Tag Archive: phía


Phía sau các ‘giải thưởng nhân quyền’

Ngày nay, nhân quyền đang trở thành một vấn đề tranh luận “nóng bỏng” giữa một số nước muốn áp đặt những quan niệm và sử dụng như một cái cớ để gây sức ép với những nước không chấp nhận sự chi phối và sự can thiệp từ bên ngoài.

Sự khác biệt trong quan niệm về nhân quyền là do nhiều nguyên nhân khác nhau về văn hóa, xã hội, nhân sinh, đặc biệt là từ sự lựa chọn các giá trị riêng có vai trò định hướng cho quá trình phát triển của mỗi quốc gia. Ðây cũng là một số trong nhiều lý do làm cho sách lược “lưỡng chuẩn về nhân quyền” của Mỹ và phương Tây bị nhiều nước lên án như là sự áp đặt để đạt tới những mục đích kinh tế, chính trị, tôn giáo…

Khi đánh giá nhân quyền, phải xem xét từ những thành tựu mà mỗi Nhà nước đã đem lại cho nhân dân của mình. Không thể nấp dưới chiêu bài nhân quyền để ngạo mạn đánh giá thành tích nhân quyền, từ đó tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác. Áp đặt về nhân quyền để đạt những mục đích kinh tế, chính trị, tôn giáo, đó là điều mà giới tri thức phương Tây từng thừa nhận. Noam Chomsky – một học giả của Mỹ viết: “Thật ra chính sách ngoại giao của Mỹ là đặt căn bản trên nguyên tắc không liên quan gì đến nhân quyền, mà là liên quan nhiều đến sự tạo ra một bầu không khí thuận lợi cho ngoại thương”. Lịch sử cũng đã và đang minh chứng, chưa bao giờ các quốc gia phương Tây đứng đầu là Mỹ, lại tỏ ra tôn trọng nhân quyền ở các nơi khác trên thế giới. Bởi thế, bất chấp việc chưa có một khái niệm thống nhất về nhân quyền trên thế giới, thì tiêu chí về nhân quyền đã và đang được Mỹ cùng các quốc gia phương Tây khai thác từ bản Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền được Liên hợp quốc thông qua ngày 10-12-1948. Nhưng kể cả khi vận dụng Tuyên ngôn này, họ vẫn cố tình lờ đi Ðiều 29 của Tuyên ngôn và một số điều khoản trong hai bản Giao ước quốc tế về quyền dân sự và quyền chính trị; Giao ước quốc tế về những quyền kinh tế – xã hội và văn hóa đã được Ðại hội đồng Liên hợp quốc chấp thuận ngày 6-12-1966, trong đó có một số quy định chỉ rõ các quyền cơ bản của con người đều chịu “sự hạn chế do luật pháp đặt ra”.

Hằng năm, tự đặt mình ở cương vị phán xét người khác, Mỹ lại đưa ra những bản phúc trình về tình trạng nhân quyền, tự do tôn giáo của các quốc gia khác, trừ Mỹ, và đều bị các nước liên quan phản đối kịch liệt.

Những cuộc xung đột đó sẽ còn dài và một trong những phương tiện đang được sử dụng trong cuộc chiến nhân quyền ấy là: trao giải thưởng nhân quyền. Ðến ngay cả giải thưởng Nobel hòa bình – một giải thưởng mà người sáng lập ra nó đặt tiêu chí là trao giải cho “người có cống hiến to lớn cho tình hữu nghị giữa các quốc gia, cho việc giải trừ hoặc hạn chế các lực lượng vũ trang và việc tổ chức hay xúc tiến các hội nghị hòa bình”, tưởng như chẳng dính dáng gì mấy tới cuộc xung đột nhân quyền, cũng đang bị biến dạng. Không ít học giả quốc tế nhận xét, Nobel hòa bình “đã chệch xa khỏi sứ mệnh ban đầu của mình”. Tác giả Ronald R.Krebs – Phó Giáo sư Khoa học Chính trị tại Ðại học Minnesota, Hoa Kỳ trên Tạp chí Foreign Policy đánh giá: “Từ 1971 đến 2008, các nhà bất đồng chính kiến được nhận giải tới 10 lần… giải thưởng của họ không đồng nghĩa với những đóng góp đáng kể vào hòa bình trong nước và quốc tế”.

