liền với sự ra đời của chính thể cộng hòa đầu tiên ở nước ta, là thành quả của cuộc cách mạng giành độc lập tháng Tám năm 1945. Tên gọi này đã được chính thức ghi nhận trong Bản tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên đọc ngày 02 tháng 9 năm 1945 và tiếp tục được khẳng định trong Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, thể hiện rõ thể chế chính trị của nước ta là cộng hòa, bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước dân chủ.

Ý kiến này cho rằng, việc lựa chọn tên nước là Việt Nam dân chủ cộng hòa không làm ảnh hưởng đến mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta vì Lời nói đầu cũng như các quy định khác của Dự thảo đều khẳng định con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Ngoài ra, cũng có ý kiến đề nghị một số tên gọi khác.

Trên cơ sở nghiên cứu các ý kiến nêu trên, Ủy ban DTSĐHP nhận thấy, tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc Việt Nam dân chủ cộng hòa đều thể hiện rõ chính thể của nước ta là cộng hòa, bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước dân chủ.

Tuy nhiên, việc giữ nguyên tên nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhằm tiếp tục khẳng định mục tiêu, con đường xây dựng và phát triển đất nước lên chủ nghĩa xã hội, bảo đảm tính ổn định, tránh việc phải thay đổi về quốc huy, con dấu, quốc hiệu trên các văn bản, giấy tờ. Hơn nữa, trải qua 37 năm, tên gọi này đã trở nên quen thuộc đối với nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế.

Giữ Điều 4

Báo cáo cho biết về cơ bản, ý kiến nhân dân tán thành việc khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, tán thành bổ sung quy định Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Qua tổng hợp, nhân dân tập trung góp nhiều ý kiến về cách thể hiện Điều 4, cụ thể như sau:

 

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và là người phát ngôn của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 Phan Trung Lý
Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và là người phát ngôn của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 Phan Trung Lý.

 

Loại ý kiến thứ nhất tán thành với nội dung Điều 4 như trong Dự thảo đã công bố vì đã thể hiện một cách đầy đủ các nội dung và tinh thần của Cương lĩnh, Điều lệ Đảng về bản chất giai cấp, nền tảng tư tưởng của Đảng.

Loại ý kiến thứ hai đề nghị viết lại một cách khái quát, cô đọng tránh trùng lặp; chỉ cần khẳng định vai trò của Đảng trong Hiến pháp là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, còn những nội dung quy định về bản chất, nền tảng tư tưởng của Đảng đã được khẳng định trong Cương lĩnh và Điều lệ Đảng, không cần thiết phải quy định lại trong Hiến pháp. Bên cạnh đó, cũng có ý kiến đề nghị không quy định Điều 4 vì Đảng là tổ chức chính trị, được tổ chức và hoạt động theo Cương lĩnh và Điều lệ.

Ủy ban DTSĐHP báo cáo Quốc hội về vấn đề này như sau: Trước hết, cần khẳng định rằng, việc giữ Điều 4 quy định về vai trò lãnh đạo của Đảng là cần thiết. Quy định này là kế thừa quy định tại Điều 4 của Hiến pháp hiện hành, khẳng định tính lịch sử, tính tất yếu khách quan sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nước ta. Dự thảo đã bổ sung quy định về bản chất của Đảng theo tinh thần mới của Cương lĩnh, đó là: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng”. Chính do bản chất và nền tảng tư tưởng của Đảng như vậy nên nhân dân ta mới thừa nhận vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng và ghi nhận vào Hiến pháp – đạo luật cơ bản của Nhà nước.

Do vậy, Ủy ban DTSĐHP đề nghị Quốc hội cho giữ Điều 4 như Dự thảo đã công bố.

Không đưa vấn đề ban hành luật về Đảng

Có ý kiến đề nghị làm rõ hơn cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, cơ chế chịu trách nhiệm của Đảng và cơ chế để nhân dân giám sát Đảng. Ý kiến này đề nghị cần có Luật về Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm tạo cơ sở pháp lý cho Đảng thực thi vai trò, sứ mệnh lịch sử của mình đối với Nhà nước và xã hội, tạo sự minh bạch trong hoạt động của Đảng, tạo cơ sở cho nhân dân giám sát hoạt động của tổ chức Đảng và đảng viên.

