Tag Archive: quán


Dân cả đời cày dưới ruộng, giữa đường, giữa chợ, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Quan chức thì suốt ngày ở trong phòng lạnh, xe lạnh, trong nhà hàng, trên sân gôn. Trái tim họ nguội lạnh dần theo đồng tiền, theo lợi ích nhóm. Đó là nguyên nhân đẻ ra biết bao văn bản, chính sách làm nhân dân rối bời và khổ sở trong những ngày tháng qua.

Tiếp tục đọc

TTO – Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu vừa gửi đến Tuổi Trẻ bài viết nhân việc lần đầu tiên Quốc hội tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với cán bộ chủ chốt của các cơ quan quyền lực cao nhất.

Nguyên Tổng bí thư Lê Khả Phiêu – Ảnh tư liệu Tuổi Trẻ

Tiếp tục đọc

Sỹ quan bảo vệ tiếp cận và những điều ít biết

Họ là những sỹ quan thuộc lực lượng đặc biệt Bộ Tư lệnh Cảnh vệ (Bộ Công an) chuyên đảm trách nhiệm vụ bảo vệ các nguyên thủ, chính khách quốc tế đến thăm Việt Nam. Xuất hiện bên cạnh yếu nhân trong những bộ veston lịch lãm, ngoài việc bảo vệ tuyệt đối an toàn cho khách, những sỹ quan bảo vệ tiếp cận còn  mang đến cho các vị khách cảm nhận về một Việt Nam hoà bình, thân thiện và hiếu khách.

Ở các nước trên thế giới họ có những đội vệ sỹ hay cận vệ được tuyển chọn, đào tạo, huấn luyện cực kỳ bài bản, công phu, đồng thời được trang bị những thiết bị, vũ khí hiện đại bậc nhất. Mục đích cuối cùng là đảm bảo tuyệt đối an toàn cho các yếu nhân. Do tính chất công việc đặc biệt quan trọng nên những sỹ quan Cảnh vệ Việt Nam cũng không nằm ngoài những yêu cầu và đòi hỏi đó.

Thượng tá Vũ Minh Thản tâm sự: Đối với những sỹ quan bảo vệ tiếp cận, công tác huấn luyện, trau dồi nghiệp vụ luôn đòi hỏi rất cao. Ngoài những bài huấn luyện võ thuật, bắn súng theo định kỳ, những sỹ quan bảo vệ tiếp cận cũng phải đáp ứng một số yêu cầu cơ bản khác về bơi lội, điền kinh và khả năng ứng xử, giao tiếp.

Thủ tướng Australia Howard đi quanh hồ Hoàn Kiếm năm 2006 – đi sát bên cạnh là sỹ quan bảo vệ tiếp cận Việt Nam Trung tá Nguyễn Quang Khai.

Còn nhớ hồi APEC 2006 những người dân tập thể dục ven hồ Hoàn Kiếm đã khá bất ngờ khi thấy Thủ tướng Úc Jonh Howard quần short chạy bộ quanh hồ Hoàn Kiếm vào sáng sớm. Thường xuyên xuất hiện trên truyền hình, nên vị nguyên thủ nổi tiếng thế giới này nhanh chóng được nhiều người dân Hà Nội nhận ra. Chạy sát bên cạnh vị Thủ tướng Australia, người ta nhìn thấy một thanh niên Việt Nam cũng quần short, áo phông. Nhìn bề ngoài ít ai biết được đó là Trung tá Nguyễn Quang Khai – sỹ quan bảo vệ tiếp cận thuộc lực lượng Cảnh vệ Việt Nam, người được giao nhiệm vụ bảo vệ Thủ tướng Australia. Đó là tình huống bảo vệ nằm ngoài dự kiến ban đầu nhưng cuối cùng tất cả đã diễn ra cực kỳ suôn sẻ…

Bảo vệ tiếp cận là theo sát như hình với bóng bên cạnh chính khách, nguyên thủ ở cự ly gần nhất cho phép. Do tính chất công việc nên ngoài công việc bảo vệ, nhiều lúc những sỹ quan này còn phải là những “hướng dẫn viên du lịch” khi khách đặt câu hỏi. Những sỹ quan bảo vệ tiếp cận kể với chúng tôi rằng chuyện các anh bơi dưới chân hòn Ti Tốp ở Vịnh Hạ Long hay các bãi biển ở miền Trung vài giờ đồng hồ là chuyện thường gặp trong những chuyến bảo vệ yếu nhân khi những vị khách này bất ngờ thay đổi lịch trình và… tắm biển.

Bảo vệ Quốc vương Campuchia sang thăm Việt Nam

Niềm vinh quang lặng lẽ

Đối với những sỹ quan bảo vệ tiếp cận, được giao nhiệm vụ bảo vệ một nguyên thủ, chính khách vừa là nhiệm vụ nặng nề nhưng đồng thời cũng là vinh dự lớn. Trung tá Phạm Văn Thắng, người đã có 25 năm trong lực lượng Cảnh vệ và có hàng chục lượt bảo vệ các nguyên thủ, chính khách quan trọng chia sẻ: Để đảm bảo việc bảo vệ an toàn cho khách, người sỹ quan bảo vệ tiếp cận còn phải tìm hiểu nét đặc trưng văn hoá của nước bạn, cả những đặc điểm, thói quen cá nhân được bảo vệ để từ đó có những cách ứng xử phù hợp trong công tác tiếp cận. Ở Phòng 7 – Bộ Tư lệnh Cảnh vệ có một nữ sỹ quan còn khá trẻ đó là Trung úy Lê Thị Hiền.

Tốt nghiệp Học viện An ninh khoa Ngoại ngữ tin học năm 2006, Hiền xin về công tác tại Phòng 7 – Bộ Tư lệnh Cảnh vệ. Cho đến nay cô đã tham gia bảo vệ tiếp cận hàng chục nữ nguyên thủ, chính khách và các phu nhân như: Tổng thống Ấn Độ, Tổng thống Philippines, phu nhân Thủ tướng Thái Lan, phu nhân Tổng thống Hàn Quốc…

Hiền kể không ít lần những nữ chính khách, phu nhân đề nghị hạn chế bớt lực lượng bảo vệ để được thoải mái hoà mình dạo phố ăn kem hoặc mua sắm như một du khách. Trong những tình huống ngoài dự kiến đó, cô và một sỹ quan an ninh của bạn sẽ trực tiếp phải đảm nhận việc đảm bảo an toàn cho khách…

Nam

Đối với các sỹ quan Cảnh vệ, được bảo vệ cho các nguyên thủ tầm cỡ trên thế giới luôn là một vinh dự. Trung tá Lê Bá Hằng – người có hơn 20 năm thâm niên trong lĩnh vực này đã kể cho tôi nghe kỷ niệm về lần anh vinh dự được bảo vệ Chủ tịch Fidel Castro trong dịp Chủ tịch sang thăm Việt Nam vào tháng 3/2003. Từng bảo vệ những nguyên thủ, chính khách nổi tiếng như: Vua Thụy Điển, Tổng thống Hàn Quốc, Thủ tướng Nga… tuy nhiên đối với Lê Bá Hằng, những cảm xúc và ấn tượng về lần bảo vệ Chủ tịch Fidel Castro vẫn còn nguyên vẹn.

Anh tâm sự: Lần đó, trên suốt chuyến xe từ sân bay Nội Bài về đến Hà Nội, Chủ tịch Fidel Castro đã làm cho người sỹ quan Cảnh vệ Việt Nam đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Là người rất am hiểu, thường xuyên quan tâm đến Việt Nam, ngay khi vừa đặt chân xuống sân bay, Chủ tịch đã quay sang người sỹ quan bảo vệ tiếp cận và đặt câu hỏi: “Nhà ga sân bay này là do ta làm hay phải đi thuê?”, câu hỏi bất ngờ và cách dùng từ ngữ hết sức tình cảm của Chủ tịch đã làm Lê Bá Hằng xúc động. Dọc trên suốt quãng đường về Hà Nội, Chủ tịch liên tục trò chuyện với người sỹ quan bảo vệ tiếp cận như một người thân vừa đi xa trở về. Ông bảo: “Tôi sang lần này thấy cảnh vật đổi thay nhiều quá, hàng quán cũng sầm uất hơn lần trước”. Rồi ông hỏi hiện tại Việt Nam xuất khẩu được bao nhiêu gạo?, bao nhiêu cà phê?… Bình dị và gần gũi.

Ấn tượng về Chủ tịch Fidel Castro trong những sỹ quan bảo vệ tiếp cận như Lê Bá Hằng là hình ảnh một vị lãnh tụ đáng kính và gần gũi. Ông cũng là vị nguyên thủ rất quý anh em cảnh vệ. Lê Bá Hằng còn nhớ, lần đó khi gần kết thúc chuyến thăm, Chủ tịch đã nói với vị cán bộ dưới quyền của mình ra mời anh vào để chụp một kiểu ảnh lưu niệm. Tấm ảnh kỷ niệm quý giá với hình ảnh Chủ tịch Fidel Castro thân mật quàng tay lên vai anh giờ đây luôn được anh nâng niu cất giữ như một báu vật…

Thay lời kết     

Nam

Nhiều lần theo chân lực lượng bảo vệ tiếp cận, xem họ tác nghiệp tại những cuộc hội nghị lớn, các chuyến thăm quan trọng, mới cảm nhận hết sự căng thẳng, vất vả thường xuyên của lực lượng này. Để đảm bảo sự an toàn cho một nguyên thủ, chính khách luôn có sự phối hợp của nhiều lực lượng khác nhau thuộc Bộ Công an. Trong đó những sỹ quan bảo vệ tiếp cận là người trực tiếp giữ vị trí gần nhất với yếu nhân và kịp thời xử lý mọi tình huống bất ngờ xảy ra ngoài dự kiến.

Đến trụ sở đơn vị này vào những ngày cuối năm, cảm nhận được không khí bận rộn của đơn vị trong lịch trình dày đặc của những chuyến công tác. Đây là một năm mà đơn vị đã huy động quân số, phương tiện ở mức cao nhất để phục vụ các hội nghị, chuyến thăm của chính khách quốc tế đến Việt Nam. Những sỹ quan bảo vệ tiếp cận có quyền tự hào về những thành tích mà mình đã đóng góp.

Đã không ít lần chúng tôi đặt câu hỏi với những sỹ quan bảo vệ tiếp cận: Đặt giả thiết trong những trường hợp khẩn nguy ảnh hưởng đến sự an toàn của người được bảo vệ, các anh, các chị có sẵn sàng hy sinh thân mình để bảo vệ khách, chúng tôi đều nhận được những cái gật đầu không chút ngần ngại. Thượng tá Vũ Minh Thản nói rằng: Trong giáo trình giảng dạy của lực lượng cảnh vệ luôn luôn giáo dục ý thức sẵn sàng xả thân mình để che chở khách. Đó cũng là một trong những phẩm chất cao quý của những chiến sỹ CAND Việt Nam

 

Xuân Luận – CAND Xuân 2011 

Vừa mắt nhắm mắt mở bước vào ngày đầu tuần thì nhân được một “đơn đặt hàng” của độc giả có cái nickname khá rắc rối tan12ckt1980“Đề nghị bạn Thanh Tùng nghiên cứu và có bài viết phản bác lại cái này cho anh em nhé: Sự cùng quẫn của tờ báo Đảng- Blogger JB Nguyễn Hữu Vinh.”. Nhấn vào link thì gặp “bà buôn cải”, ngỡ đâu rằng anh chàng Ba sàm sau khi trang nhà mất thiêng nên lưu lạc sang đây đánh quả nhưng hóa ra không phải vậy. Đây là một anh chàng Nguyễn Hữu Vinh khác, xinh giai hơn và có cái “tai tồ” (title) JB gắn đằng trước tên chứ không phải “BS” như anh chàng kia. Thú thật trước giờ tôi chỉ thấy giới trẻ trên mạng hay vung vít 2 chữ “BJ” chứ “JB” thì tôi chẳng hiểu là gì cả, bạn nào biết thì giải thích giùm nhé! Đọc thêm một chút thì ngộ ra rằng JB này là một giáo dân đang đăng đàn hồ hởi chê bai, “vạch mặt” tờ báo Nhân dân. Tôi tự hỏi, báo Nhân dân là cơ quan ngôn luận của ĐCSVN, một trong những tờ báo lớn nhất Việt Nam với đội ngũ nhà báo dày dạn, bản lĩnh thì sao lại để hình ảnh của mình bị bôi xấu trên báo nước ngoài (dù rằng là loại báo “đâm bị thóc chọc bị gạo”) mà không phản ứng gì? sao bạn tan12ckt1980 không liên hệ với báo Nhân dân để nhắc nhở họ bảo vệ uy tín của mình mà lại “đặt hàng” tôi? Tuy nhiên đọc xong bài viết thì tôi cũng hiểu phần nào lý do: thứ nhất, bài viết đúng là thể hiện tư duy của một “con cừu” nên các nhà báo có lẽ chẳng thèm phản biện mà xem đó như câu chuyện hài làm quà mỗi dịp trà dư tửu hậu; thứ hai, “bà buôn cải” đăng bài bôi xấu báo khác nhưng thòng cái câu “Bài viết thể hiện quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả” để phủi trách nhiệm. Báo chí mà lẩn như lươn thế thì cần quái gì thằng biên tập nữa?

Thôi thì bạn đọc đã có lời, bài viết cũng đã mất công đọc, lại thêm món “lý luận của cừu” dường như vẫn còn thiếu trên blog này nên tôi sẽ cùng các bạn tìm hiểu xem “mùi vị” của nó thế nào.

