Tag Archive: Phong


Chùm ảnh: Phong cách ‘Madame Bình’ tại Hội nghị Paris

Với phong cách lịch lãm và duyên dáng trong các cuộc họp báo tại Hội nghị Paris, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình được truyền thông Pháp đặt biệt hiệu “Madamee Bình”.

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình và Trưởng đoàn đàm phán của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Xuân Thủy trong những ngày đầu của Hòa đàm Paris, 1968.

Bà Nguyễn Thị Bình và ông Xuân Thủy tại Paris năm 1970.

“Madame” Nguyễn Thị Bình tại Paris tháng 12/1970.

Nét mặt vui tươi của Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình được phóng viên ghi lại ngày 1/7/1971, sau vòng đàm phán thứ 119.

Sự thay đổi nét mặt của những người tham gia đàm phán từ năm 1969 (nửa bên trái bức ảnh) đến ngày 2/7/1971 (nửa bên phải bức ảnh), khi những tiến triển trong đàm phán được ghi nhận.

Những sắc thái khác nhau của bà Nguyễn Thị Bình khi trả lời báo chí tại vòng đàm phán thứ 123 vào ngày 29/7/1971.

Bà Nguyễn Thị Bình trong buổi trao đổi với phóng viên hãng thông tấn AP ngày 30/7/1971, khẳng định miền Bắc Việt Nam sẽ trao trả toàn bộ tù binh chiến tranh nếu Mỹ đưa ra được một thời hạn rút quân khỏi miền Nam Việt Nam.

Bà Nguyễn Thị Bình trả lời phỏng vấn tại phòng nghỉ của mình ở Paris ngày 24/10/1972.

Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Thị Bình trả lời phỏng vấn tại Paris ngày 31/3/1972.

Tại buổi đàm phá diễn ra ngày 17/8/1972, Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Thị Bình đã lên án Nixon “bỏ lỡ cơ hội quý giá nhất để kết thúc cuộc chiến tranh”.

Hai bức ảnh của “Madame Bình” năm 1969 và 1972 được lưu trữ tại thư viện của hãng thông tấn AP.

Thời khắc lịch sử: Ký kết Hiệp định Hòa bình ngày 27/1/1973.

Theo KIẾN THỨC

Advertisements

Những điểm lưu ý khi thiết kế website

Điều gì khiến bạn say mê và thích thú khi bắt gặp một website đẹp? Có thể bạn sẽ ngồi lặng đi trong giây lát để ngắm nhìn tác phẩm hay bạn kéo ngay xuống dưới cùng để em nó được thiết kế bởi ai?
Hay đơn giản là khen ngợi nó vài lời rồi giới thiệu nó với bạn bè và đồng nghiệp. Tôi cho rằng chúng ta chỉ mất 3 giây đầu tiên để có thể cảm nhận vàđánh giá một website là đẹp hay chưa đẹp, xấu hay… quá xấu!
Vậy chỉ với một thời gian ngắn như vậy để người thiết kế có thể truyền tải được hết những gì anh ta suy nghĩ, những gì anh ta tính toán và những gì anh ta muốn chúng ta cảm nhận.
Đó hẳn là điều ít ai có thể định nghĩa được hết, nhưng trong bài viết này tôi muốn thảo luận với các bạn về các tiêu chí đánh giá một website đẹp và dựa trên những tiêu chí đó chúng ta có thể tạo cho mình những phong cách riêng, truyền tải đến cho người xem tình cảm mà bạn đã đưa vào sản phẩm của mình.
Tính cân bằng:
 Đó là sự cân bằng về thị giác, về hình khối và về màu sắc. Tính cân bằng đem lại cảm giác về sự an toàn, tin tưởng. Một website có được sự cân bằng tốt phải có những hình khối vững chắc, các mảng sáng tối rõ ràng, là những khối thành phần với các hiệu ứng thị giác.
Độ tương phản:
 Đây là tiêu chí tiếp theo để đánh giá mức độ truyền cảm của một website tới người xem. Vì bản thân website cũng là một dạng tài liệu nhằm cung cấp thông tin cho người xem qua hệ thống thị giác.
Và với hệ thống thị giác của con người vốn đã nhạy cảm thì với một website thiết kế tốtphải tạo cho người xem cảm giác tốt về độ tương phản. Đó là sự tương phản giữa chữ với nền, giữa các khối với nền, và giữa các hình ảnh với nền background. Độ tương phản giữa chữ và nền phải rõ ràng, vừa phải, các khối màu chắc khỏe.
Dưới đây là 2 điều ta nên tránh khi thiết kế website:
Quá tương phản: 2 mảng màu trắng – đỏ đặt cạnh nhau sẽ gây ức chế và nhức mắt khi nhìn lâu.
Kém tương phản: Đó là những gam màu có độ tương đồng như chữ màu vàng đặt trên nền trắng, chữ đỏ thẫm đặt trên nền đen.
Điểm nhấn: 
 Điều này rất quan trọng, với một website được thiết kế đẹp thì điểm nhấn của websiteluôn là nơi được người thiết kế tính toán kỹ lưỡng. Không thể đánh giá một website đẹpnếu nó cứ trơn tuồn tuột từ trên xuống dưới như một lá đơn được. Vì vậy trong hội họa thường dùng từ “truồi truội” để chỉ một tác phẩm không có điểm nhấn, không có sự thu hút, không có “eyes catching”
Không gian: 
 Một website đẹp mang đến cho người xem một cảm giác mới mẻ về không gian mà người xem có thể cảm nhận thấy rõ ràng nhất. Đó có thể là một không gian nhiều ánh sáng, nhiều màu xanh của lá cỏ. Hay một không gian trang trọng trong một nhà hát.
Tất cả điều này có thể đã bị bỏ quên trong phần lớn các sản phẩm thiết kế web ở Việt Nam. Đó là hệ quả của việc sử dụng màu sắc tùy tiện, gam màu tùy tiện và các mảng màu không có được giai điệu nhịp nhàng.
Ai đó có thể vẽ được một hình mẫu đẹp, một chi tiết tinh xảo, nhưng nếu đặt vào trong một không gian không hợp lý thì tự nó sẽ chuốc lấy thất bại. Giống như nền văn hóa Cồng chiêng của người dân tộc vùng Tây Nguyên vậy, chúng ta không thể thấy những cái cồng hay cái chiêng đẹp khi nó đặt trong một không gian bảo tàng hay một căn phòng sang trọng.
Mà cái đẹp của nó chỉ có thể thấy và cảm nhận trong cái không gian mà nó vốn được sinh ra, là buôn làng, là trong nhà rông với không gian văn hóa Tây Nguyên.
Tính thống nhất: 
 Đây là điều không thể bỏ qua khi đánh giá một website, sự thống nhất được đánh giá ở các thành phẩn của website như font chữ, góc bo tròn, độ chuyển màu hay độ trong suốt của một hình khối.
Nếu để ý bạn có thể dễ dàng bắt gặp những lỗi tưởng như rất nhỏ này ở các website được thiết kế cẩu thả, qua quýt hoặc người thiết kế không có được đủ kinh nghiệm cần thiết để hiểu và kiểm soát tính thống nhất.
 Nguồn: Sưu tầm

Với phong cách lịch lãm và duyên dáng trong các cuộc họp báo tại Hội nghị Paris, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình được truyền thông Pháp đặt biệt hiệu “Madamee Bình”.

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình và Trưởng đoàn đàm phán của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Xuân Thủy trong những ngày đầu của Hòa đàm Paris, 1968.

Bà Nguyễn Thị Bình và ông Xuân Thủy tại Paris năm 1970.

“Madame” Nguyễn Thị Bình tại Paris tháng 12/1970.

Nét mặt vui tươi của Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình được phóng viên ghi lại ngày 1/7/1971, sau vòng đàm phán thứ 119.

Sự thay đổi nét mặt của những người tham gia đàm phán từ năm 1969 (nửa bên trái bức ảnh) đến ngày 2/7/1971 (nửa bên phải bức ảnh), khi những tiến triển trong đàm phán được ghi nhận.

Những sắc thái khác nhau của bà Nguyễn Thị Bình khi trả lời báo chí tại vòng đàm phán thứ 123 vào ngày 29/7/1971.

Bà Nguyễn Thị Bình trong buổi trao đổi với phóng viên hãng thông tấn AP ngày 30/7/1971, khẳng định miền Bắc Việt Nam sẽ trao trả toàn bộ tù binh chiến tranh nếu Mỹ đưa ra được một thời hạn rút quân khỏi miền Nam Việt Nam.

Bà Nguyễn Thị Bình trả lời phỏng vấn tại phòng nghỉ của mình ở Paris ngày 24/10/1972.

Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Thị Bình trả lời phỏng vấn tại Paris ngày 31/3/1972.

Tại buổi đàm phá diễn ra ngày 17/8/1972, Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Thị Bình đã lên án Nixon “bỏ lỡ cơ hội quý giá nhất để kết thúc cuộc chiến tranh”.

Hai bức ảnh của “Madame Bình” năm 1969 và 1972 được lưu trữ tại thư viện của hãng thông tấn AP.

Thời khắc lịch sử: Ký kết Hiệp định Hòa bình ngày 27/1/1973.

Theo KIẾN THỨC

Lâu nay, cứ nói đến bộ đội Hải quân canh giữ đảo tiền tiêu Tổ quốc là người ta nghĩ ngay đến Quần đảo Trường Sa thuộc Vùng 4, mà ít người biết rằng: Còn rất nhiều các đảo, quần đảo khác nằm dọc theo hình chữ S, bao năm nay được trấn giữ bởi các đơn vị Hải quân Vùng 1, 2, 3 và Vùng 5.

Ở đây mình muốn nhắc đến một số đảo quan trọng trong cụm đảo Đông Bắc, nằm trong Vịnh Bắc Bộ do Vùng 1 Hải quân quản lý.

Bộ Tư lệnh Vùng 1 Hải quân (hoặc Bộ Tư lệnh vùng A) nằm bên này Cầu Bính, nhưng các đơn vị nằm ở khắp vùng biển từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh và các đảo trong Vịnh Bắc Bộ.

Trong số các đảo, quan trọng, hiểm yếu và gian khổ, vất vả nhất phải kể đến các đơn vị đóng quân ở đảo tiền tiêu Bạch Long Vĩ, Cát Bà (TP. Hải Phòng) và Đảo Trần (huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh), đảo Trà Bản (huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh).

Quan trọng nhất trong những đảo trấn giữ Vịnh Bắc Bộ là đảo Bạch Long Vĩ.

Đảo có tổng diện tích khoảng 2,5km2 đến 4km2 (tùy theo thủy triều), nằm trên 1 trong 8 ngư trường lớn của Vịnh Bắc Bộ, có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng của đất nước.

Nhân dân trên đảo phần lớn là những thanh niên xung phong từ các tỉnh duyên hải Bắc Bộ ra lập vùng kinh tế mới với số lượng khoảng hơn 1.000 người, chủ yếu làm nghề khai thác nuôi trồng thủy sản và dịch vụ hậu cần nghề cá.

Sát cánh với những người dân là bộ đội, đáng kể nhất là các lực lượng hợp thành thuộc Vùng 1 Hải quân làm nhiệm vụ canh giữ, bảo vệ đảo và ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ, toàn lính trẻ biền biệt xa nhà và mỗi năm may lắm mới được vào đất liền hay đón khách đất liền ra thăm 1-2 lần, khổ hơn cả lính Trường Sa.

Tiếp sau phải kể đến Đảo Trần thuộc huyện Cô Tô (Quảng Ninh). Trên đảo có Trạm Ra đa 480, thuộc Tiểu đoàn Ra đa đối hải 151, Vùng 1 Hải quân.

Tiếng là lính biển, nhưng bộ đội áo yếm đóng quân tít trên núi cao, phương tiện đi lại khó khăn (chủ yếu là đi bộ).

Nằm ở độ cao gần 200m so với mực nước biển, mỗi khi hành quân lên đài quan sát này, cán bộ, chiến sĩ của trạm phải đi bộ gần 1 tiếng, bởi đường đi khó khăn, trơn trượt do sương mù ẩm ướt.

