Tag Archive: quang


Tôn giáo nào không làm bạn trở nên mù quáng?

Theo tôn giáo một cách mù quáng không có chút hiểu biết nào cả sẽ tước đọat giá trị tâm linh của tôn giáo và phẩm giá của mình.

Nhiều người trên thế giới này đi theo tôn giáo, và tôn giáo đó phù hợp với tâm trí của họ. Một người phạm các giới điều của tôn giáo sẽ trở thành người nguy hiểm cho xã hội. Điều không có nghi ngờ rằng các nhà khoa học, tâm lý có thể mở rộng phạm vi trí thức, nhưng họ không thể nói với chúng ta mục đích cuộc sống, những điều mà một tôn giáo đúng đắn có thể nói được.

Con người chọn một tôn giáo có ý nghĩa và dựa trên lý trí tùy theo niềm tin của người đó chứ không chỉ đơn thuần dựa vào đức tin truyền thống tập quán và giáo điều. Không ai có quyền buộc tội một người phải chấp nhận đi theo một tôn giáo, không ai được lợi dụng sự nghèo khổ, nạn thất học, hoặc kêu gọi lòng xúc cảm để khiến người vào đạo. Tôn giáo phải được tự do lựa chọn.

Người ta nên được tự do để lựa chọn tôn giáo của riêng mình tùy theo sở thích và khả năng hiểu biết. Theo tôn giáo một cách mù quáng không có chút hiểu biết nào cả sẽ tước đọat giá trị tâm linh của tôn giáo và phẩm giá của mình. Nhân loại có khả năng hiểu biết và ý thức sẳn có để có thể phân biệt những gì là đúng và những gì là sai. Họ có thể thích nghi với hòan cảnh, do đó nên chọn một tôn giáo mà thích hợp với họ và phù hợp với hiểu biết nhân sinh của họ. Họ phải được hướng dẫn một cách đúng đắn và cho họ một cơ hội để quyết định tùy thích mà không có sự ép buộc nào cả.

1. Con đường trung đạo

Tôn giáo được giới thiệu ở đây là một hệ thống giáo dục thực tiển cho việc tu dưỡng tâm trí mà việc tu dưỡng đó được phát hiện trên thế giới cách đây 25 thế kỷ bởi một bậc đạo sư đầy lòng từ bi và trí tuệ. Tôn giáo này được biết là “Trung đạo, một cách sống chân chánh, một hệ thống triết học đạo đức, một tôn giáo của tự do và lý trí”. Tôn giáo này dạy chúng ta thực hành 3 điều chính, đó là: tránh làm các điều ác, vâng giữ các điều lành,và giữ tâm ý thanh tịnh.

Thông điệp này rất giản dị, đầy ý nghĩa và thực tiển, nhưng người ta gặp phải những khó khăn khi họ bắt tay vào tu tập do tính chất non kém vốn có của con người. Đức hạnh của con người đóng vai trò quan trọng trong tôn giáo này. Có lần Đức Thế tôn nói rằng: “giáo pháp của ta không phải đến để tin, mà đến để thấy và tu tập “. Điều này khuyến khích chúng ta nghiên cứu giáo lý của Đức Phật một cách đầy đủ và do đó cho phép chúng ta dùng trí phán xét của chính mình để quyết định về việc liệu chúng ta có nên chấp nhận giáo pháp này hay không. Không ai được yêu cầu đến và chấp nhận đi theo tôn giáo này mà chưa có chút hiểu biết nào về giáo lý của nó. Nghi lễ và cầu nguyện rườm rà sẽ không có giá trị hay ý nghĩa tôn giáo đích thực. Không có đức tin và tu tập mù quáng hoặc các giáo lý bí truyền trong phật giáo. Tất cả mọi thứ đều được mở ra cho sự lựa chọn của những người đi theo mà họ được quyền tự do xem xét các giáo lý và đặt vấn đề bất cứ lúc nào họ muốn làm sáng tỏ nghi ngờ của mình. Theo Đức Phật , một người không nên tin bất cứ điều gì chỉ vì do bậc thánh nói ra hoặc chỉ vì nó được chấp nhận bởi truyền thống, hoặc được chấp nhận bởi nhiều người, nhưng một người nên vận dụng ý thức và trí tuệ của mình cũng như chấp nhận nó chỉ khi nào nó có giá trị trong khi thực hiện điều đó.

Đức Phật dạy về con đường tám ngành bao gồm: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm va chánh định. Con đường trung đao độc nhất vô nhị này dẫn chúng ta đến cuộc sống thánh thiện và an lạc.

Trung đạo không phải là con đường siêu hình hoặc lễ nghi, cũng không phải là chủ nghĩa giáo điều hoặc chủ nghĩa hoài nghi, cũng không phải là tham đắm dục lạc hoặc ép xác khổ hạnh, cũng không phải là thuyết trường tồn hoặc thuyết đọan diệt, cũng không phải là chủ nghĩa bi quan hoặc lạc quan mà là con đường gíac ngộ, một phương pháp giải thóat khỏi khổ đau. Tôn giáo này không đồng ý rằng nhân loại đau khổ ngày nay bởi vì những tội lỗi do tổ tiên của con người đã gây ra. Trái lại, mỗi con người tự chiêu cảm cho chính mình phước đức hoặc tội lỗi. Chính con người có trách nhiệm đối với khổ đau hoặc hạnh phúc của chính mình. Một người đi theo con đường trung đạo sẽ tìm ra an lạc và hạnh phúc đích thực và có thể dẫn đến một đời sống cao quý mà không làm nô lệ cho các căn của chính mình, vì sự đóng góp cho hòa bình, hòa hợp của thế giới .

2. Gieo gì gặp nấy

Tôn giáo này đáp ứng cho những khát vọng cao quý và sâu sắc nhất của con người và có thể xoa dịu những căng thẳng trong đời sống hàng ngày và trong giao tiếp với những người khác; ngoài ra, phật giáo còn gợi ra một cuộc sống có ý nghĩa.Nó không đem đến sợ hãi trong lòng người. “Ở hiền gặp lành” , ” Gieo gió gặt bão”. Đó là những quy luật phổ quát. Tôn giáo này hòan tòan đồng ý với quy luật này, từ đó người ta phải “gặt hái những gì người ta gieo trồng “. A飠nghiệp mà con người gây ra là do bởi tham, sân, si của họ. Khuyết điểm này chỉ có thể vượt qua bằng chính sự chứng ngộ của mình. Hạnh phúc và khổ đau mà con người thụ hưởng trên thế gian này không phải do các tác động bên ngòai mà do chính những hành động thân khẩu ý thiện hay ác mà họ đã tạo ra. Vì lý do này, phật giáo nói rằng : “Hiện tại là kết quả của quá khứ và tương lai là kết quả của hiện tại “.

Theo lời dạy này, nguyên nhân và kết quả đóng vai trò quan trọng trong đời sống chúng ta. Trong vòng nhân quả, nguyên nhân đầu tiên thì không thể thấy vì nguyên nhân đó đã trở thành kết quả và kết quả này lần lượt trở thành nguyên nhân.

3. Bậc đại đạo sư

Người sáng lập tôn giáo này không phải là một nhân vật thần thoại mà là một bậc đại đạo sư thật sự đã sống trong cuộc đời này. Ngài chưa từng coi mình như một bậc siêu nhân mà coi mình như là một con người gíac ngộ chân lý tối thượng, đó là biết được bí mật cuộc đời, nguyên nhân đích thực của khổ đau và hạnh phúc. Ngày nay, bậc đạo sư này không chỉ được kính ngưỡng bởi hàng trăm triệu tín đồ của Ngài mà còn bởi giới trí thức và có văn hóa trên khắp thế giới. Bậc thánh thiện, bậc giải thóat, bậc cải cách xã hội, bậc có tư tưởng dân chủ, và bậc nâng cao đời sống con người, đã nhập diệt ở tuổi 80 để lại đằng sau một đạo lý cao thượng cho nhân loại tu tập như là một phương tiện cho việc giải thóat khỏi đau khổ, sợ hãi và lo âu của con người. Đạo lý này cũng có thể giúp con người đạt được hạnh phúc trong cuộc đời tại thế gian này và cuộc đời mai sau và đưa đến giải thóat hòan tòan mọi khổ đau của nhân loại.

Bậc đạo sư này đã an ủi gia quyến của những người quá cố và đã giúp những người nghèo bị bỏ quên bên lề xã hội, làm thanh cao những cuộc đời bị lừa gạt, làm trong sáng những người lầm lạc tội lỗi. Người khuyến khích những người yếu đuối, đòan kết những người bị chia rẽ, gíac ngộ những người vô minh, sáng tỏ những người thần bí, nâng cao những người thấp hèn, và tán dương những người cao thượng. Cả giàu lẫn nghèo, thánh nhân hoặc người phạm tội đều kính mến Ngài như nhau. Các vua anh minh hoặc hôn quân, các công tôn vương tử nổi danh hoặc vô danh, những trưởng giả hào phóng hoặc keo kiệt,các học giả kiêu căng hoặc khiêm tốn, người nghèo túng thiếu thốn, người bị áp bức, người làm công việc hạ tiện, kẻ giết người độc ác, gái điếm bị khinh rẽ…Tất cả nghe lời dạy trí tuệ và từ bi của Đức Phật đều được lợi ích và sống đời sống an lạc thánh thiện.

