Tag Archive: quyền


Dấu tích về chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam ở Lý Sơn

Bảo tàng Lý Sơn, Quảng Ngãi, đang lưu giữ nhiều hình ảnh, bản đồ từ thế kỷ thứ 16 đến 19, khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa.

 
 Hiện tại bảo tàng Hoàng Sa (Lý Sơn, Quảng Ngãi) còn lưu giữ nhiều tài liệu quý về Hoàng Sa.
 
 Những bài báo và bản đồ chính trị (từ thời Việt Nam Cộng Hòa 1954 – 1975) nêu rõ quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam.
 
 Những dòng chữ được ghi trong Đại Nam Thực Lực Chính Biên (năm 1848) và Quảng Ngãi Tỉnh Chí (năm 1933) ghi chép về quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
 
 Những dấu tích, bản đồ, sắc phong còn được giữ nguyên vẹn tại bảo tàng.
 
 Dụng cụ trã đất nấu ăn của binh phu Hoàng Sa khi đi ra đảo.
 
 Những vật chứng của ngư dân và đội lính có mặt tại Hoàng Sa từ thời nhà Nguyễn.
Bia chủ quyền Việt Nam ở Hoàng San năm 1930.
Bản đồ phía Đông Ấn Độ và những vùng lân cận, xác định quần đảo Hoàng Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam, bản đồ xuất bản tại London, Anh năm 1956.
Bản đồ Nam Việt ghi rõ, Hoàng Sa và Vạn lý Trường Sa trong sách Đại Nam Thống Nhất Toàn Đồ do quốc sử quán triều Nguyễn ấn hành thế kỷ 19.
 
 Bản dịch tài liệu châu bản của Tống Lý đại thần ngày 15/12 niên hiệu Bảo Đại thứ 15 (1939) về việc xin truy thưởng Tú hạng long tinh cho cai đội Hoàng Sa người Pháp M.Fontan.
 Bản đồ Việt Nam do người Hà Lan vẽ năm 1594, hiện đang lưu giữ tại Amsterdam (Hà Lan). Khi đó Hoàng Sa, Trường Sa đã là của Việt Nam.
Một góc đảo Đá Lát, quần đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa năm 2009.
Hải đăng Việt Nam trên quần đảo Trường Sa trước năm 1945.
 Cơ sở hành chính trên đảo Hoàng Sa trước năm 1945.
Ông Nguyên Giáo, nhân viên ty khí tượng Hoàng Sa, trước năm 1974 đang đo nhiệt độ, độ ẩm tại lều máy trạm khí tượng Hoàng Sa.
 
 Văn tế trong lễ khao lế thế lính Trường Sa năm Tự Đức thứ 20, Đinh Mão 1867.
 
 Bài vị các tướng quân, binh sĩ hy sinh tại Hoàng Sa.
 Thuyền nhỏ được đội quân Hoàng Sa kiêm Bắc Hải ra Hoàng Sa để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ biển đảo.
Cho đến nay, lớp lớp người dân Lý Sơn vẫn tự hào về quá khứ hào hùng của cha ông. Các em nhỏ luôn được nhắc nhở về Hoàng Sa như một phần máu thịt của đất nước.

THÁI AN

theo infonet

Sẽ có ngày TQ đòi chủ quyền cả Mặt trăng

“Nếu chấp nhận logic này thì chắc Ấn Độ sẽ làm chủ toàn bộ Ấn Độ Dương, còn eo biển Magellan chắc thuộc về Tây Ban Nha hoặc Bồ Đào Nha. Rồi đây với việc đưa người lên quỹ đạo, sẽ có lúc Bắc Kinh đưa người lên Mặt trăng, sao Hỏa hoặc sao Kim, rồi tuyên bố phát hiện ‘dấu vết Trung Quốc’ tại đó”.

Tiếp theo vụ mời thầu tại vùng biển thuộc chủ quyền VN của Tổng công ty Dầu khí hải dương Trung Quốc (CNOOC), thêm một hành động gây hấn, ngang ngược bất chấp luật pháp và công luận quốc tế của Trung Quốc: Tân Hoa xã ngày 2-7 đưa tin Tổng cục Hải dương Trung Quốc đã triển khai bốn tàu hải giám đến tuần tra ở bãi Châu Viên thuộc quần đảo Trường Sa của VN. Trước đó ngày 1-7, Thời báo Hoàn Cầu, trong xã luận của mình, lại “đổ tội” cho VN và Philippines là gây hấn khi khẳng định việc mời thầu và việc thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” cho thấy “Trung Quốc đã kiềm chế” và “kiên nhẫn chứ không khinh suất”.

Tờ báo này còn lớn tiếng đe dọa: “Nếu tiếp tục gây hấn, VN và Philippines sẽ phải đối đầu với những biện pháp mạnh của Trung Quốc”, bởi “Trung Quốc có đủ khả năng thay đổi tình thế địa – chính trị ở biển Nam Trung Hoa (biển Đông)… Mỹ là một lực lượng chiến lược trong khu vực, nhưng không phải là lực lượng mà VN và Philippines có thể điều động tùy ý”.

Đòi chủ quyền với đàn chim di trú!

Lên tiếng trước những hành động gây hấn gần đây của Bắc Kinh, như báo Daily Inquirer cho biết, Chủ tịch Thượng viện Philippines Juan Ponce Enrile đã vạch trần cho thấy việc Trung Quốc đòi chủ quyền trên biển Đông là không có cơ sở pháp lý. Ông bác bỏ cái mà Trung Quốc gọi là “chủ quyền dựa trên bằng cớ lịch sử” khi nhấn mạnh luận điệu này là khập khiễng. Ông cho biết vào thế kỷ 16, nhiều thương nhân Trung Quốc đã đến làm ăn tại các vùng như Fuga và Batanes trên quần đảo Philippines, rồi mỉa mai đặt câu hỏi: “Liệu điều đó có biến Fuga và Batanes thành lãnh thổ của Trung Quốc không?”.

Bác bỏ việc Trung Quốc dựa vào “bản đồ cổ” để đòi chủ quyền đối với bãi cạn Scarborough, thượng nghị sĩ Enrile vạch rõ: “Nếu chấp nhận logic này thì chắc Ấn Độ sẽ làm chủ toàn bộ Ấn Độ Dương, còn eo biển Magellan chắc thuộc về Tây Ban Nha hoặc Bồ Đào Nha”, và như ông mỉa mai, rồi đây với việc đưa người lên quỹ đạo, sẽ có lúc Bắc Kinh đưa người lên Mặt trăng, sao Hỏa hoặc sao Kim, rồi tuyên bố phát hiện “dấu vết Trung Quốc” tại đó.

“Sẽ chẳng có gì ngạc nhiên nếu Trung Quốc cũng đòi chủ quyền trên Mặt trăng và các hành tinh này” – ông Enrile kết luận. Theo ông, việc Trung Quốc đòi chủ quyền đối với một hòn đảo hoặc các khu vực thuộc chủ quyền rành rành của một quốc gia khác là hoàn toàn vô lý, “đơn giản chỉ vì các đàn chim di trú từ Trung Quốc đã đến làm tổ tại đó”.

Ông cho rằng đối với Philippines, giải pháp duy nhất để đối phó với Trung Quốc là tăng cường an ninh hàng hải, hiện đại hóa quân đội. “Nếu quốc gia láng giềng có hành vi gây hấn, sẽ là sai lầm của chính chúng ta nếu không có sự chuẩn bị” – thượng nghị sĩ Enrile nhấn mạnh.

Theo báo Philippines Star, hôm qua 2-7, hải quân Mỹ và Philippines đã bắt đầu cuộc tập trận chung kéo dài chín ngày ở Mindanao.

Căng thẳng do “diều hâu quân sự”

Trên báo Wall Street Journal, giáo sư Willy Lam, chuyên gia nghiên cứu Trung Quốc thuộc ĐH Akita (Nhật) và ĐH Hong Kong, nhận định những căng thẳng trên biển Đông thời gian qua xuất phát từ ảnh hưởng chi phối của quân đội Trung Quốc (PLA) đối với chính sách ngoại giao của Bắc Kinh.