Việt Nam không phải là ngoại lệ. Chưa bao giờ, việc trao các loại giải thưởng nhân quyền cho những người được gọi là “nhà bất đồng chính kiến bị chính quyền đàn áp” trong nước lại “nhộn nhịp” như mấy năm gần đây. Tính sơ sơ đã có gần chục loại giải thưởng nhân quyền được trao cho các đối tượng chống Nhà nước Việt Nam, như “giải thưởng Hellman/Hammet” của tổ chức Quan sát nhân quyền quốc tế (HRW); “giải thưởng Stephanus” của Hiệp hội quốc tế nhân quyền tại Ðức; “giải thưởng quốc tế Gruber” của Nghiệp đoàn luật sư quốc tế; “giải nhân quyền Gwangju”; giải thưởng nhân quyền của “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam”,… Với một số giải thưởng khác, như “giải thưởng nhân quyền Sakharov” của Quốc hội châu Âu; giải thưởng Nobel hòa bình, Nobel văn chương… tuy chưa có cá nhân nào là người Việt Nam được nhận, nhưng một số “nhân vật” đã được đưa vào danh sách đề cử như: Thích Quảng Ðộ, Nguyễn Văn Lý, Dương Thu Hương…

Vậy những “giải thưởng nhân quyền” ấy có biểu lộ chút giá trị nào như tên gọi không? Ðiểm mặt một số cá nhân được các tổ chức nọ “vinh danh”, sẽ thấy ngay bản chất của các loại giải thưởng này. Lê Thị Công Nhân, người được nhiều “giải thưởng nhân quyền” nhất, chỉ được biết đến sau khi Tòa án kết tội “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Trong vài năm liền, hầu như năm nào, nhân vật này cũng được các tổ chức chống phá chính quyền Việt Nam trao giải thưởng: năm 2007 là giải thưởng của “mạng lưới nhân quyền Việt Nam”; năm 2008 là “giải nhân quyền Gwangju”. Năm 2009 là “giải thưởng quốc tế Gruber” và năm 2010 là “giải thưởng Stephanus”. Lý do trao giải không có gì khác, ngoài việc kích động Lê Thị Công Nhân ngày càng liều lĩnh chống chính quyền như con thiêu thân. Ðáp lại sự “lăng-xê” của các tổ chức này, Lê Thị Công Nhân không ngại nói năng xằng bậy, cho rằng cả dân tộc Việt Nam “mê muội” và “cuồng tín”, kích động quần chúng phải đứng lên lật đổ chính thể hiện hành, ca tụng các hành động khủng bố điên cuồng của Lý Tống, kể cả hành động cướp máy bay xâm nhập lãnh thổ Việt Nam để rải truyền đơn…

Kế đến là Nguyễn Văn Lý, người có “thâm niên” đi tù nhiều lần vì các tội danh chống chính quyền nhân dân từ những năm 1977. Ðó là người hễ mở miệng ra là kêu gọi lật đổ chế độ, kích động chống Nhà nước, kêu gọi nước ngoài cấm vận, đề nghị đưa Việt Nam vào danh sách CPC (các nước cần quan tâm đặc biệt về vấn đề Tôn giáo), không cho Việt Nam vào WTO, tẩy chay bầu cử Quốc hội và Ðại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội…, toàn những việc làm phi pháp; phản dân, hại nước.

Thứ nữa là những kẻ như Trần Khải Thanh Thủy, kẻ “nổi tiếng” với thành tích lừa phỉnh dân khiếu kiện và lập ra “hội dân oan” để “kinh doanh” kiếm lời, rồi có hành vi côn đồ hung hãn, đánh người gây thương tích… Không phải ngẫu nhiên mà người ta lại dùng cái hỗn danh “Trần Khải Ma Quỷ” để đặt cho Trần Khải Thanh Thủy. Hay Nguyễn Khắc Toàn, trình độ tư duy quá thấp kém nhưng bằng cái tài lưu manh làm cho đồng bọn phải kinh hãi, như thủ đoạn “triệt hạ” Trần Khải Thanh Thủy để chiếm lấy món lợi “dân oan”, khiến kẻ thân tín là Hồ Thị Bích Khương bỏ chạy “tháo thân” bằng những bài viết tố Nguyễn Khắc Toàn trên Internet v.v. Ðiểm qua vài gương mặt được nhận các “giải thưởng nhân quyền” đã đủ thấy tiêu chí của các giải thưởng này rất cụ thể là: càng chống chính quyền cực đoan thì càng nhận được nhiều giải thưởng! Hoàn toàn trái ngược với những căn cứ được nêu trong các văn bản quốc tế về nhân quyền.