Tấm gương cao quý của Ngài là một nguồn truyền cảm cho tất cả . Vẻ mặt đầy đặn và sáng rỡ của Ngài thật sự tạo những cảm giác êm dịu trong ánh mắt của những người sầu muộn. Thông điệp an lạc và độ lượng của ngài được chào đón với tràn đầy hỉ lạc và làm lợi ích bất tận cho tất cả mọi người có cơ duyên được nghe và thực tập. Ý chí sắt đá của Ngài, trí tuệ thậm thâm, lòng từ bi bao la vô bờ bến, vị tha, cuộc xuất thế có tính chất lịch sử, sự thanh tịnh hòan tòan, nhân cách vĩ đại, những phương pháp mẫu mực của Ngài đều được vận dụng để tuyên bày giáo pháp của Ngài – tất cả những yếu tố này truyền cảm cho khỏang 1/5 dân số thế giới ngày nay đã hoan nghênh và tôn thờ Ngài như một bậc vô thượng sư.

Bậc đạo sư cao thượng này đã hy sinh các dục lạc trần gian vì lợi ích của nhân lọai khổ đau mà tìm cầu chân lý để chỉ dạy con đường giải thóat khỏi khổ đau. Ngài thăm viếng những người nghèo trong khi các vua chúa đều viếng thăm Ngài. 45 năm sau khi thành đạo, Ngài đã cống hiến đời mình cho sự gíac ngộ chúng sanh lầm đường lạc lối.

Bậc đạo sư này không làm ai sợ hãi và cũng không bị sợ hãi bởi bất cứ ai. Đây là một trong những nguyên lý mà cần nên được trau giồi trong thế giới do chiến tranh tàn phá- nơi mà những điều quý giá nhất là mạng sống thì bị cúng tế ở bàn thờ bạo lực hung ác và là nơi mà các lọai vũ khí đang gây ra sự sợ hãi, căng thẳng và hận thù.

Ngài là một nhà khoa học hoàn hảo trong lãnh vực của đời sống. Ngài là một nhà tâm lý học tòan thiện, người có thể phân tích bản chất đích thực của tâm – lời dạy của Ngài được hoan nghênh được tán dương như là một tôn giáo khoa học duy nhất. Đối với các đại triết gia và những nhà tư tưởng không thành kiến, Ngài là một bậc thầy đã thấu hiểu các pháp hữu vi trong bối cảnh thích ứng của nó. Đối với những nhà đạo đức, Ngài có quy tắc giới luật cao nhất và biểu tượng cho sự hòan thiện nhất. Ngài là một gương mẫu hòan hảo của tất cả giới đức mà Ngài tuyên thuyết. Đối với các nhà duy lý, Ngài là một bậc đạo sư có tâm hồn rộng rãi nhất, đã nhận thức đúng các vấn đề tranh cải của con người. Đối với những nhà tư tưởng tự do, Ngài là một bậc đạo sư luôn khuyến khích mọi người tư duy tự do mà không có dựa vào các giáo điều tôn giáo. Đối với những nhà theo thuyết bất khả tri, Ngài là một con người đầy trí tuệ hiểu biết và từ bi.

Không còn nghi ngờ gì nữa, Ngài là một trong những bậc đạo sư có sức thuyết phục nhất. Ngài không bao giờ sử dụng sự ép buộc hoặc gây sợ hãi như là một phương tiện để đạt mục dích giáo hóa. Ngài đã giới thiệu một cách sống có ý thức cho mọi người để được an tịnh mà không lưu tâm đến nhãn hiệu tôn giáo.

Ngài là một người phục vụ khiêm tốn của nhân loại, bình thản trước những lời khen hoặc chê, không nao núng ngay cả lúc bịnh tình nguy ngập nhất.

4. An lạc, hạnh phúc và giải thóat

Bậc đạo sư này đã chỉ con đường đi tới an lạc, hạnh phúc và giải thóat. Phương pháp hướng dẫn của Ngài là phóng khóang, hợp lý, khoa học và có thể hiểu được đưa đến gíac ngộ .

Ngày nay thông điệp an lạc của bậc đạo sư này quan trọng và đặc biệt cho con người đang bị cuốn vào hận thù, tham lam, hiềm tỵ, kiêu mạn, tham muốn nắm giữ thế giới này.

Bậc đạo sư này đã sanh ra trong thế gian này, đã xua tan màn đêm vô minh và cứu độ thế gian khỏi những tai ách của nó. Khắp nơi trên thế giới nhiều người sống không có niềm tin hoặc không có tu tập bất kỳ hình thức của tôn giáo nào. Tuy nhiên, nếu họ chỉ lấy một chút vấn đề rắc rối để nghiên cứu và những gì bậc đạo sư này đã dạy, họ có thể dể dàng làm trong sáng những nghi ngờ của mình nếu có và được thuyết phục theo tôn giáo mà tôn giáo đó có thể đóng góp tốt đẹp nhất cho hạnh phúc của con người.

Liệu người ta có tin vào Ngài hay không , tuy nhiên giáo pháp của Ngài đã có ảnh hưởng sâu sắc đối với tất cả mọi người. Thông điệp của Ngài trao tặng cho thế giới không có bất kỳ bạo lực, cũng không làm rơi một giọt máu nào. Đây là một điều đáng nhớ trong lịch sử thế giới mà đã được ấn dấu vào bằng hàng chữ vàng. Giáo pháp này minh họa lộ trình mà theo đó nhân loại có thể vượt thóat từ một thế giới của bất mãn đến một thế giới mới của ánh sáng từ bi, an lạc, hạnh phúc và thỏa mãn. Giáo pháp 2500 tuổi của bậc đạo sư này có đầy đủ năng lực để đối đầu với bất kỳ thách thức nào mà không thể đảo lộn hoăphải đưa ra một lời diễn dịch mới cho giáo lý nguồn gốc của nó. Gíao lý này có thể được chấp nhận mà không sợ mâu thuẫn với những khám phá và phát minh khoa học hiện đại. Giáo lý này coi trọng giới đức như là một trong những yếu tố cần thiết cho việc đạt đến giải thóat. Yếu tố khác là trí tuệ. Giới đức và trí tuệ có thể được so sánh như đôi mắt và đôi chân của một người. Giới đức giống như cổ xe có thể mang con người đi tới cổng giải thóat nhưng chìa khóa thật sự để mở cổng đó là trí tuệ.

5. Hạnh phúc tối thượng

Những người theo tôn giáo này không coi chính mình như là những người được cho duy nhất có thể có được cơ hội để đến hạnh phúc tối thượng. Họ tin rằng con người tạo ra địa ngục hoặc thiên đường của chính mình tùy theo cách sống và đau khổ trong địa ngục hoặc chứng nghiệm an lạc tối thượng có thể được thực nghiệm ngay trên cuộc đời này, thay vì trong cuộc sống kế tiếp, như phần đông người ta đã tin tưởng. Bậc đạo sư này không bao giờ nỗ lực thuyết giảng giáo pháp của mình bằng sự đe dọa người ngang qua hỏa ngục, hoặc bằng sự ấn chứng cho họ có đời sống trên thiên đường vĩnh hằng, mà bằng sự phơi bày chân lý. Theo những lời dạy này, bất cứ ai cũng có thể thọ hưởng hạnh phúc tối thượng miễn là người đó có cách sống chân chánh. Thiên đàng không phải giành riêng hoặc độc quyền cho một giáo phái hoặc cộng đồng tôn giáo đặc biệt nào cả mà nó nên được mở rộng cho tất cả bất cứ ai sống đời sống cao thượng.Khoan dung, nhẫn nhục và sự hiểu biết là đức hạnh đáng kính mà những người theo tôn giáo tán thành giữ gìn. Từ bi, bác ái và cảm thông không chỉ đối với con người mà còn mở rộng ra cho tất cả các lòai có tình thức – Vì sự phá họai đời sống con người và sinh vật, là sự độc ác và phi lý và tương phản lại với giáo lý của tôn giáo này.

Tôn giáo này của khiến những tín đồ của mình tôn trọng quan điểm của những người khác để sống đời sống hòa hợp.

6. Phương thức sống

Tôn giáo này trong sáng hợp lý và đưa ra những câu trả lời hoàn thiện cho tất cả mọi khía cạnh và những vấn đề quan trọng của đời sống chúng ta. Tôn giáo đã cung cấp một nền tảng vững chắc để giúp nhân loại hướng đến một đời sống tốt đẹp và tích cực hơn.

Tôn giáo này không phân chia con người thành 2 nhóm: “được cứu rỗi” và “bị ruồng bỏ” mà là một tôn giáo có hiểu biết văn minh và dạy chúng ta phương cách chế ngự cũng như thanh lọc tâm.

Những người theo tôn giáo này không nên cầu nguyện van xin. Họ tin vào tầm quan trọng của tự lực và trong hiệu năng của thiền định mà đưa con người đến tự chinh phục, tự điều ngự, tự thanh tịnh, khinh an và gíac ngộ bản chất thiền định có công năng như là một liều thuốc bổ cho thân và tâm.

7. Con người có thể họach định cuộc đời của mình

Tôn giáo này cho rằng tâm là có sức mạnh lớn – là đấng sáng tạo, kẻ hủy diệt con người và cũng là kiến trúc sư cho số phận của mỗi con người. Do đó, con người có khả năng hoạnh định bất kỳ điều gì nếu vị ấy biết cách phát triển và sử dụng tâm mình một cách đúng đắn.