Về vấn đề này, Ủy ban DTSĐHP nhận thấy, Đảng ta là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo thông qua Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng và chính sách, chủ trương lớn của mình… Cách thức, nội dung lãnh đạo được thể hiện linh hoạt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng giai đoạn, từng thời kỳ. Bên cạnh đó, quy định mọi tổ chức Đảng, đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật hiện đã là một bảo đảm quan trọng để nhân dân có điều kiện giám sát, giúp cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh hơn, xứng đáng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

Hơn nữa, việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng cũng là vấn đề đang được tổng kết, nghiên cứu. Vì vậy, Ủy ban DTSĐHP đề nghị Quốc hội không đưa vấn đề ban hành luật về Đảng vào Dự thảo Hiến pháp.

“Sở hữu toàn dân” về đất đai

Báo cáo cho biết qua tổng hợp, có 3 loại ý kiến về sở hữu đất đai như sau:

Loại ý kiến thứ nhất đa số ý kiến tán thành với quy định của Dự thảo. Loại ý kiến này cho rằng quy định đất đai, các tài nguyên thiên thiên, các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý… thuộc sở hữu toàn dân là phù hợp.

Loại ý kiến thứ hai đề nghị đa dạng hóa sở hữu đất đai, trong đó có sở hữu tập thể, sở hữu cộng đồng và sở hữu tư nhân về đất ở. Ý kiến này cho rằng quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân là không rõ về chủ thể sở hữu.

Loại ý kiến thứ ba đề nghị tách thành hai điều, một điều quy định về sở hữu toàn dân, một điều quy định về sở hữu nhà nước. Ý kiến này cho rằng, cần có sự phân biệt rạch ròi giữa đất đai là tài nguyên quốc gia – thuộc sở hữu toàn dân với những đất đai mà toàn dân đã giao cho Nhà nước – một chủ thể cụ thể quản lý, sở hữu.

Ủy ban DTSĐHP báo cáo Quốc hội vấn đề này như sau: Quy định đất đai, các tài nguyên thiên thiên, các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý… thuộc sở hữu toàn dân là quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã được xác định từ năm 1980 đến nay.

Vấn đề sở hữu về đất đai không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề chính trị – xã hội. Để làm rõ hơn nội dung này, Dự thảo đã xác định đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Vì vậy, đề nghị giữ nguyên cách dùng khái niệm “sở hữu toàn dân” và không quy định đa sở hữu về đất đai.

N.C.KHANH

Advertisements

Nội dung của Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ


Ngày 24-6-2004, Chủ tịch nước Việt Nam đã ký Lệnh số 16-2004/L/CTN công bố Nghị quyết về việc phê chuẩn “Hiệp định giữa nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa về phần định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong Vịnh Bắc Bộ”, đã được Quốc hội nước CNXHCN Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15-6-2004.

Ngày 30-6-2004 tại Hà Nội đã diễn ra lễ trao đổi văn kiện thư phê chuẩn Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ giữa hai nước.

Dưới đây là toàn văn Hiệp định:

Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (dưới đây gọi là “hai Bên ký kết”);

Nhằm củng cố và phát triển mối quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống giữa hai nước và nhân dân hai nước Việt Nam và Trung Quốc, giữ gìn và thúc ấy sự ổn định và phát triển của Vịnh Bắc Bộ; Trên cơ sở các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, cùng tồn tại hòa bình;

Trên tinh thần thông cảm, nhân nhượng lẫn nhau, hiệp thương hữu nghị và giải quyết một cách công bằng, hợp lý vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ; Đã thoả thuận như sau:

Điều I

1 . Hai Bên ký kết căn cứ vào Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, các nguyên tắc luật pháp và thực tiễn quốc tế được công nhận, trên cơ sở suy xét đầy đủ mọi hoàn cảnh hữu quan trong Vịnh Bắc Bộ, theo nguyên tắc công bằng, qua thương lượng hữu nghị đã phân định lãnh hài, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong Vịnh Bắc Bộ.

2. Trong Hiệp định này, Vịnh Bắc Bộ là vịnh nửa kín được bao bọc ở phía Bắc bởi bờ biển lãnh thố đất liền của hai nước Việt Nam và Trung Quốc, phía Đông bởi bờ biển bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam của Trung Quốc, phía Tây bởi bờ biển đất liền Việt Nam và giới hạn phía Nam bởi đoạn thẳng nối liền từ điểm nhô ra nhất của mép ngoài cùng của mũi Oanh Ca – đảo Hải Nam của Trung Quốc có tọa độ địa lý là vĩ tuyến 18 o 30 19″ Bắc, kinh tuyến 1080 41 17″ Đông, qua đảo Cồn Cỏ của Việt Nam đến một điểm trên bờ biển của Việt Nam có tọa độ địa lý là vĩ tuyến 160 57 40″ Bắc và kinh tuyến 107o 08 42″ Đông.