Xét đến công cụ trao giải, trước tiên phải kể đến “mạng lưới nhân quyền Việt Nam” gồm những kẻ chống phá Nhà nước Việt Nam đã có thâm niên, như Nguyễn Thanh Trang, Võ Văn Ái, Nguyễn Tường Bách, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Minh Cần, Ðoàn Viết Hoạt, Nguyễn Hữu Lễ, Phạm Ngọc Lũy, Nguyễn Quốc Quân, Nguyễn Chí Thiện… Mạng lưới này được lập ra từ năm 2002, với hàng loạt các hoạt động “chống cộng”, và “giải thưởng nhân quyền” được trao theo kiểu xếp hàng, lần lượt được trao cho các đối tượng có hoạt động tuyên truyền hoặc mưu đồ lật đổ Nhà nước Việt Nam như: Trần Anh Kim, Ðỗ Nam Hải, Nguyễn Chính Kết, Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Khắc Toàn…

Còn các tổ chức trao giải nhân quyền quốc tế khác, thì từ khâu xét chọn đến trao giải, đều có vai trò tích cực của các cá nhân, tổ chức thù địch với Nhà nước và nhân dân Việt Nam, như: “Việt Tân”, “tập hợp dân chủ đa nguyên”, “cao trào nhân bản”… Nổi bật là tổ chức Quan sát nhân quyền quốc tế (HRW) với “giải thưởng Hellman/Hammet” mà tiền thân là tổ chức Helsinki để “giám sát” dân chủ, nhân quyền của Liên Xô (cũ), sau này được bành trướng, mở rộng thành một tổ chức tự phong cho mình quyền giám sát nhân quyền thế giới! Sự thật là những đối tượng được HRW trao “giải thưởng Hellman/Hammet” đều là các công dân Việt Nam vi phạm pháp luật. Nhìn khung cảnh những buổi lễ trao giải của HRW, không ai có thể nhận xét khác được về vai trò tích cực của các cá nhân, tổ chức mà ta gọi là bọn phản động lưu vong người Việt. “Giải thưởng Hellman/Hammet 2010” được trao cho sáu đối tượng người Việt thì trong đó có bốn đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật, hiện đang là phạm nhân trong các trại cải tạo.

Không có gì ngạc nhiên khi đứng sau mỗi giải thưởng nhân quyền ấy đều có hình bóng trực tiếp hoặc gián tiếp điều hành của một số nước phương Tây và đồng minh. Việc khai thác chiêu bài bảo vệ nhân quyền để ép buộc những quốc gia có chủ quyền khác vẫn không ngoài tham vọng điều hành thế giới. Trước xu thế phản đối quan điểm nhân quyền cưỡng chế của Mỹ và phương Tây (thể hiện trong Hội nghị Quốc tế Nhân quyền ở Vienna năm 1993 và nhiều diễn đàn, hội nghị khu vực, quốc tế khác), việc đẩy mạnh hình thức trao “giải thưởng nhân quyền” chỉ là màn kịch vụng về trên sân khấu chính trị hải ngoại, ngày càng phơi bày bộ mặt chống phá Nhà nước Việt Nam của các thế lực thù địch và những kẻ phản động lưu vong.

Theo NHÂN DÂN ONLINE

Advertisements

Các hành động tưởng như ngẫu nhiên nhưng lại theo đuổi một chiến lược cụ thể theo hai định hướng chính: thứ nhất là cố gắng xác lập chủ quyền trên thực địa, và thứ hai là khẳng định chủ quyền trên mặt pháp lý.

‘Ưu thế thực địa’

Từ năm 2009 đến nay, tình hình biển Đông đang ngày càng căng thẳng do các hành động của Trung Quốc để khẳng định chủ quyền như cấm tàu, cấm khai thác, tuyên bố thành lập Tam Sa, cho tàu đi quấy nhiễu ở các vùng biển của các nước. Các hành động tưởng như ngẫu nhiên nhưng lại theo đuổi một chiến lược cụ thể theo hai định hướng chính: thứ nhất là cố gắng xác lập chủ quyền trên thực địa, và thứ hai là khẳng định chủ quyền trên mặt pháp lý.

Phương pháp xác định chủ quyền thực địa của Trung Quốc mang đầy những toan tính chiến lược. Việc đưa các tàu đánh cá của mình đến các khu vực xung quanh Hoàng Sa hay Trường Sa cốt yếu nhằm từ từ xác lập một “ưu thế thực địa” có lợi trong tương lai, bên cạnh khai thác tài nguyên.