Kể từ năm 2010, các quan chức theo đường lối “diều hâu” trong PLA đã liên tục đưa ra các tuyên bố hiếu chiến. Cuối năm ngoái, thiếu tướng hải quân Dương Nghị kêu gọi Bắc Kinh từ bỏ chính sách “giấu mình chờ thời” của Đặng Tiểu Bình. Tháng trước, thiếu tướng Hàn Húc Đông thuộc ĐH Quốc phòng PLA thậm chí còn lớn tiếng tuyên bố đã đến lúc Trung Quốc cần từ bỏ nguyên tắc “chống bành trướng”. Trong bài viết đăng trên Thời báo Hoàn Cầu, ông Hàn Húc Đông đã trơ tráo kêu gọi Bắc Kinh áp dụng chính sách bành trướng trong cả lĩnh vực quân sự, kinh tế và địa – chính trị. “Chỉ khi chúng ta loại bỏ rào cản tâm lý chống bành trướng thì Trung Quốc mới có thể đẩy nhanh sự chuyển đổi từ một cường quốc khu vực thành một cường quốc toàn cầu”- Hàn Húc Đông viết.

Đối với vấn đề biển Đông, giới tướng lĩnh Trung Quốc đã đưa ra thông điệp: “PLA không e ngại trừng phạt các quốc gia phản đối việc Trung Quốc đòi chủ quyền”. Thiếu tướng La Viện đe dọa Trung Quốc đã “hết kiên nhẫn” với Philippines và “chẳng việc gì phải thận trọng”.

Giáo sư Willy Lam khẳng định chính PLA đứng sau việc Bắc Kinh tuyên bố thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa”. Trước đó, một số quan chức ngoại giao Trung Quốc đã phản đối kế hoạch này do lo sợ nó sẽ thổi bùng lên tâm lý chống Trung Quốc trong khu vực.

Nhiều học giả Trung Quốc cũng đã lên tiếng chỉ trích việc PLA khuấy đảo chính sách ngoại giao của nước mình. Giáo sư Sở Thụ Long của ĐH Thanh Hoa chỉ trích PLA là “có quá nhiều quyền lực trong chính sách ngoại giao”. Giáo sư Vương Tập Tư của ĐH Bắc Kinh cho rằng những con “diều hâu” trong PLA đã “đưa ra những tuyên bố khinh suất, gây hiểu lầm”. Phản ứng lại, thiếu tướng Trương Châu Trung đã thẳng thừng tuyên bố: “Có hơn 1 triệu kẻ phản quốc ở Trung Quốc. Một số học giả là do Mỹ đào tạo, đọc sách Mỹ, chấp nhận quan niệm Mỹ và họ đang giúp Mỹ chống Trung Quốc”.

Trước đó, nghiên cứu của Tổ chức Khủng hoảng quốc tế cho thấy PLA cố tình gây bất ổn trên biển Đông nhằm giành thêm miếng bánh ngân sách. Đơn giản là PLA cũng chỉ vì mục đích ăn tiền mà gây ra bất ổn quốc tế.

SƠN HÀ (TUỔI TRẺ ONLINE)

Âm mưu Tam Sa của Trung Quốc

Song hành cùng tuyên bố thành lập TP.Tam Sa, Bắc Kinh âm mưu biến thành phố này thành tiền đồn quân sự mang ý nghĩa chiến lược.

Cuối tháng trước, Trung Quốc tuyên bố thành lập TP.Tam Sa, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhật báo Phương Nam ngày 2.7 nhận định động thái trên nhằm “nâng cấp” đảo Phú Lâm, ở quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, để đảo này đóng vai trò thủ phủ của TP.Tam Sa. Đồng thời, phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Trung Quốc Cảnh Nhạn Sinh ngày 28.6 tuyên bố thiết lập bộ chỉ huy quân sự cho TP.Tam Sa. Vì thế, nhật báo Phương Nam đánh giá đảo Phú Lâm sẽ đóng vai trò “trung tâm chính trị, quân sự” trong tham vọng thâu tóm Hoàng Sa và Trường Sa mà Bắc Kinh đang theo đuổi.

 

Âm mưu Tam Sa của Trung Quốc 1
Mô hình phát triển do Trung Quốc đề ra cho đảo Phú Lâm – Ảnh: Baidu

 

Ráo riết chuẩn bị quân sự

 

Tàu hải giám Trung Quốc diễn tập ở Trường Sa

Đội tàu hải giám Trung Quốc gồm 4 tàu số 83, 84, 71 và 66 tổ chức diễn tập trái phép tại bãi Châu Viên, ở quần đảo Trường Sa vốn thuộc chủ quyền của Việt Nam, vào ngày 2.7. Theo Tân Hoa xã, đội tàu này xuất phát từ TP.Nam Á vào ngày 26.6 để đến biển Đông thực hiện chuyến tuần tra dài 2.400 hải lý (4.500 km). Sau khi đến Châu Viên vào ngày 1.7, đội tàu trên nhanh chóng triển khai diễn tập vào sáng hôm sau. Tuy nhiên, một trực thăng được mang theo đã không thể tham gia diễn tập vì điều kiện thời tiết xấu.

 

Thực tế, phát ngôn viên Cảnh đã công khai việc Trung Quốc ráo riết thiết lập cơ sở quân sự tại Tam Sa. Không chỉ bất chấp luật pháp quốc tế để xâm phạm chủ quyền Việt Nam, phát ngôn viên này còn ngang ngược cho rằng việc thiết lập cơ sở quân sự nói trên là “điều tất yếu”. Theo Tân Hoa xã, Trung Quốc hiện có nhiều cơ sở (trái phép) tại đảo Phú Lâm như: tòa nhà chính phủ, ngân hàng, bưu điện, bệnh viện, cửa hàng, khách sạn, thư viện, sân bay, cầu cảng, trạm khí tượng, doanh trại…

Ủng hộ cho quan điểm sai trái trên, phó giáo sư Bạch Tú Lan của Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế thuộc Trường Đảng trung ương Trung Quốc, cho rằng Tam Sa cần được tập trung đầy đủ cả hải, lục, không quân. Ông còn đề nghị Trung Quốc cần bổ nhiệm một lãnh đạo cấp tướng cho bộ chỉ huy quân sự tại đây. Cụ thể, ông Bạch đưa ra đề xuất biến Tam Sa thành một tiền đồn quân sự khi kêu gọi rằng: “TP.Tam Sa có vị trí chiến lược nên cần nhiều binh lực hơn nữa. Ngoài lục quân, nơi này cần có thêm không quân và hải quân để cùng nhau phối hợp”. Đáng quan ngại hơn, ông này cho rằng đề xuất trên nhằm phục vụ cho mưu đồ bá quyền của Bắc Kinh là: “Thành lập cơ quan quân sự mới cho TP.Tam Sa sẽ giúp tăng cường thực lực để Trung Quốc thâu tóm Trường Sa, Hoàng Sa và bãi ngầm Macclesfield. Khi đó, Bắc Kinh sẽ chủ động trong việc chiếm giữ các khu vực này”.

Vị thế chiến lược

 

 Âm mưu Tam Sa của Trung Quốc 2
Đường băng hiện tại trên đảo Phú Lâm – Ảnh: Koming.com.hk

 

Vốn dĩ, Phú Lâm là đảo san hô có địa hình phẳng và cảnh quan đẹp. Tuy nhiên, lý do then chốt khiến đảo này được chọn làm trọng tâm của chính quyền TP.Tam Sa không phải vì vẻ đẹp độc đáo mà là tham vọng của Bắc Kinh nhằm thâu tóm biển Đông. Tân Hoa xã dẫn lời phó giáo sư Bạch công khai ý định trên: “Phần lớn các đảo trên quần đảo Hoàng Sa đều là đảo san hô, tương đối nông. Nhiều đảo không có sẵn điều kiện để con người sinh sống. Trong đó, Phú Lâm là một đảo lớn, có sân bay, bưu điện, có môi trường làm việc bình thường và ở gần biển Đông. Điều này rất có lợi cho việc Trung Quốc kiểm soát cả khu vực biển Đông”. Theo đó, Bắc Kinh có thể biến đảo Phú Lâm thành địa điểm trung chuyển, tiếp vận cho tàu chiến, máy bay của Trung Quốc trên hành trình từ đảo Hải Nam đến các đảo gần Philippines. Hiện tại, sân bay tại đảo Phú Lâm có thể cho phép máy bay Boeing 737 cất và hạ cánh. Đồng thời, cầu cảng tại đây cũng có chỗ neo đậu cho tàu tải trọng lên đến 5.000 tấn.

