Tag Archive: QUYỀN


‘Việt Nam không chấp nhận sự can dự xâm hại chủ quyền’

 

Trong thế giới mở, sự can dự lợi ích của các quốc gia là điều không thể ngăn cấm. Nhưng nếu đó là sự can dự xâm hại chủ quyền thì không được phép chấp nhận.
Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh trao đổi với VnExpress.

– Đối thoại Shangri La lần thứ 12 vào cuối tháng 5 đầu tháng 6 tới diễn ra trong bối cảnh an ninh khu vực nhất là Biển Đông có nhiều căng thẳng. Việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được mời với tư cách là diễn giả chính mang thông điệp gì thưa ông?

– Lời mời dành cho Thủ tướng Việt Nam được Giám đốc Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế (IISS) của Vương quốc Anh đưa ra, đồng thời Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long có lời mời chính thức. Như vậy, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ là khách mời chính thức của IISS và là Quốc khách của Singapore.

Từ khi Việt Nam chính thức công bố Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dự đối thoại Shangri La và có bài phát biểu quan trọng mở đầu hội nghị, các hãng tin quốc tế đều đưa tin này với độ nóng cao. Họ đang chờ đợi Thủ tướng Việt Nam sẽ nói gì trong hội nghị này.

Trong bối cảnh tình hình an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương có nhiều vấn đề phức tạp, cả thuận lợi và thách thức, thì việc Thủ tướng Việt Nam được mời phát biểu đầu tiên chứng tỏ Ban tổ chức, nước chủ nhà cũng như cộng đồng quốc tế đánh giá cao vai trò của Việt Nam, đặc biệt trong đóng góp vào hòa bình, an ninh ổn định và hợp tác trong khu vực. Đồng thời, sự tham gia của Thủ tướng cho thấy Việt Nam rất quyết tâm mở rộng quan hệ quốc tế đa dạng, không chỉ song phương mà còn đa phương; quyết tâm hội nhập, trở thành đối tác tin cậy của tất cả các nước.

– Đối thoại Shangri La sắp diễn ra tại Singapore sẽ bàn đến sự can dự của Mỹ vào vấn đề an ninh khu vực cũng như vai trò của Trung Quốc đối với an ninh toàn cầu. Là một quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng, quan điểm của Việt Nam trước những vấn đề này như thế nào, thưa Thứ trưởng?

– Trong một thế giới mở, sự can dự lợi ích các quốc gia là điều không thể ngăn cấm. Họ có quyền bảo về chủ quyền và can dự lợi ích đồng thời tìm lợi ích trong quan hệ với các quốc gia khác. Sự can dự ấy nếu là can dự hòa bình, hợp tác và phát triển thì đó là tích cực. Điều này có lợi cho các nước nhỏ, các nước đang phát triển bởi nó tạo điều kiện hội nhập mạnh mẽ hơn giữa các nước trong khu vực, nhất là các nước đang phát triển như Việt Nam. Chúng ta kỳ vọng những can dự này sẽ đem lại sức sống mới, năng động mới cho cả khu vực.

Nhưng nếu việc can dự mang mục đích lợi ích đơn phương, cục bộ, cao hơn là mang tính bạo lực, xâm hại chủ quyền lợi ích quốc gia khác sẽ không được chấp nhận.

Tôi muốn nói thêm là sự can dự nếu quá thiên về quốc phòng, an ninh sẽ gây nguy cơ tiềm tàng va chạm trong khu vực. Hãy hình dung tình trạng này như có nhiều thùng thuốc súng để gần nhau quá sẽ có ngày bắt lửa. Sự hiện diện quân sự ấy có thể đem lại lo lắng dẫn đến cuộc chạy đua vũ trang mới trong khu vực mà gần đây đã có dấu hiệu của cuộc chạy đua này.

– Việt Nam từng trở thành bài toán mặc cả trong thỏa hiệp lợi ích của các nước lớn. Trong bối cảnh phức tạp hiện nay thì Việt Nam cần làm gì để tránh bị các nước thỏa hiệp trên lưng mình?