Quãng đường này cũng là đường “thử sức” cho bộ đội mang lương thực tiếp tế cho nhau hàng tuần.

Thế nhưng, khó khăn này vẫn là “muỗi” so với việc: Để quan sát được mục tiêu, chiến sĩ luôn đối mặt khó khăn bởi thời tiết, hướng gió, đặc biệt là những khi sương mù, biển động…

Ấy thế nhưng, xứng đáng với danh hiệu “đôi mắt thần” ngày đêm canh giữ biển trời Tổ quốc vùng Đông Bắc, trong những năm qua, cán bộ chiến sĩ trên Trạm đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quan sát, quản lý vùng biển 24/24 giờ, không để Tổ quốc bị bất ngờ.

Bên cạnh đó, “mắt thần Hải quân” Đảo Trần còn phục vụ đắc lực việc quan sát các mục tiêu phục vụ công tác Biên phòng – Cảnh sát Biển, như bắt giữ phương tiện buôn lậu, đẩy đuổi tàu bè nước ngoài xâm lấn trái phép, hướng dẫn ngư dân tránh trú bão…

Cũng là “mắt thần Hải quân” vùng Đông Bắc, Trạm Rađa 485 (Tiểu đoàn Ra đa đối hải 151) trên đảo Trà Bản (huyện Vân Đồn, Quảng Ninh), có Đài Rađa đối hải cao nhất miền Bắc, nằm ở độ cao 484m so với mực nước biển.

Ở đây, sương mù quanh năm, đụng vào thứ gì cũng ẩm ướt, nên công tác bảo dưỡng, bảo quản khí tài rất vất vả.

Mỗi khi ngủ dậy, các chiến sĩ trên đài quan sát lại lấy túi nilon bọc chăn chiếu để tránh bị ướt và cũng như Trạm Rađa 480, nước ngọt là hàng hiếm, nên lính ta phải chắt chiu từng giọt.

Cung đường lên đài quan sát, dài hơn 7 km đường rừng núi, mất 2 – 3 tiếng mới lên tới nơi.

Kinh nghiệm chống khát và tiếp sức trên đường lên đài quan sát của bộ đội là nhấm nháp những chùm mây rừng mọc khá nhiều trên đường đi, y như lính Biên phòng.

Anh em kể: Trung bình mỗi phiên trực kéo dài một tuần, nhưng cũng có khi vì nhiệm vụ đột xuất, phải ở lại trên đài quan sát đến 2 tháng.

Tiểu đoàn radar đối hải 151 gồm 8 Trạm đóng quân phân tán từ đảo Trần (Quảng Ninh) đến Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh), có nhiệm vụ: Quan sát 24/24 giờ trong ngày, phát hiện và báo cáo kịp thời các mục tiêu trên biển về Sở Chỉ huy Bộ Tư lệnh Vùng, phục vụ trên xử lý có hiệu quả các tình huống xảy ra.

Là đảo giống Trường Sa, các đảo vùng Đông Bắc cũng thừa thãi nước mặn mà khan hiếm nước ngọt. Đến mùa khan hiếm nước, các chiến sĩ phải chia nhau từng thau nước sinh hoạt.

Là vùng biên đảo tiền tiêu giống Trường Sa, những người lính Hải quân trên các đảo Đông Bắc cũng đối mặt với bao âm mưu cướp đảo, lấn biển của bọn “lạ” nhưng không lạ. Cả đêm cũng như ngày, chế độ trực canh luôn duy trì gắt gao, chỉ cần 1 hồi kẻng báo động là đạn lên nòng, pháo giương cao, tàu khởi động máy, bộ đội gọn gàng mũ sắt, sẵn sàng đánh trả – đuổi dạt quân ăn cướp nhăm nhe.

Là bộ đội, đóng tít ngoài đảo xa, muốn nghỉ tranh thủ như đồng đội trong đất liền cũng khó, nên lính đảo Đông Bắc cũng như lính đảo Trường Sa đành nén nỗi nhớ đất liền – người thân vào trong ngực, thi thoảng mới nhè nhẹ hé mở cùng màn hình ti vi xem theo giờ quy định, cuộc điện thoại hiếm hoi và ao ước cháy bỏng con trai, lúc gặp tóc dài – lưng cong văn công ra đảo biểu diễn, thăm hỏi bộ đội, năm vài lần…

Và xa xôi, vất vả, gian lao, thiếu thốn lắm lắm…

Chả thế mà mỗi năm vài lần, giống như Trường Sa, đều đặn có những chuyến tàu xuất phát từ Hải Phòng hay Quảng Ninh, chở Văn công, khách từ đất liền ra thăm, động viên và tặng quà cho bộ đội.

Dĩ nhiên, không thể “tiếng tăm” như Trường Sa, dù nhiệm vụ – đặc thù và sự vất vả chả có gì khác nhau, nên cái sự quan tâm, cũng chỉ dừng lại ở những người thông hiểu và chế độ trang cấp của quân đội.

Chả thế mà ra với đảo Đông Bắc mùa gần Tết biển động, cũng là tàu HQ đấy, nhưng cứ lồng lộn lên xuống, vật phải đổ trái, tiến ngược lùi xuôi chống chọi với biển động cấp 5-6, hết thảy khách và phân nửa thủy thủ nằm bê bệt, nôn hết mật xanh mật vàng, vượt biển gần cả ngày mới ra tới nơi, không còn sức để gật gù lời nhận xét của thuyền trưởng đã bao năm đi biển Trường Sa, bây giờ vẫn thi thoảng tăng cường vào Trường Sa: “Thời tiết biển trong đó êm hơn nhiều. Không lắm bất thường như ngoài này!”…

Chả thế mà ra với đảo Đông Bắc, cứ chạnh lòng nhìn những thứ phục vụ đời sống văn hóa – tinh thần của bộ đội, từ màn hình tivi, đầu thu, đài casette… cho đến bàn bóng, cọc lưới bóng chuyền, hoặc phủ bạt để trong góc, hoặc hoen rỉ vì nước biển, hơi nước sương mù, mà thèm có những chuyến hàng đầy đặn, tỷ thứ trên đời mà mọi người cứ “đều như vắt chanh”, gửi ra cho lính đảo Trường Sa.

Vẫn biết: Cùng đồng đội đảo xa, cùng sẻ chia gian lao vất vả, nên lính tráng chả bao giờ có ý nghĩa ấy.

Nhưng mình vẫn cứ ước: Mọi người biết nhiều thêm về lính đảo Đông Bắc, bởi ngoài này vẫn được ví như “Trường Sa thứ 2”, thì những người ra với đảo như mình, đỡ chạnh lòng biết bao nhiêu?..

Những ngày gần Tết này, những chuyến tàu chở hàng Tết ra với Trường Sa – DK bắt đầu rời Cam Ranh, Cát Lái, Vũng Tàu… hướng ra phía đông hừng sáng, lặc lè nghĩa tình của cả nước vì Trường Sa thân yêu.

Cũng những ngày này, những con tàu ra với các đảo Đông Bắc cũng bắt đầu chuẩn bị cho 1-2 tuần tới nhổ neo rời Hải Phòng, chuyển quà Tết nghĩa tình ra với đồng đội khơi xa.

Khác với Trường Sa đầy nắng và gió, đảo ngoài này rét buốt lắm, mặc áo bông dầm chân giữ đảo, lính áo yếm ai cũng run cầm cập, nhưng vẫn ngóng chờ những ngày gần Tết, tàu trong bờ chở đào, quất, thịt, gạo, bánh chưng, để ngoài đảo xa vời cũng đủ Tết quê hương…

Và mình lại mong: Chuyến tàu ra đảo Đông Bắc sắp tới, mọi người cùng chung tay đóng góp để có vài giàn âm thanh, mấy màn hình tivi, dăm chiếc đài cùng một số đồ phục vụ đời sống văn hóa – tinh thần cho bộ đội ngoài đảo, thì lính nhà mình sẽ vui biết mấy?..

Niềm vui này hẳn của sự nắm tay sẻ chia, tựa vai thông hiểu và cao hơn cả là nghĩa tình bờ bến – đảo xa, lòng nhớ thương của người thân xa cách và đáp đền từ nơi yên ấm hậu phương với những người ngoài tiền tuyến xa xôi, giữ biển trời cho sau lưng sáng đèn, vui nhạc, ấm áo, no cơm…

Nơi tiền tuyến đảo xa Đông Bắc, chúng mình gọi đó là: “Trường Sa thứ 2″…
*****

Vùng 1 Hải quân có nhiệm vụ làm nòng cốt trong quản lý, bảo vệ vùng biển, đảo phía Bắc của Tổ quốc.

Ở các đơn vị tàu, Đoàn viên thanh niên đã thể hiện được bản lĩnh của người chiến sĩ Hải quân khi vượt qua sóng gió để thực hiện nhiệm vụ quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Nhiều chuyến tàu của Vùng nhận lệnh ra khơi trong giông bão, trong các ngày lễ, tết để xua đuổi tàu nước ngoài xâm phạm chủ quyền vùng biển của ta; nhiều tàu nhận nhiệm vụ trực liên tục, dài ngày trên biển nhưng tinh thần, ý chí quyết tâm của bộ đội không giảm sút.

Bên cạnh đó, lực lượng cán bộ, Đoàn viên thanh niên các đơn vị còn tích cực, chủ động trong tham gia cứu hộ, cứu nạn, giúp đỡ nhân dân khắc phục thiên tai, bão lụt. Hình ảnh những con tàu HQ-634, HQ-635, HQ-951… vượt lên sóng dữ ra khơi tìm kiếm, cấp cứu ngư dân các địa phương trong bão tố đã thể hiện tình cảm, trách nhiệm của những người lính biển đối với nhân dân. Tiêu biểu cho hoạt động cứu hộ, cứu nạn là Đoàn viên, thanh niên Hải đội 4, Biên đội tàu K62 (Lữ đoàn 170), Hải đội 137…
[M.T.Hải]

Một năm là khoảng thời gian nhà lãnh đạo Kim Jong-un nắm quyền điều hành nhà nước CHDCND Triều Tiên sau khi Chủ tịch Kim Jong-il qua đời. Đó là một năm mà diện mạo của đất nước này dường như đã thay đổi rất nhiều.

Bình Nhưỡng rực rỡ ánh đèn về đêm.

Phong cách thời trang của giới trẻ Triều Tiên dường như đang thay đổi dưới thời Kim Jong-un và đệ nhất phu nhân Ri Sol-ju

Nữ ca sĩ Triều Tiên biểu diễn trong trang phục “khiêu gợi” là những hình ảnh hiếm khi xuất hiện trên mặt báo chí quốc tế khi đề cập tới đất nước Triều Tiên bí ẩn này trước thời ông Kim Jong-un nắm quyền

Phong cách mới mẻ đang ít nhiều làm thay đổi suy nghĩ của thế giới về Triều Tiên.

Nghiêm túc nhưng cũng rất trẻ trung và đầy sức sống.

.

Hình ảnh các ca sĩ nước ngoài biểu diễn tại thủ đô Bình Nhưỡng ngày 11/4/2012.

Trượt ống nước và bơi lội trong công viên tại Bình Nhưỡng.

Trên một bãi biển của CHDCND Triều Tiên.

Một tiệm bánh trong quầy bách hóa tổng hợp tại thủ đô Bình Nhưỡng.

Giới trẻ thành thị Triều Tiên ăn mặc khá hiện đại và trẻ trung.

Nhiều gia đình ở Bình Nhưỡng cho con đi chơi công viên nước.

Cánh đàn ông Bình Nhưỡng rất thích uống bia.

Billard là môn thể thao giải trí được nhiều người ưa chuộng.

Các chủng loại hàng hóa đã phong phú hơn rất nhiều.

Các nữ công chức ở Bình Nhưỡng.

Khiêu vũ tập thể trên đường phố.

Nữ sinh Triều Tiên trên giảng đường.

Trẻ em Bình Nhưỡng tập chơi golf ở công viên.

Sự xuất hiện của Đệ nhất phu nhân Ri Sol-ju mang đến một luồng gió mới tươi trẻ cho đất nước Triều Tiên?

Vợ chồng nhà lãnh đạo Kim Jong-un đến thăm một hộ gia đình lao động ở thủ đô Bình Nhưỡng.