Hai Bên ký kết xác định khu vực nói trên là phạm vi phân định của Hiệp định này.

Điều II

Hai Bên ký kết đồng ý đường phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước trong Vịnh Bắc Bộ được xác định bằng 21 điểm nối tuần tự với nhau bằng các đoạn thẳng, toạ độ địa lý của 21 điểm này như sau:

Điểm số 1:

Vĩ độ 210 28’12”.5 Bắc

Kinh độ 1080 06’04”.3 Đông

Điểm số 2:

Vĩ độ 210 28’0”.7 Bắc

Kinh độ 1080 06’01”.6 Đông

Điểm số 3:

Vĩ độ 210 27’50”.1 Bắc

Kinh độ 1080 05’57”.7 Đông

Điểm số 4:

Vĩ độ 210 27’39”.5 Bắc

Kinh độ 1080 05’51”.5 Đông

Điểm số 5:

Vĩ độ 210 27’28”.2 Bắc

Kinh độ 1080 05’39”.9 Đông

Điểm số 6:

Vĩ độ 210 27’23”.1 Bắc

Kinh độ 1080 05’38”.8 Đông

Điểm số 7:

Vĩ độ 210 27’8”.2 Bắc

Kinh độ 1080 05’43”.7 Đông

Điểm số 8:

Vĩ độ 210 16’32” Bắc

Kinh độ 1080 08’05” Đông

Điểm số 9:

Vĩ độ 210 12’35” Bắc

Kinh độ 1080 12’31” Đông

Điểm số 10:

Vĩ độ 200 24’5” Bắc

Kinh độ 1080 22’45” Đông

Điểm số 11:

Vĩ độ 190 57’33” Bắc

Kinh độ 1070 55’47” Đông

Điểm số 12:

Vĩ độ 190 39’33” Bắc

Kinh độ 1070 31’40” Đông

Điểm số 13:

Vĩ độ 190 25’26” Bắc

Kinh độ 1070 21’00” Đông

Điểm số 14:

Vĩ độ 190 25’26” Bắc

Kinh độ 1070 12’43” Đông

Điểm số 15:

Vĩ độ 190 16’4” Bắc

Kinh độ 1070 11’23” Đông

Điểm số 16:

Vĩ độ 190 12’55” Bắc

Kinh độ 1070 09’34” Đông

Điểm số 17:

Vĩ độ 180 42’52” Bắc

Kinh độ 1070 09’34”Đông

Điểm số 18:

Vĩ độ 180 13’49” Bắc

Kinh độ 1070 34’00” Đông

Điểm số 19:

Vĩ độ 180 07’08” Bắc

Kinh độ 1070 37’34” Đông

Điểm số 20:

Vĩ độ 180 04’13” Bắc

Kinh độ 1070 39’09”. Đông

Điểm số 21:

Vĩ độ 170 47’00” Bắc

Kinh độ 1070 58’00” Đông

Điều III

1 . Đường phân định từ điểm số 1 đến điểm số 9 quy định tại Điều II của Hiệp định này là biên giới lãnh hải của hai nước trong Vịnh Bắc Bộ.

2. Mặt thẳng đứng đi theo đường biên giới lãnh hải của hai nước quy định tại khoản 1 Điều này phân định vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải hai nước.

3. Mọi sự thay đổi địa hình đều không làm thay đổi đường biên giới lãnh hải hai nước từ điểm số 1 đến điểm số 7 quy định tại khoản 1. Điều này, trừ khi Hai Bên ký kết có thoả thuận khác.

Điều IV

Đường phân định từ điểm số 9 đến điểm số 21 quy định tại Điều II của Hiệp định này là ranh giới giữa vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong Vịnh Bắc Bộ.