Con chiên Vinh “văng miểng”

Chắc hẳn các bạn cũng như tôi đã từng nghe đến nhàm chán cái câu “Đại hội / kế hoạch / hội thảo / chiến dịch,.. đã thành công tốt đẹp”mà mấy cậu thư ký các cơ quan nhà nước “nhét vào mồm” các sếp?! Căn bệnh khoa trương thành tích của bộ máy hành chính có “công lao” không nhỏ từ các vị “quân sư quạt máy” này. Nhưng nếu các bạn mà xem qua bài viết của con chiên JB Nguyễn Hữu Vinh thì hẳn sẽ cười đến té ghế vì so với đẳng cấp “chém gió” của anh ấy, đám “quân sư” kia chỉ dám đứng đằng xa mà nhìn. Trong bản gốc tại blog của mình, anh ta viết về bản góp ý sửa đổi hiến pháp của hội đồng giám mục Việt Nam như sau:
“Như tiếng sấm giữa trời quang, bản văn của Hội Đồng Giám mục Việt Nam nhận định và góp ý vào bản Hiến pháp gửi tới Quốc hội đã làm rung chuyển nhiều thành phần trong xã hội. Không chỉ với người Công giáo Việt Nam, mà ngay cả với những công dân quan tâm đến tình hình đất nước, lo lắng cho tiền đồ dân tộc cảm thấy hân hoan, phấn khởi. Với bản văn mạch lạc, sáng suốt và đúng trọng tâm những gì đất nước này, dân tộc này đang cần để vượt qua bế tắc, tiến bước trên con đường phát triển. Trước đó, bản Kiến nghị của 72 nhân sĩ trí thức đã gây một tiếng vang lớn báo hiệu dân tộc Việt Nam đã có những dấu hiệu chuyển mình. Cơn chuyển mình vật vã, đau đớn để vượt qua sự sợ hãi vốn tạo thành thói quen của cả xã hội, thành phản xạ của mỗi công dân Việt Nam.”
Ôi, đẳng cấp cỡ này ngỡ đâu chỉ còn có ở đám rận vàng bên “mẫu quốc”, ngày đêm tung hô cho cái gọi là “quân lực VNCH vô địch” để tự ám thị mình dù đã chạy cách xa nửa vòng trái đất khỏi quê hương và gần 40 năm kể từ tháng 4 hào hùng năm 1975 ấy. Các bạn đọc của tôi, các bạn có thấy mình bị “rung chuyển” không vậy? Riêng tôi thì có, chỉ có điều là “rung rốn vì cười”!!! Có lẽ chúng ta nên tạm gọi anh chàng này là Vinh “văng miểng” để phân biệt với anh Vinh “sàm” kia.

Thế rồi, JB cho rằng uy lực của “tiếng sấm giữa trời quang” ấy đã khiến cho “nhà cầm quyền Hà Nội lúng túng và hoảng hốt”, dẫn đến những việc sử dụng “đòn bẩn”, “dựng chuyện và bịa đặt”, hệ thống truyền thông của Đảng và nhà nước, cụ thể là báo Nhân dân phải “cùng quẫn”. Ôi, nghe như thể vận mệnh chế độ đang đứng bên bờ vực của sự tồn vong vậy! Hãy xem những lý lẽ của con chiên này ra sao mà lại hùng hổ nổ nguyên băng hoành tráng đến thế.

Thực hư “những đòn bẩn”

“Đòn bẩn” thứ nhất, theo JB là “kéo dài thời gian góp ý đến cuối tháng 9/2013 thay vì kết thúc trong tháng Ba” vì “sau khi chi ‘hàng đống tiền dân’ từ ngân sách, nhà nước sẽ thu được một số lượng chữ ký áp đảo và coi như “đó là nguyện vọng nhân dân”. Trước giờ tôi chỉ biết rằng để có lợi thế thì người ta phải tổ chức trưng cầu ý kiến trong thời gian thật ngắn nhằm hạn chế những ý kiến chống đối (đêm dài lắm mộng!) chứ chẳng ai lại tự dưng kéo dài thời gian cho đối thủ nằm nghĩ ngợi thêm chiêu trò hay lôi kéo thêm nhiều người khác cả. “Chi ngân sách” thì cũng đã chi hầu hết trong 3 tháng đầu rồi, 6 tháng tiếp theo chỉ nằm chờ xem có thêm ý kiến nào khác thì bổ sung vào chứ liên quan gì đến việc “nhà nước sẽ thu một số lượng chữ ký áp đảo”? Người thông minh thì phải lợi dụng thời gian kéo dài này mà tuyên truyền ý tưởng của mình đến đông đảo người dân hơn nữa để lôi kéo thêm đồng minh về phía mình chứ sao lại than thở vì điều đó? Phải chăng khả năng càn quấy của JB và các đồng đạo chỉ đến vậy, để lâu sợ người ta phát hiện ra bản chất của mình hoặc“phong trào” sẽ “mất lửa”? Thật đúng là tư duy của cừu khác hẳn người thường!

“Đòn bẩn” thứ hai mà JB “tố” là “hệ thống tuyên truyền, truyền thông nhà nước còn ‘lôi đám nhân sĩ, trí thức’ ra ‘đánh hội đồng’ trước công luận nhưng lại không dám đưa ra cho người dân xem họ, những trí thức, nhân sỹ, đã thực sự nói gì?”. Câu này tự thân nó đã mâu thuẫn với nhau, chẳng khác nào bảo đưa 1 bị cáo ra trước tòa nhưng viện kiểm sát lại không cho người tham gia phiên tòa biết bị cáo đó bị truy tố vì tội gì. Tôi thậm chí đôi khi cũng bực với cái hệ thống tuyên truyền của nước mình, họ phản bác lại những luận điệu sai trái của đám “nhân sĩ trí thức” này nhưng chẳng “dám” nêu thẳng tên tuổi của họ ra mà chỉ “đánh” vào cái lý luận ngu ngơ của họ. Rõ là nhân đạo không phải lối! Đám “nhân sĩ trí thức” đó là những ai, nói những gì thì nhan nhản trên mạng, thậm chí họ là đối tượng được ưu ái trong blog Đôi mắt, chỉ khác cái là ở đây họ được gọi đúng với bản chất của họ, “rận sỹ chấy thức”.

Sau khi cho rằng chính quyền đã ra 2 “đòn bẩn”, con chiên này tiếp tục “tự sướng” về cộng đồng Ki tô giáo của anh ta: “Họ cũng thừa biết xưa nay, giáo dân Công giáo luôn đồng lòng, nhất trí với Hội đồng Giám mục một cách hầu như là tuyệt đối trong những vấn đề cơ bản đối với vận mệnh giáo hội và đất nước, vì con người. Do vậy, tiếng nói của Hội đồng luôn được sự ủng hộ to lớn. Chính vì thế, đánh vào khối này còn khó hơn ‘đục khối bê-tông’, càng đánh trực diện vào nó, càng khơi động tinh thần đoàn kết, hiệp thông. Điều đó đã được thử thách suốt mấy chục năm nay dưới chế độ Cộng sản nói riêng và suốt mấy trăm năm, qua nhiều thời kỳ lịch sử khốc liệt với giáo hội Công giáo. Do vậy, họ dùng nhiều chiêu trò khác tinh vi hơn nhưng cũng được cho là ‘bẩn thỉu’ hơn.”.
Đúng, trước giờ “giáo dân Công giáo luôn đồng lòng, nhất trí với Hội đồng Giám mục một cách hầu như là tuyệt đối”, đó là điều ai cũng biết. Thậm chí dùng từ “đồng lòng, nhất trí” là chưa thể hiện rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa giáo dân và hội đồng giám mục, mà phải nói là “phục tùng, tuân thủ, cung cúc nghe lời”. Đàn cừu thì làm sao có chuyện “đồng lòng, nhất trí” với chủ chăn được?! Và người ta cũng biết rằng cái “Hội đồng giám mục” ấy lại phải “phục tùng, tuân thủ, cung cúc nghe lời” các thế lực khác ngoài lãnh thổ Việt Nam, cụ thể là tòa thánh Vatican. Nhưng đó là một câu chuyện khác mà tôi sẽ kể sau này nếu có dịp. Câu hỏi vui cho mọi người suy nghĩ là: tại sao những người đã tự nguyện làm cừu cho người khác chăn mà lại tích cực “đấu tranh” cho “nhân quyền” vậy?

Tự tin với cái “khối bê tông” của mình, JB cho rằng chính quyền và hệ thống truyền thông của họ phải sử dụng những chiêu “bẩn thỉu hơn” nhằm “đục thủng khối bê tông” ấy. Những “chiêu bẩn” đó là: dùng người của Phật Giáo, Ki tô giáo để tuyên truyền cho chính sách của Đảng và Nhà nước; đội lốt các trang web Phật giáo để chống Ki tô giáo.

Con chiên này nói rằng: “Nếu như có một Hòa Thượng Thích Quảng Độ không được nhà nước ưa thích, thì lập tức có một vị Hòa thượng Thích Thanh Tứ lên diễn đàn Quốc hội ‘mạt sát’ được truyền hình cho cả nước xem. Nếu nhà nước không thích Bát Nhã, lập tức có các “ông sư, phật tử” nơi khác được điều đến thi tài trấn áp buộc họ phải rời nơi cứ trú. Nếu nhà nước muốn các phật tử vâng lời đảng, giữ nguyên nội dung điều 4 của Hiến pháp 1992, duy trì sự cai trị của Đảng CSVN và kiên quyết xóa bỏ quyền tư hữu đất đai của người dân, lập tức có các nhà sư như Thượng Tọa Thích Đức Thiện và Thích Thanh Dũng lên truyền hình tuyên truyền hộ về công lao của Đảng và rằng “xác định quyền tư hữu đất đai là trái với tinh thần từ bi của Đức Phật và bác ái của Chúa Giêsu”.
Trong tay của Đảng, dường như có thể có đủ mọi quân bài và mọi thành phần nhằm thực hiện đầy đủ “sự lãnh đạo sáng suốt và tuyệt đối”.

Thật là buồn cười khi JB cho rằng việc nhà nước sử dụng những người trong tôn giáo để nói chuyện về những vấn đề liên quan đến giáo phái của mình là việc “bẩn thỉu”. Có lẽ đầu óc cừu nên nghĩ vậy. Là một con người thì phải biết đó là cách giải quyết hợp tình hợp lý nhất. Mọi người, dù là giáo dân Ki tô giáo, Hồi giáo, Phật giáo,.. nếu đang sống trên đất nước này, là người Việt Nam thì trước hết họ là những công dân của đất nước. Là công dân thì họ phải tôn trọng và tuân thủ pháp luật (có lẽ trừ những giáo dân như JB là tự cho mình cái quyền làm trái điều hiển nhiên đó). Vậy thì khi nhà nước cần triển khai chính sách, thực thi một công vụ nào đó có liên quan đến một tôn giáo, các vị chức sắc tôn giáo đứng ra làm cầu nối giữa chính quyền và giáo dân là cực kỳ hợp lý và hiệu quả. Có lẽ những giáo dân như JB cho rằng nhà nước phải dùng xe tăng và lưỡi lê như Ngô Đình Diệm xưa kia đàn áp Phật giáo thì mới là “chiêu sạch”?!

Tư duy con cừu

Mang theo cái tư duy ngược đời đó, Vinh “văng miểng” chụp mũ tất cả những người Ki tô giáo có những bài viết, phát biểu không theo ý mình trên báo đài là “giả mạo”, “dàn dựng”,… Chưa cần biết cáo buộc đó là đúng hay sai nhưng nếu là một người hiểu biết, nhất là người “nhân danh dân chủ” thì phải hiểu một điều cơ bản rằng: Ai nói, ai viết không quan trọng mà điều quan trọng là những gì người ta nói, người ta viết đấy là đúng hay sai. Giả sử bây giờ giáo hoàng Francis có nói với tôi rằng “JB Vinh thực sự là một con cừu” thì tôi vẫn bảo đó là sai vì anh ta rõ ràng là không có sừng, không có lông xù, không đi bằng 4 chân dù rằng có thể anh ta có tư duy của một con cừu (bài viết này gọi “con cừu”, “con chiên” là tôn trọng sở nguyện của JB). Nhưng xem ra đối với những người vẫn tin rằng “mặt trời quay quanh trái đất” thì điều đó là đòi hỏi quá sức. Bởi lẽ đó, anh ta sẵn sàng cho tất cả những điều người khác nói mà không hợp ý anh ta và chủ chăn của anh ta là “ngây ngô” nên“không phải mất thời giờ để bàn về chuyện liệu những người như tác giả bài viết này có trình độ về lý luận hoặc hiểu biết ra sao”. Một trong những điều “ngây ngô”như anh ta quan niệm là: Đơn cử, tác giả của bài báo được tờ báo Nhân Dân của Đảng trân trọng, viết những câu như: “Tôi không biết chủ nghĩa Mác – Lê-nin là chủ nghĩa vô thần”. Con chiên này cho rằng bất cứ ai không biết “chủ nghĩa Mác – Lê-nin là chủ nghĩa vô thần” thì đều là “ngây ngô”! Vậy tôi sẽ phân tích để xem kẻ nào mới thực sự là “ngây ngô”.