– Việc các nước thỏa hiệp mặc cả hy sinh lợi ích của Việt Nam chỉ xảy ra khi ta mất độc lập tự chủ, ngả về bên này hoặc bên kia. Việt Nam đã tuyên bố rõ đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, không tham gia liên minh quân sự, không đi với bên này để chống bên kia.

Thế giới xác định có 3 cách để bảo đảm hòa bình, tự chủ: Một là trở thành nước lớn để hạn chế đối phương hại đến hòa bình lợi ích nước mình. Hai là kiểu “đu dây”, lúc ngả theo bên này, lúc ngả bên kia, sẵn sàng hy sinh lợi ích chiến lược và uy tín quốc gia trong từng thời điểm để đạt mục tiêu trước mắt. Cách thứ ba, khó nhưng bền vững nhất là giữ được độc lập tự chủ, làm bạn với tất cả các nước. Trước hết là độc lập về chính trị, rồi đến độc lập về kinh tế, văn hóa, độc lập về quốc phòng an ninh.

Với Việt Nam, tính chất địa chính trị không cho phép chúng ta chọn “chỗ vắng” được mà buộc phải chọn “chốn đông người”. Vì vậy, trong khi giữ độc lập tự chủ thì mình phải đẩy mạnh mở cửa, trở thành bạn, thành đối tác với tất cả các nước. Đây là vấn đề có tính sống còn cho giữ gìn ổn định, hòa bình, phát triển, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và chế độ chính trị của đất nước ta.

– Quy tắc ứng xử trên Biển Đông chưa ra đời, Việt Nam đề xuất cơ chế hợp tác gì để có thể tránh các vụ va chạm, xung đột trên biển giữa các quốc gia trong khu vực?

– Những va chạm đáng tiếc trên Biển Đông hiện nay khiến ta rất quan ngại. Thậm chí đó là nguy cơ cho an toàn tính mạng của người dân. Điều này trước hết làm xáo trộn môi trường hòa bình của người lao động trên biển. Lợi ích của các nước có chủ quyền bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tôi quan ngại trước hành vi bạo lực nếu nó xuất hiện trên Biển Đông, nhất là khi nó trở thành có tính hệ thống.

Để đẩy lùi nguy cơ này, ta kiên quyết theo đuổi biện pháp hòa bình. Điển hình là Thỏa thuận về nguyên tắc xử lý các vấn đề trên Biển Đông mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký với Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào vào năm 2011. Thỏa thuận này không chỉ giải quyết vấn đề giữa Việt Nam – Trung Quốc mà còn đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định trong khu vực.

Thứ hai, ta đấu tranh mạnh mẽ với các hành vi bạo lực, với người sử dụng vũ lực, gây ra xung đột. Chúng ta cần công khai minh bạch, yêu cầu không tái diễn.

– Nhưng trong những tình huống thực tế, khi phải đối mặt với hành động bạo lực của lực lượng quân sự tấn công người dân như vụ tàu cá ở Quảng Ngãi bị tàu hải quân Trung Quốc bắn vừa qua thì lực lượng trên biển của ta phải hành động gì để đối phó?

– Chúng ta có cách để hạn chế họ dùng vũ lực và không để xảy ra xung đột. Trước hết là đấu tranh ngoại giao trực diện trên các diễn đàn song phương và đa phương. Trên thực địa, ta có nhiều biện pháp linh hoạt, hiệu quả như sử dụng lực lượng chấp pháp kết hợp với tàu đánh cá để bao vây, đẩy đuổi.

Về một số hành động vũ lực đối với tàu cá của ngư dân Việt Nam vừa qua, tôi hy vọng rằng đây mới chỉ là hành động cục bộ chứ chưa phải là chủ trương, tuy nhiên vẫn cần đấu tranh kiên quyết ngay từ những dấu hiệu ban đầu này, không để những hiện tượng tương tự tái diễn.

Lực lượng thực thi luật pháp trên biển của Việt Nam luôn đề cao tính nhân đạo trong xử lý các vấn đề trên biển với lao động bình thường. Xử lý nghiêm minh nhưng nhân đạo, đặc biệt không dùng vũ lực, bạo lực đe dọa ức hiếp người dân Trên bình diện đa phương, ta cũng cần nêu vấn đề công khai minh bạch, để cộng đồng quốc tế hiểu rõ chính sách của Việt Nam và hiểu rõ các vấn đề mà ta đang gặp phải.