Trong bối cảnh các quốc gia tranh chấp chủ yếu khác như Việt Nam hay Philippines không có một đội tàu đánh bắt hiện đại, không được sự hỗ trợ mạnh mẽ của các lực lượng chấp pháp biển bán quân sự như các đội tàu Hải Giám và Ngư Chính, sẽ không thể duy trì sự hiện diện thường xuyên và liên tục, thì việc làm này của Trung Quốc sẽ từ từ biến các vùng biển đó thành “vùng biển lịch sử” sau này.

Bên cạnh sự hiện diện thường trực như vậy, sự kiện các tàu khảo sát Bình Minh hay Viking của Việt Nam bị phía Trung Quốc “cắt cáp” cũng cho thấy một bước thăm dò khác của họ, đó là biến những vùng không tranh chấp thành tranh chấp.

Ảnh: Diplomat

Rõ ràng các khu vực đó thuộc chủ quyền của Việt Nam, tuy nhiên Bắc Kinh lại tiến hành các hoạt động “ngăn chặn” trên thực địa cũng như phản đối trên các kênh ngoại giao một cách mạnh mẽ. Điều này vô hình chung khiến cho cả thế giới ngộ nhận rằng vùng biển đó đang có tranh chấp.

Các căng thẳng tại bãi cạn Scarborough gần đây hay vụ CNOOC tuyên bố mời thầu 9 lô dầu khí cũng nằm trong chiến lược tương tự.

Để đáp lại Luật biển của Việt Nam, Thành phố cấp địa khu Tam Sa được thành lập, các dự án du lịch ra Hoàng Sa hay phủ sóng phát thanh và phát hình toàn bộ khu Tam Sa cho thấy kế hoạch gia tăng căng thẳng đến mức độ gây chú ý cho thế giới.

Với sức mạnh “cơ bắp”, Trung Quốc dễ dàng chèn ép các nước khác và tiến hành những bước đi này một cách thuận lợi.

Giải thích luật quốc tế cho hợp tham vọng bành trướng

Về mặt pháp lý, quá trình khẳng định chủ quyền thông qua luật của Bắc Kinh bắt đầu được thể hiện rõ nét kể từ năm 2009. Lý lẽ “vùng nước lịch sử” là cơ sở pháp lý để Trung Quốc khẳng định vùng nước bên trong “đường lưỡi bò” bao trùm hơn 80% biển Đông là thuộc chủ quyền của mình.

Trung Quốc lập luận rằng các triều đại Trung Hoa cổ xưa đến tận nhà Hán đã có sự hiện diện tại khu vực thông qua các cuốn sách lịch sử cổ với những từ ngữ được viết mơ hồ, được thêm thắt. Điều này hiển nhiên gây nên tranh cãi rất lớn.

Tiếp đó, Trung Quốc xem tất cả các bãi đá ở cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều có quy chế như một “quốc gia quần đảo” để tiến hành mở rộng Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ).

Theo UNCLOS, chỉ những đảo phù hợp cho con người đến ở và có đời sống kinh tế riêng mới được hưởng chế độ pháp lý của đảo như lãnh thổ đất liền. Việc này khiến cho toàn bộ khu vực biển Đông xuất phát từ Hoàng Sa và Trường Sa đầu nằm trong khái niệm “vùng nước lịch sử” của Bắc Kinh, và vùng nước này chỉ cách một số bờ biển của các quốc gia khác vài chục cây số.

Không dừng lại ở đó, Trung Quốc tiếp tục định nghĩa lại EEZ sao cho phù hợp nhất với tham vọng bành trướng. Cụ thể là Bắc Kinh đã tuyên bố các quốc gia khác cần phải xin phép để được thực hiện “quyền đi lại” qua vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Trung Quốc.

Bằng phương pháp “tự diễn giải”, tất cả các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đều đã được “biến hóa”, tạo thành một hệ thống khá chặt chẽ dựa vào luật quốc tế mà điển hình ở đây là UNCLOS, khiến cho việc đôi co lý lẽ với nước này trở nên thực sự khó khăn.

Đụng chạm và mềm hóa

Tuy nhiên, các hành động thực thi chủ quyền đơn phương của Trung Quốc trên thực tế đang đụng chạm lợi ích của rất nhiều nước, trong đó có các cường quốc như Mỹ hay Ấn Độ. Vụ va chạm giữa tàu Impeccable của Mỹ và tàu Trung Quốc vào năm 2009 là lời cảnh báo cho sự vi phạm nghiêm trọng “quyền tự do hàng hải” ở EEZ của Trung Quốc.