Cái điều “cộng sản vô thần” mà các giáo dân như JB mang ra hù dọa lẫn nhau thực chất là một trong những chiêu trò tâm lý chiến của Mỹ ngụy và Ki tô giáo nhồi nhét cho con chiên từ hàng chục năm trước để tạo ra sự đối lập giữa cộng sản và tôn giáo nhằm tách họ ra khỏi sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Một người có suy nghĩ bình thường chí ít cũng phải đi tìm hiểu xem câu đó nghĩa là gì, đúng hay sai, từ đâu ra,.. chứ không nhắm mắt nghe theo mù quáng nhưng đàn cừu thì chỉ cần biết cứ chủ chăn nói ra thì là chân lý rồi. Một trong những lý lẽ mà những kẻ như JB hay rêu rao là Marx dạy rằng “tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” để từ đó suy diễn ra “tôn giáo là tệ nạn cần dẹp bỏ như thuốc phiện”. Đây là câu được cắt xén (nghề của “chàng” mà!) từ Lời nói đầu cuốn “Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hegel”. Nguyên văn Marx viết trong sách như sau:
“Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”.

Người có khả năng đọc hiểu sẽ dễ dàng hiểu rằng ở đây Marx muốn nhấn mạnh đến chức năng xã hội và tính 2 mặt của tôn giáo: là “thuốc giảm đau” trước những vấn đề bức bối của cuộc sống nghèo nàn và bị áp bức nhưng cũng là “chất gây nghiện” cho những người lạm dụng, khiến họ quên đi thực tại và cam chịu thay vì đấu tranh cho quyền lợi của mình. Như vậy, chính những kẻ lợi dụng tôn giáo để bịt mắt nhân dân nhằm phục vụ cho lợi ích của riêng mình mới chính là kẻ thù của tôn giáo đích thực, nhân quyền đích thực. Chủ nghĩa cộng sản (CNXH khoa học) như mọi ngành khoa học tiến bộ khác thì đều là “vô thần”, tức không tin hoặc không lấy yếu tố thần thánh siêu nhiên làm căn cứ cho nghiên cứu của mình, chứ không có nghĩa là “kẻ thù” của tôn giáo. Trong một đất nước thì có người theo đạo này, đạo kia và người không theo tôn giáo nào cả (lương dân). Vậy theo cái lý lẽ của con chiên JB thì những lương dân ấy, tức người “vô thần”, cũng là kẻ thù của tôn giáo à? Do đó, chỉ có những kẻ lợi dụng tôn giáo, sợ ánh sáng khoa học làm mọi người nhận ra bản chất của mình nên mới cuống quýt chụp mũ cho khoa học (CNXHKH, thuyết tiến hóa của Darwin,…) là kẻ thù của mình với ảo tưởng kêu gọi những cuộc thánh chiến vào thành trì của khoa học. Nhưng khổ nỗi, “thời oanh liệt” nay còn đâu!

CNCS của Marx là một ngành khoa học nghiên cứu về bản chất, sự vận động của kinh tế – chính trị và xã hội loài người, từ đó đưa ra đường lối, phương thức quản lý, xây dựng xã hội. Điều này là hiển nhiên đối với con người hiểu biết, dù đồng tình hay không với những quan điểm của Marx. Vậy mà con cừu (cứ cho là có hiểu biết) JB lại quan niệm rằng “trẻ con cũng không khỏi phải ‘bật cười’ về” nhận thức “chủ nghĩa Mác-lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ tư tưởng quản lý xã hội và đảng cầm quyền chỉ lấy tư tưởng quản lý xã hội chứ không “đóng khung” tư tưởng của người dân”. Thử hỏi “chế độ cộng sản vô thần” này có bắt các con chiên phải từ bỏ chủ chăn của mình để trở về làm con người “vô thần” không hay chỉ thấy các giáo dân (theo lệnh của chủ chăn) sử dụng hôn nhân để ép buộc người ngoại đạo gia nhập đạo mình, sử dụng tình cảm huyết thống để ngăn cản những người không theo ý chủ chăn? Vậy ai là kẻ thực sự “đóng khung tư tưởng” người dân?

Ai là giáo gian?

Trong bài viết của mình, Vinh “văng miểng” cáo buộc một số người là giả mạo giáo dân, do hệ thống truyền thông của nhà nước “dàn dựng” bằng những lời lẽ chung chung như “bị giáo dân ‘bóc mẽ’, sự bịa đặt bị phê phán là ‘trắng trợn nhớp nháp’ này đã bị ‘vạch trần’ trước muôn dân và dư luận quốc tế”, “gán ghép sượng sùng đã bị lật tẩy nhanh chóng sau đó”. Nếu chỉ tư duy một cách logic thì cũng hiểu rằng những giáo dân mà muốn lách ra khỏi những giáo lý và áp đặt của chủ chăn để thể hiện chính kiến của mình (khác với mong muốn của chủ chăn và những con chiên như JB) thì cũng phải chịu rất nhiều áp lực từ gia đình, công hội, đồng đạo (ngày xưa còn phải đối mặt với giàn thiêu nữa) nên họ phải bí mật là điểu đương nhiên. Nhưng khi có những người can đảm vượt qua những rào cản đó thì JB lại cho rằng họ là những kẻ “mạo danh” hoặc “đầu óc không bình thường”. Đó là 2 trường hợp gần đây nhất mà chúng ta sẽ xem xét ngay sau đây.

Trường hợp 1 – ông Nguyễn Quốc Hiếu: Vinh “văng miểng” viết rằng “Đài truyền hình dùng cách dựng ra một “Linh mục ở Bắc Ninh”. Màn kịch này nhanh chóng bị giáo dân ‘bóc mẽ’, sự bịa đặt bị phê phán là ‘trắng trợn nhớp nháp’ này đã bị ‘vạch trần’ trước muôn dân và dư luận quốc tế”.
Sự thực là thế nào?
Chương trình thời sự tối ngày 26 tháng 3 năm 2013 của đài truyền hình Trung ương VTV1 có đoạn phóng sự “Chức sắc tôn giáo góp ý sửa đổi Hiến Pháp 1992”, trong đó phỏng vấn ông Nguyễn Quốc Hiếu, với dòng chữ chú thích “Linh mục Nguyễn Quốc Hiếu, Chủ tịch Ủy ban đoàn kết Công giáo tỉnh Bắc Ninh”. Hai ngày sau, tòa giám mục Bắc Ninh ra thông báo xác nhận “Giáo phận Bắc Ninh Không Có Linh mục Nguyễn Quốc Hiếu”. Vậy là các con chiên dạng như JB vặn loa hết cỡ để lu loa với thiên hạ rằng “VTV dàn dựng linh mục ở Bắc Ninh”. Thiếu điều bắn pháo hoa ăn mừng vì “chiến tích” này! Nhưng bản chất sự việc có đúng như họ nói vậy không? Bất cứ ai ngoại đạo mà không có hứng thú tìm hiểu về ngóc ngách Ki tô giáo thì cũng chẳng để ý đến cha cố, cha xứ, linh mục, cha đạo, phó tế, giám mục,.. khác nhau thế nào. Do đó, việc ông Nguyễn Quốc Hiếu được chú thích là “linh mục” thì cũng có thể hiểu là do sự hiểu biết có hạn của nhân viên nhà đài về cơ cấu giáo hội, nhất là khi ông này có cái chức danh khá kêu “Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết công giáo tỉnh Bắc Ninh“. Chức danh này của ông Hiếu là thật và ông Hiếu cũng là một người theo Ki tô giáo nên không thể nói nhà đài “dựng” ông ấy lên.

Vậy “Ủy ban đoàn kết công giáo” là gì mà tại sao một người có chức danh như vậy lại bị con chiên JB và chủ chăn của mình “tẩy chay”? Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam là một tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, có mục đích “đoàn kết rộng rãi mọi người Công giáo, cùng toàn dân xây dựng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hoà bình, được xác quyết theo tinh thần Thư chung 1980 của Hội đồng Giám mục Việt Nam “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào” và nhiều Thư chung sau đó”, trong đó có những phong trào thi đua “Kính Chúa – yêu nước” và “sống tốt đời, đẹp đạo…“. Tiền thân của tổ chức này là Ủy ban Liên lạc những người Công giáo Việt Nam yêu Tổ quốc, Yêu hòa bình, gọi tắt là Ủy ban Liên lạc Công giáo toàn quốc, là tập hợp những người Công giáo “dám” chống lại sắc chỉ “không cộng tác với cộng sản” của Giáo hoàng Pio XII (1949) để cùng nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Pháp (trong khi phần còn lại theo Pháp chống lại Việt Minh!). Trong kháng chiến chống Mỹ, tại miền Nam cũng có một tổ chức tương tự là Hội Những người Công giáo kính Chúa yêu nước, sát cánh cùng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, chống lại ngụy quyền Việt Nam cộng hòa (một chính phủ mà chóp bu cũng toàn là con chiên của giáo hội La Mã). Ủy ban Đoàn kết tôn giáo Việt Nam hiện nay là tổ chức được hình thành dựa trên sự hợp nhất của 2 tổ chức công giáo yêu nước trên (1983).
Như vậy có thể hiểu được vì sao mà thành phần “chỉ yêu nước Chúa” như JB lại hằn học với những giáo dân chân chính “kính Chúa – yêu nước Việt”, rêu rao rằng Ủy ban Đoàn kết Công giáo là “cánh tay nối dài của Cộng sản” mà không thèm quan tâm đến việc quê cha đất tổ mình đã có từ ngàn đời trước khi “cánh tay nối dài của giáo hội La Mã” vươn đến đây. Miệng họ leo lẻo “cộng sản vô thần” nhưng cũng chính họ chụp mũ những người công giáo chân chính là “tay sai cộng sản”. Thật tình tôi không hiểu vì sao cái “chế độ cộng sản tàn bạo, vô thần” này lại cứ để cho những kẻ có truyền thống chống tổ quốc, hại nhân dân như vậy được yên ổn “hành nghề chống chế độ” như vậy? Thật là “tàn bạo” quá đi!

Trường hợp 2 – Ông Nguyễn Trọng Nghĩa: tác giả của bài viết Góp Ý Của Giáo Dân về Bản “Nhận Định Và Góp Ý Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp 1992 (Sửa Đổi Năm 2013) Của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam – Các Giám Mục Công Giáo Việt Nam”đăng trên sachhiem.net và được báo Nhân dân đăng lại với cái tên Nhiều điều chưa sáng trong một bản góp ý.
Sau khi đọc bài viết này của ông Nghĩa, con chiên “văng miểng” cho rằng “buộc phải nghi ngờ về sức khỏe tâm thần của ông” vì “trong đất nước Việt Nam này, hẳn không ai không biết (ngoại trừ những người cộng sản vô thần) rằng chưa có một giáo dân nào dám hỗn xược xưng “tôi” trước một linh mục chứ chưa nói đến với Giám mục hoặc Hội đồng Giám mục Việt Nam. Điều đó không chỉ là quy định, mà là sự tôn kính tối thiểu cần có đã thấm vào máu của mỗi giáo dân” (sic) và “ở Giáo hội Công giáo không có quan niệm hỗn mang kiểu “đồng chí cha, đồng chí con, đồng chí vợ, đồng chí chồng”. Bức thư phần đầu xưng “Tôi”, phần sau xưng “Con” như một sự ‘hoang tưởng’ của một người có đầu óc không bình thường”.
Đọc qua những dòng trên, quả thật tôi cũng “buộc phải nghi ngờ về sức khỏe tâm thần của” ông chiên JB, bởi lẽ anh ta đã “hoang tưởng” đến mức cho rằng “trong đất nước Việt Nam này, ngoại trừ những người cộng sản vô thần” thì ai cũng phải biết về lề lối xưng hô, tôn ti trật tự của giáo hội. Không biết Phật giáo, Cao Đài, Hồi giáo, Hòa Hảo,… có “huấn luyện” giáo dân của họ về điều đó hay không nhưng tôi thấy lương dân như tôi cũng không phải là ai cũng biết điều mà anh ta cho rằng “không ai không biết” ấy. Đương nhiên là trong giáo hội công giáo sẽ không có cái danh xưng“đồng chí cha, đồng chí con, đồng chí vợ, đồng chí chồng” mà chỉ có “cừu cha, cừu con, cừu vợ, cừu chồng” nên JB tỏ ra rất phấn khích khi đọc được chữ “tôi” trong bài viết của ông Nguyễn Trọng Nghĩa. Nếu chịu khó suy nghĩ và chịu khó hiểu thì chúng ta thấy rằng bài viết này chia làm 2 phần: phần trình bày ý kiến của ông Nghĩa về bản góp ý của Hội đồng giám mục gửi cho Sách hiếm nên xưng “tôi” và một phần gửi gắm tới các vị chức sắc giáo hội để giải thích cho hành vi “phạm thượng” này trong trường hợp họ đọc được bài viết nên xưng “con” (mục “Tại Sao Phải Góp Ý Bản Góp Ý Của Các Vị Giám Mục”).
Để củng cố giả thiết của mình, anh Vinh “văng miểng” mời thêm vài “diễn viên quần chúng” ra làm bình phong: “Người dân địa phương cho biết ông có hiện tượng đầu óc bị ‘man mát’, hay không bình thường về thần kinh, sức khỏe tâm thần. Gặp gỡ linh mục Chánh xứ, ông nội của ông Nghĩa đã than phiền về sự mâu thuẫn giữa ông Nghĩa với ông nội và cha mẹ ruột, người ông nội cũng cho hay đã không gặp gỡ và tỏ ra lo lắng cho ông Nghĩa về mặt nhân cách và đạo đức.”
rồi reo lên sung sướng:
“Thế có vẻ là đã quá rõ. Một người không còn giữ các lề luật Giáo hội, không tham gia, không còn liên hệ với giáo hội đã chục năm nay, bỗng nhiên được Báo Nhân Dân gọi là “Công dân theo Thiên Chúa giáo”?”