– Cách đây một năm, ông từng nói Biển Đông sẽ có những diễn biến bất thường và khó lường. Vậy tại thời điểm này, ông đánh giá tình hình như thế nào?

– “Nhiệt độ” trên Biển Đông đã đến điểm mà các nước phải có tính toán rất kỹ nếu đi thêm bất kỳ bước nào nữa. Ví dụ như vừa qua nói rằng một số nước lớn phát triển chiến lược biển, có nhiều động thái đơn phương, không theo đúng luật pháp quốc tế, tuy mang nặng tính biểu tượng, mặc dù vậy đã gây ra nhiều quan ngại. Nhưng nếu họ đi từ tuyên bố đến hành xử trên thực tế thì vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn rất nhiều. Ta cần đấu tranh với từng thái độ, từng hành động để mọi tuyên bố đi ngược lại với luật pháp quốc tế, đi ngược với cam kết giữa các bên, phương hại đến hòa bình, ổn định trong khu vực không xảy ra trên thực tế.

NGUYỄN HƯNG (VNEXPRESS)

Vắng phản biện, cạnh tranh dễ độc đoán, chuyên quyền

Không có sự phản biện, sự cạnh tranh, Đảng dễ chủ quan, duy ý chí. Đường lối chính trị dễ bị sai lầm, hành động độc đoán, chuyên quyền, làm mất dân chủ trong xã hội và không bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, không bảo đảm và phát huy vai trò quản lý của Nhà nước.

Câu chuyện đổi mới, nâng cao phương thức lãnh đạo của Đảng là một trong những vấn đề “cốt tử” được bàn tại hội thảo “Đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta” sáng 31/1 ở Hà Nội.

Không lực lượng nào phản biện đủ mạnh

Một trong những vấn đề được xem là “cốt tử” được bàn tại hội thảo là câu chuyện đổi mới, nâng cao phương thức lãnh đạo của Đảng.

Nói như PGS.TS Lê Quốc Lý, Phó giám đốc Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, hiện Đảng cũng đang gặp khó khăn, thách thức không nhỏ ảnh hưởng đến uy tín chính trị, vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn tại của chế độ. Đó là tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên dễ lộng quyền, lạm quyền, coi thường pháp luật. Đảng cũng đã coi trọng và tích cực khắc phục để loại trừ tình trạng này bằng nhiều biện pháp kiểm tra, giám sát.

PGS.TS Mạch Quang Thắng cũng từ Học viện bổ sung thêm, do đặc trưng “duy nhất” đó nên dẫn đến một nguy cơ: không có lực lượng nào phản biện với tư cách một tổ chức chính trị đủ mạnh.

Ông Thắng phân tích, dùng Mặt trận để phản biện là cần thiết song chưa có cơ chế nào cho toàn thể nhân dân phản biện. Không có sự phản biện, sự cạnh tranh, Đảng dễ chủ quan, duy ý chí. Đường lối chính trị dễ bị sai lầm, hành động độc đoán, chuyên quyền, làm mất dân chủ trong xã hội và không bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, không bảo đảm và phát huy vai trò quản lý của Nhà nước. Đặc biệt, quan điểm, đường lối của Đảng ít được cọ xát.

Sau khi trích dẫn văn kiện Đại hội Đảng về nguy cơ thoái hóa, biến chất trong đội ngũ, ông Thắng phân tích, các cảnh báo đó phản ánh tình hình thực trạng nguy hiểm cho Đảng.

“Chỉ những người có chức có quyền, những cán bộ, công chức nắm trong tay quyền, tiền, của cải thì mới có khả năng tham nhũng. Mà tuyệt đại đa số trong đó là đảng viên”, ông Thắng kết luận.

Theo TS Mạch Quang Thắng, sự suy yếu đó còn biểu hiện ở chỗ lòng tin của nhân dân với Đảng đã bị suy giảm.