Thật ra, tôn giáo này là ngọn hải đăng tuyệt vời cho việc hướng dẩn nhân loại đi đến an lạc, hạnh phúc vĩnh viễn. Sự thật là thế giới ngày nay đang bị rối rắm với sự hiểu lầm về chủng tộc, chính trị, tôn giáo, các nhóm đối lập và ý thức hệ. Để giải quyết những vấn đề phức tạp này, con người cần phải rèn luyện tinh thần vị tha và độ lượng lẫn nhau và điều này có thể được trau giồi dưới sự hướng dẫn của tôn giáo này mà đã in đậm tính chất đạo đức cho lợi ích rộng lớn.

Con người phải đến để thấy rằng sự phát triển tâm linh là quan trọng hơn trong việc đạt được tiến bộ vật chất vì hạnh phúc và an lạc đích thực của nhân loại. Con người cũng nên tu tập chân lý, phụng sự, bố thí và yêu thương nếu muốn thế giới này trở thành một nơi tốt đẹp hơn để sống còn.

8. Thực tại

Bậc đạo sư ngang qua sự gíac ngộ của mình đã tuyên bố rằng :

  1. Đạo đức cao cả nhất có thể đạt được trong việc trau giồi lòng từ bi bao la.
  2. Hạnh phúc tối thượng là hạnh phúc xuất phát từ định tĩnh của tâm hồn.
  3. Chân lý cứu cánh là chân lý được đòi hỏi ngang qua sự hiểu biết các nguyên nhân đau khổ của con người.
  4. Tôn giáo cao thượng nhất là tôn giáo chỉ dạy về phát triển trí thức, đạo đức và sự thanh tịnh tâm.
  5. Triết lý vĩ đại nhất là triết lý giới thiệu phương cách sống thực tiễn có thể khả thi mà không chỉ dựa vào giáo điều và niềm tin.

Tôn giáo này không cản trở bất kỳ ai đọc và học giáo lý của tôn giáo khác và không cho phép sự cuồng tín. Một kẻ cuồng tin không thể cho phép chính mình được hướng dẫn vì lý trí hoặc ngay cả vì nguyên lý quan sát và phân tích khoa học. Do đó, người theo tôn giáo này là một người tự do với tâm mở rộng và không có phụ thuộc vào bất cứ ai trong việc phát triển tâm linh của mình.

Nếu bạn chú ý học ít nhiều về các nguyên lý tôn giáo hoặc những nguyên tắc đạo đức và tu tập tâm theo tôn giáo này thì bạn sẽ vứt bỏ những sự hiểu lầm trước đây mà bạn đã có về nó. Một người không chỉ nên phán xét giá trị của một tôn giáo chỉ bởi sự xem xét một số các điều tu tập nào đó do những người lầm đường, thay vì vậy bạn nên cố gắng để hiểu giáo lý nền tảng của tôn giáo đó.

9. Tin vào trí tuệ của mình

Thay vì đặt con người và số mệnh của mình dưới sự kiểm sóat tùy tiện của những thế lực vô danh bên ngòai và buộc mình quỵ lụy trước năng lực siêu nhiên như vậy, tôn giáo này đã nâng cao vị trí con người và ban cho con người lòng tự tin vào trí tuệ của chính mình. Trí tuệ dạy con người các cách tu tập và phát huy tiềm năng con người .

Tôn giáo này của dạy chúng ta có lòng vị tha đối với những người khác. Những người theo tôn giáo này tránh xa các điều ác không chỉ bởi vì sợ quả báo từ một vài nguyên nhân không thấy mà còn bởi vì chứng nghiệm các ác nghiệp gây ra đau khổ cho chúng sanh.

Động cơ làm thiện của họ giúp cho những người khác không phải là để làm hài lòng đấng tối thượng để được ban ơn mà vì lòng từ bi và giải thóat họ khỏi khổ đau.

Ở đây trong tôn giáo này chúng ta có thể tìm ra con đường đi tới trí tuệ và sự thánh thiện hoàn tòan mà không dựa vào bất kỳ năng lực bên ngòai nào. Chúng ta có thể đạt được trí tuệ cao nhất ngang qua sự thực chứng mà không ngang qua sự “mặc khải”. Chúng ta có thể rửa sạch tội lỗi mà không cần sự trợ giúp của người đại diện đấng cứu rỗi nào. Chúng ta có thể đạt được giải thóat trong chính đời này bởi sự tu tập chân chánh với khả năng của chúng ta mà không mong đợi nó xuất hiện trong kiếp tới. Tôn giáo này dạy rằng con người không phải vì tôn giáo mà tôn giáo phải vì con người. Điều đó có nghĩa là không trở thành nô lệ cho bất kỳ tôn giáo nào, con người phải tự nỗ lực để áp dụng tôn giáo cho sự giải thóat và tốt đẹp hơn của mình.

10. Điều gì có thể thực hiện

  1. Không có dục lạc trần gian thì cuộc đời có thể tồn tại được không ?
  2. Không có đức tin vào sự bất tử thì con người có thể có đạo đức không?
  3. Không có dựa vào sự trợ giúp từ những năng lực bên ngòai thì con người có thể hướng đến sự chân chánh không ?
  4. Không có lễ nghi cúng kiến, con người có thể sống đời sống tôn giáo không ?
  5. Không có đức tin và lòng trung thành, con người có thể tu tập không ?
  6. Không có khổ đau ngang qua sự trừng phạt tôn giáo nào đó, con người có thể đạt đến giải thóat không ?
  7. Không có tạo sự sợ hãi trong tâm, con người có thể đi theo các nguyên lý tôn giáo nào đó không ?
  8. Không có cưỡng bách và đe dọa người khác chúng ta có thể giới thiệu một tôn giáo đúng đắn không ?
  9. Không có những đức tin mù quáng và tư tưởng giáo điều trong danh xưng tôn giáo thì tôn giáo có thể thuyết phục quần chúng sống đời sống đúng đắn không ?
  10. Một người có thể truyền bá tôn giáo mà không phải là bậc huyền bí hay tu sĩ không ?

” Vâng! ” nhà sáng lập tôn giáo đã trả lời như vậy. Những mục đích này có thể đạt được bởi sự giúp đở, thanh tịnh, giới đức và trí tuệ.

Việc nhận thức quy luật nhân quả như đã được giải thích trong tôn giáo này đã làm sáng tỏa và giải quyết những vấn đề khổ đau của con người, bí mật về vận mệnh và trên hết là sự bất bình đẳng của con người. Hiểu được quy luật này sẽ đưa chúng ta sự khuây khỏa, niềm hy vọng, sự tự tin và quả cảm.

11. Tôn giáo hiện đại

Đây không phải là một lý thuyết hay một tôn giáo chỉ để tin mà là một phương thức sống thánh thiện và thực tiễn. Đây là một trong những tôn giáo cổ xưa nhất trong lịch sử mà đã đem đến sự tu dưỡng tốt đẹp nhất cho nhân loại. Giờ đây tôn giáo này là hiện đại nhất trên mọi phương diện khi chúng ta so sánh với những thành quả hiện đại. Tôn giáo khuyên bảo mọi người không nên trở thành nô lệ cho bất kỳ năng lực ngọai lai nào mà nên trau giồi tiềm năng đang tiềm ẩn trong chính mình và dùng nỗ lực cũng như trí tuệ của chính mình để hóa giải những vấn đề của chính mình.

Tôn giáo này có tất cả những phẩm chất mà đòi hỏi một tôn giáo chân chánh phải có và những phẩm chất đó luôn luôn thích hợp trong thế giới hiện tại và tương lai. Đó là lý trí tiến bộ và hợp lý. Thật là một điều lợi ích cho bất cứ ai nghiên cứu và chứng nghiệm giá trị của tôn giáo này trong thế giới hiện đại . Tôn giáo này được công nhận là khoa học hơn khoa học, tiến bộ hơn mọi tiến bộ trong lãnh vực tâm linh. Nó là một trong những phương tiện hữu hiệu nhất để ứng dụng cho việc duy trì hòa bình, hòa hợp và hiểu biết của thế giới.

12. Vô phân biệt

Chính tôn giáo này, lần đầu tiên trong lịch sử thế giới đã nổi lên cuộc cách mạng chống lại hệ thống phân chia giai cấp và đem đến sự bình đẳng cho con người, tùy theo, cơ hội bình đẳng đối với tất cả mà chia họ thành mỗi tầng lớp xã hội. Cũng chính tôn giáo này, lần đầu tiên đã giải phóng phụ nữ bằng sự khuyến khích họ tu tập tôn giáo mà tôn giáo đó ban cho sự bình đẳng xã hội. Bậc đạo sư đã tuyên bố rằng các cửa thành công và thịnh vượng được mở ra cho tất cả trong mọi hòan cảnh sống dù cao hay thấp, thánh hay phàm, bất cứ người nào mà quan tâm, truy tìm và khát vọng về sự hoàn thiện.Ngài đã không ép buộc đệ tử của mình làm nô lệ cho chính Ngài hoặc lời dạy của ngài nhưng ban cho họ sự tự do tư tưởng hoàn tòan để họ có thể đạt đến sự tự tin.

Tôn giáo này phân lọai chúng sanh thành danh và sắc trong một trạng thái biến đổi liên tục trong từng sát năm. Danh và sắc sanh diệt tương tục như một vòng xoay liên tục.

Do đó không có gì tồn tại vĩnh viễn hoặc trong thế giới này hoặc cảnh giới khác. Vì mọi vật tồn tại ở bất kỳ nơi nào trong vũ trụ cũng đều là trống không, chỉ là sự kết hợp của các yếu tố và năng lực. Đó chính là bản chất của các pháp mà ngày nào đó sẽ tan rã và các pháp sẽ biến mất hòan tòan. Tôn giáo này cũng đã dạy chúng ta rằng các pháp do nhân duyên cấu thành đều bị chi phối bởi sự thay đổi và xung đột theo các quy luật chung của vũ trụ.