Thật là “cười rung cả rún” với con chiên “văng miểng” này. Tác giả bài viết tự xưng là“giáo dân giáo xứ Cao Lãnh”, báo Nhân dân đăng là “Công dân theo Thiên chúa giáo” thì có gì là sai mà con chiên JB cứ làm như thể tờ báo này tự ý gắn cái mác đó cho tác giả vậy. Giả sử cáo buộc của JB rằng ông Nghĩa đã “không còn giữ các lề luật Giáo hội, không tham gia, không còn liên hệ với giáo hội đã chục năm nay” là đúng thì không lẽ tờ báo này phải có trách nhiệm về Cao Lãnh để điều tra xem tác giả có phải là một giáo dân hay không thì mới được đăng bài? Không lẽ danh xưng “giáo dân” là một cái gì đó ghê gớm đến mức phải được xác minh trước khi ý kiến của họ được đưa ra cộng đồng? Ôi thế thì còn gì là “tự do ngôn luận” nữa!!!
Chưa hết, đến cả việc cho rằng ông Nghĩa “đã không còn liên hệ, không tuân phục những nguyên tắc, quy định” “nghĩa là anh đã tự đứng ra ngoài hàng ngũ công giáo” thì xem ra con chiên này đã tự ý tạo ra giáo luật cho riêng mình. Theo giáo luật của Giáo hội Ki-tô giáo La Mã hiện nay thì một giáo dân chỉ bị vạ tuyệt thông khi:

  1. Người bội giáo, lạc giáo hay ly giáo, sẽ bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết.
  2. Ai ném bỏ Bánh Thánh, lấy hoặc giữ với mục đích phạm thánh, bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh.
  3. Người nào hành hung Đức Thánh Cha sẽ mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh.
  4. Ai thi hành việc phá thai, và việc phá thai có kết quả, sẽ mắc vạ tuyệt thông tiền kết.
  5. Tư tế hành động ngược lại các quy định ở điều 977, sẽ bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh.
  6. Linh mục giải tội nào vi phạm trực tiếp ấn bí tích, phải bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh.
  7. Giám mục nào không có ủy nhiệm thư giáo hoàng mà phong chức giám mục cho người khác, cũng như người nào được thụ phong do giám mục ấy sẽ mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh.

Vậy thì, với những gì mà JB kể lể, rõ ràng ông Nguyễn Trọng Nghĩa vẫn chưa từng bị rút phép thông công bởi giáo hội, hay nói cách khác là ông vẫn đang trong tình trạng“hiệp thông” với giáo hội. Còn tại sao ông Nghĩa không liên hệ với giáo hội hoặc mâu thuẫn với gia đình (nếu là thật) thì hoàn toàn dễ hiểu bởi những gì ông ấy đã làm, đã thể hiện (với khát khao không là một con chiên mù quáng) là trái với chủ trương“đóng khung tư tưởng cừu” của giáo hội. Mà trái với ý của những người nhân danh Chúa thì đương nhiên phải là những kẻ “đầu óc bị ‘man mát’, hay không bình thường về thần kinh, sức khỏe tâm thần” chứ còn gì!!! Nếu “bình thường” như các con chiên khác thì ông Nghĩa đã không có những câu hỏi “phạm thượng”, “móc họng” các bề trên thế này: Khi Đức Tin Bị Thử Thách Ta Phải Làm Gì? Vì không“bình thường” như các con chiên khác nên ông Nghĩa không thể an phận đờ đẫn vểnh tai mà nghe những giáo huấn thế này:

Trích tuyên ngôn chính thức của đạo Tin Lành tại Việt Nam.
1) “ Mọi giao ước mà các thế hệ trước của dân tộc Việt Nam đã lập với (quỉ – tqd) Sa-tan, từ nay đã bị hủy bỏ hoàn toàn. Amen”.
2) “Nhân danh Đức Chúa Giê-xu Christ, chúng tôi công bố: nước Việt Nam và mọi người Việt Nam, vốn là tài sản của Đức Chúa Trời, nay đã được dâng trả lại cho Ngài, tùy ý Ngài sử dụng cho vinh hiển của Ngài”.
3) “…với tư cách làm chức thầy tế lễ của Đức Chúa Trời, một dân thánh biệt riêng cho Ngài, ngay bây giờ hiệp làm một như một người, đại diện cho thân thể của Đấng Christ tại Việt Nam, đại diện cho dân tộc Việt Nam ở trước mặt Đức Chúa Trời”.

Sách hiếm, Giao điểm là tay sai của Cộng sản?

Mũi nhọn cuối cùng của con chiên “văng miểng” chĩa vào hệ thống truyền thông của Nhà nước và báo Nhân dân là cáo buộc 2 trang web Sách hiếm và Giao điểm là công cụ của Nhà nước để “mang danh Phật Giáo để đâm lưng Công giáo”. Cơ sở của cáo buộc này là “một ‘văn bản yêu cầu’ Tổng cục Hải Quan Việt Nam ‘hỗ trợ’ một Việt Kiều đưa 420 quyển tạp chí ‘Giao Điểm’ được in trong nước đưa ra nước ngoài để ‘phục vụ tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta'”.Đây là một chuyện đã xảy ra cách đây 5 năm và đã được các bên liên quan làm rõ tại đây: Phỏng Vấn Ông Bùi Hồng Quang Về Một Văn Thư của Cục An Ninh. Không biết có phải JB nghĩ rằng chuyện đã quá lâu, không ai biết nên “khai quật” lên để “nhát ma” thiên hạ?
Vì chuyện đã quá lâu và đã có giải thích của người trong cuộc nên tôi chỉ điểm sơ qua thế này:
– Giả sử những chứng từ kia là “đồ thật” thì việc hỗ trợ đó cũng là rất bình thường nếu không muốn nói là cần hoan nghênh. Cụm từ “phục vụ tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta” có thể hiểu rằng: 1) việc hỗ trợ Việt kiều in ấn / phát hành / truyền bá văn hóa trong nước ra nước ngoài nói riêng, các ngành nghề khác nói chung là chủ trương, là chính sách của Đảng và nhà nước, để từ đó kêu gọi Việt kiều yên tâm về nước đầu tư; 2) Vì đây là những ấn phẩm “thuần túy tôn giáo” nên có tác dụng tuyên truyền đường lối, chính sách về “tự do tôn giáo” của Đảng và nhà nước. Và thực tế nội dung của các ấn phẩm này (tạp chí Giao điểm số 65) chẳng có gì liên quan đến việc tuyên truyền cho CNCS cả.
– Tạp chí Giao điểm được thành lập từ 1990, trước cả khi Mỹ bỏ cấm vận đối với Việt Nam. Nếu quả thực đó là “tay sai của CSVN” thì chúng ta rất nên tự hào khi đã có một tạp chí thuần tôn giáo hình thành và phát triển “sâu gốc bền rễ” trong cộng đồng người Việt tại Mỹ. Đó là cái tát thích đáng vào những cái mồm leo lẻo rằng Việt Nam ngăn cấm tự do tôn giáo.

Con chiên Nguyễn Hữu Vinh với cái tư duy cừu của mình không thể hiểu được điều đó nên gân cổ lên rằng: “Người ta mệnh danh Phật giáo để ‘điên cuồng xuyên tạc’ và ‘chống phá Công giáo’. Việc ‘đánh phá Công giáo’ ở những trang này có thể coi là sự bất chấp sự thật, bất chấp lý lẽ, bất chấp luân thường đạo lý, miễn đúng như định hướng mà Đảng CSVN đã đưa ra. Người ta có vẻ không cần quan tâm đến những gì Đức Phật đã dạy, những nguồn gốc sự đau khổ của con người Việt Nam, miễn là làm ‘vừa lòng ông chủ’ và cơn ‘hận thù mù quáng’ của họ”.

Thứ nhất, với những gì tôi đọc trên trang Sách hiếm thì tất cả các bài viết mà JB cho là “chống phá Công giáo” đều có ký tên rõ ràng của người viết chứ không hề nhân danh Đức Phật hay Phật giáo hay thậm chí là Phật tử.

Thứ hai, theo tôi đọc thì những tác giả như GS Trần Chung Ngọc, GS Nguyễn Mạnh Quang,… trích dẫn ngay từ kinh thánh ra và có chú thích rõ ràng chứ chẳng hề “điên cuồng xuyên tạc” như con chiên JB vu cáo. Tôi cũng thấy có nhiều con chiên và chủ chăn khác vào đấu lý với các tác giả này và đều được “dắt tay chỉ dẫn” từng chỗ, từng chỗ trong thánh kinh.

Thứ ba, nếu muốn “chống phá Công giáo” thì Nhà nước Việt Nam đâu cần phải“mệnh danh Phật giáo” làm gì vì những bê bối của Ki-tô La Mã được liệt kê đầy rẫytrên các phương tiện truyền thông nước ngoài đó thôi: nào là 7 núi tội ác, nào là ấu dâm, nào là tham ô – bài bạc,… Trong khi đó, truyền thông của cái chế độ đang bị tố là“chống phá công giáo” lại chẳng hề mặn mà gì với việc phơi bày bản chất của các vị buôn thần bán thánh này, thậm chí còn ca ngợi và cổ vũ cho những người Công giáo chân chính sống tốt đời đẹp đạo. Thế mới lạ chứ!

Thứ tư, Nhà nước Việt Nam chẳng có lý do gì để chống Công giáo nếu tôn giáo này hoặc những người lợi dụng nó không làm những điều gây tổn thương đến lợi ích quốc gia vì có một thực tế là khi kinh tế – khoa học kỹ thuật càng phát triển thì người dân càng có xu hướng tự giải thoát mình khỏi thân phận con cừu cho người khác chăn. Theo số liệu từ World Christian Database thì số người theo Kitô giáo tại châu Âu (cái nôi của đạo này) đã giảm từ 38,5% dân số năm 1970 xuống còn 23,7% dân số năm  2012.

Thứ năm, con chiên JB cũng như những kẻ lợi dụng tôn giáo làm chính trị luôn lải nhải cái luận điệu ngu dốt “cộng sản vô thần, đàn áp tôn giáo” nhưng khi có vấn đề với các tôn giáo khác hoặc với chính những người trong tôn giáo của mình (Ủy ban đoàn kết tôn giáo) thì lại cáo buộc họ là “tay sai cộng sản”! Tại sao cộng sản lại chỉ “chống công giáo” mà không chống các tôn giáo khác?

Thứ sáu, JB cho rằng Sách hiếm, Giao điểm (đứng sau là Đảng CSVN) có “hận thù mù quáng” với Ki-tô giáo nhưng chẳng hề nói ra được đó là hận thù vì cái gì, như thế nào. Đây là một sự chụp mũ vô căn cứ vì khi đọc các trang web này, người đọc sẽ thấy các bài viết đều có chú thích rõ ràng nguồn gốc của thông tin (hầu hết là trích dẫn từ kinh thánh!) và mục đích của người viết dường như là để “giải độc tín ngưỡng”cho những người bị lợi dụng hoặc thiếu hiểu biết. Cũng may là con chiên JB đang sống dưới “ách cai trị của độc tài cộng sản” chứ sống ở “thế giới tự do Hoa Kỳ” thì chắc cũng sẽ chung cảnh ngộ với con chiên Thomas Nguyễn (Nguyễn Văn Thạch), người bị tòa án Mỹ tuyên phạt hơn 150 ngàn đô la Mỹ vì tội vu không Giao điểm là cộng sản.

Nói tóm lại, đọc qua bài viết của con chiên JB Vinh “văng miểng”, tôi chỉ thấy ở đó có sự cùng quẫn về lý lẽ, hiểu biết, tâm thức của một kẻ mắt không nhìn quá ngọn roi, tai không nghe quá được những mệnh lệnh chăn dắt của chủ chăn nhưng lại ôm mộng tưởng chống lại cả thế giới bên ngoài cái chuồng của mình.

[link gốc bài viết tại doimat]

Khi sự thật hoàn toàn vắng bóng!