PGS.TS Trần Khắc Việt (Học viện Xây dựng Đảng) phân tích, hoạt động kiểm tra, giám sát của Đảng với cơ quan nhà nước chưa thường xuyên, hiệu quả còn thấp. Việc xử lý các sai phạm của cán bộ, công chức chưa thật kiên quyết, nghiêm minh. “Phương thức lãnh đạo của Đảng với công tác cán bộ chậm đổi mới, quy trình phức tạp nhưng vẫn để lọt cán bộ không thật sự xứng đáng tham gia vào bộ máy lãnh đạo, quản lý của cơ quan nhà nước”, ông Việt cho hay.

Cũng theo ông Việt, tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm còn diễn ra ở nhiều nơi. Càng xuống dưới cơ sở thì tình trạng cấp ủy bao biện, làm thay việc của chính quyền càng thể hiện rõ. Còn nhiều trường hợp cấp ủy can thiệp sâu vào hoạt động của cơ quan điều tra, tố tụng, xét xử.

Trong tham luận công phu gửi hội thảo, GS Nguyễn Văn Huyên (nguyên Viện trưởng Viện Chính trị học) cảnh báo, Đảng cần xem lại cả về tâm lẫn tầm để xem liệu Đảng có đạo đức, văn minh, là trí tuệ, thiên tài.

Ông Huyên phân tích, một nguy cơ của đảng cầm quyền là dễ đi đến chuyên quyền, độc đoán. Khi có quyền, cá nhân đảng viên, người lãnh đạo dễ dàng tự thỏa mãn, dùng quyền lực thay cho chân lý, cho pháp luật trong chỉ đạo. Đặc biệt, việc ít chịu học tập, rèn luyện làm không ít người có chức quyền bị tụt hậu, trì trệ. Tất cả dẫn đến hạn chế tầm tư duy chiến lược, hoạch định chính sách, không theo kịp xu thế vận động, thậm chí còn bảo thủ làm kìm hãm tốc độ phát triển của xã hội.

Tranh cử, cạnh tranh bình đẳng

Sau khi chỉ ra hàng loạt nguy cơ nói trên, rất nhiều đại biểu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm soát và giám sát quyền lực trong thể chế chính trị một đảng. Đặc biệt, cần xây dựng một cơ chế cụ thể để đảm bảo vai trò giám sát của nhân dân.

Theo TS Tống Đức Thảo (Viện Chính trị học), một trong các quyền quan trọng thể hiện quyền lực thuộc về nhân dân là quyền được quyết định chọn lựa các đại diện thể hiện cho ý chí của mình, đi đôi với nó là quyền phế truất khi người được ủy quyền không thi hành đúng ý nguyện của dân chúng.

Theo ông Thảo, Đảng nên giới thiệu cán bộ của mình ra tranh cử, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng và để dân được quyền lựa chọn người đại diện. “Làm như thế không những Đảng nâng cao uy tín, tính chính đáng cho quyền lãnh đạo của mình mà còn tăng thêm sức mạnh cho dân để cùng tham gia xây dựng bộ máy nhà nước”, ông Thảo nhận xét.

ĐB Trần Đình Nghiêm nói rõ hơn, vấn đề kiểm tra, giám sát của Đảng cần có sự phối hợp chặt chẽ với công tác thanh tra của Chính phủ, công tác giám sát của QH, với MTTQ và các đoàn thể xã hội.

“Nhân dân phải được giám sát quyền lực thông qua các hình thức phổ biến nhất như bầu người đại diện, bãi miễn người đại diện trong các cơ quan quyền lực. Người dân cũng phải có quyền phản biện với Hiến pháp, pháp luật cũng như các chủ trương lớn của nhà nước và phải được quyền bày tỏ chính kiến về những vấn đề quốc kế dân sinh”, ông Nghiêm cho hay.

Nhân cơ hội đang sửa đổi Hiến pháp 1992, một số đại biểu đề xuất xúc tiến xây dựng luật về Đảng để đảm bảo tổ chức Đảng hoạt động trong khuôn khổ pháp luật.