Những nguyên lý mà do tôn giáo này quán sát thì không phải là giáo điều. Do sự trì giữ các giới như : không sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối và uống rượu thì hành giả có thể thanh tịnh chính mình và có khả năng làm người khác sống an lạc.

13. Mục đích

Mục đích của chúng tôi trong việc xuất bản quyển sách này là không phải giáo hóa những người khác đi theo niềm tin của chúng tôi mà là để gíac ngộ họ làm thế nào để tìm kiếm an lạc và hạnh phúc cũng như tu tập sự nhận thức đúng đắn mà không dựa vào niềm tin mù quáng. Chúng tôi khuyến khích mọi người thực hành tôn giáo riêng của họ một cách đúng đắn nếu họ có thể tìm thấy một cách đúng đắn, cao quý mà không làm giảm chân giá trị con người của mình.

Tuy nhiên tôn giáo này có thể là lời giải đáp cho những vấn đề nhân sinh, tâm lý và tôn giáo của bạn. Hoặc có thể gợi ra một hướng đi trong sáng cho suy nghĩ của bạn về các vấn đề tôn giáo và triết học. Tôn giáo cũng có thể giúp bạn hiểu biết cách sống và di sản văn hóa Châu Á. Bạn có thể tìm thấy trong tôn giáo này sự hướng dẫn tâm linh cho các nhu cầu thế giới hiện đại.

Tôn giáo này đem lại cho thế giới một tinh thần, một hy vọng mới, một hướng đi mới, chân lý của nó và sự cần thiết của nó được tìm thấy và cảm nhận trong hôm nay cũng như ngày xưa. Tôn giáo vĩ đại này được nói ở đây là “Phật giáo” và người sáng lập tôn giáo giáo này không ai khác hơn là “Đức Phật Cồ Đàm”.

Cái đó cũng có thể là mục đích của các bạn, chúng tôi mời các bạn hãy đến gần hơn để nhìn tôn giáo và ý tưởng của người sáng lập tôn giáo này. Chúng tôi sẳn sàng giúp đỡ các bạn trong việc tìm cầu chân lý. Vì vậy, phải không có thành kiến, tránh định kiến giáo điều tôn giáo và cố gắng tim cầu chân lý.

Thích Nữ Diệu Hương dịch từ nguyên tác tiếng Anh “What is this Religion ” của Đại lão HT. K. Sri Dhammananda, trong tác phẩm “Các Viên Ngọc Trí Tuệ của phật giáo” (Gems of Buddhist Wisdom), CBBEF, Taiwan, 1996, trang 17-33.

S.T

[Nguồn: REDS.vn]

Trong quần đảo Trường Sa, so với các đảo khác, với vị trí chiến lược của mình, đảo Cô Lin được coi như “mắt thần” của biển.

Nằm ở vị trí quan trọng, nhiều năm trước, ra Cô Lin người ta thấy thiếu thốn cam go đủ bề.

Nhưng với sự quan tâm và đầu tư cũng như vượt lên khó khăn của người lính, để khẳng định chủ quyền biển, vị thế dân tộc Việt Nam trên biển, nay Cô Lin hiện ra bề thế, vững chãi trước biển. Là nơi bà con đi biển gửi gắm niềm tin, tìm đến neo đậu tránh trú bão, lấy thêm nước ngọt và lương thực cho mình.

Ảnh: Hoàng Long

Hoài niệm Cô Lin

Trên chuyến tàu ra đảo, thăm các chiến sỹ và tận mắt chứng kiến cuộc sống ngày một đổi thay của các đảo nằm trong quần đảo Trường Sa, Nhà báo Nguyễn Trọng Thiết, đang công tác ở Báo Hải Quân, người luôn được mệnh danh là “sói biển” của giới báo chí đã dành cho tôi nhiều ưu ái. Vì là “người của biển”, lại thêm cái nghề làm báo, tính đến nay anh là nhà báo duy nhất đã ra công tác nhiều nhất trên hầu hết các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Đi nhiều, ghi nhận nhiều, anh như “cuốn biên niên về đảo và các đảo” trong quần đảo Trường Sa. Từ thời gian khó nhất cho đến những ngày vinh quang nhất, đầy đủ nhất như ngày nay qua lời kể của anh.

Hiểu biết của tôi về các đảo hình thành và tỏ tường dần qua những tối hai anh em ngồi cạn đêm trên boong tàu. Ấy là những tấm gương, sự hy sinh cao cả của những người lính, thế hệ đàn anh đã không tiếc máu xương ra với các đảo từ ngày các đảo này còn bộn bề khó khăn và thiếu thốn. Với lính hải quân, những ngày ấy, ra với đảo ai cũng biết khó khăn, có thể một đi không trở về vì bão gió, vì những sự bất ổn trên biển. Nhưng lạ thế, không một ai từ chối cả. Cứ có lệnh, ai nấy vui vẻ lên đường. Vì họ biết, sự ra đi của họ là góp sức cho sự vững chắc của chủ quyền trên biển. Và đồng nghĩa như vậy là sự bình yên của đất liền, tôn vinh thêm sức mạnh và tinh thần Việt.

Trong các câu chuyện anh kể về đảo, ấn tượng nhất với tôi là cuộc “hải chiến năm 1988” đã xảy ra tại đây. Biết Cô Lin có vị trí quan trọng, dù vẫn biết đảo này là của dân Việt, đất Việt nhưng “người ta” vẫn cố tình định đoạt nó. Vì ngày ấy cơ sở vật chất của đảo Cô Lin chưa được đầu tư, đảo chưa kiên cố và nổi hẳn lên mặt nước như bây giờ. Vào lúc triều cường, anh em trên đảo vẫn phải lội biển ngang bụng mà giữ đảo. Lợi dụng lúc ta khó khăn lại cậy sự “lớn mạnh” của mình, “người ta” đã ngang nhiên đưa tầu ra khiêu chiến. Với văn hóa Việt, những người lính chúng ta ngày ấy đã bình tĩnh giải thích và tôn trọng họ, ngay cả những lúc họ ngang ngược nhất.

Thế rồi không dừng ở đấy, những “tàu lạ” kia đã lấn tới. Đảo và chủ quyền đảo của đất Việt lâm nguy. Nhận được chỉ đạo từ trên, không nề hà, những người lính của chúng ta đã có hành vi cao cả là “cho tàu ủi bãi”. Chính nhờ sự mưu trí và dũng cảm này, bên cạnh đau thương và mất mát, chúng ta đã làm chủ và giữ được đảo. Giữ bình yên và nguyên vẹn “con mắt thần” này cho đến ngày hôm nay.

Cũng theo anh Thiết, ngày những người lính hải quân của ta cho “tàu ủi bãi” – một cách bảo vệ đảo hết sức táo bạo và không ngờ tới này cũng như các năm tiếp theo – Cô Lin còn khó khắn lắm. Đảo chưa được xây cất hiện đại, mọi thứ đều không chủ động được. Rau thiếu, lương thực thiếu đến nước ngọt cũng thiếu. Vậy nên ca khúc “mưa, chúng tôi cần mưa” luôn là nỗi khát khao của các chiến sỹ và các đoàn công tác ra Cô Lin thời gian ấy.

Ở một nơi vô cùng khắc nghiệt, nhưng bằng sự chăm chỉ của mình, những người lính đảo Cô Lin đã trồng được những vườn rau mướt mát như thế này.

Xanh thắm “mắt thần”

Những ngày gian khó, những đau thương thầm lặng ngày nào ở Cô Lin đã nhanh chóng lùi vào quá khứ. Ngày nay nhiều người chỉ còn hình dung và biết được qua những lời kể. Cách đảo Sinh Tồn 9 hải lý, đảo Len Đao 7 hải lý và cách đảo Gạc Ma 4 hải lý, đảo Cô Lin là một đảo nằm trên một quần thể san hô khá rộng. Lướt trên những rặng san hô, chúng tôi nhẹ nhàng tiếp cận đảo, nước biển trong vắt, nhìn thấy cả những đàn cá tung tăng bơi lội.

Đảo trưởng, Thượng úy Hoàng Thanh Sơn cùng anh em trên đảo chỉnh tề quân phục đứng đón những đoàn khách từ đất liền ra thăm. Trên khuôn mặt dạn dầy gió biển và mặn mòi vị muối của các anh, chúng tôi “đã đọc” được những niềm vui và sự an tâm của các anh về một cuộc sống ngày một hiện đại hóa ở đây. Sóng điện thoại, điện thắp sáng bằng các nguồn năng lượng sạch cùng sóng ti vi đã ngày một đưa các anh “về gần” với đất liền hơn.

Từ một đảo chìm, bằng sự gia cố và đầu tư, hiện nay Cô Lin đã “ngoi lên” mặt nước và trở thành một trong những đảo kiên cố. Đảo có thể chịu sóng gió tới bất kỳ cấp độ nào và sẵn sàng có thể ứng chiến về quân sự ở mức độ quyết liệt nhất. Cũng như các đảo khác, nước và rau xanh luôn là chủ đề muôn thuở và là thách đố của biển cả với con người mỗi khi họ có ý định ra đây sinh sống với nó. Nhưng nay, bằng việc đầu tư hệ thống bể chứa và trữ nước mưa và nước do các tầu vận tải chở ra nên Cô Lin đã hoàn toàn chủ động về nguồn nước. Nếu biển cả “trở mình”, không có nguồn cung ứng nước cơ học và có thể không có mưa trong thời gian dài thì hệ thống bể chứa ở đây vẫn có thể đáp ứng nước sinh hoạt cho anh em.