Ảnh- Hạ viện Hoa Kỳ
Ở Việt Nam.Bảo đảm quyền con người là nguyện vọng tha thiết của nhân dân Việt Nam vì dân tộc này đã từng bị thực dân, đế quốc tước bỏ những quyền tự do cơ bản nhất khi phải làm người dân thuộc địa và dân tộc này đã trải qua muôn vàn hy sinh trong các cuộc chiến tranh vệ quốc để giành lại quyền sống. Sự hy sinh của nhân dân Việt Nam trải qua nhiều thập kỷ qua có thể coi đó là biểu tượng phấn đấu vì quyền con người một cách mạnh liệt nhất. Điều đó đã được nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới lấy đó là biểu tượng noi theo.
Trong những năm sau khi giành lại được độc lập, đất nước hoàn toàn thống nhất, đặc biệt sau 25 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong việc đảm bảo quyền con người trên tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội và được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Người dân Việt Nam tham gia đầy đủ và tích cực vào mọi mặt của đời sống xã hội. Quyền con người được đảm bảo và phát huy là nhân tố quan trọng tạo sự đồng thuận, đưa đến thành công của công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
Ngày 19-4-2013. Ngoại trưởng Mỹ, Ông John Kerry đã công bố báo cáo thường niên của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ về tình trạng nhân quyền trên thế giới. Riêng về Việt Nam, bản báo cáo này đã có những điều mà chúng ta có thể nhận thấy rằng: Bằng những luận điệu không mới, dựa trên những thông tin rất phiến diện mà có thể nhận ra là sự thật hoàn toàn vắng bóng. Thông qua đó họ đã chỉ trích: “chính quyền Việt Nam vẫn tiếp tục vi phạm nhân quyền”!?- Nội dung báo cáo của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ cáo buộc là:”Chính quyền Hà Nội vẫn hạn chế nghiêm ngặt các quyền chính trị của công dân, đặc biệt là quyền thay đổi chính phủ, hạn chế các quyền tự do dân sự….”!?
Tiếp theo cuộc họp báo trước thềm Quốc hội Hoa Kỳ ngày thứ Tư 10-4-2013 để giới thiệu cái gọi là “phái đoàn” tham dự cuộc điều trần về tình hình vi phạm nhân quyền của chính phủ Việt Nam. Ngày thứ Năm, 11-4-2013, trước một số dân biểu dưới sự chủ tọa của dân biểu Chris Smith, Chủ tịch Tiểu ban nhân quyền của ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ (ông Chris Smith .Hạ nghị sĩ đã từng hai lần đề nghị Dự luật Nhân quyền cho Việt Nam và được Hạ viện Mỹ thông qua nhưng đều bị Thượng viện bác bỏ), còn có những gương mặt quen thuộc mà trong quá khứ và hiện tại đã có nhiều “Thành tích” thuộc hạng bất hảo.Cộng đồng người Việt tại hải ngoại gọi họ là những kẻ bịp bợm, những người này tự phong cho mình những chức danh thuộc hạng “Tự sướng” mà hành động chống nước Cộng hoà XHCN Việt Nam là mục tiêu hàng đầu như: Võ Văn Ái, Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ quyền làm người Việt Nam (Vietnam Committee on Human Rights) . Nguyễn đình Thắng:Giám đốc Điều hành của Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển. Cựu dân biểu Cao quang Ánh.Hòa Thượng Thích Viên Lý, Chủ tịch Hội đồng điều hành GHPGVN Thống nhất hải ngoại tại Mỹ.Mấy vị này không ai lạ lẫm gì, họ hành nghề vu vạ Việt Nam trong một thời gian dài, hễ nghe nhắc tên của các tổ chức của các vị này trên các phương tiện truyền thông ở hải ngoại là mọi người có thể đoán ra là đang làm cái gọi là: “Phúc trình, Thông cáo, thỉnh nguyện thư….”. Đã quá quen đến nỗi mọi người nói đó là”Gánh hát rong” cứ “Đến hẹn lại lên” trong thời gian qua. Chính nghị sỹ Eni Faleomavaega, thành viên Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ, đã có lần khẳng định : “Tôi không nhất trí với cách nhìn nhận về nhân quyền của một số nghị sỹ Mỹ, những người có thiên hướng áp đặt tiêu chí mà họ cho rằng chuẩn mực trong vấn đề này. Mỗi nước đều có giá trị và nguyên tắc riêng trong thực thi nhân quyền. Tôi cho rằng chính phủ Việt nam đã làm những gì tốt nhất. Tôi luôn phản đối việc các nghị sỹ Mỹ chỉ trích tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Tôi cho rằng thực tế nhân quyền tại Việt Nam chưa được phản ánh chính xác.”
Trước hết, cần khẳng định rằng: Báo cáo thường niên của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ về tình trạng nhân quyền Việt Nam đã đi ngược lại nguyên tắc tôn trọng quyền dân tộc tự quyết trong quan hệ quốc tế , điều đã được Hiến chương Liên hiệp quốc ghi nhận. Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị của Liên hiệp quốc từng quy định rõ: “Các dân tộc tự do có quyền quyết định thể chế chính trị của mình. Việc xây dựng và thực thi Hiến pháp, pháp luật như thế nào là quyền của mỗi quốc gia, dân tộc”. Theo đó, mọi quyền của người dân Việt Nam, trong đó có quyền làm chủ, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tôn giáo… đã được Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước Việt Nam bảo đảm. Trên thực tế, nhân dân Việt Nam đã và đang được hưởng những quyền này. Người dân Việt Nam được tự do tham gia vào mọi mặt đời sống chính trị, xã hội của đất nước, được đóng góp ý kiến với Đảng và Nhà nước Việt Nam về những vấn đề quan trọng liên quan đến quốc kế dân sinh, kể cả việc xây dựng và chỉnh đốn Đảng và những chiến lược xây dựng và phát triển đất nước ,quyền con người, đồng thời là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm. Nội dung báo cáo của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ cho thấy,Họ đang tự cho mình cái quyền được phán xét, cũng như can thiệp vào Việt Nam bằng cách gắn các mối quan hệ với các đòi hỏi chính trị. Họ đã cố tình phớt lờ những tiến bộ thực chất mà Việt Nam đã đạt được trong việc thực hiện đầy đủ các quyền con người.Các chính sách vì dân của Nhà nước Việt Nam đã mang lại những kết quả đáng kể trong việc giảm tỷ lệ đói nghèo, phát triển giáo dục, chăm sóc y tế, tạo việc làm, cải thiện đời sống cho người dân. Chính vì thế, Việt Nam được đánh giá là một trong những nước đi đầu trong việc thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ của LHQ khi đã hoàn tất 5/8 mục tiêu đề ra trước thời hạn 2015″. .
 

Riêng về quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí, theo báo cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ: “chính quyền Việt Nam tiếp tục sử dụng các điều luật về an ninh quốc gia và vu khống, để hạn chế các quyền này, chẳng hạn như điều 88 về tội tuyên truyền chống Nhà nước “!? Những thực tế này được chính những người Mỹ và nhiều người nước ngoài từng đến Việt Nam chứng kiến, cũng từng được Việt Nam khẳng định và công bố trong các Báo cáo kiểm điểm định kỳ về nhân quyền tại Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc trong những năm gần đây. Cũng cần khẳng định rằng, ở Việt Nam không có cái gọi tù nhân tôn giáo hay tù nhân chính trị. Những kẻ mà trong báo cáo của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ nêu ra mà Họ đã dùng những ngôn từ mĩ miều để gán cho là “những nhà hoạt động đấu tranh vì nhân quyền và dân chủ,” Trớ trêu thay, lại là những kẻ vi phạm luật pháp Việt Nam. Những biện pháp mà Nhà nước Việt Nam thực hiện đối với các đối tượng này thời gian qua là nhằm duy trì ổn định chính trị-xã hội để bảo đảm sự phát triển. Theo luật pháp ở bất kỳ quốc gia nào thì những hành vi vi phạm pháp luật, đe dọa lợi ích căn bản của đất nước đều phải bị trừng trị theo pháp luật.
Cũng theo báo cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ , chính quyền Việt Nam tiếp tục kiểm soát Internet, đặc biệt là sử dụng điều luật về tội “tuyên truyền chống Nhà nước”!? Việt Nam cũng khẳng định rằng: 

Việc viết bài trên các blog, mạng xã hội… với nội dung xuyên tạc, vu cáo, chống chính quyền nhân dân là vi phạm các quy định hiện hành của luật pháp Việt Nam. Ngay tại nước Mỹ, nơi được cho là “thiên đường tự do ngôn luận”, thì luật pháp các bang ở Mỹ cũng quy định rất rõ vấn đề này và không ít cá nhân vi phạm đã bị bắt, xử lý.
Về mặt tín ngưỡng trong báo cáo của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ là : “Quyền tự do tôn giáo tiếp tục là đối tượng bị diễn giải và bảo vệ không đồng nhất” !?Chẳng hiểu căn cứ vào đâu mà Bộ Ngoại giao Mỹ lại cho mình cái quyền phán xét như vậy? Chỉ cần dẫn lời của những người Mỹ đã lên tiếng phản bác nội dung của Báo cáo cũng thấy rõ mưu đồ thực sự của việc đưa ra những đánh giá đó là gì. Nhiều người đã lên tiếng phản đối và vạch rõ: “chính quyền xử lý các hành vi phạm pháp mà có vài cá nhân theo đạo trong đó thì lại nói là đàn áp tôn giáo. Thấy dân tập trung khiếu nại đông người hay biểu tình thì lại ghép cho hai chữ “dân oan”. Nhận thức hết sức lệch lạc. Nếu thấy người dân biểu tình mà bảo là dân oan thì chắc chắn trên thế giới này nước Mỹ là nước có nhiều dân oan nhất”. Mọi công dân Việt Nam đều có quyền tự do theo đạo hoặc không theo đạo. Những người theo đạo được tạo điều kiện thuận lợi, cả trong khuôn khổ pháp lý cũng như trên thực tế, để thực hành những nghi lễ theo đức tin của họ. Mọi tổ chức tôn giáo được pháp luật Việt Nam thừa nhận đều được tự do hành đạo theo quy định của pháp luật. Những thực tế này được chính những người Mỹ và nhiều người nước ngoài từng đến Việt Nam chứng kiến, cũng từng được Việt Nam khẳng định và công bố trong các Báo cáo kiểm điểm định kỳ về nhân quyền tại Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc trong những năm gần đây.
Chủ tịch Tiểu ban về châu Á – Thái Bình Dương và Môi trường Toàn cầu thuộc ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ – Hạ nghị sĩ Eni F.H.Faleomaveaga đã có lần đưa ra ý kiến của mình không đồng tình về cách đánh giá phiến diện trên của Bộ Ngoại giao Mỹ trong những lần trước đây khi nói về tự do tôn giáo ở Việt Nam, Ông cho biết: “Trong các chuyến thăm đến Việt Nam, không có bất cứ nơi nào mà tôi phải chứng kiến cảnh người ta bị cấm đoán vì lý do tín ngưỡng”. Ông cho biết tiếp : “Qua tất cả những gì tôi biết và tất cả những chuyến đi của tôi đến Việt Nam chưa bao giờ trong đầu tôi tồn tại ý nghĩ rằng Chính quyền Việt Nam đàn áp những người theo tôn giáo của họ. Đó là tất cả trải nghiệm bản thân của tôi và tôi cũng muốn biết ai là những người viết ra bản báo cáo đó và tại sao họ lại có những kết luận như vậy”. Theo Ông, ngay cả khi bản báo cáo đã được công bố nhưng “có nhiều chi tiết mà những người viết báo cáo đó không bao giờ đến trực tiếp nước này để chứng kiến tận nơi” xem liệu những điều đó có diễn ra ở đấy không?.
Chỉ căn cứ vào lời vu khống, bịa đặt theo kiểu “Kinh niên” của một số người chống cộng cực đoan ở hải ngoại và một số tổ chức, cá nhân không có thiện cảm với Việt Nam mà khẳng định rằng ở Việt Nam đã xảy ra tình trạng “truy bức tôn giáo”, “chính trị và sắc tộc” thậm chí là còn là thủ phạm của việc “buôn người lao động cưỡng bức và mại dâm cưỡng bức” để đánh giá về tình hình nhân quyền của Việt Nam thì chỉ có thể là nhận xét hồ đồ hoặc xuất phát từ những định kiến lỗi thời của một cá nhân có “Thâm niên” về vu cáo với sự dẫn dắt kiểu “Cầm tay” của ông Chris Smith,mà bản báo cáo thường niên của bộ ngoại giao Hoa Kỳ là một minh chứng cổ vũ cho sự dối trá.
Bản báo cáo thường niên của bộ ngoại giao Hoa Kỳ về tình trạng nhân quyền trên thế giới trong đó có Việt Nam.Báo cáo này đang đi ngược lại lợi ích của cả hai quốc gia đang trên đà ngày càng thăng tiến. Tại Hội nghị cấp cao Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) lần thứ 19 ngày 10/11/2011, tổ chức tại thành phố Honolulu, bang Hawaii (Mỹ), Chủ tịch nước Cộng hoà XHCN Việt Nam Trương Tấn Sang đã có cuộc trao đổi với Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton. Tại cuộc trao đổi trên, bà Ngoại trưởng khẳng định: “Mỹ tiếp tục coi trọng và mong muốn thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác nhiều mặt với Việt Nam, trong đó có việc nâng tầm quan hệ, hướng tới đối tác chiến lược”. Chủ tịch Trương Tấn Sang cũng khẳng định: “Việt Nam luôn coi trọng quan hệ với Mỹ như một đối tác hàng đầu có ý nghĩa chiến lược”.Nỗ lực của 2 quốc gia. 

Để xây dựng lòng tin trên mọi phương diện, trong đó có vấn đề nhân quyền, không có cách nào khác là các bên phải tôn trọng sự khác biệt và tăng cường đối thoại. Chỉ có hợp tác, trao đổi thẳng thắn, thì những khúc mắc trong vấn đề nhân quyền mới được hóa giải.
Tại Việt Nam, những nền tảng cơ bản để bảo đảm quyền con người được củng cố ngày một vững chắc và đây là những tiến bộ cả thế giới công nhận. Việc “Sao chép” những thông tin mang tính định kiến từ các nhân vật mang tư tưởng chống phá Nhà nước Việt Nam là bằng chứng để chỉ trích Việt Nam “truy bức tôn giáo, chính trị và sắc tộc”, thậm chí là “thủ phạm của việc cưỡng bức lao động”… là không thực tế, thiếu công bằng và không thể chấp nhận được.Có thể khẳng định, Quyền con người ở Việt Nam không ngừng được phát huy và sự tham gia tích cực của người dân vào mọi mặt đời sống kinh tế xã hội của đất nước là nhân tố quan trọng của thành công của công cuộc đổi mới ở Việt Nam . Quyền con người luôn luôn gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hoá của đất nước. Do vậy không thể áp đặt các tiêu chuẩn, mô thức của nước này cho nước khác.Hoa Kỳ hãy thực hiện lời hứa của họ đó là: “sẽ lắng nghe” chứ không “chỉ dạy” các nước khác trong vấn đề nhân quyền.
AMARI TX
Viết tại Houston TX Hoa Kỳ

TT – “ASEAN đã sẵn sàng, chúng tôi đang đợi phía Trung Quốc”. Đó là tuyên bố của Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long tại Hội nghị thượng đỉnh các nhà lãnh đạo ASEAN sáng 25-4 ở Brunei liên quan tới Bộ quy tắc ứng xử của các bên trên biển Đông (COC).