LÊ NHUNG (VIETNAMNET)

Nếu cứ làm việc theo cung cách của các ngành, các cơ quan chức năng hiện nay: Thiếu tâm – thiếu tầm, và thiếu cả… quyền, thì biết đâu, sẽ còn những Vina khác nữa đang… mỉm cười đứng Đợi?

Cả làng cùng “thiếu” có mình em đâu?

Mới đầu năm 2013, tại Hội nghị trực tuyến tổng kết công tác của ngành Giao thông Vận tải, một quan chức cao cấp của Nhà nước có phát ngôn thật ấn tượng: Quản lý GTVT thiếu tâm lẫn tầm! Theo ông, quản lý ngồi đút chân gầm bàn, không có tâm và tầm, sâu sát với cuộc sống đang vận động.

Trước đó, là một loạt những số liệu mất mát đau lòng: Năm 2012, toàn quốc xảy ra trên 36.000 vụ tai nạn giao thông làm gần 10.000 người chết, 38.000 người bị thương… Tai nạn giao thông trong những tháng cuối năm 2012 có xu hướng tăng trở lại, số người chết hoặc bị thương vẫn ở mức cao và vẫn còn xảy ra tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng.

Thực ra, sự thiếu tâm này không chỉ là thói quan liêu, xa rời cuộc sống, của cán bộ, công chức Nhà nước. Mà tệ hơn, suy đồi hơn, nó là lòng tham, là tham nhũng. Và một khi trở thành quốc nạn, nó gây nên những thương tổn sâu sắc cho xã hội, cả vật chất lẫn tinh thần, niềm tin.

Tại hội nghị, diễn giải cho những yếu kém, bất cập của ngành GTVT, đặc biệt về các con đường huyết mạch, một vị thứ trưởng của ngành cho rằng do thiếu vốn duy tu, sửa chữa định kỳ nên ảnh hưởng lớn đến chất lượng kết cấu hạ tầng  giao thông…

Thế nhưng chả lẽ, mới đưa vào sử dụng cuối năm 2012, và còn chưa khánh thành, cây cầu Đất Sét trên tuyến quốc lộ 1A (thị trấn Tân Phú Thạnh, huyện Châu thành A- Hậu Giang)- thuộc dự án do Bộ GTVT làm chủ đầu tư, với kinh phí 2.371 tỷ đồng, đã bị lún, nứt, có chỗ lún nứt kéo dài hàng chục mét, cũng là do… thiếu vốn duy tu, sửa chữa?

Hiện trường một vụ TNGT. Ảnh: Baoninhthuan.com.vn

Ngược hẳn với ý kiến ông thứ trưởng ngành GTVT, tại kỳ họp QH tháng 6/2012, khi thảo luận về bổ sung năm dự án, sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ 2011- 2015, trong đó có ba dự án giao thông, chiếm tới gần 5000 tỷ đồng, ý kiến của nhiều đại biểu QH cho rằng tiền nhiều nhưng chất lượng giao thông vẫn kém. Đặc biệt là thất thoát tài chính, tiêu cực trong sử dụng kinh phí rất nhiều.

Có đại biểu nêu câu hỏi: Người ta đặt vấn đề xây dựng đường Việt Nam đắt nhất thế giới, đắt hơn Mỹ, đắt hơn các nước trong khu vực. Tại sao?

Đắt nên mới xắt ra… sụt lún, ra nứt toác, ra hố tử thần…

Phía nam, “nổi tiếng” nhất – thực chất là tai tiếng nhất, là Đại lộ Đông Tây. Có tổng chiều dài 22 km, được đầu tư tới 660 triệu USD, tính ra mỗi km đường ở đây đầu tư tới 30 triệu USD, thông xe vào cuối năm 2011.

Hoành tráng, khua chiêng gõ trống bao nhiêu ở “pha” động thổ, cắt băng khánh thành, thì mới chỉ sau sáu tháng sử dụng, Đại lộ Đông Tây đã “lộ” ra cái sự thê thảm của chất lượng. Mặt đường xuống cấp, lún sâu, thậm chí có chỗ lằn bánh xe tạo rãnh có độ sâu hơn 10cm. Và cũng lộ ra cái tâm làm ăn gian dối, tham lam vô độ của con người.