Điều V

Đường phân định lãnh hải của hai nước quy định tại Điều II từ điểm số 1 đến điểm số 7 được thể hiện bằng đường mầu đen trên bản đồ chuyên đề cửa sông Bắc Luân tỷ lệ 1:10.000 do hai Bên ký kết cùng nhau thành lập năm 2000. Đường phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục điạ của hai nước từ điểm số 7 đến điểm số 21 được thể hiện bằng đường mầu đen trên Tổng đồ toàn diện Vịnh Bắc Bộ tỷ lệ 1:500.000 do hai Bên ký kết cùng nhau thành lập năm 2000. Các đường phân định này đều là đường trắc địa.

Bản đồ chuyên đề cửa sông Bắc Luân và Tổng đồ toàn diện Vịnh Bắc Bộ nói trên là bản đồ đính kèm Hiệp định. Các bản đồ trên sử dụng hệ tọa độ LTRF-96. Các tọa độ địa lý của các điểm quy định tại Điều II Hiệp định này đều được xác định trên các bản đồ nói trên. Đường phân định quy định trong Hiệp định này được thể hiện trên các bản đồ kèm theo Hiệp định chỉ nhằm mục đích minh hoạ.

Điều VI

Hai bên ký kết phải tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mỗi Bên đối với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ được xác tính theo Hiệp định này.

Điều VII

Trong trường hợp có các cấu tạo mỏ dầu, khí tự nhiên đơn nhất hoặc mỏ khoáng sản khác nằm vắt ngang đường phân định quy định tại Điều II của Hiệp định này, hai Bên ký kết phải thông qua hiệp thương hữu nghị để đạt được thoả thuận về việc khai thác hữu hiệu nhất các cấu tạo hoặc mỏ khoáng sản nói trên cũng như việc phân chia công bằng lợi ích thu được từ việc khai thác.

Điều VIII

Hai Bên ký kết đồng ý tiến hành hiệp thương về việc sử dụng hợp lý và phát triển bền vững tài nguyên sinh vật ở Vịnh Bắc Bộ cũng như các công việc hợp tác có liên quan đến bảo tồn, quản lý và sử dụng tài nguyên sinh vật ở vùng đặc quyền kinh tế hai nước trong Vịnh Bắc Bộ.

Điều IX

Việc phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa hai nước trong Vịnh Bắc Bộ theo Hiệp định này không gây bất kỳ ảnh hưởng hoặc phương hại nào đến lập trường của mỗi Bên ký kết đối với các quy phạm luật pháp quốc tế về luật Biển.

Điều X

Mọi tranh chấp giữa hai Bên ký kết liên quan đến việc giải thích hoặc thực hiện Hiệp định này phải được giải quyết thông qua hiệp thương và đàm phán hữu nghị.

Điều XI

Hiệp định này phải được hai Bên ký kết phê chuẩn và có hiệu lực kể từ ngày trao đổi các văn luận phê chuẩn. Các văn kiện phê chuẩn được trao đổi tại Hà Nội.

Hiệp định này được ký tại Bắc Kinh, ngày 25 tháng 12 năm 2000 thành hai bản, mỗi bản bằng tiếng Việt và tiếng Trung, cả hai văn bản đều có giá trị như nhau.

Theo BÁO ĐIỆN TỬ ĐẢNG CỘNG SẢN

– Việc Việt Nam thông qua Luật Biển là việc làm bình thường và cần thiết của một quốc gia ven biển có chủ quyền, thành viên của Công ước Liên hợp quốc về luật biển (UNCLOS) 1982.

Tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao chiều nay, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước tin Đài Loan tuyên bố tiến hành thăm dò dầu khí tại vùng biển xung quanh đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lương Thanh Nghị khẳng định đây là hành động “vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa”.

 

Chiến sĩ hải quân Việt Nam trên quần đảo Trường Sa. Ảnh: Minh Thăng

“Việt Nam có đầy đủ chứng cứ pháp lý và lịch sử khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc phía Đài Loan có kế hoạch tiến hành thăm dò dầu khí tại vùng biển xung quanh đảo Ba Bình là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa, gây căng thẳng và làm phức tạp tình hình ở Biển Đông. Việt Nam kiên quyết phản đối và yêu cầu phía Đài Loan hủy bỏ ngay kế hoạch phi pháp nêu trên” – ông tuyên bố.

Tại cuộc họp báo, phóng viên nước ngoài cũng đặt câu hỏi đề nghị cho biết bình luận của Việt Nam về việc phía Trung Quốc và Đài Loan gần đây lên tiếng bày tỏ quan ngại cho rằng luật Biển Việt Nam có hiệu lực sẽ ảnh hưởng đến quan hệ với các nước trong khu vực.