“Khi họ sẵn sàng bắt đầu [đàm phán], chúng tôi sẽ có mặt” – nhà lãnh đạo Singapore nêu rõ – Chúng tôi khuyến khích Trung Quốc nên bắt đầu đàm phán sớm vì ít nhất khi có bộ quy tắc về ứng xử trên biển, chúng ta sẽ tránh được những sự cố đáng tiếc, những đụng độ không chủ định mà có thể dẫn tới leo thang, căng thẳng”.

“Đây là quan điểm mà tất cả các nhà lãnh đạo ASEAN đã đồng ý. Tôi nghĩ đó là một bước tiến lớn” – Thủ tướng Singapore nhấn mạnh.

Ông thừa nhận các nhà lãnh đạo ASEAN không phải đã thống nhất tất cả quan điểm, nhưng ít nhất “đã đạt được đồng thuận về nguyên tắc chung”. “Không có tiếng nói bất đồng nào. Kể cả Campuchia cũng ủng hộ việc đàm phán về COC”. Nhưng ông cũng lưu ý “vấn đề quan trọng này sẽ cần có thời gian lâu dài mới giải quyết được. Điều chúng ta cần làm là thừa nhận vấn đề, kiểm soát và hướng tới COC dựa trên một số nguyên tắc nhất định”.

“Có sáu nguyên tắc mà mọi người đã đồng ý và sẽ được tái khẳng định trong bản tuyên bố chung. Chúng ta đồng ý là sẽ cùng hành động hướng tới COC” – ông Lý nhấn mạnh.

Biển Đông: chương trình nghị sự ưu tiên

Tổng thống Philippines Benigno Aquino cũng khẳng định các nhà lãnh đạo ASEAN đã tìm được tiếng nói chung về vấn đề biển Đông sau bữa tối 24-4. “Chúng ta phải rất biết ơn vì toàn thể ASEAN đã chấp nhận thảo luận vấn đề này. Mọi người đều muốn có một giải pháp hòa bình” – AFP dẫn lời ông Aquino nhấn mạnh.

Phát biểu trước báo giới, tổng thống Philippines hoan nghênh vấn đề tranh chấp ở biển Đông đã trở lại chương trình nghị sự ưu tiên của ASEAN. Trao đổi với Tuổi Trẻ, tiến sĩ Phan Duy Hảo – Trung tâm luật quốc tế Đại học Quốc gia Singapore – nhận định Hội nghị ngoại trưởng ASEAN lần thứ 46 (được tổ chức tại Brunei từ ngày 24 đến 27-6) sẽ ra được thông cáo chung, trong đó đề cập đến tranh chấp biển Đông.

Còn giáo sư Carl Thayer – Học viện Quốc phòng Úc – đánh giá Brunei đã thể hiện vai trò có trách nhiệm trên cương vị chủ tịch ASEAN khi hành động phản ánh nguyện vọng của đa số thành viên là sự tiến triển trong việc xây dựng COC.

Thạc sĩ Trương Minh Huy Vũ – nghiên cứu sinh Đại học Bonn, Đức – cho rằng đến Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS) 2013 vào tháng 10 thì COC mới có khả năng hình thành: “EAS là diễn đàn cấp cao với sự tham gia của ASEAN và các nước Mỹ, Ấn Độ, Nhật, Liên minh châu Âu, do vậy phù hợp để đàm phán COC và có thể dựa vào ảnh hưởng của những cường quốc này để ràng buộc Trung Quốc”. Tuy nhiên, theo thạc sĩ Huy Vũ, “quan trọng không phải là COC có hình thành hay không, mà là COC gồm những điều khoản gì và có tính ràng buộc hơn chứ không như DOC”. Còn theo giáo sư Thayer, ASEAN cần thống nhất trước các điều khoản trong COC, chẳng hạn như không tập trận quân sự trên biển Đông, sau đó mới đưa ra đàm phán với Trung Quốc. “Thời hạn tháng 10 mà Brunei đặt ra mang tính chính trị nhiều hơn tính thực tế” – giáo sư Thayer nhận định với Tuổi Trẻ.

Thủ tướng VN: ASEAN cần đoàn kết

Theo TTXVN, phát biểu tại hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đánh giá cao vai trò của Brunei với tư cách chủ tịch ASEAN năm 2013. Thủ tướng nhấn mạnh đến ý nghĩa của việc xây dựng cộng đồng ASEAN để tăng cường kết nối khu vực về hạ tầng, chính sách và người dân.

Về vấn đề biển Đông, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh ASEAN cần đoàn kết và phát huy tiếng nói chung vì hòa bình, ổn định, an ninh an toàn hàng hải ở biển Đông. Thủ tướng nhấn mạnh đến việc triển khai các cam kết và thỏa thuận giữa các bên, trong đó có tuyên bố sáu điểm của ASEAN về biển Đông và tuyên bố cấp cao ASEAN – Trung Quốc nhân kỷ niệm 10 năm ký kết DOC.

THANH TUẤN – CẢNH TOÀN
[Nguồn:  http://tuoitre.vn/The-gioi/545161/asean-cung-hanh-dong-cho-coc.html]

 
Học giả Stephen M. Walt là giáo sư chuyên về các vấn đề quốc tế tại trường Quản lý Nhà nước Kennedy thuộc Đại học Havard. Ông từng làm quản lý ở trường Kennedy này từ năm 2002 đến 2006. Ngoài ra ông còn từng tham gia giảng dạy ở một số trường đại học khác và tư vấn cho Viện Phân tích Quốc phòng và Trung tâm Phân tích Hải quân.
Hôm 28/1, Walt cho đăng 1 bài viết trên tạp chí Chính sách Đối ngoại (Foreign Policy) của Mỹ. Trong bài viết này, ông đã đưa ra tình huống giả định, đó là các quan chức cấp cao về đối ngoại của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ uống nhầm phải “huyết thanh sự thật” trước khi ra điều trần hoặc dự họp báo và sẽ nói thẳng đuột những gì họ cất giữ trong lòng. Walt đã nghiền ngầm, phân tích và lựa ra 5 “sự thật” mà theo ông, bình thường sẽ không có quan chức Mỹ nào chịu thừa nhận cả.
1. “Chúng ta không đời nào từ bỏ kho vũ khí hạt nhân”
Theo Stephen M. Walt, các đời Tổng thống Mỹ luôn nói về việc giải trừ vũ khí hạt nhân. Ông đề cập đến Hiệp ước Không Phổ biến Vũ khí Hạt nhân ký năm 1968, trong đó Mỹ cam kết theo đuổi đàm phán để tìm ra các giải pháp hiệu quả nhằm hạ nhiệt cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân thời đó và hướng tới việc giải giáp hạt nhân triệt để và rộng rãi 

Lầu Năm Góc cho biết, đó là số đầu đạn hạt nhân mà Mỹ có tính đến ngày 30/9/2009, giảm 84% kể từ thời kỳ đỉnh điểm là năm 1967 với 31.225 đầu đạn. Kho vũ khí của Mỹ có 22.217 đầu đạn hạt nhân khi Bức tưởng Berlin đổ vào 1989.
Số đầu đạn trên gồm cả những cái đã được triển khai, cất trong kho dự trữ chủ động và cất trong kho tích trữ. Tuy nhiên, nó không bao gồm hàng nghìn đầu đạn hạt nhân hiện không còn được sử dụng và chờ hủy, Lầu Năm Góc nói.
“Mỹ muốn chứng tỏ nước này ngày càng minh bạch”, một quan chức quốc phòng Mỹ cho biết. “Đó là một phần cam kết của chúng tôi…ấn định cơ sở cho nỗ lực không phổ biến và kiểm soát vũ khí”.
Bằng việc công bố dữ liệu tại hội nghị xem xét lại Hiệp ước không phổ biến hạt nhân, các nhà phân tích cho rằng Mỹ đang cố gắng thể hiện quyết tâm cắt giảm vũ khí để giúp thuyết phục các quốc gia khác siết chặt thể chế không phổ biến vũ khí hạt nhân toàn cầu.
“Việc làm đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng để Mỹ có thể lên tiếng rằng: Hãy nhìn xem, chúng tôi tuân thủ đúng nghĩa vụ của mình theo Hiệp ước không phổ biến hạt nhân”, giám đốc dự án thông tin hạ nhân của Liên minh các nhà khoa học Mỹ Hans Kristensen nói.
Mỹ công khai quy mô kho vũ khí hạt nhân chưa đầy một tháng sau khi Tổng thống Obama công bố một chính sách mới, giới hạn việc sử dụng vũ khí hạt nhân của Mỹ và ký kết một thỏa thuận mang tính bước ngoặt về cắt giảm vũ khí với Nga. .
Walt cho biết, thậm chí các chuyên gia kỳ cựu về đối ngoại như William Perry, Sam Nunn và Henry Kissinger cũng có “mốt” kêu gọi loại bỏ vũ khí hạt nhân. Và tất nhiên, ngay đầu nhiệm kỳ tổng thống của mình, ngài Barack Obama cũng đã có vài bài phát biểu về vấn đề này.
Đấy là bề nổi. Tuy nhiên, thực tế thì như thế nào? Học giả Walt phân tích tiếp: Cho dù Hoa Kỳ đã giảm đáng kể kho vũ khí hạt nhân từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, nước này vẫn sở hữu hàng ngàn đầu đạn hạt nhân đang trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu hoặc được dự trữ. Ông Walt khẳng định, “không có vị nào đương chức lại nghiêm túc cổ xúy cho việc trừ bỏ tất cả vũ khí hạt nhân trong thời gian ngắn”. Theo Walt, những việc cắt giảm khiêm tốn theo hiệp ước ký với Nga chẳng qua chỉ là “đãi bôi” mà thôi, và 1 số ít lãnh đạo Mỹ tuy có mong muốn cắt giảm toàn bộ vũ khí hạt nhân nhưng vẫn thấy cần phải giữ chúng để làm phương tiện răn đe.
2. “Mỹ không quan tâm lắm đến nhân quyền”
Giáo sư Walt ghi nhận, các tổng thống, các nhà ngoại giao, và một số chính trị gia khác nữa của Mỹ luôn miệng nói đến nhân quyền, và “cả Quốc hội lẫn nhánh hành pháp hay bắt nạt các nước nhỏ về thành tích nhân quyền, đặc biệt là khi chúng ta có các khác biệt với họ”.
Thế nhưng, khi các quan ngại của Mỹ về nhân quyền mâu thuẫn với các lợi ích của nước này thì tiếng nói ‘lương tâm’ của Mỹ lại gần như luôn thụt lùi lại đằng sau, Stephen Walt viết.
Vị giáo sư quan hệ quốc tế dẫn ra một loạt dẫn chứng cho thấy tính 2 mặt của Mỹ trong vấn đề nhân quyền:
1- Hầu hết người Mỹ không mảy may quan tâm khi các chương trình trừng phạt mà Mỹ áp dụng với Iraq đã gây ra cái chết của hàng trăm ngàn người dân Iraq (bao gồm nhiều trẻ em).
2- Không có quan chức cao cấp nào ra lệnh tra tấn dưới thời chính quyền Bush là bị truy tố hay điều tra một cách nghiêm túc cả. (Về điều này, Walt đem đối lập với hình ảnh quen thuộc: Người Mỹ sẽ tru tréo lên nếu nghi ngờ chính quyền nước khác đem những người Mỹ bị bắt giữ ra tra tấn theo hình thức trấn nước, tức là giội nước vào mặt các nạn nhân bị trói trên ván để gây ra sự ngạt nước cục bộ).
3 Hoa Kỳ có vô số đồng minh mà thành tích nhân quyền cũng có vấn đề nếu không muốn nói là khủng khiếp.
Đến đây, Walt tiếp tục nhận xét một cách chua cay về bản chất vị lợi của Mỹ: Hiếm khi nước này sẵn lòng làm nhiều việc hay chi nhiều tiền cho tiến bộ nhân quyền, trừ phi điều này đồng thời mang lại các lợi ích chiến lược cho họ!
3. “Sẽ không có chuyện giải pháp 2 nhà nước cho vấn đề Palestine
Theo quan điểm chính thức, Mỹ luôn coi câu trả lời đúng đắn về chính trị cho xung đột Israel-Palestine là một giải pháp 2 nhà nước dựa trên đàm phán song phương, đặc biệt là dưới sự bảo trợ của Mỹ. Tuy nhiên, theo Walt, người Mỹ trong bụng lại nghĩ khác. Walt cho rằng, người Mỹ thực ra không đếm xỉa gì đến việc có ít sự ủng hộ dành cho việc thành lập nhà nước Palestine có thể trụ vững được bên cạnh Israel, cũng như sự chia rẽ trong bản thân người Palestine, hay kỳ bầu cử gần đây nhất của Israel mà trong đó không có tín hiệu gì tích cực cho phía Palestine. Stephen Walt viết, “Hoa Kỳ đã mất hơn 20 năm để kiến tạo ra 1 thỏa thuận [hòa bình] rồi lại dễ dàng đánh mất nó, chủ yếu vì Hoa Kỳ chưa bao giờ là một nhà trung gian thực thụ cả.”
4. “Mỹ phải là số 1”
 