Các loại rượu “đặc sản” Triều Tiên trên kệ.

Dàn nhạc chào mừng liên hoan phim quốc tế Bình Nhưỡng.

Tổng duyệt đồng diễn Airang đêm 31/7/2012.

HỒNG THỦY (GIÁO DỤC VIỆT NAM) / QQ

Đường hòa nhập của những nhân sĩ chế độ cũ

Với những nghiên cứu thầm lặng, Nhóm trí thức này đã đóng góp tích cực vào quá trình đổi mới của thành phố. Họ để lại dấu ấn trong những đột phá về cải cách giá – lương – tiền, cải tổ ngành ngân hàng, đề xuất lập khu chế xuất Tân Thuận…

LTS: GS. Đặng Phong trong cuốn Tư duy kinh tế Việt Nam 1975-1989 kể: Ở TP. Hồ Chí Minh có một nhóm chuyên viên kinh tế được nhắc đến với cái tên “Nhóm Thứ Sáu”. Thành phần chủ yếu là những người từng làm việc trong chế độ cũ. Họ được Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh thời đó là ông Võ Trần Chí trọng dụng.

Với những nghiên cứu thầm lặng, Nhóm trí thức này đã đóng góp tích cực vào quá trình đổi mới của thành phố. Họ để lại dấu ấn trong những đột phá về cải cách giá – lương – tiền, cải tổ ngành ngân hàng, đề xuất lập khu chế xuất Tân Thuận…

Thực ra lâu nay, cái tên “Nhóm Thứ Sáu” được nhắc đến rải rác trên một số trang báo, nhưng chưa từng có một tuyến bài nào kể lại đầy đủ hoạt động và đóng góp của nhóm. Tuần Việt Nam vừa có may mắn tiếp xúc với một số câu chuyện thực tế của họ. Chúng tôi trân trọng chia sẻ cùng độc giả.

Hơn hai chục năm trong chiều dài lịch sử không là bao nhiêu, nhưng đối với những người ray rứt với tình hình đất nước đang từng ngày chuyển biến thì quả thật là đáng kể.

Những nhân sĩ, trí thức trong Nhóm Thứ Sáu với điểm xuất phát tuy khác nhau nhưng do cùng hoàn cảnh và tâm tư, đã hội tụ thân thiết như các thành viên trong một gia đình. Mỗi tuần họp mặt ít nhất một lần, anh em cùng nhau lạm bàn chuyện thế sự mà không hề có tham vọng riêng tư. Đây là một nhóm lãng tử tìm đến nhau một cách tình cờ, tập hợp vốn hiểu biết rồi cùng nhau bàn luận, trước hết là để chung vui, còn ai muốn sử dụng những điều ấy như thế nào thì tuỳ hoàn cảnh và công việc.

Bao trùm lên trên cái thực thể của Nhóm là rất nhiều cái Không. Không giấy phép thành lập, không chủ quản, không tổ chức, không nội quy điều lệ, không trụ sở, không ai lãnh đạo, không ai hưởng lương, không vụ lợi, không kỷ luật lẫn khen thưởng, không ràng buộc cũng như không hơn thua với ai và còn nhiều cái không nữa.

Có lẽ nhiều cái không ấy đã làm nên cái có: đó là có anh em, có chuyện để bàn bạc, có tấm lòng và có dịp sinh hoạt với nhau đến nay đã 24 năm liên tục.

Tên gọi của nhóm này thật ra chỉ mới có vài năm gần đây và việc định danh “Nhóm chuyên viên kinh tế Thứ Sáu” cũng rất đơn giản là vì anh em gặp nhau định kỳ vào chiều thứ Sáu hàng tuần.

Nếu ai hỏi Nhóm Thứ Sáu có bao nhiêu người thì cũng khó trả lời chính xác. Trong những năm qua số này có nhiều biến động nhưng “cựu trào” thì còn không quá 10 người. Hiện nay có thường xuyên từ 15 đến 20 anh em gặp gỡ nhau hàng tuần, có thể coi như là những nhân vật nòng cốt.

Thời kỳ cuối thập niên 70 đầu thập niên 80, tình hình kinh tế xã hội ở miền Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng cực kỳ khó khăn.Sau hai đợt cải tạo, tiềm lực kinh tế của thành phố gần như kiệt quệ. Nhiều năm sau ngày giải phóng, nền kinh tế vận hành theo quán tính như một chiếc xe ngày càng cạn nhiên liệu, tạo điều kiện cho hoạt động kinh tế ngầm phát triển với hàng loạt sản phẩm tiêu dùng thuộc loại kém chất lượng vì thành phần nguyên liệu, phụ liệu không đủ, được đưa ra thị trường nhằm giải quyết nhu cầu không thể thiếu của người dân.

Nền kinh tế kế hoạch tập trung và cơ chế bao cấp áp đặt ở miền Nam làm cả hai miền đất nước nghèo như nhau. Đó là thời kỳ mà lần đầu tiên ở Sài Gòn biết thế nào là ăn độn. Trí thức Sài Gòn phần lớn dính dáng vào quân đội và chính quyền cũ nên phải đi học tập cải tạo, một số trở về mang tâm trạng hoang mang chán nản, một số không ít bỏ ra nước ngoài tạo nên tình trạng chảy máu chất xám đến mức báo động. Thêm vào đó, vụ Nạn kiều và những chuyến vượt biên bán công khai càng làm cho tâm lý xã hội thêm nặng nề.

Trong tình hình kinh tế xã hội gay gắt ấy, mô hình công ty xuất nhập khẩu trực dụng được lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh cho ra đời mà Quận 5 đã đi tiên phong với Công ty Cholimex.

Mục đích của công ty này là huy động những đồng vốn tản mát trong dân dưới hình thức cổ phần, tận dụng các mối quan hệ của những nhà kinh doanh người Hoa với bên ngoài để xuất khẩu các loại hàng nông hải sản rồi nhập vật tư nguyên liệu về cung ứng cho các cơ sở sản xuất tại Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh và cho cả các doanh nghiệp nhà nước.

Lúc bấy giờ, ông Phan Chánh Dưỡng sau khi giã từ ngành giáo dục được Quận uỷ đưa về làm Trưởng phòng kế hoạch tại Cholimex. Là một nhà giáo gần như chưa bao giờ tiếp cận với hoạt động kinh doanh ở cấp độ công ty, ông Dưỡng thấy rằng cần phải thu hút chất xám từ những người có kiến thức chuyên môn để bổ sung vào những hạn chế của mình.

Thế là ông Trần Bá Tước, một chuyên viên ngân hàng sau khi đi học tập về đã đến với Cholimex vào năm 1982 với tư cách là một phiên dịch. Tiếng lành đồn xa, nhận ra Cholimex là nơi có thể đóng góp hiểu biết của mình, nhiều trí thức cũ đã gặp ông Phan Chánh Dưỡng và trở thành những người trợ lý đắc lực.

Một trong những người này là ông Phan Thành Chánh, chuyên viên ngân hàng và ông Đỗ Hải Minh, chuyên viên hành chính nhiều kinh nghiệm trước đây làm việc ở Bộ phát triển sắc tộc trong chế độ cũ, sau khi đi học tập về đang tìm một chỗ làm việc để nhẹ gánh mặc cảm.

Ông Nguyễn Thông Minh, một chuyên gia mà cũng là một giáo sư đại học dạy vật lý có phương pháp sư phạm rất tốt (nhất là về môn điện tử) lại là một chuyên viên điện toán giỏi, sau khi “đầu quân” đã soạn chương trình vi tính về quản lý lương bổng cho Cholimex, một công việc cực kỳ mới mẻ lúc bấy giờ. Sau đó ông lại đứng ra thành lập Trung tâm Điện toán Cholimex, cơ sở vi tính đầu tiên tại thành phố Hồ Chí Minh.

Từ đó Cholimex thành một nơi đất lành chim đậu, tập hợp rộng rãi các anh em trí thức đang làm việc tại Ban Khoa học Kỹ thuật thành phố, Công ty Đại Dương, Công ty dịch vụ Kỹ thuật như các anh Lê Mạnh Hùng, Võ Hùng, Võc Văn Huệ. Rồi đến Mai Kim Đỉnh, Trương Quang Sáng, Lê Hoà, Nguyễn Chính Đoan, Lê Văn Bỉnh, Trần Văn Tư, Đỗ Trung Đường, Lê Đình Khanh, Lâm Tuấn Anh, Võ Gia Minh, Trần Quí Hỷ, Đỗ Nguyên Dũng, Phan Tường Vân, Lâm Võ Hoàng, Huỳnh Bửu Sơn, Hồ Xích Tú, Nguyễn Ngọc Hồ… cùng một số người khác.

Thời kỳ đầu, họ đã đi thực tế ở nhiều nơi như Duyên Hải, Đồng Nai và các tỉnh miền Tây, nghiên cứu nhiều dự án với hy vọng khái thác tiềm năng cho nhu cầu phát triển kinh tế của thành phố. Thế nhưng đó lại là câu chuyện đội đá vá trời trong tình hình cơ chế xơ cứng đang còn ngự trị. Khi nhìn lại anh em thấy những công việc đã làm chẳng qua cũng là công dã tràng. Nhưng dù sao đây cũng là  nhân tố ban đầu của sự tập hợp một số trí thức cũ có tấm lòng và mong được đóng góp cho sự phát triển kinh tế thành phố nói riêng và đất nước nói chung.

Bước đầu hình thành Nhóm, ngoài hạt nhân là ông Phan Chánh Dưỡng còn có sự ủng hộ của ông Võ Trần Chí khi ấy đang làm Bí thư Quận 5- một người cầu thị, trân trọng trí thức, trong giao tiếp không bao giờ nói chuyện đao to búa lớn.

Ông Chí cũng nhận ra rằng không dễ dàng khai thác kiến thức của những người trí thức. Muốn anh em đóng góp thì phải tạo cho họ có được cảm giác tự do, không một mảy may gò bó. Cũng trong tư cách một người anh, ông chấp nhận ngay cả việc anh em có thể nói sai, cho rằng đó chẳng qua vì anh em chưa hiểu thấu đáo, lần lần rồi cũng sẽ hiểu ra. Chính sự bao dung đó đã thuyết phục được anh em.

Thời gian này, Nhóm Thứ Sáu sinh hoạt định kỳ ba lần một tuần tại Cholimex vào thứ Hai, thứ Tư và thứ Sáu, gặp gỡ nhau để bàn bạc, tranh luận. Đó vừa là cơ hội để kết thân vừa giải toả được mặt cảm nên ai cũng thấy rất vui, dần dần trở thành nhu cầu mà tuần nào không gặp nhau là cảm thấy như thiếu điều gì đó, một thứ thiếu vắng không có tên gọi.

Giai đoạn 1986-1990: Những công trình nghiên cứu

Sau mấy năm sinh hoạt tại cơ ngơi của Mạnh Thường Quân Cholimex, cùng nhau mổ xẻ một số vấn đề gay gắt trong đời sống kinh tế xã hội, cho đến một lúc họ bỗng giật mình nói với nhau: Cả Nhóm ngồi lại nhiều năm nói chuyện trên trời dưới đất nhưng nếu ai đó không hiểu thì lôi thôi, không chừng lại bị “hỏi thăm”.

Suy nghĩ này được ông Phan Chánh Dưỡng đề đạt lên ông Võ Trần Chí khi đó đang làm Bí thư Thành uỷ: nếu thấy tin cậy được thì đề nghị cấp cho một giấy chứng nhận hợp thức hoá sự tập hợp trí thức cũ. Rất may, do quá trình hiểu biết anh em nhiều năm, ông Võ Trần Chí đồng ý và giao nhiệm vụ này cho ông Năm Ẩn, lúc đó là Trưởng ban Kinh tế Thành uỷ.

Thế là một danh sách 24 người được gửi lên cho lãnh đạo, anh Năm Ẩn ký giấy xác nhận danh sách “Nhóm nghiên cứu chuyên đề kinh tế của Thành uỷ”. Đây không phải là giấy khai sinh mà chỉ là tấm lá chắn nhưng cũng đã đánh dấu thời điểm “hợp pháp” từ tháng 10 năm 1986.