Ông Lương Thanh Nghị nói rằng việc Việt Nam thông qua luật Biển là việc làm bình thường và cần thiết của một quốc gia ven biển có chủ quyền, thành viên của Công ước Liên hợp quốc về luật biển (UNCLOS) 1982.

“Luật Biển Việt Nam khẳng định rõ chủ trương của Việt Nam giải quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về luật biển 1982 và các thỏa thuận, cơ chế liên quan, góp phần duy trì hòa bình, ổn định, an ninh và hợp tác ở khu vực Biển Đông” – người phát ngôn nêu rõ.

Linh Thư[http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/104733/-viet-nam-thong-qua-luat-bien-la-viec-binh-thuong-.html]

Trung Quốc tiếp tục trò gây hấn

* Học giả Trung Quốc nói về “đường chín đoạn”

TT – Bất chấp phản ứng mạnh mẽ của cộng đồng quốc tế, Trung Quốc tiếp tục có những hành vi khiêu khích và gây hấn trên biển Đông.

>> Không thể có cái gọi là “thành phố Tam Sa”

Các tàu tuần tra Trung Quốc dàn hàng ngang trong buổi diễn tập hôm 2-7 – Ảnh: THX

Theo Tân Hoa xã, từ ngày 2-7 đội tàu tuần tra Trung Quốc gồm bốn tàu hải giám 83, 84, 66, 71 đã rời đảo Đá Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam và bắt đầu các cuộc diễn tập tuần tra phi pháp trên biển Đông. Trước đó, đội tàu hải giám Trung Quốc đã đi qua đảo Châu Viên thuộc quần đảo Trường Sa và thả neo nghỉ ngơi tại khu vực phía đông bắc đảo Đá Chữ Thập.

Theo kế hoạch, biên đội hải giám của Trung Quốc khởi hành ngày 28-6 tại cảng Tam Á, tỉnh Hải Nam sẽ tuần tra trên hải trình dài 2.400 hải lý (khoảng 4.500km) và diễn tập trên các khu vực biển họ đi qua. Cuộc diễn tập có sự tham gia của nhiều trực thăng hải giám Trung Quốc.

Âm mưu gây sốc và gây sợ

Chủ động gây căng thẳng, nhưng Nhân Dân Nhật Báo ngày 3-7 lại tố cáo Philippines “âm mưu thổi bùng căng thẳng biển Đông” trước thềm Hội nghị ngoại trưởng ASEAN ở Campuchia trong tuần này. Báo này còn đe dọa “sự kiên nhẫn của Bắc Kinh không có nghĩa là Trung Quốc yếu ớt” và cảnh báo “ASEAN không phải là diễn đàn đúng để thảo luận về biển Đông”, thậm chí còn kênh kiệu cho rằng “các nước, trong đó có Philippines, đều phải nhớ có được lợi ích kinh tế là từ Trung Quốc”.

Theo trang web Focus Taiwan, Trung Quốc đã thành lập lữ đoàn tên lửa mới ở tỉnh miền nam Quảng Đông như một phần của chiến dịch “gây sốc và sợ hãi”. Các chuyên gia Đài Loan nhận định Bắc Kinh muốn đe dọa để các nước khác không dám thách thức vị thế thống trị của Trung Quốc ở khu vực.

Tờ United Daily News dẫn một nguồn tin cho biết lữ đoàn tên lửa 827 đặt ở thành phố Thiều Quan của Quảng Đông. Các bệ phóng đã được lắp đặt từ tháng 3-2012 trong khi trụ sở điều hành vẫn đang được xây dựng. Trong số các vũ khí ở đây có tên lửa đầu đạn chống tàu Đông Phong 21D và Đông Phong 16. Đông Phong 21D có tầm bắn 2.000-3.000km. Xét về địa lý, lữ đoàn 827 rõ ràng có mục tiêu đe dọa Đài Loan và các nước có đường biên với biển Đông.

Báo Business World Online (Philippines) bình luận Trung Quốc đang thực hiện chiến dịch “trống dong cờ mở” để chuẩn bị phát động chiến tranh chống Philippines. “Trung Quốc bực bội khi Philippines đứng lên bảo vệ lãnh thổ trên biển Đông của mình. Căng thẳng xuất phát từ bản đồ chín đoạn (mà Trung Quốc tự vẽ) vi phạm đặc quyền kinh tế 200 hải lý của các quốc gia”.