Phía bắc, không chịu…”kém miếng”, Đại lộ Thăng Long, chiều dài 30 km (được đầu tư tới 7.527tỷ đồng), chỉ sau nửa năm đưa vào sử dụng, đã bị xuống cấp, sụt, lún, nứt nẻ, bong tróc nghiêm trọng. Điệp khúc xuống cấp cũng lại được giành cho hai cây cầu mới của Thủ đô- cầu Vĩnh Tuy và Thanh Trì.

Vậy nhưng, nếu nói chữ thiếu tâm, hẳn ngành GTVT sẽ mượn câu ca dao xưa:Cả làng cùng “thiếu” có mình em đâu?

Bởi cái sự thiếu tâm ấy, sự tham lam ấy không phải là… độc quyền của riêng ngành GTVT, nó còn là của cả ngành ngân hàng. Khi chính vị lãnh đạo cao cấp nhất của ngành này phải thừa nhận: Có “lợi ích nhóm” trong hệ thống các tổ chức tín dụng.

Cũng theo vị quan chức này, mới thanh tra ở 27 tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước thấy nhiều tổ chức tín dụng bị chi phối bởi một nhóm cổ đông, giữ chức danh lãnh đạo trong đó. Dư nợ cho vay nhóm cổ đông này chiếm tỷ lệ rất lớn trong tổng dư nợ, có lúc lên tới 90%, vi phạm nghiêm trọng quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.

Vết lún, nứt ở cầu Đất Sét nghìn tỷ. Ảnh: Quốc Huy

Tại kỳ họp QH cuối năm 2012, quan chức cao cấp nhất của ngành công an cũng cho biết, năm 2012 tội phạm về kinh tế, tham nhũng phức tạp nổi lên trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, gây thiệt hại hàng ngàn tỉ đồng, tác động xấu đến an ninh tài chính, tiền tệ.

Cái sự thiếu tâm ấy còn là của ngành xây dựng, quản lý đất đai. Khi các công trình Đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội, các công trình thủy điện thi nhau “hom hem, già lão”, thi nhau vỡ toang, lộ ra bê- tông chỉ là đất và gỗ mục… Khi tới 70% vụ khiếu kiện của người dân thuộc về lĩnh vực đất đai- cũng là nơi màu mỡ nhất cho lòng tham nảy nở. Quản lý đất đai không công khai minh bạch, còn là nguyên nhân của những xung đột gay gắt, thậm chí phân ly giữa người dân với chính quyền.

Thiếu tâm của ngành GTVT là quá rõ. Còn thiếu tầm, thì e vị lãnh đạo cao cấp của Nhà nước phát biểu vừa đúng, vừa chưa đủ.

Bởi riêng ách tắc giao thông đô thị, hiện đang là nỗi khổ không của riêng ai, nó vừa là cái nhìn ngắn hạn của ngành này, nhưng nó cũng là hệ lụy của cái nhìn không …dài hạn của cơ chế quản lý xã hội chúng ta. Rút cục, giao thông đô thị đang phải lãnh đủ.

Bởi ách tắc giao thông đô thị, là hệ lụy của quy hoạch đô thị với tầm nhìn kiểu ăn sổi ở thì.

Là hệ lụy của việc coi thường tầm quan trọng của  các đô thị “vệ tinh”.

Là hệ lụy của tỷ lệ dân số tăng quá nhanh, vv…và vv..

Thế thì, thiếu tâm- thiếu tầm đâu phải chỉ là của riêng ngành GTVT?

“Vô hiệu” và “thanh kiu”

Cái sự thiếu tâm– tham lam, tham nhũng, giờ thiên hình vạn trạng. Hội thảo khoa học “Bàn về những giải pháp phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay” do Tạp chí Cộng sản cùng ĐH Quốc gia TP.HCM tổ chức mới đây đã đưa ra những con số đáng buồn.