Lucy Nguyễn [Thanh Niên]

[Manip tutorial] Cô gái quyền năng giữa cánh đồng – photoshop

Đây là 1 bài tutorial manip mà Mod của box Photoshop trên diễn đàn Designer Việt Nam post lên, mình xin lấy lại và up lên web chính Việt Designer. 1 tác phẩm manip khá ấn tượng, màu sắc hài hòa và hiệu ứng khá bắt mắt của Mod nhà ta, mọi người cùng nhau tham khảo nhé.

Bài viết gốc trên diễn đàn: http://forum.vietdesigner.net/threads/190/

Trước tiên cần download bộ nguyên liệu để làm nên tác phẩm này (bao gồm stock, file tóc PSD và brush)

Download Girl in Field Manip Stock

1/ Bước đầu tiên các bạn mở file bg.jpg trong phần nguyên liệu, đây là hình một cánh đồng, Các bạn đặt tên layer này là Brackground.

[Manip tutorial] Cô gái quyền năng giữa cánh đồng

Sau đó tạo New Adjustment Layer Color Balance với thông số:

Shadows: -3 -1 +13
Midtones: -6 +16 +27
Hightlight: +5 +5 +8

[Manip tutorial] Cô gái quyền năng giữa cánh đồng
2/ Bước tiếp theo các bạn mở file mod.jpg sau đó tách mẫu cô gái ra và đặt vào cánh đồng và đổi tên layer là girl.

[Manip tutorial] Cô gái quyền năng giữa cánh đồng

– Mod sau khi được đưa vào Background

[Manip tutorial] Cô gái quyền năng giữa cánh đồng

Tiếp theo tạo một lớp Color Balance:

Shadows: -20 +3 +17
Midtones: -40 +2 +47
Hightlight: -1 +27 +16

Click chuột phải và chọn: Create Clipping Mark.

[Manip tutorial] Cô gái quyền năng giữa cánh đồng

-Một lớp Hue/Saturation

[Manip tutorial] Cô gái quyền năng giữa cánh đồng

-Một lớp Brightness/Contrast.

[Manip tutorial] Cô gái quyền năng giữa cánh đồng
Lưu ý tất cả các Layer Adjustment cần phải tạo Create Clipping Mark.

[Manip tutorial] Cô gái quyền năng giữa cánh đồng

3/Tạo một layer mới và Fill 50% Gray, chế độ hòa trộn là Soft Light. Sau đó chọn công cụ Burn Tool và tô những vùng khoanh.

[Manip tutorial] Cô gái quyền năng giữa cánh đồng

4/ Mở file notice.jpg và tách hình biển báo ra.

[Manip tutorial] Cô gái quyền năng giữa cánh đồng

– Đặt vào bên trái Background.

[Manip tutorial] Cô gái quyền năng giữa cánh đồng

Tạo một lớp Color balance và đặt Create Clipping Mark.

Shadows: -1 +5 +24
Midtones: -16 +13 +17
Hightlight: +3 +3 +24

Thêm một lớp Selective Color và cũng đặt Create Clipping Mark.

[Manip tutorial] Cô gái quyền năng giữa cánh đồng

– Kết quả:

[Manip tutorial] Cô gái quyền năng giữa cánh đồng

5/ Mở file hairStock.psd ra chọn mẫu LIGHT

[Manip tutorial] Cô gái quyền năng giữa cánh đồng
– Chèn tóc vào layer Girl.

[Manip tutorial] Cô gái quyền năng giữa cánh đồng

Thêm Color Balance và Hue/Saturation, đặt Create Clipping Mark.

Shadows: -1 +5 +24
Midtones: -16 +13 +17
Hightlight: +3 +3 +24

[Manip tutorial] Cô gái quyền năng giữa cánh đồng

– Kết quả:

[Manip tutorial] Cô gái quyền năng giữa cánh đồng
6/ Mở file Crow.png và thêm con quạ vào trên tấm biển báo.

[Manip tutorial] Cô gái quyền năng giữa cánh đồng
Thêm Color Balance, đặt Create Clipping Mark.

Shadows: -13 -1 +6
Midtones: +3 +17 +36
Hightlight: +15 +3 +13

7/ Tạo một lớp layer mới, sử dụng brush firestorm_lightning4.abr và Designfera Plasma Flames.abr, chọn brush phù hợp vào thêm vào 2 tay cô gái.

– Thêm vào Outer Glow để tăng độ sáng.

[Manip tutorial] Cô gái quyền năng giữa cánh đồng

[Manip tutorial] Cô gái quyền năng giữa cánh đồng

8/ Thêm một layer nữa để tạo ánh sáng xanh cho tay cô gái.

-Chọn màu mã màu #2f5165, đặt chế độ hòa trộn Vivid Light, sau đó tô 2 bàn tay cô gái.

Filter Blur-> Gaussian Blur: 90 .

[Manip tutorial] Cô gái quyền năng giữa cánh đồng
9/ Shift + Ctrl +Alt + E, gắn tất cả vào một layer mới.

-Chọn Image -> Adjustment -> Variations. Sau đó click chọn More Yellow.

[Manip tutorial] Cô gái quyền năng giữa cánh đồng

Và đây là kết quả cuối cùng:

[Manip tutorial] Cô gái quyền năng giữa cánh đồng

Bài tutorial đòi hỏi bạn phải có chút kiến thức với Photoshop và cắt ghép, hi vọng bài tutorial này giúp bạn có thêm ý tưởng để làm nên những tác phẩm manip đỉnh cao :D

 

Source: Vietdesigner

Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa – Kỳ 15: Quyền kế thừa bất khả xâm phạm

Từ năm 1949, thay đổi chính trị của một số nước trong khu vực làm xuất hiện những thực thể nhà nước mới liên quan tới cuộc tranh chấp trên biển Đông. Ở đây, vấn đề quyền kế thừa có tầm quan trọng của nó.

>> Kỳ 14: Thụ đắc chủ quyền Trường Sa

Ngay sau khi chấm dứt Thế chiến thứ II, chính quyền Pháp tại Đông Dương đã khôi phục lại sự có mặt trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa – từng bị quân đội Nhật chiếm đóng trong chiến tranh thế giới. Các tàu chiến Escarmouche và Savorgnan de Blazza trong thời gian từ ngày 20.5 đến ngày 6.6.1946 đã ra thám sát lại quần đảo Hoàng Sa. Các đảo đều bị bỏ hoang. Hải quân Nhật đã rời các đảo này sau khi đã phá hủy tất cả các công trình xây dựng và các cảng tại đó [1].

Một phân đội của Pháp đã đổ bộ lên đảo Hoàng Sa để chiếm lại quần đảo [2]. Họ đã thực hiện việc chiếm đóng lại cho An Nam, đồng thời khẳng định cả hai yếu tố vật chất và tinh thần. Ngày 1.10.1949, nước CHND Trung Hoa ra đời. Phía Pháp, trại đồn trú vẫn tiếp tục được duy trì trên đảo Hoàng Sa để bảo vệ trạm khí tượng “bằng mọi phương tiện” trong trường hợp bị tấn công từ bên ngoài [3].

 
Bảo vệ chủ quyền trên đảo Trường Sa – Ảnh: Đình Phú

Thỏa ước 8.3.1949 đã lập ra một Quốc gia VN nằm trong Liên hiệp Pháp. Trong một cuộc họp báo sau đó, Chánh văn phòng Vua Bảo Đại đã khẳng định lại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc Vương triều An Nam.