Bắt đầu từ đấy, nhóm trí thức cũ sinh hoạt định kỳ hàng tuần, vẫn tại Cholimex và hoàn toàn có tính tự nguyện. Cũng từ đó các lãnh đạo thành phố như các ông Võ Trần Chí (Hai Chí), Nguyễn Vĩnh Nghiệp (Sáu Tường), Năm Ẩn, Tư Triết, Phạm Chánh Trực (Năm Nghị) thỉnh thoảng xuống tham dự hội họp với họ.

Cái tư cách pháp nhân lưng chừng ấy cũng đã khiến nhóm nhân sĩ này nghĩ đến một cách sinh hoạt có tính chủ đề hơn. Vì vậy đây chính là thời kỳ hình thành nhiều công trình nghiên cứu có tính bài bản của nhóm. Có thể kể ra đây một số công trình nghiên cứu được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, qua đó tâm huyết của anh em đã có cơ hội góp phần vào việc hình thành chính sách của nhà nước sau này.

  1. Nghiên cứu về Giá – Lương – Tiền:

Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên được thực hiện rất bài bản. Có mô tả hiện trạng, có phản biện, có cơ sở lý luận và chuẩn bị bảo vệ ý kiến của mình.

Bài toán giá – lương – tiền được mổ xẻ thấu đáo mà đáp số của nó theo quan điểm của nhóm có cự ly rất xa với nhận định của các nhà lập chính sách ở Trung ương vào lúc ấy. Sau nhiều tuần cọ xát quan điểm, anh em hoàn thành bản nghiên cứu về giá – lương – tiềm thì vào cuối năm 1986 ông Phạm Chánh Trực viết thư giới thiệu công trình này với ông Võ Văn Kiệt lúc ấy đang làm Chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước và đề nghị ông trực tiếp nghe anh em trình bày.

Các ông Phan Chánh Dưỡng, Huỳnh Bửu Sơn, Trần Bá Tước ra Hà Nội báo cáo đề tài này với các chuyên viên cấp cao của Chính phủ, buổi làm việc do ông Sáu Dân chủ trì, Đề tài nghiên cứu này có tính thuyết phục, được các chuyên viên như ông Trần Đức Nguyên, Vũ Quốc Tuấn, Lê Đăng Doanh đánh giá cao. Trước khi trở về thành phố Hồ Chí Minh, các anh Dưỡng, Sơn, Tước còn được ông Nguyễn Cơ Thạch (lúc ấy là Bộ trưởng Ngoại giao) mời trình bày đề tài này và cũng được ông đánh giá cao.

  1. Nghiên cứu đề tài Cải tổ Ngân hàng:

Sau chuyến thuyết khách ở Hà Nội, Nhóm Thứ Sáu nắm bắt thêm thực tế và phát hiện ra rất nhiều nghịch lý trong điều hành vĩ mô. Một trong những vấn đề đó là hoạt động thiếu hiệu quả của hệ thống ngân hàng của thời kế hoạch hoá tập trung. Đề tài này do hai ông Huỳnh Bửu Sơn và Lâm Võ Hoàng là những người có kinh nghiệm thực tiễn nhiều năm trong lĩnh vực ngân hàng chủ trì.

Nghiên cứu của họ đi sâu vào cơ thể dị dạng của hai bộ phận Ngân hàng và Tài chính dính chặt vào nhau, sự bất hợp lý trong điều hành chính sách tiền tệ và đề xuất một cơ chế hoạt động cho Ngân hàng theo hướng kinh tế thị trường. Đề tài nghiên cứu này cũng được Chính phủ quan tâm, những suy nghĩ và đề xuất của các thành viên trong Nhóm dường như có sự lan toả cho nên vào năm 1988, khi Chính phủ chẩn bị Pháp lệnh Ngân hàng, hai ông Lâm Võ Hoàng và Huỳnh Bửu Sơn đã được mời tham gia vào việc soạn thảo.

  1. Nghiên cứu phát triển Ngoại thương:

Đây là đề tài nghiên cứu khá gay gắt bởi vào thời điểm ấy thành phố Hồ Chí Minh chủ trương cho các công ty xuất nhập khẩu tự cân đối tài chính. Đề tài này làm rõ chủ trương vừa nói là sai lầm vì đó chính là một trong nguyên nhân đẩy giá cả tăng lên.

Do được quyền tự cân đối nên các công ty xuất nhập khẩu mua nông sản với bất cứ giá nào bất chấp giá thị trường để xuất khẩu, rồi dùng ngoại tệ bán được để nhập khẩu bán lại cho trong nước với giá cao để kiếm lời mà Nhà nước không can thiệp vào. Do tự cân đối mà giá cả nông sản tăng keo theo hàng công nghệ phẩm lên giá, góp phần làm tăng áp lực lạm phát.

  1. Đề tài Kinh tế vùng:

Đề tài này được giao cho ông Nguyễn Ngọc Hồ chủ trì và được bản thảo lâu nhất, kéo dài khoảng nửa năm. Công trình này được ông Lê Văn Triết lúc bấy giờ là Thứ trưởng Thương mại đánh giá cao và sau đó góp phần vào việc hình thành chính sách.

  1. Công ty tư vấn Đầu tư và Khu chế xuất:

Vào năm 1987, dưới tác động của chính sách mở của, Nhóm tập trung thảo luận về khả năng thu hút đầu tư nước ngoài và thống nhất thành lập Công ty tư vấn đầu tư (IMC). Đây là một chuyển biến quan trọng trong sinh hoạt của Nhóm, chuyển từ bàn bạc sang thực hiện. Ông Phan Chánh Dưỡng được giao làm Phó Giám đốc Công ty, nhưng sau đó do số cán bộ từ thành phố điều xuống áp dụng cách làm việc theo kiểu cũ nên vai tròg hạn chế, không phát huy được công năng của công ty. Vì vậy ông Dưỡng và một số anh em trong Nhóm từng bước rút lui khỏi công ty.

Năm 1989, ông Dưỡng đề nghị thành lập Hiệp hội Xuất nhập khẩu đầu tư (Infotra) và đề tài được anh em tập trung nghiên cứu là Khu chế xuất. Đây cũng là thời gian ông Dưỡng rút khỏi vị trí Giám đốc Cholimex và chú tâm vào việc biến công trình nghiên cứu trở thành hiện thực.

Có thể nói đây là công nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao vì sau đó nội dung này được áp dunhgj vào việc hình thành Khu chế xuất Tân Thuận dưới hình thức Công ty liên doanh trong đó anh Phan Chánh Dưỡng đại diện cho đối tác trong nước làm Phó Tổng Giám đốc. Và để thực hiện ý tưởng phát triển thành phố Hồ Chí Minh ra biển Đông, Công ty Phát triển Công nghiệp Tân Thuận sau đó được thành lập làm pháp nhân nghiên cứu và thực hiện các chương trình như đại lộ “Bắc Nhà Bè – Nam Bình Chánh” nay là đại lộ Nguyễn Văn Linh, khu đô thị mới Nam thành phố Hồ Chí Minh, Khu công nghiệp Hiệp Phước…

  • Mời theo dõi tiếp kỳ 2.
    [Tác giả: ĐÔNG HẢI]
    [link: http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-04-06-duong-hoa-nhap-cua-nhung-nhan-si-che-do-cu]

Ba “nữ lưu”: Phạm Thanh Nghiêm ,Tạ Phong Tần ,Huỳnh Thục Vy

Vào thập niên 90 của thế kỷ trước cộng đồng người Việt định cư tại Hoa Kỳ đã chứng kiến sự ra đời của nhiều tổ chức hội, đoàn được núp dưới chiêu bài chống cộng , có tổ chức tập hợp thành lực lượng vũ trang lén lút về Việt Nam khủng bố , có tổ chức chỉ có một mạng cũng đứng ra hô hào “giải phóng quê hương” ? cái đích cuối cùng của các tổ chức cá nhân này là móc hầu bao của những người nhẹ dạ cả tin trong cộng đồng. Thật thế ! “nghề làm chính trị” quá dễ ăn, đã có rất nhiều băng, đảng, cá nhân giàu lên từ nghề này. Nó giống như nấm độc mọc rộ lên sau cơn mưa nhưng cũng tàn lụi ngay sau đó , nhưng cũng có những băng đảng, tổ chức được che đậy một cách mưu mô xảo quyệt hòng che mắt mọi người với những danh xưng mang tính “thời thượng” tiêu biểu là tổ chức mang danh cái được gọi là “Mạng lưới nhân quyền Việt nam” (tên tiếng Anh là Vietnam Human Rights Network – viết tắt là VHRN). 