Stephen M. Walt tiếp tục “bóc mẽ” giới lãnh đạo Mỹ khi cho rằng đừng bị đánh lừa bởi vẻ ngoài của họ. Theo Walt, đa phần các nhà lãnh đạo Mỹ thích nói về quan hệ đối tác toàn cầu và nhu cầu phối hợp với các đồng minh, đồng thời tiết giảm việc nói về vai trò chế ngự của nước Mỹ. Nhưng mặt khác, không ai tranh cử tổng thống lại cam kết “biến Mỹ thành số 2” cả. Và đó là lý do vì sao mà giới lãnh đạo Mỹ mập mờ về tính thống nhất của châu Âu. Họ vừa muốn châu Âu đủ thống nhất để không phát sinh rắc rối cho Mỹ, lại vừa không muốn châu Âu quá đoàn kết để thành 1 siêu nhà nước có đủ sức đối trọng với Washington.
Theo Walt, việc Washington mềm mỏng trong tuyên bố lập trường chẳng qua là để tránh gây khó chịu cho các chính phủ khác và tránh đẩy họ đến chỗ phải dè chừng và tìm cách kiềm chế Mỹ. Walt nói thẳng “tưng”: Tham vọng của Mỹ là không thay đổi – cả ông Clinton, Bush con, đến Obama đều không từ bỏ mục tiêu cơ bản là giữ Mỹ ở vị trí siêu cường số 1 thế giới.
5. “Mỹ đã mắc phải nhiều điều ngớ ngẩn trong đối ngoại”
Walt cho rằng, mọi người Mỹ đều biết chính sách của nước Mỹ đối với Cuba đã phá sản từ những năm 1960, nhưng chính sách này không thay đổi. Rồi nữa, ai cũng biết nỗ lực của Mỹ trong việc hỗ trợ cuộc chiến chống ma túy ngoài lãnh thổ Mỹ cũng không thành công hơn mấy so với chiến dịch chống ma túy ở trong nước. Vẫn theo Walt, nhiều người Mỹ cũng biết rằng cuộc chiến Afghanistan là một thất bại đối với nước Mỹ, nhưng phía Mỹ lại cứ giả vờ đó là 1 chiến thắng để có thể rút lui khỏi chiến trường này về mặt chính trị. Walt cũng cho rằng nước Mỹ đã có cách tiếp cận sai lầm đối với chương trình hạt nhân Iran và đã mất tới 2 thập kỷ chỉ để khiến cho Tehran có thêm lý do tin rằng họ cần đến khả năng hạt nhân./.
Amari tx

Hôm qua, ĐBQH Hoàng Hữu Phước cho biết đã gỡ bỏ bài viết xúc phạm đến ĐBQH Dương Trung Quốc. Xung quanh câu chuyện gây ầm ĩ này có nhiều vấn đề đáng bàn về văn hóa tranh luận

Các bài viết liên quan trên kenminhthien.net

[Tham Khảo] Chuyện về Đại biểu Hoàng Hữu Phước và Đại biểu Dương Trung Quốc
Nhà sử học Dương Trung Quốc nói về bài viết “Dương Trung Quốc – Bốn điều sai năm cũ”:
ĐB Hoàng Hữu Phước xin lỗi ĐB Dương Trung Quốc

Trên blog của ông Hoàng Hữu Phước, đại biểu Quốc hội, có đăng bài “Dương Trung Quốc và bốn điều sai năm cũ (tứ đại ngu)”. Bài viết có những lời lẽ xúc phạm nặng nề ông Dương Trung Quốc, cũng là đại biểu Quốc hội. Chúng tôi xin giới thiệu ý kiến người trong cuộc, những người có trách nhiệm về vấn đề này.

Sau khi gặp và chào hỏi vài lời với phóng viên báo Tuổi Trẻ chiều 18-2, đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước tiếp tục hẹn gặp làm việc với phóng viên vào thời gian khác – Ảnh: T.T.D.

Đại biểu HOÀNG HỮU PHƯỚC:

Đã gỡ bỏ bài viết

Trong bài viết trên, ông Hoàng Hữu Phước đã công kích, thậm chí có lời lẽ thóa mạ tới ông Dương Trung Quốc. Cuối bài viết được ký tên: “Nhất Thạc Bàn Cờ, Lăng Tần Hoàng Hữu Phước, Nhà VN Cộng Hòa Học, Nhà Biểu Tình Pờ-rô-tét Đì-mông-sờ-tra-sân Học, Nhà Đa Đảng Học, Nhà Lưỡng Đảng Học, Nhà Độc Đảng Học, Nhà Tiếng Anh Học, Nhà Thánh Kinh Học, Nhà Đủ Thứ Học Học”.

Mục đích của bài viết được người viết đề cập: “Lăng Tần tôi đây theo sách thánh nhân xin góp một đường chổi quét, vừa thử nêu bật phân tích Dương Trung Quốc như một tấm gương cho giới trẻ xem qua điều dở, nghiệm lấy điều ghê, vừa thử xem đối tượng được phân tích này có nhờ vậy học được đôi điều để cải hóa mà bớt xấu đi chăng”.

Bài viết khá dài, bình luận những nội dung ông Dương Trung Quốc phát biểu tại Quốc hội, với lối hành văn và sử dụng ngôn ngữ rất nặng nề, như: “Trong bối cảnh tình hình phức tạp ở biển Đông và đất nước còn bao nỗi lo toan khác thì những phát biểu về “đĩ-biểu tình-đa đảng-văn hóa từ chức” của “nhà sử học” Dương Trung Quốc tại nghị trường lại càng trở thành một mớ hỗn độn và hỗn loạn. Lẽ ra Dương Trung Quốc nên ngậm miệng lại để các đại biểu khác có thời gian hiến kế làm đất nước hùng cường, quân đội hùng mạnh, dân tộc hùng anh, quốc gia thái bình thịnh vượng, dân chúng lạc nghiệp an cư, mới đúng là “quốc thái dân an” đẳng cấp thánh nhân chứ không phải “an dân” kiểu hàm hồ của Dương Trung Quốc”.

* Sau nhiều ngày liên hệ, mãi đến chiều 18-2 chúng tôi mới gặp được đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước. Sau vài lời chào hỏi, ông này nói lời xin lỗi vì không thể dành thời gian trao đổi với Tuổi Trẻ như lịch đã hẹn. Lý do được nêu ra là trùng lịch làm việc một cơ quan ngoại giao nước ngoài nên không thể chậm trễ, đồng thời hẹn sẽ gặp Tuổi Trẻ vào thời gian khác.

Tuy nhiên, ông Phước có xác nhận “đã gỡ bỏ bài viết khỏi blog của mình vào ngày hôm qua, tức 17-2”.

Theo thông tin chúng tôi nắm được, sáng 18-2 ông Hoàng Hữu Phước đã đến trụ sở Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM để họp khẩn ngay trong buổi làm việc đầu tiên sau thời gian nghỉ tết với tập thể thường trực Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Tất cả nội dung của cuộc họp đều liên quan đến bài viết “bốn điều sai năm cũ (tứ đại ngu)”.

Tất cả ý kiến trong cuộc làm việc đều không đồng tình cách làm, cách ứng xử của đại biểu Phước qua bài viết nói trên, đồng thời đề nghị đại biểu này có cách xử lý, khắc phục những hậu quả đã phát sinh.

Tại cuộc làm việc, ông Hoàng Hữu Phước đã trao đổi lại, kể cả giải thích một vài lý do xuất phát từ đâu mà ông viết những nội dung như vậy. Đồng thời có thông tin cho biết đại biểu Phước nói sẽ có lời xin lỗi về những gì mình đã viết về đại biểu Dương Trung Quốc qua bài viết vừa nêu. Tuy nhiên đến chiều 18-2, ông Phước vẫn chưa liên lạc để xin lỗi ông Quốc.

Ông Hoàng Hữu Phước (sinh năm 1957) được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc VN TP.HCM giới thiệu ra ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIII, đơn vị bầu cử số 1: quận 1, 3, 4. Ông đã trúng cử trong kỳ bầu cử này.

Một trong hai cam kết thực hiện chương trình hành động sau khi trúng cử của ông Phước là “luôn giữ gìn danh dự quốc gia, danh dự Quốc hội và tư cách người đại biểu Quốc hội; trau dồi tu dưỡng để đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn nêu tại điều 3, chương I, Luật bầu cử Quốc hội; tận tụy phục vụ cử tri và nhân dân”.

Đại biểu Dương Trung Quốc – Ảnh: Việt Dũng

Đại biểu DƯƠNG TRUNG QUỐC:

“Tôi thấy cũng bình thường thôi”

Trao đổi với Tuổi Trẻ qua điện thoại chiều 18-2, đại biểu DƯƠNG TRUNG QUỐC nói:

– Việc gỡ bỏ khỏi blog cá nhân (của đại biểu Hoàng Hữu Phước) toàn bộ nội dung bài viết “bốn điều sai năm cũ (tứ đại ngu)” cũng bình thường thôi. Anh ấy đưa lên hay gỡ bỏ là quyền của anh ấy, việc ứng xử, hành xử của anh ấy thôi. Hơn nữa sự việc đã xảy ra rồi, nếu anh ấy thấy rút đi là phải thì tôi cũng thấy bình thường.

* Thưa ông, ông có cho rằng việc gỡ bỏ nội dung bài viết nhằm vào ông với những ngôn từ nặng nề là một sự nhìn nhận sai lầm của người viết?

– Lẽ ra câu hỏi này phải hỏi anh Phước. Còn tôi thì quan điểm trước sau như một. Những vấn đề mà anh ấy nêu lên, nếu đưa ra đúng diễn đàn để trao đổi một cách đàng hoàng thì hay hơn. Còn đưa ra như thế (chuyển tải trên mạng, blog cá nhân) thì hiệu ứng thế nào, anh Phước sẽ là người hiểu hơn tôi. Đương nhiên trong lòng chả ai thích thú gì chuyện này cả. Tôi cũng hơi buồn một chút là Quốc hội đang trên tiến trình phát triển, nhân dân tin cậy, trong khi bây giờ xảy ra chuyện như vậy thì nhân dân sẽ nghĩ thế nào về Quốc hội?

Với cá nhân tôi là không có chuyện thắng thua gì ở đây cả.

* Ông có thấy những ngôn từ dùng trong bài viết xúc phạm đến cá nhân của một đại biểu Quốc hội như ông không?

– Tôi thấy không cần thiết nói vào lúc này, lúc mà mọi cái cần để nó qua đi. Mỗi người rút ra một bài học để làm tốt hơn trong quan hệ. Nghị trường là nơi vừa bảo đảm cho đại biểu thể hiện thẳng thắn quan điểm của mình, đồng thời cũng thể hiện sự tôn trọng lẫn nhau. Chúng ta đều đang phấn đấu cho những giá trị dân chủ và giá trị quan trọng nhất là biết tôn trọng ý kiến của nhau, kể cả ý kiến khác biệt. Còn việc đấu tranh để bảo vệ quan điểm của mình hay làm quan điểm của mình được mọi người công nhận thì đấy là một nỗ lực, một nghệ thuật của chính bản thân mỗi đại biểu.

* Từ hôm xảy ra sự việc đến nay, đến lúc bài viết được gỡ khỏi blog, đại biểu Hoàng Hữu Phước có gọi điện thoại, email hay gặp gỡ để trao đổi điều gì với ông không?

– Tôi chưa nhận được thông tin gì cả ngoài thông tin Văn phòng Quốc hội rất lưu ý việc này, đang tìm hiểu. Còn quan điểm của tôi đã phát biểu rất rõ ràng rồi và tôi thấy chỉ cần như thế là đủ.

* Ông nghĩ sao nếu có lời xin lỗi từ đại biểu Hoàng Hữu Phước?

– Nếu thấy đã làm một việc cần thiết phải xin lỗi và xin lỗi thì tôi cho là điều tốt. Đấy là một cách ứng xử tốt.

QUỐC THANH thực hiện  

Ông LÊ NHƯ TIẾN (phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội):Quốc hội nên có ý kiến về đề nghị bãi nhiệm đại biểu Hoàng Hữu Phước

Tôi cho rằng việc các đại biểu Quốc hội tranh luận, trao đổi với nhau là chuyện bình thường, sẽ làm tăng sức hấp dẫn và tính dân chủ trong sinh hoạt nghị trường. Tuy nhiên, việc dùng blog cá nhân để đánh giá, nhận xét đại biểu khác bằng những lời lẽ thóa mạ, thiếu tôn trọng như dùng từ “ngu”, “ngậm miệng lại”… thì không thể chấp nhận được. Đây là việc chưa có tiền lệ trong sinh hoạt nghị trường ở VN. Là người theo dõi lĩnh vực văn hóa, tôi cho rằng sẽ có nhiều người không đồng tình với cách làm của đại biểu Hoàng Hữu Phước. Cách làm này không thể chấp nhận đối với một người bình thường chứ chưa nói anh Phước là một đại biểu Quốc hội.

Tôi có đọc trên các diễn đàn mạng thì có những ý kiến đề nghị bãi nhiệm đại biểu Hoàng Hữu Phước. Tôi nghĩ các cơ quan có trách nhiệm của Quốc hội nên có ý kiến về vấn đề này.