Báo này nhận định Bắc Kinh đang chơi lá bài chiến tranh để thống nhất xã hội đang bị chia rẽ bởi các vấn đề chính trị, xã hội, kinh tế và văn hóa hiện nay.

Trên báo mạng Asia Times, chuyên gia Roberto Tofani nhận định chính sách ngoại giao Trung Quốc đang “trở thành con tin” của những quan chức “diều hâu” trong quân đội.

Đề nghị Mỹ giám sát biển Đông

Theo báo Daily Inquirer, Tổng thống Benigno Aquino mới đây cho biết Philippines có thể sẽ đề nghị Mỹ triển khai máy bay do thám tại biển Đông để giúp giám sát các vùng biển tranh chấp trước nguy cơ xung đột.

Ông Aquino cho biết Philippines sẽ đề nghị Mỹ triển khai máy bay do thám P3C Orion do Philippines không có loại máy bay có các khả năng như vậy. Manila cáo buộc Trung Quốc đang tìm cách biến một vùng không tranh chấp thành vùng tranh chấp.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Mỹ Victoria Nuland từ chối bình luận về thông tin Philippines đề nghị Mỹ triển khai máy bay do thám trên biển Đông. Tuy nhiên, như Reuters cho biết, ông Nuland khẳng định Mỹ ủng hộ Philippines tăng cường sức mạnh hải quân.

Học giả Trung Quốc nói về “đường chín đoạn”Tại hội thảo “Tranh chấp biển Đông: chủ quyền quốc gia và quy tắc quốc tế” ngày 14-6 do Viện nghiên cứu kinh tế Thiên Tắc và báo điện tử Sina.com tổ chức, nhiều học giả Trung Quốc đã đặt lại vấn đề về cái gọi là “đường chín đoạn“ và cách hành xử của Trung Quốc.

* “Chúng ta vẽ đường chín đoạn mà không có một kinh độ hoặc vĩ độ cụ thể, và cũng không có căn cứ pháp luật… Đường chín đoạn (chiếm gần 80% biển Đông) là do Trung Quốc tự vẽ ra năm 1974”

LÝ LỆNH HOA
(nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm Tin tức hải dương Trung Quốc)

* “Là con người phải biết giữ nhân tình. Chúng ta đều là người, không phải là dã thú sống trong rừng rậm. Trong quan hệ giữa người với người, không chỉ biết yêu bản thân mà nhất định phải tính cả đến lợi ích của người khác… Nếu ý nghĩa của cái gọi là đường chín đoạn là đường biên giới quốc gia được vẽ sát vào bờ biển Việt Nam, Philippines, Malaysia, Brunei như thế, tôi không tin những quốc gia đó có thể chấp nhận. Nếu Nam Hải được vẽ thành “biển nhà” (của Trung Quốc) như vậy, các nước khác có nhu cầu vận tải trên biển cũng không thể chấp nhận, và như thế sẽ trở thành tranh chấp mãi mãi. Chúng ta đang sống trong một thế giới mà mọi người dựa vào nhau để tồn tại. Chúng ta muốn sống thì cũng phải để người khác sống chứ”

Giáo sư HÀ QUANG HỘ
(Học viện triết học thuộc Đại học Nhân dân Trung Quốc)

* “Quyền lợi của anh (Trung Quốc) cần được người khác thừa nhận, người khác không thừa nhận thì anh không có quyền”

Giáo sư TRƯƠNG THỰ QUANG (Đại học Tứ Xuyên)
nhấn mạnh không thể tự vẽ ra đường chín đoạn

* “Tôi rất không đồng tình với kiểu hành xử chính trị quốc tế theo luật rừng. Cần giải quyết theo Luật quốc tế và theo Luật biển”

Giáo sư TRƯƠNG KỲ PHẠM
(Học viện Pháp luật, Đại học Bắc Kinh)

HẠNH NGUYÊN – ĐÔNG PHƯƠNG [Thanh niên]

Chuyển ảnh chụp thành tranh vẽ màu nước trong Photoshop

Chuyển ảnh chụp thành tranh vẽ màu nước trong Photoshop

Mình xin giới thiệu với các bạn một cách khá đơn giản, có lẽ ai cũng làm được để biến bức ảnh của mình giống như tranh vẽ. Cách này khá có ích cho những bạn thích vẽ vời nhưng ngại vẽ background (như mình).