Buồn, vì trong khi tham nhũng bị coi là quốc nạn, thì theo Gs Trần Đình Bút, nguyên Thành viên tư vấn Chính phủ, các vụ được phanh phui chỉ là những vụ nhỏ, ở cấp dưới – chỉ mới bắt được mèo con. Cán bộ xã, phường chiếm 30% còn cấp trung ương chỉ chiếm 0,3%, bằng 1/100 của cấp thấp nhất.

Bên cạnh kết quả chỉ mới bắt được mèo con, đáng lo ngại nhất là hiện tượng tham nhũng quyền lực và chính trị, như Gs Nguyễn Trọng Chuẩn, nguyên Viện trưởng Viện triết học đã chỉ ra. Vì quyền đẻ ra tiền, quyền đẻ ra lợi.

Ông cũng khẳng định, sức mạnh kinh tế một khi liên kết với quyền lực để hình thành lợi ích nhóm sẽ dẫn đến tham nhũng trong chính trị, chi phối chính sách. Đây mới là điều đáng lo ngại nhất đối với sự tồn vong của chế độ, đất nước.

Các vụ tham nhũng được phanh phui chỉ là những vụ nhỏ, ở cấp dưới- chỉ mới bắt được mèo con. Ảnh minh họa

Rõ ràng, tham nhũng có đủ “sức mạnh mềm”, để làm mưa làm gió, trong khi các công cụ chức năng “rắn” như Kiểm toán, như Thanh tra vận hành ra sao?

Trả lời phỏng vấn báo chí mới đây về vai trò, vị thế của Kiểm toán Nhà nước trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, ông Đặng Văn Thanh, Chủ tịch Hội Kế toán và kiểm toán VN cho rằng, nếu như kiểm soát nội bộ của bộ máy bị vô hiệu hóa thì sẽ lại dẫn đến những đổ vỡ như đã xảy ra với Vinashin, Vinalines…

Đó là một nhận xét mang tính thực tiễn sâu sắc, dù khá chua xót.

Kiểm toán là một lĩnh vực còn khá mới mẻ cho một xã hội văn minh nông nghiệp, nên đến tận giờ, vẫn còn “loay hoay” với “cái ghế” – địa vị pháp lý của mình, là giúp việc QH hay độc lập với QH? Tất cả còn trông chờ vào sự sửa đổi Hiến pháp 1992 sắp tới.

Nếu Kiểm toán thiếu tầm, thì Thanh tra khác hẳn.

Ngành thanh tra có tuổi đời gần 70 năm, cùng với tuổi đời của nước Việt, chứng kiến mọi sự thăng trầm, mọi thay đổi và đổi mới của quốc gia. Nghề nào cũng vậy, nhưng đặc biệt với thanh tra, nó đòi hỏi trước hết là phẩm cách chính trực, sự liêm khiết của cá nhân cán bộ thanh tra. Vì cái sự ông rút chân giò, bà thò chai rượu, ở đây rất dễ xảy ra.

Trong quá khứ (và hiện tại), xã hội ta từng có những cán bộ thanh tra liêm chính nổi tiếng. Nhưng…

Người viết bài chứng kiến một chuyện hài hước: Một chánh thanh tra ở cơ quan Bộ nọ, được cả cơ quan “trìu mến” gọi là “Chánh thanh- kiu” (cảm ơn). Ông chả giận, mà cứ dễ dãi cười…hề hề… Hay vì ông luôn phải “thanh- kiu” những nơi ông thanh tra? Chỉ ông và nơi bị thanh tra biết rõ nhất!

Hội nghị trực tuyến tổng kết công tác thanh tra ngày 4/1 mới đây cho thấy, hiệu quả công tác này trong phòng, chống tham nhũng rất hạn chế: Năm 2012, các ngành đã triển khai 1589 cuộc thanh tra trách nhiệm, nhưng chỉ xử lý hành chính 18 người, chuyển cơ quan điều tra ba vụ.

Một quan chức cao cấp của Chính phủ đã nói thẳng: Toàn hệ thống thanh tra có hơn 18.000 người. Thanh tra CP khoảng 700, còn lại khoảng 17.300 người là ở các bộ, ngành địa phương. Bộ nào cũng có thanh tra, sở nào quan trọng cũng có thanh tra nhưng vụ việc ai phát hiện? Báo chí phát hiện, Thanh tra CP phát hiện, đoàn thanh tra phát hiện… Vậy 17.300 người để làm gì?