Ngày 14.10.1950, Chính phủ Pháp đã trao lại chính thức cho chính quyền Bảo Đại việc quản lý và phòng thủ quần đảo Hoàng Sa. Tổng quản Trung Bộ, ông Phan Văn Giáo đã ra Hoàng Sa chủ trì lễ chuyển giao quyền lực. Các nhóm quân Pháp ở lại quần đảo Hoàng Sa cho tới năm 1956. Trong các thỏa thuận tại  Geneva năm 1954, các quần đảo này đã được chuyển giao cho chính quyền miền Nam VN kiểm soát. Sau khi quân Pháp rút đi, ngày 22.8.1956 chính quyền Sài Gòn đã thiết lập ngay lập tức sự kiểm soát tại hai quần đảo.

Trong thực tế, chính quyền Sài Gòn đã là người kế nhiệm hợp pháp các danh nghĩa, các quyền và các yêu sách do Pháp để lại trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Với tư cách là quốc gia sở hữu danh nghĩa, họ đã tiến hành tổ chức hành chính, điều tra và khai thác kinh tế và bảo vệ hai quần đảo này. Về mặt hành chính, quần đảo Hoàng Sa, trước thuộc tỉnh Thừa Thiên đã được sáp nhập vào tỉnh Quảng Nam bằng Nghị định N174-NV ngày 13.7.1961. Đối với Trường Sa, các lực lượng hải quân chính quyền Sài Gòn đã đổ bộ lên đảo chính Trường Sa ngày 22.8.1956. Họ đã cắm cờ và dựng bia chủ quyền trên đảo Trường Sa. Bằng Nghị định 143/VN ngày 20.10, chính quyền Sài Gòn ghép quần đảo này thuộc tỉnh Phước Tuy. Từ 1962 đến 1964, lực lượng Hải quân Sài Gòn đã đổ bộ lên các đảo Trường Sa, An Bang, Loại Ta, Thị Tứ, Song Tử Đông và Song Tử Tây, Nam Yết… và đã dựng bia chủ quyền trên các đảo đó. Ngày 6.9.1973, bằng Nghị định N 420 – BNV/HCDP/26, chính quyền Sài Gòn đã sáp nhập quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.

Quân chính quyền Sài Gòn cũng đã đối đầu với chiến dịch quân sự từ phía Trung Quốc ngày 19.1.1974 nhằm xâm chiếm nhóm đảo phía Tây của quần đảo Hoàng Sa.

Tại hội nghị lần thứ ba của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, khóa họp hai, tổ chức tại Caracas ngày 2.7.1974, đại biểu Sài Gòn tố cáo sự chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa bằng vũ lực và khẳng định lại rằng Hoàng Sa và Trường Sa là “bộ phận hữu cơ của lãnh thổ VN” và “chủ quyền của VN trên các quần đảo này là không thể tranh cãi và không thể chuyển nhượng”.

Tháng 3.1965 Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam VN tuyên bố: “Nhân dân miền Nam Việt Nam anh hùng đã quyết định… giải phóng lãnh thổ của mình và lập nên một quốc gia độc lập”. Tháng 6.1969, Chính phủ cách mạng lâm thời CH miền Nam VN chính thức ra mắt và hoạt động. Sau đại thắng mùa xuân 30.4.1975, từ tháng 5.1975, Chính phủ CH miền Nam VN đã ra các tuyên bố về vấn đề kế thừa chính quyền Sài Gòn trong các tổ chức quốc tế như Tổ chức Y tế thế giới, UNESCO, UTT… Sự kế thừa này phản ánh nguyên tắc liên tục của các quốc gia khi thay thế chính phủ.

Ngày 2.7.1976, nhân dân VN đã sử dụng quyền dân tộc tự quyết của mình lựa chọn con đường thống nhất đất nước dưới tên gọi của một nhà nước mới. Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước kế thừa hợp pháp của hai nhà nước trước đó là Việt Nam dân chủ cộng hòa và cộng hòa miền Nam VN, thay thế danh nghĩa thường xuyên của chính quyền Sài Gòn trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các quyền và nghĩa vụ trên đó sẽ tiếp tục được thực hiện bởi Cộng hòa XHCN Việt Nam mà sự liên tục là hoàn toàn hợp lý, hợp pháp và bất khả xâm phạm.

TS Nguyễn Hồng Thao

[1] Công  văn N  5454  của Cao  ủy  Pháp  tại Đông Dương  gửi  Paris, ngày 3.6.1946. Lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, AO 44 – 45, Hồ sơ 214, tr.1.

[2] J.P. Ferrier, Sđd, tr.191.

[3] Heinzig, Sđd, tr.35.

>> Kỳ 16: “Đường lưỡi bò” phi lý

Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa – Kỳ 14: Thụ đắc chủ quyền Trường Sa

16/08/2011 0:29

Đối với quần đảo Trường Sa, những quan trắc cụ thể đầu tiên khu vực này được thực hiện năm 1867-1868 bởi tàu nghiên cứu hải dương của Anh Riflemean.

>> Kỳ 13: Đặt dấu mốc 1909: Quá muộn!

Vùng này sau đó bị bỏ qua cho đến chuyến thám sát của tàu Pháp de Lanessan thực hiện trong khu vực biển của đảo Trường Sa. Tàu này quan tâm nhiều tới việc xác định chính xác các điều kiện hàng hải đi qua khu vực này nằm trên con đường thẳng từ Sài Gòn đi Manila (Philippines).

Tháng 12.1927, ông Kurosawa, Tổng lãnh sự Nhật tại Hà Nội, có hỏi Toàn quyền Đông Dương về quy chế lãnh thổ của đảo Trường Sa và các đảo khác. Ngoài ra, các kết quả quan trắc được của tàu de Lanessan cũng kéo theo sự chú ý của công ty phốt phát mới của Bắc Kỳ, công ty này đã gửi cho Thống đốc Nam Kỳ ngày 19.10.1928 một bản tuyên bố về việc nghiên cứu mỏ tại Trường Sa. Các sự kiện này đã đưa nước Pháp đến xem xét lại số phận các đảo nổi, mà theo họ là vô chủ (res nullius) cho tới ngày mà họ chiếm hữu chính thức.

 


Đảo Trường Sa Lớn trong quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam – Ảnh: Đỗ Hùng

 

Chiến dịch chiếm hữu đảo Trường Sa bằng tàu Malicieuse được đề nghị vào tháng 10.1929 đã bị hoãn lại do điều kiện khí hậu không thuận lợi. Cuối cùng nó cũng có thể đã được thực hiện vào ngày 13.4.1930.

Ba năm sau, bằng thông báo đăng trong Công báo ngày 26.7.1933, Pháp thông báo cho các cường quốc ý định mở rộng chủ quyền của họ ra tất cả các đảo nhỏ và đá nằm giữa vĩ tuyến 7 và 12 độ bắc và nằm ở phía tây của vùng tam giác Mỹ xung quanh quần đảo Philippines, được trù định trong hiệp ước ngày 10.12.1898.

Ngày 21.12.1933, bằng Nghị định N4762-CP, Thống đốc Nam Kỳ J.Krautheimer đã sáp nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa. Đối với Pháp, việc chiếm hữu các đảo không phải dựa trên các danh nghĩa lịch sử của An Nam như trong trường hợp của quần đảo Hoàng Sa mà là trên sự kiện đây là một lãnh thổ vô chủ (res nullius). Việc các tàu Pháp chiếm các đảo này có bản chất là nước Pháp thực hiện việc thụ đắc chủ quyền nếu không có một quốc gia nào vào hoàn cảnh đó xác lập được rằng họ đã thụ đắc từ trước và họ đã bảo tồn chủ quyền đó trên các đảo.

Hành động của Pháp tuyên bố chủ quyền trên quần đảo Trường Sa sẽ là không có giá trị nếu TQ đã từng có một danh nghĩa đã được thiết lập. Nhưng khác với trường hợp của quần đảo Hoàng Sa, đã không có một biểu hiện nào về mặt vật chất lẫn ý định từ phía Chính phủ TQ trên các đảo trước khi Pháp chiếm đóng. Về mặt hình thức, báo cáo chính phủ phát hành tại Quảng Châu năm 1928 đã tuyên bố rằng điểm mút tận cùng của lãnh thổ TQ về phía nam được xác định là Tây Sa (tức Hoàng Sa, Paracel). Không có một lời nào về Trường Sa (Spratly) [1].