Cái quan trọng, bằng sự tự thân vận động, sự cần cù chịu khó nên ngoài thời gian phải làm nghĩa vụ trong ngày của một người lính, anh em trên đảo Cô Lin đã dành quỹ thời gian của mình để cải tạo, đem lại mầu xanh cho đảo. Ngoài cây cảnh, thì mướt mát và thích thú nhất ở đây vẫn là mầu xanh của những vườn rau do những người lính tự trồng và chăm sóc nấy. Tôi quả quyết, nếu nhìn thấy những loại rau mà các chiến sỹ đã trồng bằng các loại đất được các tầu dày công chở ra từ đất liền trên các khay nhựa đặc chủng, bất kỳ một phụ nữ nào cũng phải thấy “chạnh lòng” trước sự khéo léo của lính đảo Cô Lin. Và ai trong họ cũng ước ao mình có những đôi bàn tay khéo léo như vậy.

Ngoài rau, thì lính đảo cũng nuôi được những chú “ỉn” béo mập thế này để cải thiện thêm khẩu phần ăn cho mình.

Từ một đảo luôn luôn ngóng trông và phụ thuộc vào các loại thực phẩm được chở ra từ đất liền thì nay các chiến sỹ trên đảo Cô Lin đã chủ động được rất nhiều thứ. Nhìn bảng khẩu phần ăn trong ngày, trong tuần, trong tháng chúng tôi rất yên tâm về sức khỏe của lính nơi đây. Đại diện anh em, Đảo trưởng Hoàng Thanh Sơn vui vẻ cho biết: “Bằng sự tự tăng gia sản xuất của mình, tổng năm 2010 và hết quý 1 năm 2011, anh em ở đảo đã “làm thêm” được 865 kg rau xanh, đánh bắt được 402 kg cá các loại, chăn nuôi được 60 kg thịt các loại… Tổng số tiền làm ra này đã đem lại nguồn thu trên 21 triệu đồng để chi ăn thường xuyên và mua sắm vật chất cho anh em”. Có ra Cô Lin, trước khó khăn về thời tiết, bốn phía là biển chúng ta mới thấy nguồn thu này nó quý hiếm đến mức nào. Và con số này đã khẳng định thêm sự chắt chiu, cần cù, bám biển, bám sóng đến quên mình của anh em lính trên đảo.

Từ một đảo vốn dĩ phụ thuộc vào đất liền, nay với sự nắm tay chiu chắt, chiến đấu, lao động không mệt mỏi mà Cô Lin đã trở thành điểm tìm đến neo đậu của nhiều ngư dân Việt Nam. Ngoài việc tạo thu, tạo chi, nay Cô Lin đã có điều kiện quay lại giúp đỡ ngư dân, đền đáp cho đất liền phần nào. Tổng kết trong thời gian qua, Đảo đã cung ứng cho ngư dân đến 2.000 m3 nước ngọt. Bên cạnh nước ngọt, Đảo cũng là nơi tìm đến của của hơn 200 lượt tầu thuyền và là chỗ neo đậu cho nhiều bà con ngư dân ra đây khai thác thủy hải sản bằng các loại tầu thuyền như: tầu câu, tầu xiên lặn và tầu đánh lưới.

Ngoài vị trí “mắt thần”, ngoài nơi tìm đến neo đậu tránh trú bão của bà con, đảo Cô Lin còn đang được mệnh danh là Trạm y tế tiền phương trên biển. Với sự chủ động, ngoài việc khám chữa bệnh cho cán bộ, chiến sỹ, Đảo còn tạo điều kiện chữa trị bệnh cho 13 lượt bà con ngư dân, nhập đón và đưa bà con rời đảo đúng quy định, an toàn.

Cô Lin một thời ngày xưa để nhớ và Cô Lin xứng tầm là con “mắt thần” trước biển như ngày nay. Ấy là những ghi nhận, những nỗi nhớ mà chúng tôi có được trong hành trình đến và chia tay cùng các chiến sỹ ở Đảo này!

Theo Đại Đoàn Kết

“TÌNH HUỐNG MẤT CHÂU VIÊN VÀ GIỮ ĐƯỢC ĐÁ ĐÔNG”…(Thiềm Thừ)

Đầu năm 1988, Trung Quốc đưa nhiều tàu hộ vệ tên lửa, tuần dương, tàu đổ bộ… đến khu vực quần đảo Trường Sa. Lãnh đạo Quân chủng Hải quân xác định: “Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền vùng biển và quần đảo Trường Sa là nhiệm vụ quan trọng nhất, khẩn trương nhất và vinh quang nhất của Quân chủng”.

Nhà cao cẳng trên Đá Đông – 5/1988 – Nguyễn Viết Thái.

Toàn Quân chủng bước vào Chiến dịch CQ88 (Bảo vệ Chủ quyền 1988). Tháng 2/1988, Trung tá Nguyễn Văn Dân (nay đã nghỉ hưu với cấp hàm Đại tá, Phó Tham mưu trưởng Vùng 4 Hải quân) được giao làm Phó Trưởng đoàn, phụ trách chỉ huy đi biển của Đoàn Công tác ra tiếp tục đóng giữ các đảo, bãi ngầm. Hướng chính là Đá Đông, Châu Viên, Đá Lát…

Những sự kiện dưới đây được ghi theo lời kể của ông

___________

Tàu HQ-614 là loại tàu Nhật Lệ do Trung Quốc đóng, trọng tải chỉ 200 tấn. Trung Quốc đưa một tàu khu trục, một tàu pháo đến chặn, không cho mình lên đảo, kéo cờ hiệu trên tàu và nói: Nếu mình không rút nó sẽ nổ súng.

Hai bên hằm hè nhau…

Sáng 18/2/1988 là mùng 2 Tết, tàu HQ-614 của chúng tôi đưa 9 anh em lên cắm cờ ở Châu Viên. Mang theo 1 lá cờ, 2 khẩu AK, dụng cụ xà beng để thăm dò độ sâu, chuẩn bị làm nhà.

Khi lên cắm được cờ rồi thì gió mùa Đông bắc về rất mạnh, nước lớn, tàu bị đánh ra khỏi đảo, trôi neo. Lúc đó trời tối, tàu phải nổ máy chạy cạnh đảo, tìm cách kéo 9 anh em trên đảo ra tàu.
7 người ra được trước, còn 2 người ở lại đứng giữ cờ. Nhưng nước triều cứ lên, ngập đến cổ, phải đưa nốt hai anh em ra.

Lúc đó 1 tàu của Trung Quốc, có hai số sau là 31 chạy tới uy hiếp.

Đến nửa đêm, lệnh của Tư lệnh Hải quân: Sáng mai bằng mọi giá phải lên Châu Viên.

Nhưng Trung Quốc kéo đến 4 tàu chiến: 208, 209, 164…, quay pháo về phía mình đe dọa nổ súng. Ta không lên được Châu Viên nữa.

Không phải mình không quyết tâm. Nhưng thực ra, cũng có mất cảnh giác, nghĩ là bãi ngầm nhỏ. Trung Quốc đã thả một bia làm dấu của họ lên đó, khi mình đến đã thấy.

Mình nghĩ Châu Viên là đảo nhỏ, không chú ý giữ bằng giữ Đá Đông, Đá Tây, Đá Lớn, Tốc Tan… – Những đảo lớn trên ba chục cây số, hai mấy cây số.
Lực lượng mình còn mỏng, phải tập trung vào các đảo lớn, không thể triển khai đến tất cả các đảo, bãi ngầm nhỏ.

Tối 18/2/1988 có dông lớn, tàu của cả nó cả mình đều bị trôi neo.

Tàu chúng tôi cấp tốc về Đá Đông, làm căn nhà cao chân đầu tiên ở mỏm Đông của Đá Đông, kéo cờ lên khẳng định chủ quyền.

Nhưng Trung Quốc cũng định đổ bộ lên phía bên kia, mỏm Tây của Đá Đông.

Tàu HQ-641 của mình lao lên đó, nên bên kia thôi. HQ-614 lao lên đó, nhưng chỉ kẹt, không hỏng tàu, sau cứu ra được. Tàu chiến của nó cứ quần liên tục ở bên ngoài.

Khi làm xong nhà cao chân ở Đá Đông, không có gì ăn, tôi phải đưa người ra tàu. Chuyến đầu ra được trót lọt, nhưng chuyến sau không được, sóng to.
Đành lội bộ về lại cái chòi cao chân đó, không có gì ăn, không có gì mặc. Ngày đó là 20/2/1988. Đó là mùng 4 Tết, cứ nghĩ có khi mình chết ở đây.

Nếu mình không nhanh ngày 19/2, có khi Trung Quốc lấy mất Đá Đông.

Nó định lên đầu Tây, tôi lệnh tàu HQ-614 lao lên để giữ đầu Tây.

Khi nó đưa pháo định bắn tàu mình, tôi bảo: “Thôi!. Đưa HQ-614 về để làm nhà trên Đá Đông ngay!”.

Lên đó dựng 8 cái cột, tàu nó cũng về theo, nhưng thấy mình làm nhà cắm cờ trên đó rồi, nó lại thôi, không gây sự nữa. Nhưng mình mới cắm được cọc, dựng tạm nhà, chưa tiếp tế được thì sóng đánh tàu HQ-614 bật neo trôi ra, tôi phải nằm một đêm trên Đá Đông.