Đây là bức hình mình chọn để thực hành:

Chuyển ảnh chụp thành tranh vẽ màu nước trong Photoshop

Và đây là kết quả :

Chuyển ảnh chụp thành tranh vẽ màu nước trong Photoshop

Bước 1: Mở bức ảnh bạn chọn. Cách làm này có hiệu quả tốt nhất đối với những bức ảnh màu sắc, độ tương phản cao. Tuy vậy đối với những bức ảnh có nhiều chi tiết thì bạn sẽ bị mất khá nhiều đường nét và chi tiết nhỏ .

Chuyển ảnh chụp thành tranh vẽ màu nước trong Photoshop

Bước 2: Nhân đôi layer chính 3 lần (Ctrl+J)

Chuyển ảnh chụp thành tranh vẽ màu nước trong Photoshop

Bước 3: Bỏ chọn 2 layer trên cùng. Chúng ta sẽ bắt đầu làm việc với layer 1

Chuyển ảnh chụp thành tranh vẽ màu nước trong Photoshop

Bước 4: Vào Filter -> Artistic -> Cutout và chọn với thông số như sau:

Number of Levels : 4
Edge Simplicity : 4
Edge Fidelity : 2

Chuyển ảnh chụp thành tranh vẽ màu nước trong Photoshop

 

Bước 5: Chọn chế độ Luminosity cho Layer 1 

Chuyển ảnh chụp thành tranh vẽ màu nước trong Photoshop

Bước 6: Chọn layer copy 1

Vào Filter -> Artistic -> Dry Brush và chọn thông số:

Brush Size 10
Brush Detail 10
Texture option 3

Chuyển chế độ hòa trộn của layer này sang Screen 

Chuyển ảnh chụp thành tranh vẽ màu nước trong Photoshop

Chuyển ảnh chụp thành tranh vẽ màu nước trong Photoshop

Bước 7: Chọn layer 1 copy 2

Vào Filter ->Noise -> Median với thông số khoảng tầm 12 – 15px tùy theo bức ảnh của bạn.

Chuyển ảnh chụp thành tranh vẽ màu nước trong Photoshop

Chuyển ảnh chụp thành tranh vẽ màu nước trong Photoshop

Chuyển sang chế độ Soft Light 

Chuyển ảnh chụp thành tranh vẽ màu nước trong Photoshop

Tadaaaaaaaaaaaa đây là kết quả ♥

Chuyển ảnh chụp thành tranh vẽ màu nước trong Photoshop

Thêm một vài ví dụ nữa:

Chuyển ảnh chụp thành tranh vẽ màu nước trong Photoshop

Chuyển ảnh chụp thành tranh vẽ màu nước trong Photoshop

Chúc các bạn thành công !
[Vietdesigner.net] 

Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa – Kỳ 16: “Đường lưỡi bò” phi lý

18/08/2011 0:46

Ngày 15.6.1996, Trung Quốc (TQ) phê chuẩn Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982 và ban hành Quy định về hệ thống đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải, bao gồm quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa).

>> Kỳ 15: Quyền kế thừa bất khả xâm phạm

Theo tuyên bố, đường cơ sở tiếp giáp với quần đảo Hoàng Sa gồm 28 điểm nối liền các điểm nhô ra nhất của các đảo, đá, bãi nửa nổi nửa chìm thuộc quần đảo.

Với tuyên bố đường cơ sở này, Bắc Kinh đã đơn phương mở rộng lãnh hải TQ gấp 7 lần từ 370.000 km2 lên 3 triệu km2, bao gồm cả các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, gây lo ngại sâu sắc cho các nước trong khu vực.

Quy định đường cơ sở của TQ ở quần đảo Hoàng Sa đã vi phạm hai nguyên tắc cơ bản: đó là sự vi phạm chủ quyền lãnh thổ của VN và cũng là sự vi phạm các quy định của luật biển quốc tế về vạch đường cơ sở. Nếu đặt vấn đề chủ quyền lãnh thổ sang một bên để chỉ xét về mặt kỹ thuật, thì việc vạch đường cơ sở của TQ tại Hoàng Sa không tôn trọng tinh thần và nội dung của Công ước của LHQ năm 1982 về Luật Biển.