Hơn nữa, trong quan hệ Pháp – Việt, các đảo Trường Sa không được coi là lãnh thổ vô chủ (res nullius) nếu ta tính đến đòi hỏi của VN dựa trên danh nghĩa lịch sử. Đội Bắc Hải hằng năm đã tiến hành các hoạt động dưới sự kiêm quản của Đội Hoàng Sa trong vùng biển này, dù rằng hoạt động này đã bị suy yếu nhiều từ năm 1852 do việc vua An Nam phải bận tâm nhiều tới việc bảo vệ các tỉnh lục địa chống lại sự chiếm đóng của Pháp hơn là các đảo ngoài khơi xa bờ biển Nam Kỳ.

Cuộc tranh cãi pháp lý các đảo Trường Sa có lẽ sẽ trở nên phức tạp thêm nếu Pháp bảo lưu quyền trên các đảo này cho chính họ. Nhưng trên thực tế VN đã trở thành bên kế thừa Pháp đối với quần đảo Trường Sa. Hiệp ước Vịnh Hạ Long ký tháng 3.1949 đã chuyển giao cho quốc gia VN chủ quyền của Pháp trên Nam Kỳ, trong đó Trường Sa là một bộ phận.

TS Nguyễn Hồng Thao

[1] R.Halleir – Trost, Sđd, tr. 39.

>> Kỳ 15: Quyền kế thừa bất khả xâm phạm

Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa – Kỳ 10: Ý chí khẳng định chủ quyền Việt Nam

12/08/2011 0:28

Các bằng chứng do VN đưa ra cho thấy các hoạt động do các chúa và các vua nhà Nguyễn trên Hoàng Sa và Trường Sa thường tiến hành trên năm lĩnh vực sau:

>>  Kỳ 9: Tư liệu khách quan thừa nhận chủ quyền Việt Nam

1. Tổ chức khai thác có hệ thống các đảo.

2. Tổ chức công tác khảo sát đo đạc nhằm hiểu biết rõ lãnh thổ và đồng thời để kiểm tra, kiểm soát biển.

3. Xây dựng các miếu, đền, trồng cây như các dấu hiệu tượng trưng chủ quyền An Nam trên các đảo.

4. Tổ chức thu thuế tại chỗ.

5. Cứu trợ các tàu thuyền nước ngoài gặp nạn.

Về việc tổ chức các đội  Hoàng Sa và Bắc Hải nhằm khai thác các tài nguyên sản vật trên biển, Phủ biên tạp lục (1776) có ghi:

“Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng ba nhận giấy sai đi, mang lương ăn đủ sáu tháng, đi bằng chiếc thuyền tiểu câu ra biển ba ngày ba đêm thì đến các đảo ấy rồi ở  lại đó. Tha hồ kiếm lượm, bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hóa vật của tàu, như là gươm ngựa,  hoa  bạc, tiền bạc, vòng bạc, đồ đồng, thiếc khối, chì đen, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên cùng là kiếm lượm mai đồi mồi, mai hải ba, hải sâm, hột cốc hoa, rất nhiều.

Đến kỳ tháng tám thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp. Cân và định hạng xong mới đem bán riêng các thứ ốc hoa, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về… Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất hoặc người thôn Tu Chính ở Bình Thuận hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền tiểu câu ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm hóa vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản”([1]).

Với việc dựng các đội thủy quân đặc biệt để khai thác các đảo, các chúa và vua nhà Nguyễn đã tỏ rõ ý chí nhà nước. Hoạt động này được tiến hành hằng năm và được đặt dưới kỷ luật nhà nước. Các đội viên có quyền được cấp giấy sai đi, được miễn thuế sưu, tiền đò và được thưởng tiền. Ngược lại, ai không hoàn thành nhiệm vụ sẽ bị trừng phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của lỗi. Các chuyến đi và tuần tra các đảo được tổ chức thường xuyên. Mỗi khi hoàn cảnh đòi hỏi phải tạm hoãn, đều phải có chỉ dụ của nhà vua.


Tờ lệnh ban hành ngày 15 tháng 4 năm Minh Mạng thứ 15 (Giáp Ngọ – 1834) lệnh Bộ Binh và triều đình cử binh thuyền đi Hoàng Sa mà gia tộc họ Đặng ở Lý Sơn (Quảng Ngãi) gìn giữ hàng trăm năm nay – Ảnh: Hiển Cừ

Ngay cả dưới thời Tây  Sơn, triều đại ngắn ngủi, gián đoạn thời nhà Nguyễn, truyền thống đó vẫn được duy trì không ngắt đoạn.

Sách Đại Nam thực lục chính biên (1848) ghi nhận một loạt các hành động của vua Nguyễn để củng cố chính quyền của họ trên các đảo. Năm 1815, 1816, 1833, 1834, 1835, 1836, vua Gia Long và người kế nhiệm ông – vua Minh Mạng đều ra chiếu chỉ lệnh cho thủy quân và đội Hoàng Sa tới các đảo Hoàng Sa để ghi lại lộ trình. Quyển 165 viết:

“Năm Bính Thân, niên hiệu Minh Mạng thứ 17 (1836)… Bộ Công tâu: Xứ Hoàng Sa thuộc cương vực mặt biển nước ta, rất là hiểm yếu, từng sai vẽ bản đồ  nhưng vì tình thế xa rộng, nên mới chỉ vẽ được một nơi, lại cũng chưa biết nên làm thế nào. Hằng năm thường phái người đi xem xét cho khắp để thông thuộc đường biển. Xem từ năm nay về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, phái thủy quân, biền binh và giám thành đáp một chiếc thuyền ô nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Nghĩa (Ngãi – TN), giao cho hai tỉnh Quảng Bình, Bình Định thuê 4 chiếc thuyền của dân hướng dẫn ra xứ Hoàng Sa.

Không cứ là đảo nào, bãi nào, phàm khi thuyền đến nơi, tức là chiếu chỗ ấy chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, chu vi Việt Nam và nước biển bốn bên xung quanh nông hay sâu, có bãi  ngầm, đá  ngầm  hay  không, hình thế hiểm trở bình dị thế nào, phải xem xét, đo đạc kỹ càng, vẽ thành bản đồ. Lại chiếu ngày khởi hành, từ cửa biển nào ra khơi, nhằm phương hướng nào đi đến nơi  ấy, căn cứ vào thủy trình đã qua, tính ước được bao nhiêu dặm. Lại từ xứ ấy trông ra bờ biển, đối thẳng vào tỉnh hạt nào, phương hướng nào, đối chếch là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, ước lượng cách bờ biển chừng bao nhiêu dặm, đều nhất nhất phải nói rõ, lần lượt đem về dâng trình.

Vua y lời tâu, sai Suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền đi chuẩn bị mang theo 10 cái bàn gỗ, đến nơi dựng lên làm dấu ghi (mỗi bài gỗ dài 5 thước, rộng 5 tấc, dài 1 tấc, mặt bài khắc chữ: “Năm Minh Mạng thứ 17, Suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật vâng lệnh ra Hoàng Sa xem xét đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ”.

[1] Trích từ Sách trắng của Bộ Ngoại giao CHXHCN Việt Nam năm 1981, tr 9 – 11.

TS Nguyễn Hồng Thao

>> Kỳ 11: Chiếm hữu đúng luật 

Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa – Kỳ 9: Tư liệu khách quan thừa nhận chủ quyền Việt Nam

Để giải quyết cuộc tranh luận dai dẳng xung quanh danh nghĩa lịch sử, cách tốt nhất là nên tham khảo ý kiến bên thứ ba.

>> Kỳ 8: Đi đến luận cứ chắc chắn

Người phương Tây đã từng nói về sự quy thuộc của quần đảo Paracel vào An Nam. Các nhà truyền đạo Pháp trên tàu Amphitrite trên đường sang TQ đã ghi trong một bài tiếng Pháp năm 1701: “Paracel là một quần đảo thuộc Vương quốc An Nam. Đó là một bãi đá ngầm khủng khiếp có đến hàng trăm dặm, rất nhiều lần đã xảy ra các tai nạn đắm tàu ở đó” ([1]).