Nhiều người đọc những bài giảng của Thượng Toạ Chân Quang đều công nhận trong tất cả các bài giảng Thầy đều khuyên các Phật tử tôn kính Tam Bảo,tin hiểu Nhân Quả,đi theo Chánh Đạo của Phật,đoàn kết với các tông phái khác,khuyên các Phật tử sống đạo đức,vị tha nhân ái.Rất nhiều người tu theo lời dạy của Thầy đã có kết quả rất tốt,cuộc sống của họ thay đổi thấy rõ so với trước khi tu.
Gần đây có rất nhiều các tin đồn nói xấu Thượng Toạ Thích Chân Quang gây hoang mang nghi ngờ trong lòng một số Phật tử.Chúng tôi cũng đã nghe những lời nói xấu đó trên mạng,chẳng hạn như họ bảo Thầy chống Tịnh độ tông,phủ nhận kinh đại thừa…thậm chí có những lời bịa đặt nói xấu nghe khá ngô nghê như đồn rằng Thầy đi nhậu bia ôm,Thầy có…9 tỷ đồng,Thầy có vợ bé,Thầy bị … pede, vậy mà vẫn có người tin.Hôm nay chúng ta sẽ từ từ xem lại những âm mưu gì ẩn chứa sau đó.
— Thầy Thích Chân Quang có phủ nhận kinh điển Đại thừa không ?

Kinh điển Đại thừa xuất hiện sau Phật là điều mà tất cả các học giả trên thế giới đều biết cả.Các bậc Hoà thượng tôn túc ở Việt Nam,các vị bên Nam tông cũng công nhận như thế và Thầy Chân Quang chỉ nhắc lại thôi.Các nhà học giả ,sử học trên thế giới khi nghiên cứu đã chứng minh rất rõ ràng , bản kinh Nguyên thuỷ Nikaya do đích thân Đức Phật thuyết ,được viết bằng tiếng Pali,truyền sang Tích Lan (Srilanka) và được Phật giáo Nam tông gìn giữ đến tận ngày nay.Các bản kinh Đại thừa ,ra đời sau Phật vài trăm đến hàng nghìn năm,đều được viết bằng tiếng Sancrit  rồi dịch ra tiếng Hán,trong kinh Đại thừa có nhiều nhân vật không hề có thật thời Đức Phật,và không hề được nhắc đến trong Kinh Nikaya.
Như vậy là Thầy Chân Quang chỉ nói ra sự thật chứ Thầy không hề chống gì cả.Thầy cũng không hề chê bai kinh điển Đại thừa,ngược lại Thầy rất trân trọng nhiều bộ kinh Đại thừa và đã giảng nhiều bộ Đại thừa như Kinh Kim Cang ,Bát Nhã Tâm Kinh, Kinh Pháp Hoa…
Nhiều bộ kinh Đại Thừa tuy không phải Phật thuyết nhưng là do các vị Bồ Tát sau này thị hiện,các vị Thánh viết ra,rất đúng ý Phật và hợp đạo lý.Vì vậy chúng ta vẫn tôn kính và học theo các bộ kinh Đại Thừa đó là vì thế.Chính Thầy Chân Quang cũng đã từng nói “kinh Đại thừa có nhiều ý rất hay”.
Nhưng vấn đề là không phải 100% các bộ kinh sau này đều do các vị Bồ Tát các vị Thánh viết,có những bộ của người thường viết theo kiến giải chủ quan của riêng mình,lẫn cả tà kiến ngoại đạo ở trong đó,rồi lại ghi là do Phật thuyết ,làm cho chúng ta nào giờ vẫn tin mấy bộ đó là do Phật thuyết thật và cứ tụng theo.Chỉ những vị có trí tuệ mới nhận ra thật giả,đâu là chân kinh Phật thuyết,đâu là chân kinh của các vị Bồ Tát các vị Thánh,đâu là kinh “dỏm” của người bình thường,ngoại đạo trà trộn vào.

— Thầy Chân Quang có chống Tịnh Độ tông và Mật tông không ?

Có nguồn tin cho rằng ,Thầy Chân Quang bảo Mật tông là “dâm đãng” ?
Thầy không hề nói vậy.Chỉ có một số ít hệ phái trong Mật tông hoàn toàn xa rời Phật giáo khi đi ngược lại giới luật căn bản của Phật,họ cổ xuý cho việc sinh hoạt tình dục như là một phép tu.Họ là ngoại đạo giả dạng,trà trộn vào Mật tông trà trộn vào đạo Phật chứ Đức Phật không bao giờ dạy như vậy.Chính Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng lên tiếng phê phán lối tu kì quái của họ.Còn với những hệ phái tu Mật tông chân chính mà đúng với Bát Chánh Đạo thì ai cũng phải tán thán.Chính Thầy Chân Quang trong một bài giảng cũng nói “có một điều khiến chúng ta đều ấm lòng vì Đức Đạt Lai Lạt Ma hiện nay giảng Phật pháp rất hay”
Thầy Chân Quang nói rằng Thầy vẫn hay niệm Phật những khi rảnh rang.Thầy cho rằng các pháp môn có tính bổ xung cho nhau và pháp môn nào cũng nên phù hợp với Bát Chánh Đạo để Đạo Phật có mẫu số chung trên con đường tìm lại một đạo Phật duy nhất.Thầy cũng góp phần truyền bá pháp môn Tịnh Độ ví dụ như bài giảng Tiến trình niệm Phật.

—Thầy Chân Quang đề cập đến vấn đề tình dục trong một số bài giảng ?

Chúng ta biết rằng người bình thường chúng ta chưa chứng Thánh thì ai cũng có tình dục cả,có thể chúng ta muốn tránh né nói về vấn đề nhạy cảm này,nhưng hàng ngày chúng ta vẫn phải đối mặt với nó,và vẫn có thể phạm giới tà dâm nếu không hiểu biết.Trong bài giảng về Ái dục Thầy có giảng :4 điều nên tránh :quan hệ quá sớm(quá trẻ tuổi),quan hệ trước hôn nhân,quan hệ ngoài hôn nhân(ngoại tình),quan hệ quá nhiều(vô độ). Tình dục đưa đến 4 điều : mất sức khoẻ,mất tư cách,mất trí tuệ,mất phước(vì hưởng thụ khoái cảm).Tất cả những điều đó đều rất đúng.Những người cư sĩ nghiệm lại về đời sống tình dục của mình đều thấy chính xác.Chúng ta phải hiểu rõ thế nào là tà dâm để mà tránh,có một cuộc sống hôn nhân lành mạnh.
Vậy sự thật đằng sau những chuyện bịa đặt nói xấu Thầy Chân Quang là gì ?

Trần Văn Nhật,trước năm 1975 là người phiên dịch cho các mục sư đạo Tin lành của Mỹ.Ông ta theo các mục sư đi khắp nơi truyền đạo,sau một thời gian ông ta quen với công việc và bắt đầu trực tiếp giảng Tin lành thay cho các mục sư của Mỹ.Ông ta học được cách chửi rủa mạt sát các tôn giáo khác,học được cách gài bẫy xúi giục quần chúng chán ghét đạo Phật,đạo Nho để đi theo Tin Lành.
Năm 75 ,Nhật chạy sang Mỹ.Khi Hoà thượng Thiền sư Thích Nhất Hạnh nổi tiếng ở châu Âu thì Nhật đến xin quy y có pháp danh là Tâm Kiến Chánh.Không biết là quy y thật lòng hay được lệnh trà trộn vào đạo Phật mà sau vài năm,ông ta quay sang chê bai bài xích Hoà thượng Nhất Hạnh đủ chuyện
Trần Văn Nhật có chút nghề về audio và video,ông ta kinh doanh bằng cách lấy những cuốn sách Phật giáo nào được nhiều người ưa thích,đọc,thu vào băng catxet bán kiếm lời không trả tiền bản quyền.Năm 98,Nhật bắt gặp các băng đĩa giảng của Thầy Chân Quang được nhiều người ở Mỹ thích nghe.Nhật copy lại để bán rộng rãi với giá 3.5 USD và nhờ đó tạo được quan hệ rộng rãi với các bạn đạo ở Mỹ.
Khi về Việt Nam ,Trần Văn Nhật gặp xin Thầy Chân Quang cho ông ta độc quyền phát hành băng đĩa của Thầy ở hải ngoại nhưng Thầy không đồng ý.Sau đó ông ta dùng thủ đoạn quen thuộc khi còn là trợ giảng Tin lành,ông ta bài bác đạo Phật,ca ngợi Hoà Hảo,vừa lấy lòng Hoà Hảo vừa ly gián chia rẽ đạo Phật giáo với Phật giáo Hoà hảo.Ông ta thiết lập một số đầu mối quen biết để nhờ vả sai khiến sau này.Nhận thấy ý đồ nguy hiểm của ông ta trong việc chia rẽ dân tộc và tôn giáo,Thượng Toạ Chân Quang đã viết một bức thư qua email khiển trách Nhật nghiêm khắc.
Quay về Mỹ ,Nhật bắt đầu viết một loạt bài đặt điều,chửi rủa,nói xấu Thầy Chân Quang.Đầu tiên Nhật đặt điều trắng trợn rằng Thầy là tay sai cộng sản,là cháu…Bác Hồ để các Phật tử hải ngoại(nhiều người vốn không thích cộng sản) ghét Thầy.Nhiều khả năng ông ta cũng là thành viên một tổ chức lưu vong chống nhà nước Việt nam
Ông ta đã sửa chữa,edit,xử lý âm thanh,cắt xén làm thay đổi nội dung các bài giảng của Thầy,lấy một số câu nói của Thầy,bớt đầu bớt đuôi đổi hẳn ý nghĩa đi để làm bằng chứng kết luận rằng Thầy chống lại Tịnh Độ và Mật tông.Đây cũng chính là thủ đoạn quen thuộc của Tin Lành khi muốn bao vây cô lập,hạ uy tín các vị Thầy trong các tôn giáo khác.Quả nhiên một làn sóng chống đối Thầy Chân Quang bùng lên lan rộng khắp nơi
Nhật cho in các bài viết công kích Thầy Chân Quang thành một tập tài liệu có tên rất kêu là Chướng ma thời mạt pháp,in thành đĩa CD để dễ dàng phổ biến.Nhật chuyển các tài liệu đó về Việt Nam,gửi tiền về cho các tay sai của mình sao chép tài liệu đưa đến các nơi nhạy cảm như các chức sắc tôn giáo,các Thầy trong các Tông phái.Nhiều người cả tin chưa biết nếp tẻ ra sao vội quay ngay ra chửi Thầy Chân Quang,vô tình tiếp tay cho Nhật khi chuyền các tài liệu đó đi.