Ngay cả Ấn Độ gần đây cũng lên tiếng quan ngại như lời Đại sứ Ấn Độ tại Việt Nam Ranjit Rae: “Toàn bộ khu vực Ấn Độ Dương trải dài từ bờ biển Đông Phi đến Biển Đông có ý nghĩa quyết định đối với ngành ngoại thương, năng lượng và an ninh quốc gia của Ấn Độ. Như mọi người thường nói, trọng lực kinh tế của thế giới đang dịch chuyển về đây và các khuôn khổ mới trên lĩnh vực kinh tế, chính trị và an ninh đang được xây dựng. Ấn Độ tự coi mình là một phần không thể tách rời của khu vực và sự phát triển đó”.

Còn với chiêu bài pháp lý, một hệ thống chuẩn tắc và thông lệ chỉ có thể được “mềm hóa” hay chỉnh sửa nếu trong quá trình phát triển có những va chạm ngược chiều với lợi ích thực tiễn từ cuộc sống.

Tự do hàng hải từ lâu vốn là cái gốc của các hoạt động trên đại dương. Cái gốc này được củng cố  từ thực tế hợp tác giao thương kinh tế giữa các châu lục ngày càng liên kết. Yếu tố “mở” của quy chế đại dương khiến cho các nỗ lực “tự tạo ranh giới” bằng lá bài pháp lý trở nên không phù hợp.

Với sự trỗi dậy về kinh tế, lẫn quân sự, thay vì đứng ra gánh vác thêm trách nhiệm cung cấp “hàng hóa công” tại biển Đông như đảm bảo hòa bình và ổn định, tự do hàng hải, chống cướp biển hay hợp tác khai thác-bảo vệ tài nguyên biển theo hướng bền vững, các hành động tự khẳng định chủ quyền đơn phương, không tuân thủ tinh thần UNCLOS không đưa ra một giải pháp nào cho biển Đông của Trung Quốc, mà chỉ làm tình hình tranh chấp phức tạp hơn.

Không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến mối quan hệ giữa Bắc Kinh và các quốc gia ASEAN, hơn thế nữa, điều này còn hủy hoại hình ảnh của Trung Quốc với lời hứa “trỗi dậy hay phát triển hoàn bình” trong con mắt của khu vực và cộng đồng quốc tế.

Còn đối với Việt Nam, đã đến lúc cần kiên quyết định hướng mối quan hệ với Trung Quốc theo phương châm “đối tượng-đối tác” theo Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa IX). Theo đó câu hỏi liệu nên xem một quốc gia nào đó là người bạn hợp tác (đối tác) hay mục tiêu đấu tranh (đối tượng) sẽ tùy vào thái độ của họ với các vấn đề thuộc về lợi ích của Việt Nam.

Trung Quốc là một đối tác quan trọng của Việt Nam xét trên tất cả các khía cạnh từ lịch sử, kinh tế đến góc nhìn địa chính trị, nhưng những hành động xác quyết chủ quyền trên thực tế và pháp lý có nhiều ý đồ chiếm trọn biển Đông gần đây đang dần chứng minh rằng họ cũng là đối tượng mà chúng ta cần suy nghĩ đối sách hiệu quả để đương đầu.

Nguyễn Chính Tâm – Vũ Thành Công

Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa – Kỳ 7: Tư liệu phía Việt Nam

Các tác phẩm và các văn kiện chứng minh quyền phát hiện và chủ quyền  của VN trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có niên đại chỉ từ thế kỷ XV, các văn kiện trước đó có  lẽ bị tiêu hủy và thất lạc dưới thời Bắc thuộc và các cuộc chiến tranh liên miên.

>> Kỳ 6: Những luận cứ chủ quyền không vững chắc

Tác phẩm cũ nhất có nói về sự tồn tại của các đảo là Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (1630  – 1653) do Đỗ Bá, tự Công Đạo soạn. Tài liệu này bao gồm các bản đồ An Nam từ thế kỷ XV trong đó có tấm vẽ các quần đảo Paracels và Spratlys trong biển Đông dưới tên gọi Bãi Cát Vàng và Trường Sa, thuộc phủ Quảng Ngãi:

“Giữa  biển  có  một  dải  cát  dài,  gọi  là  Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển, từ cửa Đại Chiêm đến cửa Sa Vĩnh. Một lần có gió Tây Nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi dạt ở đấy, có gió Đông Bắc thì thương thuyền  chạy  ở  ngoài  cũng  trôi  dạt  ở  đấy,  đều  cùng chết đói cả, hàng hóa thì đều để ở nơi đó”.