 
Một trong những bản đồ hàng hải của người Bồ Đào Nha thế kỷ XVI. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được gộp làm một với tên “Paracel” vẽ ở biển Đông cách xa các đảo ven bờ biển miền Trung Việt Nam – Ảnh: tư liệu

Jean-Louis Taberd ghi nhận:

“Pracel hoặc Paracels (Bãi cát vàng), mặc dù quần đảo này không có gì ngoài các đá, bãi và độ sâu lớn hứa hẹn nhiều bất tiện lợi hơn, Vua Gia Long đã nghĩ tới việc mở rộng lãnh thổ của ngài bằng cách chiếm thêm vùng đất buồn bã này. Năm 1816, ngài đã tới đây long trọng cắm cờ, chính thức chiếm hữu các đảo đá này, mà không một ai tranh giành gì với ngài cả”([2]).

Về phần mình, J.B.Chaigneau, cố vấn của nhà vua An Nam, đã viết trong cuốn hồi ký về nước Cochinchine:

“Nước Cochinchine mà nhà vua bấy giờ đã lên ngôi Hoàng đế gồm xứ Cochinchine và xứ Đông Kinh… một vài đảo có dân cư không xa biển và quần đảo

Paracel do những đảo nhỏ, ghềnh và đá không có dân cư hợp thành. Chỉ tới năm 1816, Hoàng đế mới chiếm hữu quần đảo này”([3]).

Dubois de Jancigny trong Thế giới, lịch sử và mô tả các dân tộc Nhật, Đông Dương, Ceylan có viết: “Chúng tôi quan sát thấy rằng từ ba mươi tư năm nay, quần đảo Paracel (người An Nam gọi là Cát vàng), một ma hồn trận thật sự của các đảo nhỏ, các đá và các bãi cát đầy ngờ vực của các nhà hàng hải và có thể được coi là hoang dã và vô tích sự nhất trong số các điểm của quả địa cầu, đã được người An Nam (Cochinchine) chiếm hữu. Chúng tôi không để ý liệu họ có tạo nên một công trình nào trên đó không (nhằm mục đích, có thể, bảo vệ nghề cá); nhưng chắc chắn rằng Vua Gia Long đã gắn thêm vòng hoa này vào vương miện của người, bởi vì ngài đã thân chinh tới đó chiếm hữu, việc này xảy ra vào năm 1816 khi ngài long trọng kéo cờ của An Nam lên đó”([4]).

Gutzlaff trong bài Địa lý Vương quốc Cochinchine xuất bản năm 1849 tại London (Anh) cũng ghi Cát Vàng (để chỉ Paracel) thuộc Cochinchine. Gutzlaff viết:

“Không biết vì san hô hay vì lẽ khác mà các ghềnh đá ấy lớn dần, nhưng rõ ràng nhận thấy các đảo nhỏ ấy càng năm càng cao, và một vài cái bây giờ đã có người ở thường xuyên, thế mà chỉ mấy năm trước sóng đã vỗ dập qua. Những đảo ấy đáng lẽ không giá trị nếu nghề chài ở đó không phồn thịnh và không biết bù hết mọi nguy nan cho kẻ phiêu lưu. Từ lâu đời, những thuyền phần lớn từ đảo Hải Nam tới, đã hằng năm đến thăm các bãi nổi này và tiến hành cuộc viễn du xa xa tới tận bờ đảo Borneo. Tuy rằng hằng năm hơn phần mười bị đắm, nhưng cá đánh được rất nhiều, đến nỗi không những bù hết được mọi thiệt thòi, mà còn để lại món lợi rất to. Chính phủ An Nam thấy những lợi có thể mang lại nếu một ngạch thuế được đặt ra, bèn lập ra những trưng thuyền và một trại quân nhỏ ở chỗ này để thu thuế mà mọi người ngoài tới đây đều phải trả, và để bảo trợ người đánh cá bản quốc” ([5]).

Trong Địa lý tóm tắt của Ý (Compendio di Geografia) do Adriano Balbi soạn năm 1850, trang 641 mô tả về địa lý Vương quốc An Nam có ghi: Cũng thuộc vương quốc này còn có quần đảo Paracel, nhóm đảo Pirati và nhóm đảo Poulo Condor (tức Hoàng Sa, nhóm đảo Hải Tặc và Côn Đảo). Cũng trong tác phẩm này tr.644-648 về địa lý Trung Hoa không viết gì về Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngay cả các sách TQ cũng công nhận việc quy thuộc các đảo này vào An Nam. Chúng ta có thể đọc được điều đó trong phần tựa cuốn Hải Lục năm 1842 trong đó Vương Bính Nam đã so sánh các điều mắt thấy tai nghe do Tạ Thanh Cao, một thủy thủ TQ từng đi nhiều nước nhiều vùng về kể lại:

“Vạn lý Trường Sa là đất nổi giữa biển, dài vài ngàn dặm, là phên giậu của An Nam”.

Hải ngoại ký sự của Thích Đại Sán (người TQ) năm 1696 ([6]) quyển III đoạn thuật lại chuyến đi về Quảng Đông bắt đầu đi từ Quảng Nam viết: “…bãi cát rộng cả trăm dặm, chiều dài thăm thẳm chẳng biết bao nhiêu mà kể, gọi là “Vạn lý Trường Sa”, mù tít chẳng thấy cỏ cây nhà cửa; nếu thuyền bị trái gió trái nước tấp vào dầu không tan nát cũng không gạo, không nước, trở thành ma đói mà thôi. Quãng ấy cách Đại Việt bảy ngày đường, chừng bảy trăm dặm ([7]). Các quốc vương thời trước, hằng năm sai thuyền đi đánh cá đi dọc theo bãi cát, lượm vàng bạc khí cụ của các tàu thuyền hư hỏng dạt vào”. Đoạn văn mô tả này đã xác nhận việc hành xử chủ quyền của thời Chúa Nguyễn qua hoạt động thu lượm hóa vật của Đội Hoàng Sa.

Các mô tả về Paracel từ các nguồn nước ngoài chứng tỏ Hoàng Sa không phải là các đảo ven bờ biển Trung VN. Trong khi có khá nhiều nguồn tài liệu trung gian chứng minh sự chiếm hữu Paracels của các Chúa và Vua Nguyễn, không có một nguồn tư liệu nước ngoài nào chỉ rõ sự chiếm hữu các đảo này của TQ.

TS Nguyễn Hồng Thao

[1] Trích dẫn theo P.B Lafont, Sđd, tr.248.

[2] J.L Taberd, Ghi chép về địa lý Nam Kỳ trong the Journal of Bengal, Calcutta, serie VI, September 1837, tr.737 – 745.

[3] Tập san của người bạn cũ của Huế, số 2,1923, tr.257.

[4] M.A Dubois de Jancigny, Thế giới, lịch sử và mô tả các dân tộc Nhật, Đông Dương, Xeylan, Paris éd, Firmin Didot Freres, 1850, tr. 555.

[5] Journal of the Geographical Society of London (Tạp chí Hội Địa lý London), quyển 19 (1849), London, John Murray, 1849, tr. 93-94.

[6] Hải ngoại ký sự là ghi chép chuyến đi của tác giả Đại Sán Hán Ông, tên là Thạch Liêm từ chùa Trường Thọ tỉnh Quảng Đông đến vùng Thuận Quảng nước Đại Việt vào năm Ất Hợi triều Vua Khang Hy (1695) và trở về Trung Quốc vào năm sau (1696). Sách nguyên bản chữ Hán gồm 6 quyển đã được Viện Đại học Huế dịch trọn bộ ra Quốc ngữ năm 1963. Sau này người TQ đã dựng nên một chiến dịch nói xấu tác giả, chứng minh ông là người không bình thường, là kẻ điên để giảm bớt tính chân thực của tác phẩm. Nguyễn Quang Ngọc, Sđd, tr. 43.