 Vậy là đã trúng kế của Tin Lành : Các Thầy,các vị tôn túc trong đạo Phật hiểu lầm chỉ trích chống đối nhau.Đạo Phật mất đoàn kết,suy yếu thì ngoại đạo sẽ nhảy vào truyền giáo lôi kéo tín đồ!

Trần Văn Nhật là kẻ ham tiền,kiếm lời từng tí một qua bán đĩa CD,catxet,ông ta lấy đâu ra một đống tiền để nuôi đám tay sai đi làm chuyện đó nếu không phải là cái tổ chức kia lót lưng.Xét cho cùng Nhật cũng là con rối mà thôi.
Một số Phật tử hoang mang về việc Hoà thượng Thích Thanh Từ cũng quay sang chỉ trích Thượng Toạ Chân Quang.Thượng Toạ biết Hoà thượng chỉ là hiểu lầm nên có nói “các Phật tử thương kính Thầy 1 thì phải thương kính Hoà Thượng gấp 1000 lần” (xem trong loạt bài giảng Tứ Diệu Đế)
Chúng ta đã biết rõ những thủ đoạn thâm hiểm gây chia rẽ chống phá đạo Phật của Tin Lành.

Họ chống đạo Phật bằng cách triệt hạ những vị Thầy nào giảng hay đúng đạo lý,triệt hạ những vị Thầy nào có uy tín,đức độ vì những vị đó đang chấn hưng được Phật pháp.Họ còn triệt phá đạo Phật bằng cách dùng tiền bí mật mua chuộc lôi kéo một số thầy thiếu đạo tâm,ly gián nói xấu để các Thầy,các Tông phái hiểu lầm chống lẫn nhau,đặt điều vu khống để các Phật tử giảm lòng tin vào quý Thầy quý Cô,giảm lòng tin vào Chánh Đạo.Thậm chí chúng còn tính đến khả năng ám sát các Thầy.Chúng ta hãy chờ xem,các thế lực xấu sẽ còn giở nhiều trò nữa chứ không chỉ gây chia rẽ không.
Chúng ta biết rằng thời xưa chính Đức Phật cũng bị ngoại đạo chống phá ghê gớm.Họ nói xấu,xúi giục nhiều người phỉ báng chỉ trích Đức Phật,có người còn lăn đá xuống muốn giết Phật.Trong kinh Pháp cú phẩm Hiền trí Đức Phật cũng có nói ” Những người hay khuyên răn dạy dỗ,can ngăn tội lỗi của kẻ khác,được người lành kính yêu bao nhiêu thì bị người dữ ghét bỏ bấy nhiêu”

Lê Nguyển 11-11-2009

http://cusiphatgiao.wordpress.com/2009/12/01/t%E1%BA%A1i-sao-co-cac-tin-d%E1%BB%93n-noi-x%E1%BA%A5u-tt-thich-chan-quang/

Ông lão lặng lẽ 10 năm đi bóc, xóa quảng cáo, rao vặt

Lặng lẽ giữa đường phố ồn ào, chiều nào ông Minh cũng tranh thủ lúc đi tập thể dục để bóc những tờ quảng cáo, rao vặt… dán bừa bãi trên bờ tường và cây cột điện để làm đẹp phố phường.

 

Ngày nào cũng vậy, cứ vào khoảng 5h chiều, người ta lại bắt gặp hình ảnh một ông lão tóc đã bạc trắng mặc bộ quần áo cũ kỹ, đội chiếc mũ đã bạc màu đi bộ dọc trên con đường Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội để bóc những tờ giấy quảng cáo, rao vặt dán bừa bãi trên các mảng tưởng, nơi chờ xe bus và cây cột điện.

Ông là Nguyễn Văn Minh (SN 1943, ở khu tập thể bóng điện Rạng Đông, Thanh Xuân, Hà Nội), một người dân Hà Nội gốc, đã từng tham gia phục vụ trong quân đội. Trò chuyện với ông lão tốt bụng, tôi được ông Minh tâm sự rằng, mỗi chiều, tranh thủ lúc đi bộ tập thể dục từ nhà ra tới gần Ngã Tư Sở (Hà Nội) ông thường đi dọc theo vỉa hè để bóc những tờ quảng cáo được dán lem nhem khắp nơi. Bất kể ngày nắng hay ngày mưa, ông đều giữ cái thói quen làm đẹp phố phường này.

Mỗi chiều đi tập thể dục, ông Minh đều bóc những tờ giấy quảng cáo, rao vặt dán bừa trên những cây cột điện, mảng tường, điểm chờ xe bus…

Dụng cụ của ông Minh cũng không có gì ngoài hai bàn tay cùng một con dao dọc giấy nhỏ để cạo sạch những miếng giấy bị keo dán chặt sau đó cho vào các thùng rác. Nói về việc làm của mình, ông Minh cười: “Mình là lính cụ Hồ thì học tập và làm việc theo tấm gương Bác Hồ chú ạ. Người ta cứ dán giấy lung tung thế này bừa bãi lắm, dù không bóc được hết tất cả những tờ “giấy tặc” kia nhưng làm được đến đâu hay đến đó để giúp phố phường thêm một chút sạch đẹp”.

Cứ thế, tính đến nay, ông Minh đã tiến hành công việc âm thầm của mình được 10 năm, có nhiều bạn trẻ thấy ông lão làm công việc thiện nguyện, cũng đã tham gia bóc giấy dán quảng cáo để làm sạch cảnh quan đường phố.

Dụng cụ của ông mang theo là một chiếc dao dọc giấy nhỏ

Thành đoàn Hà Nội đã rất nhiều lần tổ chức ra quân làm sạch Thủ đô, bóc, xóa các tờ rơi quảng cáo, rao vặt trái phép. Tuy nhiên, chỉ sau vài ngày những tờ rơi quảng cáo lại mọc lên nhan nhản. Khắp các bờ tường, ngõ ngách vẫn đang bị bao vây bởi hệ thống quảng cáo, rao vặt “siêu ngắn, siêu rẻ” của vô số công ty, doanh nghiệp như: Khoan cắt bê tông, rút hầm cầu, trung tâm gia sư, tuyển dụng, mua bán nhà đất…

Ai cấm mặc ai, những “quảng cáo tặc” vẫn vô tư dán, khiến người dân bức xúc, mỹ quan của thành phố ngày một nham nhở…Vấn đề cần làm để chấm dứt tình trạng trên chủ yếu cần nâng cao ý thức chung của người dân. Nếu như mỗi người đều có tinh thần vì cộng đồng như ông lão Nguyễn Văn Minh, hẳn đường phố Hà Nội đã được đẹp hơn biết bao nhiêu.

KINH VÂN

Theo Infonet.vn

Cách đây 33 năm trước (17/2/1979), Trung Quốc chính thức tấn công toàn bộ tuyến biên giới Việt Nam, mở màn cuộc chiến chớp nhoáng trong vòng 1 tháng và kéo dài trong suốt 10 năm mà lịch sử sau này thường gọi là “chiến tranh biên giới Việt-Trung 1979.

Để tái hiện cuộc chiến đó một cách sống động nhất, đồng giời giúp các bạn hiểu hơn về diễn biến cuộc chiến, Ban Admin HNNGBPĐ (HỘI NHỮNG NGƯỜI GHÉT BỌN PHẢN ĐỘNG)xin chọn đăng loạt bài gồm 18 kỳ có tên:
KHÔNG ĐƯỢC ĐỤNG ĐẾN VIỆT NAM

Loạt bài được Nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân xuất bản với tựa sách cùng tên năm 1979 .

https://fbcdn-sphotos-a.akamaihd.net/hphotos-ak-ash4/423615_328805790494058_124739034234069_863491_199557279_n.jpg

hình ảnh.

KHÔNG ĐƯỢC ĐỤNG TỚI VN – KÌ 3

Công việc chuẩn bị lên đường đánh địch đã xong. Mặc dù trên vai đeo lủng lẳng balô, súng đạn, cuốc xẻng, nhưng tôi vẫn cảm thấy chưa yên tâm, tôi liền chạy vội vào nhà lấy thêm 4 quả B40 đeo sau lưng. Những lúc bình thường, vai đeo chiếc balô với khẩu AK đã cảm thấy nặng. Vậy mà giờ đây không hiểu sao tôi vẫn chạy đi băng băng.