Một trong những bản đồ của cuốn sách Phủ biên tạp lục do Lê Quý Đôn biên soạn năm 1776, mô tả tỉ mỉ tình hình địa lý, tài nguyên ở Hoàng Sa và Trường Sa và công việc khai thác của Chúa Nguyễn đối với hai quần đảo này (nguồn: Cục Thông tin đối ngoại – Bộ Thông tin – Truyền thông)

Trong Phủ biên  tạp  lục (1776), Lê Quý Đôn, Hiệp trấn Thuận Hóa viết:

“Phủ  Quảng  Ngãi,  huyện  Bình  Sơn, có  xã  An Vĩnh, ở  gần  biển, ngoài  biển  về  phía Đông Bắc, có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn một trăm ba mươi ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng dài ước hơn ba mươi dặm, bằng  phẳng,  rộng  lớn, nước trong suốt đáy”.

Đại  Nam  thực  lục  tiền  biên,  phần  về  các  chúa Nguyễn  (1600  –  1775),  quyển X ghi nhận địa danh Hoàng Sa và Trường Sa và các hoạt động quản lý của các chính quyền VN:

“Xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi, ở ngoài  biển, có  hơn  một  trăm ba  mươi  bãi cát, cách nhau hoặc một ngày đường hoặc vài  trống  canh, kéo dài  không  biết  mấy  ngàn dặm, tục gọi  là Vạn Lý Hoàng Sa, trên bãi có giếng nước ngọt. Sản vật có hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, vích… Hồi  đầu  dựng  nước,  đặt  đội  Hoàng  Sa  gồm  70 người,  lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hằng năm đến tháng 3 đi thuyền ra đảo, độ ba ngày đêm thì đến, thu lượm hóa vật, đến tháng 8 trở về nộp. Lại có đội Bắc Hải, mộ dân ở phường Tư Chính, ở Bình Thuận hoặc xã Cảnh Dương sung vào, được lệnh đi thuyền ra các vùng Bắc Hải, Côn Lôn, thu  lượm hóa vật. Đội này cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản”.([1])

 
Bản đồ Việt Nam do Đỗ Bá soạn vẽ vào thế kỷ XVII. Lời chú giải trên bản đồ khu vực phủ Quảng Ngãi ghi rõ “Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng”, “do họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến lấy hóa vật…”  –  Ảnh: biengioilanhtho.gov.vn

Các  tác phẩm chính thức khác do Quốc Sử quán biên soạn và in dưới thời nhà Nguyễn như Đại Nam thực lục chính biên (1848), Khâm định Đại Nam hội diễn sử lệ (1843 – 1851), Đại Nam nhất thống chí (1865  –  1882), Lịch  triều  hiến chương  loại chí (1821), Hoàng Việt địa dư chí (1833), Việt sử cương giám khảo lược (1876) đều chép tương tự về Hoàng Sa và Trường Sa. Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ quyển 165 còn khẳng định sự đánh giá của Bộ Công  tâu  lên Vua  năm  Bính  Thân,  niên  hiệu Minh Mạng  thứ 17  (1836,  tức năm Đạo Quang  thứ 16 đời Thanh): “Xứ  Hoàng  Sa  thuộc  cương  vực  mặt  biển nước ta rất là hiểm yếu”. Đại Nam nhất thống chí, bộ sách địa lý lịch sử chung  thống nhất của Đại Nam, phần Hình thể nói về tỉnh Quảng Ngãi “phía đông có đảo Hoàng Sa liền với biển xanh làm hào che…”. Đó đều là các nguồn chính thức và có giá trị chân thực.

Viện Hán Nôm Hà Nội còn lưu trữ hàng chục châu bản  triều Nguyễn gồm các bản  tấu, phúc tấu của các Bộ Công, Bộ Hộ, các cơ quan khác, các dụ của các vua về các hoạt động thực thi chủ quyền của VN trên quần đảo.

Một số bản đồ VN vẽ các đảo này như bộ phận của lãnh  thổ VN, nhất  là Đại Nam nhất thống toàn đồ (1838). Ngoài ra các sách địa lý lịch sử như Sử  học bị khảo của Đặng Xuân Bảng, Địa dư toát  yếu (niên  hiệu Duy Tân 1907-1916), Quảng Thuận đạo sử tập, Trung kỳ địa dư lược, Quảng Ngãi tỉnh chí đều có những đoạn văn và bản đồ xác nhận Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi. Trong gia phả của các họ Phạm, họ Đặng trên đảo Lý Sơn còn lưu giữ các sắc chỉ của vua Minh Mạng giao cho dòng họ chọn những  thanh niên khỏe mạnh và giỏi bơi lội để gia nhập đội Hoàng Sa… ([2])

TS Nguyễn Hồng Thao

[1] Đại Nam thực lục tiền biên, NXB Sử học, Hà Nội, 1962, t.1, tr.22

[2] “Phát  hiện  tài  liệu  quý  liên  quan  đến  quần  đảo Hoàng  Sa”,  Lao Động số 71 ngày 1.4.2009.