LÊ KIÊN ghi

Luật sư NGUYỄN VĂN HẬU (phó chủ tịch Hội Luật gia TP.HCM):

Hành vi vi phạm pháp luật dân sự

Theo quy định tại điều 1 của quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội ban hành kèm theo nghị quyết số 08/2002/QH11 của Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ hai thì đại biểu Quốc hội không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước. Chính vì vậy đại biểu Quốc hội phải cẩn trọng hơn trong hành vi, ngôn ngữ của mình. Điều này càng được khẳng định hơn tại điều 3 của quy chế là đại biểu Quốc hội phải gương mẫu trong việc chấp hành Hiến pháp, pháp luật, sống lành mạnh và tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân, có nhiệm vụ tham gia tuyên truyền, phổ biến pháp luật, động viên nhân dân và người thân trong gia đình chấp hành pháp luật, tham gia quản lý nhà nước. Nếu đại biểu Quốc hội vi phạm pháp luật, không tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng cũng tức là xúc phạm danh dự, uy tín của nhân dân, của Nhà nước.

Việc đại biểu Quốc hội xúc phạm một đại biểu Quốc hội khác trên một trang cá nhân và để chế độ công cộng cho mọi người cùng xem, theo tôi, là hành vi vi phạm pháp luật dân sự mà cụ thể là vi phạm vào điều 37 của Bộ luật dân sự 2005 về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của công dân. Theo đó, mỗi cá nhân đều có nghĩa vụ tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của các cá nhân khác và pháp luật sẽ bảo vệ quyền này. Một công dân nói xấu một công dân khác tại nơi công cộng thì đó chỉ là sự vi phạm pháp luật dân sự, nhưng nếu là một đại biểu Quốc hội nói xấu một đại biểu Quốc hội khác thì rõ ràng bên cạnh việc vi phạm pháp luật, quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội, vị đại biểu đó còn xúc phạm đến một hình tượng đại diện cho nhân dân khác, cũng như làm ảnh hưởng đến hình ảnh của Quốc hội.

Nguồn:  LÊ KIÊN – QUỐC THANH

Mới đây, tổ chức “Nhà tự do” đã công bố cái gọi là phúc trình về tự do thế giới 2013, trong đó đưa ra một số đánh giá thiếu khách quan về tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Vậy tổ chức “Nhà tự do” là gì, tại sao họ lại có hành xử thiếu thiện chí như vậy?  

“Nhà tự do” (Freedom House – FH) là tổ chức phi chính phủ, thành lập tháng 10-1941, trụ sở đặt ở Hoa Kỳ. Tổ chức này tự gán cho mình sứ mệnh “theo dõi tiến trình dân chủ hóa toàn cầu, khảo sát và nghiên cứu tình hình thực thi các quyền tự do chính trị và dân sự tại các quốc gia trên thế giới”; hơn thế nữa, FH còn tự nhận là “một tiếng nói minh bạch cho dân chủ và tự do trên thế giới”! Ðể thể hiện sứ mệnh, hằng năm FH đều công bố các văn bản gọi là phúc trình về tự do trên thế giới, báo cáo thường niên về tự do báo chí, tự do in-tơ-nét. Các văn bản này chỉ tập trung vào một số nước như CHDCND Triều Tiên, Lào, Trung Quốc, Việt Nam, Cu-ba,… hoặc các quốc gia vốn đang nằm trong “tầm ngắm” của một số thế lực thiếu thiện chí ở phương Tây. Các thế lực này luôn luôn lợi dụng vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để chống phá, hoặc làm mất uy tín của các chính phủ mà họ “không ưa” trước cộng đồng thế giới. Trong phúc trình của FH về “tự do thế giới 2013″, FH tiếp tục coi Việt Nam là quốc gia “không tự do” trong thực thi quyền tự do chính trị và dân sự. Tới ngày 18-1, trả lời phỏng vấn của VOA tiếng Việt, Sarah Cook – người được giới thiệu là chuyên gia phân tích cao cấp về tự do in-tơ-nét và Ðông Á của FH, còn trắng trợn cho rằng Việt Nam đang có xu hướng gia tăng đàn áp các quyền cơ bản của công dân, xử “nặng tay” với những blogger chỉ trích nhà nước kiểm duyệt in-tơ-nét và tiếp tục đàn áp tự do tôn giáo!

Từ khi mới ra đời, FH đã là “cỗ máy tuyên truyền” do cố Tổng thống Roosevelt lập ra để chuẩn bị tâm lý cho công chúng Mỹ đối với việc nước Mỹ tham chiến trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Tuy nhiên, sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, FH không bị giải thể mà tiếp tục được sử dụng để tiến hành các chiến dịch tuyên truyền, vận động cho Kế hoạch Marshall và tổ chức NATO, đồng thời tuyên truyền chống Chủ nghĩa cộng sản. Bên cạnh đó, FH cũng tích cực cổ súy truyền bá giá trị của Hoa Kỳ với khẩu hiệu “Hoa Kỳ: quốc gia của tự do”. Trong những năm 90 của thế kỷ trước, FH phát động chương trình đào tạo về nhân quyền cho các phần tử chống đối ở Ðông và Trung Âu; khuyến khích công đoàn và người lao động tham gia các hoạt động bí mật, qua đó can thiệp vào công việc nội bộ của một số nước ở Ðông và Trung Âu. Trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21, cựu Tổng thống George W. Bush từng yêu cầu FH soạn thảo báo cáo hằng năm về quyền chính trị, dân sự trên toàn thế giới để chính quyền tham khảo trước khi quyết định cung cấp viện trợ phát triển trong khuôn khổ hợp tác đối phó với các thách thức thiên niên kỷ cho các nước…

Có một sự thật là cho đến nay, hầu hết kinh phí hoạt động của FH do Chính phủ Hoa Kỳ tài trợ, phần lớn thành viên ban lãnh đạo của tổ chức này đều là cựu thành viên của các cơ quan chính quyền Hoa Kỳ (như: Chủ tịch đương nhiệm của FH là William H. Taft – người từng giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng thời Tổng thống Ronald Reagan, quyền Bộ trưởng Quốc phòng dưới thời Tổng thống Bush cha, Cố vấn luật pháp của Bộ Ngoại giao dưới thời Tổng thống Bush con; các thành viên khác trong ban lãnh đạo của FH, như Kenneth Adelman từng là thành viên Ban cố vấn chính sách Quốc phòng của Lầu Năm góc, Mark Palmer là cựu Ðại sứ Hoa Kỳ tại Hungary…). FH còn có quan hệ chặt chẽ với Quỹ dân chủ quốc gia (NED), Liên đoàn chống cộng thế giới, Ðài châu Âu tự do,… Ðã lệ thuộc tài chính vào chính quyền Mỹ, lại bị điều khiển bởi các nhân vật từng tham gia chính quyền, cho nên không có gì khó hiểu khi FH trở thành một công cụ của những người đã chi tiền để FH có thể tồn tại dưới vỏ bọc nghiên cứu, theo dõi, cổ súy cho tự do, dân chủ, nhân quyền!

Câu hỏi đặt ra là tổ chức này dựa trên cơ sở nào để “chấm điểm” mức độ tự do về quyền chính trị và dân sự tại các quốc gia, và liệu cơ sở ấy có thật sự khách quan, đáng tin cậy? Sarah Cook cho rằng phúc trình của FH “đánh giá rõ ràng, khách quan mức độ tự do về quyền chính trị và dân sự của công dân tại tất cả các quốc gia trên thế giới”, nhưng khi được hỏi về căn cứ đưa ra bản phúc trình hằng năm đối với Việt Nam, nhân vật này thản nhiên trả lời: “Chúng tôi có một chuyên gia chính phụ trách từng quốc gia, chuyên phân tích tình hình của quốc gia đó. Họ theo dõi tin tức và thông tin về tình hình quốc gia ấy, tham vấn những người liên quan tại nước đó hay những người thường xuyên lui tới nước đó, nói chuyện với các tổ chức kể cả các nhóm hoạt động bên ngoài nước đó”. Câu trả lời cho thấy, FH đánh giá vấn đề theo lối hồ đồ vô căn cứ và tin tức mà chuyên gia của FH theo dõi không phải từ các nguồn chính thống, khách quan, mà chủ yếu khai thác từ các website, blog, các cơ quan truyền thông vốn có thái độ thù địch hoặc thiếu thiện chí với Việt Nam; từ một số cá nhân, nhóm hoạt động thực chất là các thế lực chống phá Việt Nam ở nước ngoài, một số phần tử vi phạm pháp luật ở trong nước. Từ các thông tin FH công bố, có thể khẳng định tổ chức này không hề có bất cứ hoạt động khảo sát thực tế nào, họ chỉ dựa trên các thông tin sai lệch, vu cáo và bịa đặt để nhận xét, rồi chấm điểm. Vậy xin hỏi bà Sarah Cook, đâu là tính khách quan trong phúc trình của FH?

Trong lĩnh vực in-tơ-nét và báo chí, mọi người đều biết việc Nhà nước Việt Nam đã quan tâm, tạo điều kiện để phát triển in-tơ-nét và báo chí như thế nào, chỉ có FH và Sarah Cook là không biết mà thôi. Cho nên, một người Việt đang sống tại Hoa Kỳ, sau khi đọc bản phúc trình của FH và ý kiến của Sarah Cook trên VOA đã phải lên tiếng như sau: “Sự thật tự do báo chí ở Việt Nam đã chứng minh, phản bác hành động sai trái của Freedom House, tôi xin trích dẫn số liệu sau: Theo thống kê của tổ chức Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) năm 2010, Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ người dân sử dụng in-tơ-nét cao nhất trong khu vực Ðông – Nam Á, chiếm 31,06% dân số, chỉ đứng sau ba nước là Xin-ga-po (70%), Ma-lai-xi-a (55,3%), Bru-nây (50%);… đồng thời vượt khá xa tỷ lệ trung bình của khu vực Ðông – Nam Á (17,86%), khu vực châu Á (17,27%) và thế giới (21,88%). Nhân đây, cần nhắc lại rằng, sự thật về tình hình báo chí ở Việt Nam là trái ngược hẳn với những gì Freedom House vu cáo. Thật vậy, tính đến tháng 3-2012, ở Việt Nam có gần 17 nghìn nhà báo, hơn 19 nghìn hội viên nhà báo, hàng nghìn phóng viên hoạt động ở 786 cơ quan báo in, với 1.016 ấn phẩm, 67 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và cấp tỉnh, 47 đơn vị hoạt động truyền hình cáp, chín đơn vị truyền dẫn tín hiệu truyền hình cáp… Các con số nêu ra trên đây dù chưa được đầy đủ nhưng là một minh chứng cho nhiều sắc màu về tự do truyền thông”. Ý kiến của tác giả này cùng thực tế sinh động của sự phát triển in-tơ-nét và báo chí ở Việt Nam trong các năm qua là cơ sở chứng minh điều FH và Sarah Cook kết luận là sự bịa đặt, xuyên tạc trắng trợn.

Ðây không phải lần đầu FH dựng chuyện và nhận xét nhảm nhí về việc thực thi quyền tự do chính trị và dân sự ở Việt Nam. Và không chỉ có thế, nhiều năm qua, FH còn mở một số chiến dịch cổ súy cho cái gọi là “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí”, rồi kích động, hậu thuẫn cho một số kẻ cơ hội, phần tử vi phạm pháp luật ở Việt Nam. Rồi mỗi khi cơ quan tư pháp của Việt Nam tiến hành điều tra, bắt giam, xét xử một số công dân vi phạm pháp luật là FH vội vàng vận động một số chính khách phương Tây vu cáo Việt Nam đàn áp “nhà đấu tranh dân chủ”, “người bất đồng chính kiến”, và… đòi “trả tự do ngay lập tức”! Xâu chuỗi các hành động, việc làm của FH trong nhiều năm qua, có thể nhận diện ý đồ thâm độc của tổ chức này đối với Việt Nam là vừa vu khống Ðảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam, vừa tiếp tay cho các thế lực thù địch và một số người có hành vi vi phạm pháp luật để FH dựa vào đó thực hiện âm mưu của mình.

Như vậy có thể nói sự quan tâm của FH đối với Việt Nam không phải nhằm khuyến khích tự do, dân chủ, nhân quyền. Qua những gì FH thể hiện, tổ chức này chỉ chuyên tâm cổ súy các hoạt động gây bất ổn định chính trị – xã hội ở Việt Nam. Nếu thật sự quan tâm đến tự do, dân chủ, nhân quyền, FH nên tự vấn để trả lời câu hỏi tại sao Báo cáo của Ngân hàng Thế giới mới công bố ngày 24-1 lại đánh giá trong 20 năm qua, tỷ lệ nghèo đói ở Việt Nam đã giảm từ 60% xuống 20,7%, tức là 30 triệu người dân đã thoát khỏi đói nghèo; lĩnh vực giáo dục cũng có nhiều cải thiện, tỷ lệ đăng ký đi học trường tiểu học và trung học ở bộ phận người nghèo tăng lần lượt hơn 90% và 70%,…? Phải chăng đó không phải là thành tựu đáng khích lệ về tự do, dân chủ, nhân quyền? Nếu thật sự quan tâm đến tự do, dân chủ, nhân quyền, FH hãy tỏ ra là có liêm sỉ để góp phần vào việc mà mới đây, Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc – UNICEF, kêu gọi tìm nguồn kinh phí 1,4 tỷ USD trong năm 2013 để đáp ứng các nhu cầu giúp đỡ hàng chục triệu trẻ em bị ảnh hưởng vì chiến tranh, thiên tai và các trường hợp khẩn cấp tại 45 quốc gia, vùng lãnh thổ. Và nếu thật sự quan tâm đến tự do, dân chủ, nhân quyền, FH không nên khoác lên mình “bộ cánh đã lỗi mốt” để trở thành “con rối” trong tay người khác.

BÁ SỸ
Theo Nhandan.com.vn