Lúc ấy là 3 giờ sáng. Đơn vị đã tập hợp đông đủ. Tiếng chính trị viên Nguyễn Viết Hảo vang trong đêm :

– Hiện giờ địch có khoảng 1 trung đoàn, chúng đang di chuyển từ An Lạc đến xã Đức Quang. Nhiệm vụ của chúng ta là cùng với bộ đội địa phương và dân quân chặn đánh chúng ở bản Nà Hát, không cho chúng tràn vào huyện Quảng Hoà.

Chúng tôi khẩn trương lên đường.Từ nơi đơn vị đóng quân đến toạ độ X trên 30km. Đường rừng nhiều đoạn khúc khuỷu, khó đi. Trên vai mang nặng súng đạn, mồ hôi ai nấy đều vã ra.

Sau 1 đêm hành quân, chúng tôi đã đến địa điểm tập kết an toàn. Vừa đến nơi chưa kịp đặt balô, pháo địch đã bắn vào bản Nà Hát, cách đơn vị đóng quân chưa đầy 100m. Tiếng pháo nổ mỗi lúc càng dữ dội. Toàn đơn vị khẩn trương đào hầm hào, công sự chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Còn tôi được phân công cùng 3 chiến sĩ đi quan sát trận địa. Càng đi sâu vào rừng, không khí càng vắng lặng. Vừa ra khỏi bìa rừng, tôi thấy 2 người đàn ông ăn mặc quần áo người Nùng, vai đeo súng đạn đi về phía mình. Người đi đầu cao to, đội mũ lưỡi trai trông rất giống bọn phản động Trung Quốc.

– Cẩn thận, bọn thám báo.

Tôi ra hiệu cho các chiến sĩ chuẩn bị nạp đạn. Bỗng tôi nảy ra ý định cần bắt sống 2 tên này đem về khai thác. 2 người lạ mặt đi khỏi con suối, họ rẽ ngang rồi lẩn vào rừng. Tôi cùng các chiến sĩ đuổi theo. Khi gần đến nơi, tôi thấy người đi đầu trông quen quen. Đúng là bác Thài rồi ! Nhưng sao bác ấy lại ở đây ? Tôi khẽ gọi :

– Có phải bác Thài không ?

– Ai đấy ?

– Tôi đây, Khoáy đây !

– Anh đi đâu bây giờ ?

– Đi đánh địch bác ạ !

– Chúng nó chuồn về bản Nhảng cả rồi !

– Bác có thể dẫn đường cho chúng tôi được không ?

– Đơn vị của anh có bao nhiêu người ?

– Đông lắm không thể đếm được.

– Vậy thì tốt quá. Chúng tôi đang đi tìm đồng chí xã đội trưởng để lấy thêm súng đạn. Bây giờ gặp các anh ở đây thì còn gì bằng.

Được người dẫn đường tin cậy, chúng tôi thấy yên tâm. Mỗi người ăn vội miếng lương khô rồi tiếp tục hành quân đến bản Nhảng.Cuộc hành quân kéo dài 4 tiếng đồng hồ. Khoảng 8 giờ tối, chúng tôi mới tới bản Nhảng. Đơn vị dừng chân tạm nghỉ ở khu vực rừng rậm. Tôi cùng 2 chiến sĩ xuống bản tìm cán bộ địa phương. Nhưng lạ thay không thấy 1 bóng người. Chỉ thấy những ngôi nhà đổ nát, hoang vắng cùng những đống tro tàn và những cột nhà cháy dở bốc lên mùi khét lẹt. Bên cạnh những ngôi nhà cháy dở là những công sự hàm ếch dày chi chít, vết tích của bọn Trung Quốc xâm lược để lại. Chúng tôi quan sát xung quanh, thấy 1 xác người bị địch đốt cháy. Còn cảnh đau thương nào hơn thế nữa. Bỗng tôi nhớ lại câu chuyện hôm trước bà con ở Hoà An kể lại : bọn địch hung ác hơn cả thú dữ. Chúng tràn vào huyện Quảng Hoà chém giết, đốt phá không chán tay, rồi bắt đi 16 cô gái thay nhau hãm hiếp. Về sau chúng tẩm xăng đốt cả 16 cô. Càng nghĩ tôi càng căm thù lũ giết người man rợ.

Đêm ấy chúng tôi dừng chân ở bản Nhảng. Trong lúc anh em nghỉ, tôi cùng 2 đồng chí dân quân đi gài mìn đề phòng địch tấn công bất ngờ. Gần về sáng, trời đổ mưa, lại thêm muỗi vắt nhiều như trấu, không ai ngủ được. Xa xa, vẳng lại tiếng pháo cầm canh của địch bắn vu vơ. Tôi thức dậy, cùng đại đội trưởng Yên và trung đội trưởng Khánh giở tập bản đồ ra xem.

Đại đội trưởng Yên hỏi chúng tôi :

– Nên cho anh em ở lại đây mai phục hay hành quân đến địa điểm khác ?

– Cứ theo tiếng súng của địch thì chúng còn cách ta không xa. Nếu chúng ta mai phục ở đây chờ địch vào mới đánh, tôi e không có lợi. Vì địa hình ta thấp, vả lại nếu trường hợp bất trắc sẽ không có đường cơ động. Vì vậy ngay bây giờ chúng ta phải cho anh em hành quân đến bản Lẻn, bí mật đánh làm chúng không kịp trở tay.

Ý kiến của tôi được ban chỉ huy nhất trí ngay.

5 giờ sáng, sương mù còn bao phủ khắp núi rừng. cuộc hành quân lại tiếp tục. Khoảng 3 giờ chiều, trinh sát báo về, địch đang tràn vào bản Lẻn. Chúng chia làm 2 tốp. Tốp đi đầu có khoảng 200 tên, mang theo súng đạn, vừa đi chúng vừa xì xồ với nhau toàn tiếng Bắc Kinh, tôi gnhe rõ nhưng không hiểu. Tốp thứ 2 có khoảng 400 tên, đang kéo nhau trên một đường vòng tiến vào bản Lẻn.

Thời cơ diệt địch đã đến. ban chỉ huy đại đội hội ý chớp nhoáng. Toàn đơn vị chia 3 hướng bao vây chia cắt tiêu diệt địch. Tôi được phân công chỉ huy một mũi gồm 8 bộ đội và 5 dân quân đánh chính diện. Còn 2 tổ khác do đại đội trưởng Yên chỉ huy đánh bọc phía sau.

Thằng đich rất chủ quan. Trên đường hành quân mệt mỏi, chúng dừng lại ngồi nghỉ, một số đi tìm nước uống tập trung ở giếng Cô So.

“Kì này, chúng mày sẽ chết với ông”. Tôi nghĩ vậy rồi cùng binh nhì Nông Văn Quyết vận động đế 1 mô đá to, cách địch chưa dầy 100m. Từ địa hình rất thuận lợi đó, tôi chỉnh lại khẩu AK rồi nín thở bóp cò. Tiếng súng phá tan bầu không khí yên lặng. Cùng lúc đó, các cỡ súng của ta từ 3 phía đồng loạt nổ. Bị đánh bất ngờ, bọn địch không kịp trở tay, đội hình rối loạn. Chúng chạy tứ tung. Một toán chạy lên đồi ẩn nấp. Thừa cơ, khẩu trung liên của Tô Minh Đại và Nông Trọng Tuyền liên tục nhả đạn, bọn chúng không còn đường chạy thoát. Chúng chết nằm ngổn ngang khắp quả đồi.

Nghe thấy tiếng súng nổ, bọn địch đi trước quay lại dùng súng lớn bắn vào đội hình ta rồi cho quân dàn hàng ngang kéo đến bao vây. Vừa đi chúng vừa thổi kèn “toe toe”. Thằng chỉ huy đầu đội mũ, một tay cầm batoong, một tay cầm súng ngắn, miệng hò hét ra oai :

– Tả khoai ! Tả khoai ! (đánh nhanh ! đánh nhanh !- chú thích của sách)

Đợi cho chúng đến đúng tầm bắn, từ trên đồi cao, tôi cùng Phương, Khoả… nổ súng. Lũ giặc lộn nhào từ trên cao lăn xuống chân đồi. Bọn còn lại xông lên như những con thiêu thân. Vừa lúc đó, khẩu trung liên của đồng chí Đại liên tục nhả đạn. Cuộc chiến đáu kéo dài 1 tiếng đồng hồ. Địch mở 2 đợt đánh tới nhưng đều bị chúng tôi đánh lại, buộc chúng phải lùi ra x.

Trưa ngày 14-3, tôi được phân công cùng 2 đồng chí dân quân đi gài mìn ở những nơi xung yếu quanh bản Pò Púng. Lúc quay về tôi đã thấy địch đang tiến vào nơi đơn vị đóng quân. Tôi luồn rừng chạy lên núi đá. Địch phát hiện ra tôi. Chúng bắn đuổi theo. Tôi cố sức leo lên 1 quả đồi tranh, bỗng nghe có tiếng “rẹt rẹt” trên đầu. Biết là súng của địch, tôi nằm rạp xuống đất, lăn mấy vòng. Tôi bị địch bao vây. Một tên nói bằng tiếng Việt, giọng lơ lớ :

– Thằng chỉ huy của mày chết rồi, đầu hàng mau !

– Này thì đầu hàng !

Tôi nghiến răng ném 1 quả lựu đạn vào đội hình địch. Bọn chúng nằm rạp xuống đất. Nhân lúc địch đang hoang mang, tôi bồi tiếp 1 băng đạn, mấy tên giặc chết gục. Tôi chạy tắt theo 1 thung lũng, về đơn vị.

Phương Quang ghi theo lời kể của Hoàng Văn Khoáy, đại đội phó đại đội 3 công an vũ trang Cao Bằng.
(Còn tiếp)