>> Kỳ 8: Đi đến luận cứ chắc chắn

Trước thông tin phía Trung Quốc thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” với phạm vi quản lý bao gồm huyện đảo Trường Sa (tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam) và huyện đảo Hoàng Sa (thành phố Đà Nẵng, Việt Nam), lãnh đạo hai tỉnh, thành phố trên đã lên tiếng phản đối quyết định trên của phía Trung Quốc.

Trường Sa, Hoàng Sa là bộ phận không tách rời của lãnh thổ Việt Nam.

Ông Nguyễn Chiến Thắng, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Khánh Hòa khẳng định huyện đảo Trường Sa là một bộ phận không tách rời của lãnh thổ Việt Nam và trực thuộc quyền quản lý hành chính của tỉnh Khánh Hòa.

Ông Thắng nhấn mạnh chính quyền và nhân dân tỉnh Khánh Hòa hết sức bất bình trước việc Trung Quốc quyết định thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” với phạm vi quản lý bao gồm huyện đảo Trường Sa. Quyết định này đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam và không có giá trị về pháp lý.

“Chúng tôi kiên quyết phản đối và yêu cầu Trung Quốc hủy bỏ quyết định sai trái và phi pháp này, không có thêm hành động làm tổn hại đến quan hệ hai nước, tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước và tình cảm của nhân dân Tỉnh Khánh Hòa.” – Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Khánh Hòa tuyên bố.

Ông Văn Hữu Chiến, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Đà Nẵng cũng khẳng định huyện đảo Hoàng Sa là một bộ phận không tách rời của lãnh thổ Việt Nam và trực thuộc quyền quản lý hành chính của thành phố Đà Nẵng.

Ông Chiến cho biết chính quyền và nhân dân thành phố Đà Nẵng hết sức bất bình trước việc Trung Quốc quyết định thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” với phạm vi quản lý bao gồm huyện đảo Hoàng Sa.

Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Đà Năng tuyên bố: “Quyết định này đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam và không có giá trị về pháp lý. Chúng tôi kiên quyết phản đối và yêu cầu Trung Quốc hủy bỏ quyết định sai trái và phi pháp này, không có thêm hành động làm tổn hại đến quan hệ hai nước, tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước và tình cảm của nhân dân thành phố Đà Nẵng”./.

Kỳ 7: Tư liệu phía Việt Nam

09/08/2011 1:09

Các tác phẩm và các văn kiện chứng minh quyền phát hiện và chủ quyền  của VN trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có niên đại chỉ từ thế kỷ XV, các văn kiện trước đó có  lẽ bị tiêu hủy và thất lạc dưới thời Bắc thuộc và các cuộc chiến tranh liên miên.

>> Kỳ 6: Những luận cứ chủ quyền không vững chắc

Tác phẩm cũ nhất có nói về sự tồn tại của các đảo là Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (1630  – 1653) do Đỗ Bá, tự Công Đạo soạn. Tài liệu này bao gồm các bản đồ An Nam từ thế kỷ XV trong đó có tấm vẽ các quần đảo Paracels và Spratlys trong biển Đông dưới tên gọi Bãi Cát Vàng và Trường Sa, thuộc phủ Quảng Ngãi:

“Giữa  biển  có  một  dải  cát  dài,  gọi  là  Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển, từ cửa Đại Chiêm đến cửa Sa Vĩnh. Một lần có gió Tây Nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi dạt ở đấy, có gió Đông Bắc thì thương thuyền  chạy  ở  ngoài  cũng  trôi  dạt  ở  đấy,  đều  cùng chết đói cả, hàng hóa thì đều để ở nơi đó”.


Một trong những bản đồ của cuốn sách Phủ biên tạp lục do Lê Quý Đôn biên soạn năm 1776, mô tả tỉ mỉ tình hình địa lý, tài nguyên ở Hoàng Sa và Trường Sa và công việc khai thác của Chúa Nguyễn đối với hai quần đảo này (nguồn: Cục Thông tin đối ngoại – Bộ Thông tin – Truyền thông)

Trong Phủ biên  tạp  lục (1776), Lê Quý Đôn, Hiệp trấn Thuận Hóa viết:

“Phủ  Quảng  Ngãi,  huyện  Bình  Sơn, có  xã  An Vĩnh, ở  gần  biển, ngoài  biển  về  phía Đông Bắc, có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn một trăm ba mươi ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng dài ước hơn ba mươi dặm, bằng  phẳng,  rộng  lớn, nước trong suốt đáy”.