Tháng 11-1997, một nhóm người Việt trên đất Mỹ do Nguyễn Thanh Trang, Lê Minh Nguyên, Ngô Văn Hiếu, Nguyễn Ngọc Quỳnh, Lâm Thu Vân, Nguyễn Thị Hồng Liên, Nguyễn Quốc Khải, Đoàn Việt Trung v.v… cầm đầu đã tổ chức “hội nghị quốc tế” tại thành phố Santa Ana, thuộc quận Orange County bang California, Mỹ công bố thành lập “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam”.Từ sau sự kiện khủng bố  ngày 11/9/2001”, tại Mỹ, tổ chức này nhận thấy phương thức vũ trang, khủng bố, bạo loạn lật đổ mà các nhóm chống cộng lưu vong người Việt, như “Việt Tân”, “Chính phủ Việt Nam tự do”, “Dân chủ nhân dân”, “Nhân dân hành động” v.v… sử dụng chống phá Nhà nước Việt Nam đã thất bại thảm hại khi bị lực lượng an ninh Việt Nam tiêu diệt từ khi đặt chân về nước và bị dư luận quốc tế lên án, nên cái gọi là “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” đã “điều chỉnh” phương thức hoạt động nếu không trước sau cũng nối gót các tổ chức “đàn anh”. Chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” đang là mốt thịnh hành trên thế giới. Để lừa bịp dư luận tại “đại hội ”, số đối tượng cầm đầu đề ra mục tiêu của VHRN là nhằm “gia tăng có hiệu quả các hoạt động dân chủ, nhân quyền trên thế giới để thúc đẩy tiến trình cải tiến dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam.? Sau khi ra đời, VHRN tìm mọi cách để phô trương, đánh bóng hòng gây thanh thế trong cộng đồng cũng là chiêu bài đè các đối thủ khác. Một trong những cách đó là mập mờ đánh lận con đen về danh xưng nhằm tạo cho cộng đồng người Việt hải ngoại tin rằng VNHR là một tổ chức “ngoại vi” của HRW (Human Right Watch – Tổ chức quan sát nhân quyền Liên Hiệp Quốc). Bản chất nô lệ đã ăn sâu vào não bộ của hạng người này, làm bất cứ chuyện gì phải kéo theo bằng được cá nhân hoặc tổ chức ngoại quốc vào để tăng thêm phần “tự tin”. Thật đúng với câu “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” VHRN đồng thời bắt tay với những nhóm người Việt chống cộng cực đoan khác như : “Báo tự do ngôn luận”, “Ủy ban tự do tôn giáo cho Việt Nam”, “Tiếng dân kêu cứu”, “Diễn đàn dân chủ”, “Tập hợp Thanh niên dân chủ” “nhóm Thông luận” ,“Mạng ý kiến”, “Thông điệp xanh”, “Cánh én”, “Đàn chim Việt”, “Mạng lưới tuổi trẻ Việt Nam lên đường”, “Liên minh Việt Nam tự do” (tổ chức ngoại vi của tổ chức khủng bố “Việt Tân”), “Phong trào thống nhất dân tộc và xây dựng dân chủ” ,”Ủy ban cứu người vượt biển”, “Ủy ban bảo vệ người lao động Việt Nam”, “Diễn đàn dân chủ liên minh Việt Nam”..vv…Qua hành động này, bộ mặt thật của “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” đã lộ rõ tổ chức này mục đích lập ra là để chống phá Việt Nam. Điểm mặt “nhân sự” gồm những kẻ đã có thâm niên chống phá xuyên tạc, v khống về Việt Nam như: Nguyễn Thanh Trang, Nguyễn Tường Bách, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Minh Cần, Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Hữu Lễ, Phạm Ngọc Lũy, Nguyễn Quốc Quân, Nguyễn Chí Thiện. Ngoài ra, VHRN còn móc nối quan hệ với một số tổ chức phi chính phủ đã có những hoạt động vu cáo, xuyên tạc chống phá Nhà nước Việt Nam về “dân chủ, nhân quyền” – như: tổ chức “Ân xá quốc tế” (Amnesty International – AI), “Quan sát nhân quyền” (Human Rights Watch – HRW), “Nhà báo không biên giới” (Reporters Sans Frontieres – RSF), “Ủy ban bảo vệ ký giả” (Committee to Protect Journalists – CPJ)…
Từ khi thành lập đến nay, VHRN đã ra “Bản tin nhân quyền” phối hợp với các tổ chức chống cộng phản động lưu vong người Việt khác tổ chức “Ngày nhân quyền quốc tế” hàng năm tập hợp “những tiếng nói quốc nội đòi nhân quyền” để phổ biến ở Việt Nam và ở nước ngoài trao “giải thưởng nhân quyền” hàng năm hoặc trợ giúp về tài chính cho các “nhà hoạt động “xuất sắc” về dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam bị ngược đãi”….? một trong những hành động bỉ ổi nhất của tổ chức VHRN là ngày 17/8/2009 đã gửi “thư thỉnh cầu” Tổng thống Mỹ Obama chỉ thị cho Bộ Ngoại giao đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC” với luận điệu xuyên tạc “Chính phủ Việt Nam vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo, gia tăng kìm kẹp báo chí, cản trở tự do thông tin và trấn áp hàng chục người bất đồng chính kiến gây bất lợi cho cuộc đấu tranh cho nhân quyền và dân chủ ở Việt Nam…”? Đây là mưu đồ đen tối với cái đích chúng nhằm đến là để khuếch trương thanh thế tổ chức nhằn đánh động cho chính quyền Mỹ biết có sự “hiện diện” của tổ chức này.
Đến nay, VHRN đã qua 10 kỳ “đại hội”. “Đại hội” gần đây, bộ sậu cao nhất của VHRN là “Ban phối hợp”, được “đại hội” bầu ra với nhiệm kỳ 2 năm. Nhiệm kỳ 2011-2013 gồm có Nguyễn bá Tùng- Nguyễn thanh Trang-Lê minh Nguyên- lâm thu vân-Nguyễn thị hồng Liên-Nguyễn mậu Trinh-Đoàn việt Trung- Đoàn thanh Liêm- Nguyễn kim Bình và ban “cố vấn” gồm có – Nguyễn Tường Bách, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Minh Cần, Trần Thanh Hiệp,  Đoàn Viết Hoạt, Bà Jackie Bông Wright, Nguyễn Hữu Lễ, Phạm Ngọc Lũy, Nguyễn Quốc Quân, Nguyễn Hữu Thống, Nguyễn Văn Trần, Lâm Lễ Trinh. VHRN đã ra cái gọi là “nghị quyết” kêu gọi Việt Nam trả tự do cho các “nhà đấu tranh dân chủ, nhân quyền đang bị giam cầm”, gia tăng các hoạt động phối hợp hành động hỗ trợ cho cuộc đấu tranh “dân chủ, nhân quyền” ở Việt Nam, tăng giá trị “giải thưởng nhân quyền” hàng năm lên vài ngàn đôla Mỹ để “khích lệ” và “hỗ trợ kinh phí” cho các đối tượng phá rối trong nước.
Từ 2002 đến nay, “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” trao “giải thưởng nhân quyền” theo kiểu “xếp hàng” mà bà con người Việt tại Hoa Kỳ gọi là “giải nhận tiền”, lần lượt trao cho nhiều phần tử chống đối,hô hào lật đổ chính quyền ở Việt Nam như: Thích Quảng Độ, Nguyễn Văn Lý, Phạm Hồng Sơn, Phạm Quế Dương, Nguyễn Đan Quế, Phan Văn Lợi, Đỗ Nam Hải, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Trần Khải Thanh Thủy, Đoàn Huy Chương, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Khắc Toàn, Trần Anh Kim, Đỗ Minh Hạnh, Hoàng Minh Chính…Ngày 3-11-2012, VHRN ra thông cáo báo chí trao giải thưởng nhân quyền Việt Nam 2012 cho ba “nữ lưu” ở quốc nội….Giải thưởng nhân quyền Việt Nam trao hàng năm cho những kẻ mù quáng có “thành tích” theo tiêu chí của VHRN đề ra là “chống đối, xuyên tạc, vu khống, kích động bạo loạn, bôi nhọ chính quyền Việt Nam” mỗi kẻ được trao giải sẽ được 3.000 đôla Mỹ. Năm 2012, VHRN loan tin về lễ trao giải nhân quyền Việt Nam diễn ra tại thành phố Montreal, Canada ngày 9-12-2012.
Ba “nữ lưu” đó là: Phạm Thanh Nghiêm (37 tuổi, quê Hải Phòng), Tạ Phong Tần (44 tuổi, quê Bạc Liêu) và Huỳnh Thục Vy (27 tuổi, quê Quảng Nam) luôn được các “mõ làng” như VOA,BBC,RFA,RFI…và các trang mạng điện tử tiếng Việt của các nhóm phản động lưu vong người Việt ở Mỹ, Canada đánh bóng,bơm, thổi, tâng bốc do dám “đối đầu” chống chính quyền Việt Nam? Tạ Phong Tần , Phạm Thanh Nghiêm,Huỳnh Thục Vy đều là những con rối để cho các tổ chức chống Việt Nam lợi dụng biến thành kẻ phản phúc đối với dân tộc, những kẻ này được dựng lên như”bù nhìn canh dưa” trên mảnh đất “dân chủ, nhân quyền” cho kẻ khác như VHRN trục lợi . Phạm Thanh Nghiêm và Tạ Phong Tần đều bị tòa kết tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Tạ Phong Tần vừa bị Tòa án nhân dân TP.Hồ Chí Minh kết án 10 năm tù hôm 24-9-2012. Phạm Thanh Nghiêm bị Tòa án nhân dân TP.Hải Phòng kết án bốn năm tù ngày 21-1-2009 và đã chấp hành xong án phạt tù. Huỳnh Thục Vy được biết đến với “công trạng” chống và bôi nhọ chính quyền trên mạng Internet và kích động biểu tình ở TP.Hồ Chí Minh. Huỳnh Thục Vy đã nhiều lần bị cơ quan bảo vệ pháp luật triệu tập, tạm giữ.
Ta hãy nghe ông trưởng “Ban Phối Hợp MLNQVN”  Nguyễn Bá Tùng  Trả lời phỏng vấn “mõ làng RFA ngày 4 -11-2012 : “vấn đề dùng nhân quyền như là sức mạnh, áp lực trong vấn đề ngoại giao là khó khăn đối với các chính phủ. hiện nay có ít chính quyền xem vấn đề nhân quyền như là sách lược chính của vấn đề ngoại giao ,do đó chúng tôi ‘quay đến’ với những tổ chức phi chính phủ như Human Rights Watch, Tổ chức Ân Xá Quốc Tế… Cho đến nay Mạng Lưới Nhân quyền Việt Nam đã thiết lập những mối liên lạc rất chặt chẽ với những tổ chức đó”. Như vậy cũng đủ cho chúng ta thấy rằng VHRN chỉ là loại “theo đóm ăn tàn” dựa hơi, hùa theo kiểu “té nước theo mưa” chứ hoàn toàn không phải là một tổ chức độc lập phản ảnh đúng những gì về Việt Nam về “dân chủ, nhân quyền”. Còn khi nói về “giải nhận tiền” mà VHRN chi ra cho các cá nhân “đoạt giải” thì ông Nguyễn Bá Tùng nói: “những gia đình nhận được giải họ ‘lên tinh thần’”,Và đối với những người khác thấy đó là ‘an ủi’ cho những nhà đấu tranh “?. Vậy là những kẻ được VHRN “tôn vinh” chỉ là những kẻ vì một chút vật chất nhỏ bé mà đã đi ngược lại lợi ích của dân tộc chứ làm gì có lý tưởng cống hiến dám hy sinh cả cuộc đời mình cho lợi ích dân tộc, có tiền thì “lên tinh thần” không có tiền thì “xuống tinh thần”? thật đúng là những kẻ mù quáng, hạ đẳng về nhân cách . Còn nhận xét của bà con cộng đồng người Việt ở hải ngoại thì đây hành động của những kẻ “nối giáo cho giặc”,”rước voi về dày mả tổ” của những kẻ chống cộng cực đoan chống lại quê hương, đất nước một cách mù quáng . Việc VHRN lợi dụng và khai thác chiêu bài “bảo vệ nhân quyền” thông qua trao “giải thưởng nhân quyền Việt Nam” cho những kẻ chống đối, gây rối ở trong nước chỉ là màn hài kịch chính trị vụng về của những kẻ trong cái tổ chức MLNQVN ở hải ngoại. Một điều chắc chắn rằng: giống như số phận của các nhóm phản động cực đoan người Việt khác ở hải ngoại,với chiêu bài chống phá Việt Nam về “dân chủ, nhân quyền” của tổ chức VHRN sẽ thật bại thảm hại khi mà chân tướng của họ bị bóc trần với kiểu kiếm tiền “nhận mười, nhả một” trơ trẽn này đã trở nên lỗi thời và không thể lừa mị được bà con trong cộng đồng người Việt chân chính ở hải ngoại.
AMARI TX
Hoa Kỳ 18-12-2012

Hồi ức về anh đại úy Nguyễn Tấn Dũng

Viên đại úy mặt mũi đầy bùn, nhoẻn một nụ cười rất hồn nhiên. Nhà báo lão thành Ba Dân nhìn viên đại úy, nói với chúng tôi: “Người cán bộ phải dấn thân như thế !”.

Trích đăng bài viết của nhà báo Minh Diện, cựu phóng viên báo Tiền Phong

___________________________________

CHẮC THỦ TƯỚNG CHƯA QUÊN!

Trong cuốn sổ tay phóng viên của tôi còn ghi lại một chuyện xảy ra cách đây 34 năm.

Hôm ấy là ngày 21-8-1978, một đoàn cán bộ Trung ương Đoàn do Bí thư Trung ương Đoàn, Anh hùng quân đội Lê Thanh Đạo, dẫn đầu đến xã Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang sau vụ thảm sát của Khmer đỏ. Đại tá Lê Thanh Đạo, sĩ quan không quân, phi công dũng cảm tham gia 8 trận đánh, tiêu diệt 6 máy bay F4 của giặc Mỹ. Cùng đi có nhà báo lão thành Ba Dân, nguyên Phó Tổng giám đốc Thông tấn xã Việt Nam, cùng các nhà báo Việt Thảo, Đình Khuyến, Phạm Hậu…

Từ sáng sớm, đoàn chúng tôi khởi hành từ Sài Gòn bằng hai chiếc xe U-OÁT cũ kỹ, theo quốc lộ 4 về miền Tây. Con đường bị tàn phá trong chiến tranh, lại bị lũ lớn xói lở, ổ gà ổ trâu lổn nhổn, thỉnh thoảng phải tránh những hố bom hố pháo chưa kịp lấp. Hai bên đường làng xóm xác xơ. Cứ cách vài cây số lại gặp một trạm Ba-rie chắn ngang đường, đó là những trạm kiểm soát liên hợp, kiểm tra tất cà các phương tiện giao thông chống buôn lậu, vượt biên, đặc biệt là ngăn người lên biên giới vì chiến sự đang hết sức căng thẳng.

Càng đến gần biên giới không khí càng ngột ngạt. Người dân bồng bế con, gồng gánh chạy từ biên giới về, bộ đội hành quân lên biên giới thanh niên nam nữ vác chông tre đi rào làng.

Đất nước mới hòa bình chưa bao lâu, hố bom chưa kịp lấp, vết thương trên da thịt chưa kịp lành, đang phải ăn bo bo thay gạo, lại xảy ra chiến tranh, kẻ thù lại là người đồng chí từng môi hở răng lạnh, chung một chiến hào đánh Mỹ, từng hy sinh máu xương vì nhau! Đau quá!