[7] Phạm Hoàng Quân cho rằng ở đây có lỗi dịch Hán-Nôm, thất canh lộ không phải là 7 ngày đêm, canh ở đây là đơn vị chiều dài. Tuy nhiên ông cũng công nhận một canh khoảng trăm dặm. Như vậy về khoảng cách Hải ngoại ký sự mô tả khá chính xác khoảng cách từ bờ đến quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Cách dịch đúng được đề xuất là: “Quãng ấy cách Đại Việt bảy canh đường, chừng bảy trăm dặm”.

>> Kỳ 10: Ý chí khẳng định chủ quyền Việt Nam

Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa – Kỳ 6: Những luận cứ chủ quyền không vững chắc

– Sự kiện  thứ ba: Ngô Thăng, phó tướng thủy sư Quảng Đông đã thực hiện việc  tuần biển vào khoảng các năm 49 và 51 đời nhà Thanh (1710 – 1712). “Tự Quỳnh Thôi, lịch Đồng Cổ, kinh Thất Châu Dương, Tứ Canh Sa, Châu Tào tam  thiên  lý, Cung  tự tuần thị (từ Quỳnh Nhai, qua Đồng Cổ, qua Thất Châu Dương, Tứ Canh  Sa,  vòng  quanh  ba  ngàn  dặm,  đích thân đi tuần tra xem xét). Gọi Thất Châu Dương ở đây tức quần đảo Tây Sa ngày nay, lúc bấy giờ do hải quân Quảng Đông phụ trách đi tuần”.

>> Kỳ 5: Độ chênh của lịch sử trong Sách trắng Trung Quốc

Việc nghiên cứu nghiêm túc lại cho ta một sự  thật khác hẳn. Những địa danh nêu trong đoạn trích trên đều nằm xung quanh  đảo Hải Nam, theo các tác giả VN ([1]) :

–  Quỳnh Nhai, tức “Đạo binh bị Quỳnh  Nhai” (Đảo Hải Nam) đời Thanh, sở tại Quỳnh Sơn gần thị trấn Hải Khấu ngày nay, phía bắc đảo Hải Nam.

– Đồng Cổ ở mỏm đông bắc đảo Hải Nam

– Thất Châu Dương  là vùng biển có bảy hòn đảo gọi là Thất Châu nằm ở phía đông đảo Hải Nam.

– Tứ Canh Sa là bãi cát ở phía tây đảo Hải Nam.


Các chuyến đi của Trịnh Hòa (1405-1443) không được Sách trắng của Bộ Ngoại giao TQ nhắc đến – Ảnh tư liệu

Các địa danh  trên đều được  tìm  thấy trên các hải đồ TQ. Trong hải đồ N 5012 tỷ lệ 1/500.000 do hải quân TQ  xuất bản bằng tiếng TQ  và  tiếng VN  tháng  5.1956  có  tiêu đề: “Vùng  phụ  cận  Lôi Châu  và  đảo Hải Nam”,  và các bản đồ “Bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam”, và Nam Hải địa  hình  đo, tỷ  lệ  1/300.000.000 do  Nhà xuất  bản  địa  đồ TQ  xuất  bản  tháng  5.1984,  có  nhóm  đảo có tên Thất Châu Đảo và vùng biển  xung  quanh các đảo nhỏ đó ở phía đông nam của  đảo  Hải  Nam  được  gọi  tên  đúng  là Thất  Châu Dương. Rõ ràng tên này không được dùng để chỉ toàn bộ biển phía Nam Trung Hoa. Ngoài  ra, trong cuốn Quảng  Đông  dư  địa  đồ thuyết in năm  1909, Lý Hàn  Chung đã nói về các cuộc tuần biển của hải quân Quảng Đông như sau:

“Biên giới  trên biển ngày nay  lấy phía Nam đảo Hải  Nam  làm  giới  hạn,  bên  ngoài  là  Thất  Châu Dương, Đô  đốc  thuỷ  quân Quảng Đông  đi  tuần  đến đó là quay về”.

Ở  đây một  lần  nữa,  chúng  ta  không  thấy  bất  kỳ một ghi chép chính xác nào về các đảo Paracel dưới tên gọi Tây Sa.

Hơn  nữa,  các  hành  vi  quản  lý  mà  TQ viện dẫn, nếu đúng, chỉ  liên quan tới các đảo Tây Sa mà  không  nhắc  gì  đến  các  đảo  Nam  Sa.  Đối  với Spratly, TQ chỉ nêu ra được  sự kiện  năm 1883  khi  tàu  nghiên  cứu  của  Đức  tiến  hành các nghiên cứu  khoa  học  tại  quần  đảo  Nam  Sa,  chính quyền Quảng Đông đã phản  đối  (theo  Heinzig,  sự kiện này  liên quan Tây Sa hơn là tới Nam Sa). Việc phía TQ thiếu một  danh  nghĩa  chiếm hữu của Nhà nước được xác lập một cách vững chắc và từ lâu đời làm cho việc phản đối ngoại giao dựa trên cơ sở quyền thụ  đắc  theo  thời  hiệu  để  ngăn chặn một hành động như vậy không  còn  giá  trị. Đúng  hơn  nó chỉ được coi như một  tham vọng chủ quyền mà thôi.

Để chứng minh cho lập luận của họ, các tác giả TQ  viện dẫn tới cả các chuyến đi của Thái giám Trịnh  Hòa  trong thời gian từ 1405 đến 1433 qua các đảo này. Tuy nhiên các chuyến đi này không được Sách trắng của Bộ Ngoại giao TQ nhắc đến. Các chuyến đi của Trịnh Hòa tới Java, Ấn Độ và bờ biển Phi châu chỉ có giá trị tạo uy danh cho triều Minh ([2]) và Trịnh Hòa cũng không đưa ra một yêu sách  tạo lập danh nghĩa chiếm hữu  các đảo nào thay mặt thiên triều TQ. ([3])

Các thí dụ kể trên chỉ  tạo  ra sự nhận biết về các đảo, đúng hơn là một số đảo. Nếu các đảo trong biển Đông được các thủy thủ và ngư dân TQ biết tới là điều không phải bàn cãi thì việc khẳng định chủ quyền  TQ trên  các  quần  đảo  này  thật  khó thuyết  phục.  Trong  các  sách  và  văn  kiện do TQ trích dẫn, không có một ghi chép nào về quyền phát hiện hoặc sự củng cố một danh nghĩa chiếm hữu các  đảo  này, và về  thực chất không  thể hiện ý định thực  thi chủ quyền tại đó của họ.

Các  sự kiện kể  trên diễn  ra với khoảng thời gian cách quãng  200-500  năm. Điều  đó  rõ  ràng  làm yếu thêm lập luận của TQ, theo đó các Hoàng đế Trung Hoa đã quản  lý các đảo này  từ hai nghìn năm nay một cách liên tục và không ngắt quãng.

Để chứng minh chủ quyền, cần phải cung cấp các bằng  chứng  liên  quan  trực  tiếp  tới  việc  chiếm  hữu. D.L Bennett, luật gia Mỹ, nhận xét:

“Nếu các đảo hoặc không được quản lý bởi một chính phủ hoặc không được thăm viếng bởi các nhân viên nhà nước, vấn đề đặt ra  là liệu những cuộc tiếp xúc riêng rẽ bởi các ngư dân tư nhân TQ có đủ  để  thiết  lập  chủ  quyền trên  Spratly  theo  luật quốc  tế  không. Vì  vậy  giá  trị  của  lập  trường  chính thức của TQ là đáng nghi ngại”. ([4])

TS Nguyễn Hồng Thao

[1] Vũ Phi Hoàng, Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lãnh thổ Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, tr. 88;  Nguyễn Quang Ngọc, Sđd.

[2] BBC, ngày 27 tháng 11 năm 2008

[3] Năm 2005 Trung Quốc tuyên  truyền nhiều về Trịnh Hòa, tổ chức thi  “Nhịp cầu Hán ngữ” kỷ niệm các chuyến đi  của ông, gọi ông  là nhà hàng hải  vĩ  đại ngang  tầm Colombo  nhằm mục đích  gắn chuyến  đi  của Trịnh Hòa với quyền phát hiện. 