Đại  Nam  thực  lục  tiền  biên,  phần  về  các  chúa Nguyễn  (1600  –  1775),  quyển X ghi nhận địa danh Hoàng Sa và Trường Sa và các hoạt động quản lý của các chính quyền VN:

“Xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi, ở ngoài  biển, có  hơn  một  trăm ba  mươi  bãi cát, cách nhau hoặc một ngày đường hoặc vài  trống  canh, kéo dài  không  biết  mấy  ngàn dặm, tục gọi  là Vạn Lý Hoàng Sa, trên bãi có giếng nước ngọt. Sản vật có hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, vích… Hồi  đầu  dựng  nước,  đặt  đội  Hoàng  Sa  gồm  70 người,  lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hằng năm đến tháng 3 đi thuyền ra đảo, độ ba ngày đêm thì đến, thu lượm hóa vật, đến tháng 8 trở về nộp. Lại có đội Bắc Hải, mộ dân ở phường Tư Chính, ở Bình Thuận hoặc xã Cảnh Dương sung vào, được lệnh đi thuyền ra các vùng Bắc Hải, Côn Lôn, thu  lượm hóa vật. Đội này cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản”.([1])

 
Bản đồ Việt Nam do Đỗ Bá soạn vẽ vào thế kỷ XVII. Lời chú giải trên bản đồ khu vực phủ Quảng Ngãi ghi rõ “Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng”, “do họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến lấy hóa vật…”  –  Ảnh: biengioilanhtho.gov.vn

Các  tác phẩm chính thức khác do Quốc Sử quán biên soạn và in dưới thời nhà Nguyễn như Đại Nam thực lục chính biên (1848), Khâm định Đại Nam hội diễn sử lệ (1843 – 1851), Đại Nam nhất thống chí (1865  –  1882), Lịch  triều  hiến chương  loại chí (1821), Hoàng Việt địa dư chí (1833), Việt sử cương giám khảo lược (1876) đều chép tương tự về Hoàng Sa và Trường Sa. Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ quyển 165 còn khẳng định sự đánh giá của Bộ Công  tâu  lên Vua  năm  Bính  Thân,  niên  hiệu Minh Mạng  thứ 17  (1836,  tức năm Đạo Quang  thứ 16 đời Thanh): “Xứ  Hoàng  Sa  thuộc  cương  vực  mặt  biển nước ta rất là hiểm yếu”. Đại Nam nhất thống chí, bộ sách địa lý lịch sử chung  thống nhất của Đại Nam, phần Hình thể nói về tỉnh Quảng Ngãi “phía đông có đảo Hoàng Sa liền với biển xanh làm hào che…”. Đó đều là các nguồn chính thức và có giá trị chân thực.

Viện Hán Nôm Hà Nội còn lưu trữ hàng chục châu bản  triều Nguyễn gồm các bản  tấu, phúc tấu của các Bộ Công, Bộ Hộ, các cơ quan khác, các dụ của các vua về các hoạt động thực thi chủ quyền của VN trên quần đảo.

Một số bản đồ VN vẽ các đảo này như bộ phận của lãnh  thổ VN, nhất  là Đại Nam nhất thống toàn đồ (1838). Ngoài ra các sách địa lý lịch sử như Sử  học bị khảo của Đặng Xuân Bảng, Địa dư toát  yếu (niên  hiệu Duy Tân 1907-1916), Quảng Thuận đạo sử tập, Trung kỳ địa dư lược, Quảng Ngãi tỉnh chí đều có những đoạn văn và bản đồ xác nhận Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi. Trong gia phả của các họ Phạm, họ Đặng trên đảo Lý Sơn còn lưu giữ các sắc chỉ của vua Minh Mạng giao cho dòng họ chọn những  thanh niên khỏe mạnh và giỏi bơi lội để gia nhập đội Hoàng Sa… ([2])

TS Nguyễn Hồng Thao

[1] Đại Nam thực lục tiền biên, NXB Sử học, Hà Nội, 1962, t.1, tr.22

[2] “Phát  hiện  tài  liệu  quý  liên  quan  đến  quần  đảo Hoàng  Sa”,  Lao Động số 71 ngày 1.4.2009.

>> Kỳ 8: Đi đến luận cứ chắc chắn