Chúng tôi đến xã Ba Chúc, huyện Tri Tôn, An Giang, nơi bọn lính Pôn bốt mới tràn sang tàn sát đồng bào ta đêm 17 rạng 18 tháng 4. Không bao giờ tôi có thể quên được những gì mình nhìn thấy buổi chiều năm ấy. Những đống xác người chồng chất trong chùa, trong trường học, dưới chân núi Tượng, núi Dài, bên bờ kinh. Người bị chặt đầu , người bị cắt cổ , mổ bụng , trẻ em bị lưỡi lê đâm , phụ nữ bị lột hết quần áo lấy cọc tre đóng vào cửa mình . Không thể đếm xuể bao nhiêu xác chết. Bọn lính Pôn Pốt tràn sang lúc nửa đêm, khi bà con ta vẫn ngủ say. Chỉ bảy, tám tiếng đồng hồ, chúng đã giết hại hàng ngàn người dân vô tội.Hành quân lên biên giới

Bộ đội và dân quân lấy bao ni lông gói xác người đưa lên xe bò chở ra hố chôn tập thể . Người thân của các nạn nhân còn sống sót chạy tản cư hết , làng xóm bỏ hoang, điêu tàn. Cách chỗ chúng tôi chưa đầy một tầm đạn súng cối , bọn Khmer đỏ núp trong công sự dưới rặng thốt nốt vẫn thường xuyên bắn sang và rình rập , lừa phía ta sơ hở là tập kích bất ngờ gây thêm tội ác . Khắp xã Ba Chúc , từ núi Tượng đến ngôi chùa của người Miên , nồng nặc mùi tử khí , rải rác xác người chết, từng bầy chó hoang nháo nhác vục mõm vào xác chết đang phân hủy…

Từ Ba Chúc , An Giang , chúng tôi sang Kiên Giang, đến Trung đoàn 152 (Bộ đội địa phương Kiên Giang) đang chiến đấu bảo vệ biên giới. Đồng chí Chủ nhiệm chính trị ân cần đón tiếp chúng tôi. Đó là một đại úy rất trẻ . Anh nói những diễn biến trên tuyến biên giới do đơn vị mình phụ trách , và quyết tâm của anh em trong đơn vị đánh trả bọn Pôn bốt . Khi kể lại chuyện bọn Pôn bốt giết hại đồng bào mình, người đại úy trẻ nghẹn lời, lấy tay chùi nước mắt. Gương mặt anh quắt lại, mắt đỏ ngầu.

Chúng tôi đề nghị ra thăm bộ đội ngoài trận địa , chủ nhiệm chính trị hơi ngần ngừ vì cuộc chiến đấu đang hết sức căng thẳng , nhưng khi anh Lê Thanh Đạo nói, hầu hết thành viên trong đoàn đếu là người đã qua khói lửa , đồng chí đại úy trẻ kêu thêm hai chiến sỹ bảo vệ , cùng mình dẫn chúng tôi lên chốt.

Trên đường ra trân địa có một đoạn lầy , bánh xe bị lún sâu không lên được . Chủ nhiệm chính trị hô: “ Nào các đồng chí theo tôi !”. Anh nhảy xuống ghé lưng cõng nhà báo lão thành từ xe qua vũng lầy .Tiếp đến chị Hằng . Hai chiến sỹ cùng chúng tôi, cả anh Lê Thanh Đạo nhảy xuống làm theo đồng chí đại úy. Mọi người khiêng bổng hai chiếc xe qua bãi lầy. Khi xe tiếp tục lăn bánh, viên đại úy mặt mũi đầy bùn, nhoẻn một nụ cười rất hồn nhiên. Nhà báo lão thành Ba Dân nhìn viên đại úy, nói với chúng tôi: “Người cán bộ phải dấn thân như thế !”.

Lẽ thường vốn vậy, tốt-xấu do mình, khen chê là quyền của mọi người, ai cũng có cách nhìn nhận và chính kiến của họ, chặn miệng thế gian là việc làm ngược cách. Dư luận trong dân chúng (trừ những động cơ cá nhân nào đó của một vài người hay thiểu số) phần lớn thường khách quan, công bằng; việc đáng khen thì khen, việc đáng chê thì chê, khi cần phỉ nhổ thì cũng không ngán. Có điều, người bị chê phải biết tự nhận diện, tự xem xét lại mình, không nên chủ quan hoặc tìm cách khỏa lấp, chống chế vì những động cơ cá nhân thấp hèn.

Buổi tối hôm ấy, Ban chỉ huy trung đoàn 152 mời chúng tôi ăn cơm với thịt trâu luộc. Bấy giờ đang thời buổi đói kém, và đã trải qua một ngày vất vả , mệt nhọc , nhưng chúng tôi không tài nào nuốt nổi miếng cơm vì hình ảnh ghê rợn ở Ba Chúc vẫn còn lởn vởn trước mắt. Tôi kê cuốn sổ tay lên đầu gối ghi lại những việc xảy ra trong ngày , và tự nhiên bật ra những câu thơ không vần điệu. Trước khi tạm biệt Ban chỉ huy trung đoàn, tôi đọc bài thơ ấy cho mọi người nghe:

Ta lại hành quân về biên giới Tây Nam
Mộc Hóa, Tân Biên lửa ngút ngàn
Máu dân nhuộm đỏ đồng Ba Chúc
Sa Mát, Cà Tum …trắng khăn tang.

Những tên lính áo đen
Ném trẻ con vào lửa
Đập đầu , mổ bụng người già
Đâm cọc nhọn vào cửa mình phụ nữ
Miệng hô vạn tuế Ăng-ca

Những tên đập đầu dân Cam-pu-chia
Xây dựng “chính quyền năm không” quái dị
Chúng với ta từng là đồng chí
Thắm tình hữu nghị anh em

Đường hành quân về biên giới Tây Nam
Qua những hố bom chưa kịp lấp
Qua những chiếc cầu đổ sập
Gặp những mẹ già chua kịp xả khăn tang

Ta lại hành quân về biên giới Tây Nam
Thành phố sau lưng chập chờn ánh điện
Con khát sữa chụp bình cháo loãng
Mẹ đói lòng nhai tạm bo bo
Vợ ta còm cõi xác xơ
Đêm ngày lại đỏ mắt chờ đợi ta!

Mọi người lặng đi một lát . Đồng chí đại úy chủ nhiệm chính trị bắt tay tôi và xin bài thơ chép tay để đăng báo tường đơn vị.

Đồng chí đại úy trẻ ấy chính là Thủ tường Nguyễn Tấn Dũng bây giờ.

Hơn ba chục năm đã qua chưa một lần tôi gặp lại ông Nguyễn Tấn Dũng, nhưng tôi không quên hình ảnh người đại úy trẻ khóc khi kể về những người đồng bào của mình bị sát hại và nhảy xuống cõng nhà báo lão thành qua đầm lầy lên mặt trận biên giới năm ấy.

MINH DIỆN (BLOGPOST)

[nguồn: REDS.vn]

Từ khi sinh ra, Lý Thái Tông sau gáy có đến 7 nốt ruồi tụ lại như chòm sao Bắc Đẩu, được xem là điềm báo xứng đáng nối ngôi thiên tử.

Lý Thái Tông tên húy Phật Mã, sinh năm Canh Tý (1000) ở chùa Duyên Ninh thuộc cố đô Hoa Lư. Ông là con trai trưởng của Vua Lý Thái Tổ và bà Lê Thị Phất Ngân, con gái Vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn) và Dương Vân Nga.

Tượng Lý Thái Tông tại đền Lý Bát Đế.

Tương truyền, ngay từ khi lọt lòng, Lý Phật Mã đã có những dấu hiệu lạ lùng. Lúc bé, chơi đùa với bọn trẻ trong cung, ông thường bắt chúng dàn hàng tả hữu trước sau để làm quân hầu hộ vệ cho mình. Ông cho một vị đạo sĩ cái áo. Đạo sĩ treo cái áo trong quán, nửa đêm thấy rồng vàng hiện ra, khiến người ta duy tâm đây là lời “sấm truyền” cho một đế vương.

Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) rất chú ý tới Phật Mã và có ý nuôi dạy ông kế vị. Năm Nhâm Tý (1012), lúc mới 13 tuổi, Lý Phật Mã đã được lập làm Đông cung Thái tử, rồi được phong làm Khai Thiện Vương, đồng thời nhiều lần được cử làm tướng cầm quân đi dẹp loạn và lập được công lớn. Vì thế, triều thần cũng như thần dân lúc bấy giờ rất tôn kính Phật Mã. Năm 1028, vua cha mất, Lý Phật Mã lên ngôi.

Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhận xét về Lý Thái Tông: “Vua là người trầm mặc, cơ trí, biết trước mọi việc, giống như Hán Quang Vũ đánh đâu được đấy, công tích sánh với Đường Thái Tông”. Ông là vị vua giỏi thời nhà Lý. Hơn 30 năm chinh chiến và trị quốc, ông đã củng cố nền cai trị của nhà Lý, chống lại những nguy cơ chia cắt, bạo loạn, xâm lấn, thu phục lòng dân, khiến cho nước Đại Cồ Việt trở nên vững mạnh.

Trần Nhân Tông: Có màu da như vàng ròng

Trần Nhân Tông tên thật là Trần Khâm, sinh ngày 11/11 năm Mậu Ngọ (1258), là con trưởng của Vua Trần Thánh Tông và Nguyên Thánh Hoàng thái hậu. Khi mới sinh toàn thân màu da như vàng ròng – sáng chói. Vua cha đặt tên là Phật Kim. Sách Thánh Đăng ngữ lục chép: “Đến khi vua ra đời, màu da như vàng ròng. Thánh Tông đặt tên là Kim Phật…”.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi: “Được tinh anh của Thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng ròng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng… Vai bên tả có một nốt ruồi đen, các nhà tướng số cho rằng: ngày sau sẽ gánh vác việc lớn”.

Ảnh thờ Vua Trần Nhân Tông.

Trần Khâm được vua cha Trần Thánh Tông nhường ngôi vào ngày 22/10 năm Mậu Dần (1278). Ông ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi, qua đời ở am Ngọa Vân núi Yên Tử, đưa về táng ở Đức lăng (nay thuộc tỉnh Thái Bình). Các sử gia thời Hậu Lê đã viết về Trần Nhân Tông: “Vua nhân từ hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng sáng ngời thuở trước, thực là bậc vua hiền của nhà Trần. Song để tâm nơi kinh Phật, tuy nói là để siêu thoát, nhưng đó không phải là đạo trung dung của thánh nhân”.

Lê Thái Tổ: Miệng rộng, mũi cao và bả vai có 7 nốt ruồi

Về lý lịch xuất thân của Lê Thái Tổ (Lê Lợi), sách Đại Việt thông sử chép: “Vua sinh giờ Tí (tức từ khoảng 23h đến 1h sáng) ngày mùng 6 tháng 8 năm Ất Sửu (1385), niên hiệu Xương Phù thứ 9 nhà Trần, tại làng Chủ Sơn, huyện Lôi Dương. Nguyên trước, xứ Du Sơn, thôn Như Áng Hậu thuộc làng này (Chủ Sơn), có một cây quế, dưới cây quế này có con hùm xám thường xuất hiện, nhưng nó hiền lành, vẫn thường thân cận với người mà chưa từng hại ai.

Từ khi Vua ra đời thì không thấy con hùm ấy đâu nữa. Người ta cho là một sự lạ. Ngày Vua ra đời thì trong nhà có hào quang đô chiếu sáng rực và mùi thơm ngào ngạt khắp làng. Khi lớn lên thì thông minh dũng lược, độ lượng hơn người, vẻ người tươi đẹp hùng vĩ, mắt sáng, miệng rộng, sống mũi cao, xương mi mắt gồ lên, bả vai bên trái có 7 nốt ruồi, bước đi như rồng như hổ, tiếng nói vang vang như tiếng chuông. Các bậc thức giả biết ngay là một người phi thường”.

Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế ở Đông Kinh, mở đầu triều Lê sơ, triều đại lâu dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

Lê Lợi sinh ra trong một gia đình “đời đời làm quân trưởng một phương”. Năm ông 21 tuổi cũng là năm nhà Minh đem 80 vạn quân sang xâm lược nước Việt. Cuộc kháng chiến chống Minh của vương triều Hồ thất bại, nước Đại Việt rơi vào ách thống trị tàn bạo của giặc Minh. Trước cảnh đất nước bị kẻ thù giày xéo, tàn phá, Lê Lợi đã nung nấu một quyết tâm đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi.

Đầu năm 1416, tại núi rừng Lam Sơn trên đất Thanh Hóa, Lê Lợi cùng với 18 người bạn thân thiết, đồng tâm cứu nước đã làm lễ thề đánh giặc giữ yên quê hương. Đó là hội Thề Lũng Nhai đã đi vào sử sách. Rồi sau một thời gian chuẩn bị chín muồi, đầu năm 1418, Lê Lợi xưng là Bình Định Vương, truyền hịch đi khắp nơi, kêu gọi nhân dân đứng lên đánh giặc cứu nước. Lê Lợi là linh hồn, là lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩa ấy.

Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế ở Đông Kinh, mở đầu triều Lê sơ, triều đại lâu dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Mặc dù ở ngôi ngắn ngủi được có 6 năm nhưng những việc làm của ông vua này có ý nghĩa đặt nền móng vững chắc cho cả một triều đại và nên độc lập phồn vinh của quốc gia Đại Việt. Việc làm đầu tiên của Lê Thái Tổ là bàn định luật lệnh. Và nhờ cố gắng đó, hai năm sau (1430), Lê Thái Tổ đă cho ban hành những điều luật đầu tiên của triều đại mình”.

Quang Trung: Mắt lập lòe như ánh điện

Nguyễn Huệ (1753 – 1792), còn được biết đến là Vua Quang Trung hay Bắc Bình Vương, là vị hoàng đế thứ hai của nhà Tây Sơn (ở ngôi từ 1788 tới 1792). Ông là một trong những lãnh đạo chính trị tài giỏi với nhiều cải cách xây dựng đất nước, quân sự xuất sắc trong lịch sử Việt Nam với những trận đánh nội chiến và chống ngoại xâm chưa thất bại lần nào.

Quang Trung – Nguyễn Huệ cũng được xem là người anh hùng áo vải của dân tộc Việt Nam.

So với các hoàng đế khác trong lịch sử Việt Nam, có lẽ Quang Trung – Nguyễn Huệ được các sử thần lưu lại những miêu tả chi tiết hơn về vóc dáng, thậm chí miêu tả cả đến làn da, mái tóc và đặc biệt là đôi mắt: “Quang Trung là người cao lớn, tóc quăn, da sần, tiếng nói sang sảng như chuông. Kỳ lạ nhất là cặp mắt sáng như chớp, có thể nhìn rõ mọi vật trong đêm tối, nó khiến nhiều người khi thấy đều run sợ, hãi hùng…“không một người nào dám nhìn thẳng vào mắt ông” (Hoàng Lê nhất thống chí). “Đôi mắt lập lòe như ánh điện” (Đại Nam chính biên liệt truyện), “con mắt nhỏ nhưng cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi không có đèn, ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu” (Tây Sơn thuật lược)…

Sách Những khám phá về Hoàng đế Quang Trung cũng trích dẫn tướng mạo của Hoàng đế Quang Trung theo mô tả của một quan viết sử dưới thời Nguyễn: “Huệ tóc quăn, mặt đầy mụn, có con mắt nhỏ, nhưng cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi không có đèn, ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu, lúc lâm trận thì thế thắng uy nghi, anh hùng lẫm liệt, cho nên mới bình định được phương Nam, dẹp phương Bắc, tiến đến đâu thì không ai hơn được… Óc thông minh đó sẽ làm nên sự nghiệp lớn, tiếng nói sang sảng như chuông sẽ là lệnh truyền hiệu nghiệm đầy sức thuyết phục. Với đôi mắt như ánh điện, thay được đèn soi sáng cả chiếu vào lúc ban đêm, có thể xuyên thấu mọi tâm can sâu thẳm của mỗi con người, của đối phương nên đã làm người người đều kinh sợ. Cái nhãn quang đó cùng bộ óc thông minh của ông đã làm nên sự nghiệp phi thường như lịch sử đã ghi lại”.

Ngoài ra, trong một phác họa chân dung vua Quang Trung in trên một tờ tiền giấy, hậu thế có thể thấy đôi mắt của vua là một đôi mắt đẹp đặc trưng kiểu người Việt Nam, nghĩa là đôi mắt to, hai mí lớn, nhãn cầu hơi lồi và ánh nhìn ngay thẳng, chính trực. Có lẽ do quá ấn tượng về nhân cách, tài trí vô song của vị vua áo vải này mà các sử gia đã phần nào “thần thánh hóa” đôi mắt của vua, nhằm cho đời sau cảm nhận được uy lực lạ lùng của đôi mắt ấy. Việc miêu tả chi tiết đôi mắt, làn da cũng như mái tóc của vua Quang Trung càng cho thấy sự gần gũi của vị vua có xuất thân dân dã này.

 

Theo Đất Việt [tiêu đề gốc: 

Tướng mạo dị thường của các ông vua Việt]

Thế kỷ XXI – Karl Marx đã chết?

 

Cuối thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI, lịch sử nhân loại đã diễn ra với nhiều biến cố bất ngờ, từ sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu đến sự thoái trào của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Nhân đó, đã có nhiều công trình, bài viết tuyên bố về cái chết của triết học Marx , chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa cộng sản dựa trên các học thuyết của Marx . Song, thực tiễn lịch sử đã cho thấy, với bản chất cách mạng và khoa học, triết học Marx , chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa cộng sản dựa trên các học thuyết của K. Marx không những không chết, mà còn trường tồn với nhân loại ở thê kỷ XXI. Rằng, những di sản lý luận của K. Marxđã trở thành tài sản chung của cả nhân loại và sẽ mãi mãi là như vậy.

Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu, sự thoái trào của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã từng là đề tài của những cuốn sách, bài báo mà trong đó, các tác giả của chúng đều có một cái đích chung là “chứng minh” về cái chết của chủ nghĩa Marx , về cái chết của chủ nghĩa cộng sản dựa trên các học thuyết của K. Marx. Nổi bật trong số các cuốn sách loại đó phải nói đến cuốn Sự cáo chung của lịch sử và con người cuối cùng của Francis Fukuyama xuất bản tại New york năm 1992.

Theo sự so sánh của Jacques Derida – nhà triết học người Pháp, một trong những nhà triết học phương Tây nổi tiếng thế giới ở thế kỷ XX, trong cuốn Những bóng ma của Marx (Spectres de Marx), thì lúc đó, ở phương Tây, “người ta mua cuốn sách này như một bà nội trợ xô vào mua đường và dầu, khi có những tin đồn đầu tiên về chiến tranh”. Bên cạnh nhiều đánh giá khác của Jacques Derida về cuốn sách trên của Francis Fukuyama, thì những đánh giá sau đây của ông quả thật rất đáng lưu ý: “Nếu một luận thuyết kiểu như luận thuyết của Fukuyama đóng một cách có hiệu quả vai trò gây mơ hồ và vai trò phủ nhận sầu thảm gấp đôi mà người ta chờ đợi ở nó, thì nó đã làm một trò lừa gạt một cách khôn khéo đối với một số người này và thô bạo đối với một số người khác”. Hoặc: “Phải thừa nhận là quyển sách này mang sắc thái tinh vi hơn, đôi khi để lửng, thậm chí đến mức mập mờ…”. Nói cách khác, người ta không thể không nghi ngờ về tính khách quan và tính khoa học của cuốn sách trên của Fukuyama. Không ai có thể phủ nhận một sự thật là Liên Xô và khối Đông Âu xã hội chủ nghĩa đã sụp đổ chủ nghĩa xã hội đã bị một tổn thất hết sức nặng nề. Nhưng từ sự sụp đổ đó mà rút ra kết luận rằng, học thuyết của K. Marxđã chết, triết họK. Marxđã chết, chủ nghĩa cộng sản đã chết thì thật là một sự vui mừng quá sớm, là một sai lầm, nếu không muốn nói là do những động cơ không trong sáng, hay nặng hơn, là do sự thù ghét cay độc đối với K. Marx và các học thuyết của ông. Hãy khoan nói đến ở đây những nguyên nhân gây ra sự sụp đổ đó của Liên Xô và các nước Đông Âu với tính cách một mô hình, một kiểu chủ nghĩa xã hội đã được người đời sau thiết kế theo sự hiểu biết, sự giả định, một sự mong muốn chủ quan của mình nhưng lại mệnh danh, hoặc tưởng rằng, đã làm theo đúng chỉ dẫn của K. Marx, là xuất phát từ K. Marx, là trung thành tuyệt đối với C Marx , bởi những nguyên nhân gây nên sự sụp đổ ấy thì có rất nhiều và cần phải được mổ xẻ trong một dịp khác.

Trong dịp Kỷ niệm 190 năm Ngày sinh K. Marx(05/05/1818 – 05/05/2008), chúng ta hãy chỉ đề cập một cách hết sức vắn tắt đến các học thuyết cơ bản của K. Marx, chẳng hạn như quan niệm duy vật về lịch sử hay học thuyết về giá trị thặng dư, chứ chưa nói đến rất nhiều những tư tưởng vượt thời đại khác của ông đã hợp thành chủ nghĩa mang tên ông, để có một cái nhìn thật sự khách quan, thật sự khoa học, thật sự tôn trọng K. Marx.

Trước hết, chúng ta hãy nhớ lại một luận điểm nổi tiếng mà người tiền bối vĩ đại của K. Marx đã đưa ra trong lĩnh vực triết học, người đã được K. Marx cải tạo theo lối duy vật, đã kế thừa và vượt qua. Đó chính là luận điểm được Hê-ghen trình bày trong Những bài giảng về lịch sử triết học của ông. Hê ghen viết: “Triết học hiện đại là kết quả của tất cả những nguyên lý có từ trước đó, như vậy, không có một hệ thống nào bị lật đổ, không phải nguyên lý của triết học đó bị lật đổ mà chỉ có sự giả định rằng, nguyên lý đó là định nghĩa tuyệt đối cuối cùng bị lật đổ mà thôi”.

Câu nói đó của Hê ghen hoàn toàn có thể vận dụng vào trường hợp của K. Marx. Điều đó có nghĩa là, một học thuyết, một hệ thống triết học hay một học thuyết xã hội nào đó, nếu là kết quả của sự tổng kết khoa học về lịch sử, là sự đúc rút từ các nguyên lý khoa học có từ trước đó mà không bị tuyệt đối hoá đến mức giáo điều, không bị làm cho khô cứng đi thì không bao giờ nó mất hết các giá trị, không bao giờ bị sụp đổ hoàn toàn. Điều đó cũng rất dễ hiểu. Không có một lý thuyết nào là tuyệt đối đúng cho mọi thời đại, trong mọi điều kiện lịch sử, bởi chân lý là một quá trình, chân lý nằm trong quá trình và việc đạt đến chân lý cũng là một quá trình. Các tư tưởng, các học thuyết của K. Marx về triết học, về xã hội, về kinh tế, về con người, về khoa học và kỹ thuật, v.v. vốn là kết quả của một sự nghiên cứu, phê phán, tiếp thu, vượt bỏ những thiên tài trước ông, tính từ thời Cổ đại cho đến tận L.Phoiơbắc, của sự khái quát lý luận và tổng kết thực tiễn cực kỳ sôi động thế giới lúc bấy giờ, và trên hết là sự sáng tạo tuyệt vời của một bộ óc thiên tài, của một trong những vĩ nhân vĩ đại nhất, có ảnh hưởng to lớn nhất trong mọi thời đại của nhân loại, như một cuộc thăm dò dư luận phương Tây cuối thế kỷ XX đã cho thấy. Những tiền đề xuất phát để K. Marxrút ra các kết luận lý luận “không phải là những tiền đề tuỳ tiện, không phải là giáo điều, đó là những tiền đề hiện thực mà người ta chỉ có thể bỏ qua trong trí tưởng tượng thôi… Những tiền đề ấy là có thể kiểm nghiệm được bằng con đường kinh nghiệm thuần tuý. Do vậy, những tư tưởng và những học thuyết của K. Marxhoàn toàn và tuyệt nhiên không phải là những “ảo tưởng chủ quan”, không phải là “duy ý chí” như những người phê phán K. Marx đã cố tình gán ghép.