Hệ thống đường cơ sở thẳng ở đây nối liền các điểm nhô ra nhất của các đảo, các bãi nửa nổi nửa chìm ngoài cùng của quần đảo. Ở đây rõ ràng TQ đã áp dụng phương pháp vạch đường cơ sở quần đảo chỉ quy định cho các quốc gia quần đảo (Điều 47 của Công ước) để vạch đường cơ sở cho các quần đảo xa bờ.

Điều 47 quy định: quốc gia quần đảo có thể vạch các đường cơ sở thẳng của quần đảo nối các điểm ngoài cùng của các đảo xa nhất và các bãi đá nửa nổi nửa chìm của quần đảo, với điều kiện là tuyến các đường cơ sở này bao lấy các đảo chủ yếu và xác lập một khu vực mà tỷ lệ diện tích nước so với đất, kể cả vành đai san hô, phải ở giữa tỷ số 1/1 và 9/1. Diện tích mà hệ đường cơ sở này của TQ bao lấy là một khu vực rộng 17.000 km2, trong khi tổng diện tích các đảo nổi của quần đảo Hoàng Sa là 10 km2.


Bản đồ đường đứt khúc 9 đoạn của TQ hoàn toàn không có căn cứ pháp lý quốc tế và đi ngược lại với các quy định của Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982 – Ảnh tư liệu

Ngoài ra, hầu hết các đá, bãi san hô mà TQ sử dụng ở đây đều không thích hợp cho con người đến ở hoặc không có một đời sống kinh tế riêng. Các đảo này lại cách xa nhau quá 24 hải lý, không có lý do gì có thể nối các đoạn đường cơ sở như vậy. Do vậy bất kỳ một vùng biển nào mà TQ tuyên bố bao quanh vùng biển của các mỏm đá, bãi san hô này về mặt kỹ thuật đều trái với các quy định của Công ước 1982.

Việc TQ phê chuẩn Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982, đồng thời ra tuyên bố về đường cơ sở lãnh hải cho thấy mâu thuẫn ngay trong bản thân lập trường và hành động của nước này. Việc gia nhập Công ước và quy định đường cơ sở một mặt gián tiếp tự bác bỏ yêu sách vô lý của TQ đối với cái gọi là “vùng nước tiếp giáp với Tây Sa, Nam Sa lãnh thổ TQ”, hoặc đối với “vùng nước lịch sử TQ” trong biển Đông, như một vài học giả TQ đề xướng, được coi như hàm ý chỉ vùng biển nằm trong phạm vi đường “lưỡi bò” (đứt khúc) 9 đoạn thường được thể hiện trên bản đồ TQ từ cuối những năm 1940 trở lại đây, mặt khác lại là một cố gắng tìm ra một cơ sở pháp lý quốc tế mới, hết sức phi lý, để hòng tìm cách duy trì một yêu sách biển trên thực tế là như cũ trong biển Đông.

Ngày 8.7.2010, Phái đoàn thường trực của Indonesia tại LHQ đã có công hàm phản đối công hàm ngày 7.5.2009 của Phái đoàn thường trực của TQ tại LHQ về cái gọi là bản đồ yêu sách hình chữ U (hay đường đứt khúc 9 đoạn) trong biển Đông.

Công hàm phản đối của Indonesia có một ý nghĩa lớn vì Indonesia không phải là một nước tranh chấp chủ quyền trên biển Đông. Indonesia đã theo dõi tranh luận của các bên về đường chữ U và thể hiện quan điểm của mình là TQ đã “không có sự giải thích rõ ràng về cơ sở pháp lý, phương pháp vẽ cũng như quy chế của con đường đứt khúc đó”.

Việc cho phép sử dụng các đảo đá không người ở, ở xa lục địa và nằm giữa biển như điểm cơ sở để đòi hỏi các vùng biển là tổn hại các nguyên tắc cơ bản của Công ước 1982 cũng như xâm phạm đến các quyền lợi chính đáng của cộng đồng quốc tế. Phái đoàn thường trực của Indonesia tại LHQ kết luận bản đồ đường đứt khúc 9 đoạn trong Công hàm ngày 7.5.2009 của Phái đoàn thường trực của TQ tại LHQ hoàn toàn không có căn cứ pháp lý quốc tế và đi ngược lại với các quy định của Công ước của LHQ về Luật Biển năm 1982.

TS Nguyễn Hồng Thao

Quay về Phần 1

Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa (Kỳ 1)