[4] D.L Benne, “Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và việc sử dụng luật pháp quốc  tế  trong  vụ  tranh  chấp  các  đảo  Spratleys”,  Stanford  Journal  of International Law, quyển 28 (1991-1992), tr. 435.

>> Kỳ 7: Tư liệu phía Việt Nam

Kỳ 6: Những luận cứ chủ quyền không vững chắc

07/08/2011 22:50

– Sự kiện  thứ ba: Ngô Thăng, phó tướng thủy sư Quảng Đông đã thực hiện việc  tuần biển vào khoảng các năm 49 và 51 đời nhà Thanh (1710 – 1712). “Tự Quỳnh Thôi, lịch Đồng Cổ, kinh Thất Châu Dương, Tứ Canh Sa, Châu Tào tam  thiên  lý, Cung  tự tuần thị (từ Quỳnh Nhai, qua Đồng Cổ, qua Thất Châu Dương, Tứ Canh  Sa,  vòng  quanh  ba  ngàn  dặm,  đích thân đi tuần tra xem xét). Gọi Thất Châu Dương ở đây tức quần đảo Tây Sa ngày nay, lúc bấy giờ do hải quân Quảng Đông phụ trách đi tuần”.

>> Kỳ 5: Độ chênh của lịch sử trong Sách trắng Trung Quốc

Việc nghiên cứu nghiêm túc lại cho ta một sự  thật khác hẳn. Những địa danh nêu trong đoạn trích trên đều nằm xung quanh  đảo Hải Nam, theo các tác giả VN ([1]) :

–  Quỳnh Nhai, tức “Đạo binh bị Quỳnh  Nhai” (Đảo Hải Nam) đời Thanh, sở tại Quỳnh Sơn gần thị trấn Hải Khấu ngày nay, phía bắc đảo Hải Nam.

– Đồng Cổ ở mỏm đông bắc đảo Hải Nam

– Thất Châu Dương  là vùng biển có bảy hòn đảo gọi là Thất Châu nằm ở phía đông đảo Hải Nam.

– Tứ Canh Sa là bãi cát ở phía tây đảo Hải Nam.


Các chuyến đi của Trịnh Hòa (1405-1443) không được Sách trắng của Bộ Ngoại giao TQ nhắc đến – Ảnh tư liệu

Các địa danh  trên đều được  tìm  thấy trên các hải đồ TQ. Trong hải đồ N 5012 tỷ lệ 1/500.000 do hải quân TQ  xuất bản bằng tiếng TQ  và  tiếng VN  tháng  5.1956  có  tiêu đề: “Vùng  phụ  cận  Lôi Châu  và  đảo Hải Nam”,  và các bản đồ “Bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam”, và Nam Hải địa  hình  đo, tỷ  lệ  1/300.000.000 do  Nhà xuất  bản  địa  đồ TQ  xuất  bản  tháng  5.1984,  có  nhóm  đảo có tên Thất Châu Đảo và vùng biển  xung  quanh các đảo nhỏ đó ở phía đông nam của  đảo  Hải  Nam  được  gọi  tên  đúng  là Thất  Châu Dương. Rõ ràng tên này không được dùng để chỉ toàn bộ biển phía Nam Trung Hoa. Ngoài  ra, trong cuốn Quảng  Đông  dư  địa  đồ thuyết in năm  1909, Lý Hàn  Chung đã nói về các cuộc tuần biển của hải quân Quảng Đông như sau:

“Biên giới  trên biển ngày nay  lấy phía Nam đảo Hải  Nam  làm  giới  hạn,  bên  ngoài  là  Thất  Châu Dương, Đô  đốc  thuỷ  quân Quảng Đông  đi  tuần  đến đó là quay về”.

Ở  đây một  lần  nữa,  chúng  ta  không  thấy  bất  kỳ một ghi chép chính xác nào về các đảo Paracel dưới tên gọi Tây Sa.

Hơn  nữa,  các  hành  vi  quản  lý  mà  TQ viện dẫn, nếu đúng, chỉ  liên quan tới các đảo Tây Sa mà  không  nhắc  gì  đến  các  đảo  Nam  Sa.  Đối  với Spratly, TQ chỉ nêu ra được  sự kiện  năm 1883  khi  tàu  nghiên  cứu  của  Đức  tiến  hành các nghiên cứu  khoa  học  tại  quần  đảo  Nam  Sa,  chính quyền Quảng Đông đã phản  đối  (theo  Heinzig,  sự kiện này  liên quan Tây Sa hơn là tới Nam Sa). Việc phía TQ thiếu một  danh  nghĩa  chiếm hữu của Nhà nước được xác lập một cách vững chắc và từ lâu đời làm cho việc phản đối ngoại giao dựa trên cơ sở quyền thụ  đắc  theo  thời  hiệu  để  ngăn chặn một hành động như vậy không  còn  giá  trị. Đúng  hơn  nó chỉ được coi như một  tham vọng chủ quyền mà thôi.

Để chứng minh cho lập luận của họ, các tác giả TQ  viện dẫn tới cả các chuyến đi của Thái giám Trịnh  Hòa  trong thời gian từ 1405 đến 1433 qua các đảo này. Tuy nhiên các chuyến đi này không được Sách trắng của Bộ Ngoại giao TQ nhắc đến. Các chuyến đi của Trịnh Hòa tới Java, Ấn Độ và bờ biển Phi châu chỉ có giá trị tạo uy danh cho triều Minh ([2]) và Trịnh Hòa cũng không đưa ra một yêu sách  tạo lập danh nghĩa chiếm hữu  các đảo nào thay mặt thiên triều TQ. ([3])

Các thí dụ kể trên chỉ  tạo  ra sự nhận biết về các đảo, đúng hơn là một số đảo. Nếu các đảo trong biển Đông được các thủy thủ và ngư dân TQ biết tới là điều không phải bàn cãi thì việc khẳng định chủ quyền  TQ trên  các  quần  đảo  này  thật  khó thuyết  phục.  Trong  các  sách  và  văn  kiện do TQ trích dẫn, không có một ghi chép nào về quyền phát hiện hoặc sự củng cố một danh nghĩa chiếm hữu các  đảo  này, và về  thực chất không  thể hiện ý định thực  thi chủ quyền tại đó của họ.

Các  sự kiện kể  trên diễn  ra với khoảng thời gian cách quãng  200-500  năm. Điều  đó  rõ  ràng  làm yếu thêm lập luận của TQ, theo đó các Hoàng đế Trung Hoa đã quản  lý các đảo này  từ hai nghìn năm nay một cách liên tục và không ngắt quãng.

Để chứng minh chủ quyền, cần phải cung cấp các bằng  chứng  liên  quan  trực  tiếp  tới  việc  chiếm  hữu. D.L Bennett, luật gia Mỹ, nhận xét:

“Nếu các đảo hoặc không được quản lý bởi một chính phủ hoặc không được thăm viếng bởi các nhân viên nhà nước, vấn đề đặt ra  là liệu những cuộc tiếp xúc riêng rẽ bởi các ngư dân tư nhân TQ có đủ  để  thiết  lập  chủ  quyền trên  Spratly  theo  luật quốc  tế  không. Vì  vậy  giá  trị  của  lập  trường  chính thức của TQ là đáng nghi ngại”. ([4])

TS Nguyễn Hồng Thao

[1] Vũ Phi Hoàng, Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lãnh thổ Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, tr. 88;  Nguyễn Quang Ngọc, Sđd.

[2] BBC, ngày 27 tháng 11 năm 2008

[3] Năm 2005 Trung Quốc tuyên  truyền nhiều về Trịnh Hòa, tổ chức thi  “Nhịp cầu Hán ngữ” kỷ niệm các chuyến đi  của ông, gọi ông  là nhà hàng hải  vĩ  đại ngang  tầm Colombo  nhằm mục đích  gắn chuyến  đi  của Trịnh Hòa với quyền phát hiện. 

[4] D.L Benne, “Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và việc sử dụng luật pháp quốc  tế  trong  vụ  tranh  chấp  các  đảo  Spratleys”,  Stanford  Journal  of International Law, quyển 28 (1991-1992), tr. 435.

>> Kỳ 7: Tư liệu phía Việt Nam