Chúng ta đều biết rằng, do không thỏa mãn với các cách giải thích khác nhau của những người đi trước mình về lịch sử xã hội loài người, nên K. Marx đã kiên trì đi tìm và đã tìm ra “những điều bí ẩn của lịch sử”, “chủ thể của lịch sử và chìa khóa của lịch sử đích thực”. Với K. Marx, cái thúc đẩy sự vận động của lịch sử không phải là sức mạnh siêu tự nhiên, cũng không phải là những tư tưởng hay ý chí của con người, của các vĩ nhân, mà chính là sản xuất vật chất, là những lợi ích vật chất, còn chính quần chúng nhân dân mới là những người sáng tạo chân chính ra lịch sử của mình.

Quan điểm mang tính chất nền tảng đó có quan hệ chặt chẽ với quan niệm về sự phát triển của lực lượng sản xuất và vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với sự phát triển của mọi hình thái xã hội từ trước cho đến nay. Với C Marx , không những các hình thái kinh tế – xã hội khác nhau là một quá trình lịch sử – tự nhiên, mà sự thay thế các hình thái đó cũng là một quá trình lịch sử – tự nhiên. Điều đó có nghĩa rằng, khi đã là một quá trình lịch sử – tự nhiên thì con người hoàn toàn có thể khám phá được, có thể nhận thức được, có thể nắm được và vận dụng được các quy luật vận động của nó. Và, K. Marxđã chứng minh điều đó một cách tài tình, vừa khoa học, vừa hết sức thuyết phục trong nhiều công trình, đặc biệt là trong bộ Tư bản – một công trình của suốt cả cuộc đời C Marx , rằng hình thái kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa, sớm hay muộn, tất yếu sẽ bị thay thế bằng một phương thức sản xuất tiên tiến hơn, phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa, bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội sẽ đến một lúc không còn có thể chứa đựng trong các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa nữa. Đó là quy luật tất yếu của lịch sử.

Tuy nhiên, khi khẳng định như vậy, K. Marxkhông hề xác định thời điểm cụ thể về sự thay thế đó hay về thời điểm diệt vong của chủ nghĩa tư bản. Đáng tiếc là những người lãnh đạo và các nhà lý luận đi sau K. Marx, do quá say sưa với thắng lợi và sự lớn mạnh một thời của chủ nghĩa xã hội trên quy mô thế giới, dường như muốn thúc đẩy nhanh “cái chết” đó của chủ nghĩa tư bản nên đã không đủ tỉnh táo để thấy rằng chính K. Marx, ngay trong Lời tựa viết cho lần xuất bản đầu tiên tập I bộ Tư bản, đã nhận ra rằng, xã hội tư bản “hoàn toàn không phải là một khối kết tinh vững chắc, mà là một cơ thể có khả năng biến đổi và luôn luôn ở trong quá trình biến đổi”. Rõ ràng, một xã hội, cũng như một cơ thể sống, khi còn có khả năng biến đổi và đang trong quá trình biến đổi thì có nghĩa là cơ thể đó còn có khả năng thích nghi, nó chưa thể chết ngay. Về điều này, K. Marx cũng đã từng nói rằng, “không một hình thái xã hội nào diệt vong trước khi tất cả những lực lượng sản xuất mà hình thái xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ cho phát triển, vẫn chưa phát triển, và những quan hệ sản xuất mới, cao hơn, cũng không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa chín muồi trong lòng bản thân xã hội cũ. Cho nên, nhân loại bao giờ cũng chỉ đặt ra cho mình những nhiệm vụ mà nó có thể giải quyết được vì khi xét kỹ hơn, bao giờ người ta cũng thấy rằng bản thân nhiệm vụ ấy chỉ nảy sinh khi những điều kiện vật chất để giải quyết nhiệm vụ đó đã có rồi, hay ít ra cũng đang ở trong quá trình hình thành”.

Lịch sử nhân loại thế kỷ XX và hiện nay đã hoàn toàn xác nhận những chỉ dẫn hết sức tinh tường đó của K. Marx. Hệ thống tư bản chủ nghĩa hiện đại vẫn đang còn sức sống, đang thể hiện sức mạnh thực sự của nó ở những mặt nhất định và đang chi phối khá mạnh nền chính trị và kinh tế thế giới, chứ chưa phải đã đến lúc lịch sử của nó kết thúc. Hệ thống đó vẫn đang có khả năng thích nghi, tự điều chỉnh và tiếp tục phát triển. Không thể không thấy điều đó. Vậy, liệu có thể từ đó mà rút ra kết luận rằng, chủ nghĩa tư bản là vĩnh hằng, là bất tử, là tương lai duy nhất của nhân loại hay không? Không. Hoàn toàn không thể! Mọi sự biện hộ theo kiểu đó đều không có cơ sở. Chủ nghĩa tư bản toàn cầu hoá hiện nay mà K. Marx đã từng dự báo về sự ra đời của nó, với sức mạnh của nó và với cả những mâu thuẫn nội tại mà tự thân nó không thể nào giải quyết được, là bước chuẩn bị cho sự thay thế nó trong tương lai, tức là các điều kiện chuẩn bị cho sự thay thế đó đang trong quá trình hình thành ở ngay trong chính bản thân nó. Lịch sử không bao giờ ngừng lại, không bao giờ ngưng đọng. Biện chứng của lịch sử chính là như vậy và sẽ mãi mãi là như vậy. Những bí mật làm giàu của các nhà tư bản và sự bần cùng của người lao động cũng đã từng là một bí mật của lịch sử đã được chính K. Marx khám phá ra nhờ học thuyết về giá trị thặng dư. Việc phát hiện ra học thuyết này là “công lao lịch sử vĩ đại nhất lao động của Marx . Nó chiếu sáng rực rỡ lên những lĩnh vực kinh tế mà trước kia những nhà xã hội chủ nghĩa cũng mò mẫm trong bóng tôi không kém gì những nhà kinh tế học tư sản. Chủ nghĩa xã hội khoa học bắt đầu từ ngày có giải đáp đó, và nó là điểm trung tâm của chủ nghĩa xã hội khoa học”.

Ngày nay, nhân loại đang từng bước tiến vào kinh tế tri thức, tri thức đang chuyển hoá “thành lực lượng sản xuất trực tiếp như K. Marx đã từng tiên đoán. Sự kiện nhân loại bước vào kinh tế tri thức này lại cũng là lý do để cho một số người, cả ở nước ta lẫn nước ngoài, ngộ nhận rằng, kinh tế tư bản và các nhà tư bản đã thay đổi về bản chất, không còn bóc lột người lao động, không tìm kiếm giá trị thặng dư như khi K. Marx viết bộ Tư bản nữa. Theo họ, sức lao động của con người ngày nay chủ yếu đã được chuyển sang cho các máy móc cực kỳ tinh vi với hiệu suất rất cao. Tỷ lệ giá trị của lao động sống không thể so với giá trị do máy móc làm ra, do đó, theo họ, máy móc hiện đại mới là cái sản xuất ra giá trị thặng dư, nghĩa là nhà tư bản bây giờ chỉ còn bóc lột máy móc chứ không phải bóc lột công nhân!

Thật ra, như K. Marx đã từng nói: “… Những máy móc có một sức mạnh kỳ diệu trong việc giảm bớt lao động của con người và làm cho lao động của con người có kết quả hơn, thì lại đem nạn đói và tình trạng kiệt quệ đến cho con người. Những nguồn của cải mới, từ xưa tới nay chưa ai biết, dường như do một sức mạnh thần kỳ nào đó lại đang biến thành nguồn gốc của sự nghèo khổ. Nhận xét đó của K. Marx vẫn rất đúng trong điều kiện hiện nay. Máy móc, dù có hiện đại đến đâu chăng nữa, cũng vẫn không thể thiếu được sức lao động của con người. Hơn thế nữa, máy móc càng hiện đại, càng tạo ra nhiều sản phẩm hơn, các sản phẩm càng có hàm lượng từ thức nhiều hơn thì lại càng đòi hỏi chất lượng lao động cao hơn, tri thức nhiều hơn, do đó, càng không thể thiếu được công nhân tri thức. Nghĩa là, sản xuất, dù hiện đại đến đâu, cũng không thể thiếu được sức lao động của con người, của người công nhân, của kỹ sư, của nhà khoa học, tức là không thể thiếu được lao động sống. Vậy, nhà tư bản lấy lợi nhuận ở đâu, có chiếm đoạt giá trị thặng dư ở đây không? Chắc chắn không khó để trả lời. Chính K. Marx đã chỉ rõ rằng, sự sản xuất ra giá trị thặng dư là quy luật tuyệt đối của sản xuất tư bản chủ nghĩa, không có lợi nhuận thì không một nhà tư bản nào chịu bỏ vốn để sản xuất, kinh doanh, mà nhuận chỉ là hình thái thứ sinh, phái sinh và được biến đổi của giá trị thặng dư, là hình thái tư sản trong đó đã xoá hết những nguồn gốc của nó”. Dường như có người đã không biết, hoặc đã cố tình quên đi sự luận chứng rất quan trọng và khoa học này của K. Marx về mối quan hệ giữa lợi nhuận và giá trị thặng dư. Rõ ràng là, trong thời đại hiện nay, hình thức bóc lột có thay đổi, đã trở nên khó nhận biết hơn, tinh vi hơn và khác hơn so với thời của K. Marx, nhưng bản chất bóc lột của tư bản thì không khác. Đó chính là nguồn gốc, là nguyên nhân dẫn đến hố ngăn cách giữa người giàu và người nghèo, giữa những nước giàu và những nước nghèo hiện nay trên thế giới, kể cả ở các nước tư bản phát triển nhất, đang ngày một doãng ra với tốc độ ngày càng nhanh hơn.

Từ hai vấn đề quan trọng trên, có thể nói rằng, những học thuyết quan trọng của K. Marxkhông hề lỗi thời, nếu chúng không bị tuyệt đối hoá, nếu như nghiên cứu và vận dụng chúng theo tinh thần biện chứng chứ không phải một cách giáo điều, xơ cứng. Điều này không chỉ chúng ta nói và tin, mà ngay cả nhiều nhà triết học phương Tây nổi tiếng cũng tin như vậy. Và, chắc lòng tin đó của họ không thể coi là xuất phát từ hệ tư tưởng, mà chính là từ những sự trải nghiệm, sự phân tích thực tiễn và sự tổng kết lý luận của chính họ. Jacques Derida, trong Những bóng ma của Marx đã dẫn ra ở trên, khi thừa nhận rằng, “tất cả mọi người trên toàn trái đất này, dù họ muốn, họ biết hay là không, đều là những người kế thừa của Marx và chủ nghĩa Marx với một mức độ nhất định”, đã khẳng định: “Luôn luôn sẽ là một sai lầm, nếu không đọc đi đọc lại và tranh luận những tác phẩm của Marx … Đó sẽ càng ngày càng là một sai lầm, một sự thiếu trách nhiệm về mặt lý luận, triết học và chính trị… Sẽ không có tương lai khi không có trách nhiệm đó. Không có nếu không có K. Marx không có tương lai mà lại không có Marx . Nếu không có ký ức về Marx và không có di sản của Marx “.

Chủ nghĩa Marx không chết, chủ nghĩa cộng sản được xây dựng dựa trên các học thuyết chân chính của K. Marx không chết như một số người từng tuyên bố. K. Marx vẫn sống với nhân loại không chỉ ở thế kỷ XXI, bởi những di sản của K. Marx đã trở thành tài sản chung của cả nhân loại và sẽ mãi mãi là như vậy, bởi như Michel Vadée – nhà triết học, thành viên của Trung tâm nghiên cứu và tư liệu về Hê ghen và Marx thuộc Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp, đã nhận định rằng, “tư tưởng của Marx đã “được biết đến nhiều: nó đã cắm sâu vào thế giới”.

S.T [http://reds.vn/index.php/chinh-tri/cnxh-cntb/2236-the-ky-xxi-karl-marx-da-chet]