Nếu kiểm soát nội bộ của bộ máy bị vô hiệu hóa, thì sẽ lại dẫn đến những đổ vỡ như đã xảy ra với Vinashin, Vinalines…

Người ta chợt nhớ, vụ Vinakhủng, suốt từ năm 2006 đến 2009, đã có ít nhất 11 cuộc thanh, kiểm tra các loại của đủ các đoàn kiểm tra, thanh tra. Vậy mà không đoàn nào đến thanh tra lại phát hiện ra… sai phạm (!) Thanh tra hay “thanh- kiu”, như dư luận xã hội nghi ngờ?

Hay thanh tra không thiếu nghiệp vụ, cũng không thiếu tầm, mà chỉ … thiếu tâm?

Còn tại Hội nghị Chính phủ làm việc với các tập đoàn, doanh nghiệp Nhà nước, ông Phó Trưởng ban chỉ đạo Đổi mới và phát triển doanh nghiệp cho biết, tổng nợ phải trả của các TĐ, TCT đã lên tới hơn 1,3 triệu tỉ đồng (?) Mức lỗ phát sinh của tất cả TĐ, TCT là 2.253 tỉ đồng, trong đó có một số đã lỗ từ năm 2011 đến năm nay… lỗ tiếp. Đáng quan ngại là có 10 TĐ, TCT có tổng lỗ lũy kế lên tới 17.730 tỉ đồng. Ai sẽ là người …bù những cái lỗ khủng khiếp này đây?

Đến nỗi, người đứng đầu Chính phủ đã phải hỏi, một số doanh nghiệp Nhà nước làm ăn thua lỗ cả tỷ đồng, nói ra ai cũng xót ruột. Và nhân dân có quyền đặt ra câu hỏi, sau Vinashin, Vinalines, liệu còn thêm Vina nào nữa?

Chưa có câu trả lời.

Nhưng nếu cứ làm việc theo cung cách hiện nay: Thiếu tâm- thiếu tầm, vàthiếu cả…quyền, thì biết đâu, sẽ còn những Vina khác nữa đang…mỉm cười đứng Đợi?

Kỳ Duyên [bài trên vietnamnet]

——————

Tham khảo:

http://nld.com.vn/20130110100852683p0c1002/pho-thu-tuong-hoang-trung-hai-quan-ly-gtvt-thieu-tam-lan-tam.htm

http://tuoitre.vn/Ban-doc/529689/hau-giang-cau-chua-khanh-thanh-da-lun-nut.html

http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2012/05/cau-rong-nhat-thu-do-co-dau-hieu-xuong-cap/

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/105253/hot-het-bay-sau-lam-ngheo-dat-nuoc.html

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/105425/chong-tham-nhung–moi-bat-duoc-meo-con-.html

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/105078/con-vinashin-neu-kiem-soat-noi-bo-bi-vo-hieu-hoa.html

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130105/17-300-nguoi-lam-gi-ma-khong-phat-hien-tham-nhung.aspx

Office 2013 full Crack + key bản quyền. Ngày 16/7, hãng phần mềm Mỹ tổ chức sự kiện tại San Francisco (Mỹ) để công bố một trong những sản phẩm quan trọng nhất của họ. Office 2013 có thiết kế trực quan và có thể hoạt động trên một loạt thiết bị Windows, trong đó có cả máy tính bảng.

Office 2013 full hỗ trợ cảm hỗ trợ cảm ứng đa chạm. Điểm đặc biệt của phiên bản mới là được cung cấp qua dịch vụ đám mây, thường xuyên được cập nhật, mang tính xã hội cao và được thiết kế phù hợp với các ngữ cảnh hiện đại trong việc đọc, ghi chép, hội họp, truyền thông.
Steve Ballmer, CEO của Microsoft nhấn mạnh rằng việc phân phối qua đám mây sẽ mang đến sự linh loạt cho cả khách hàng cá nhân và doanh nghiệp, nhất là khi kết hợp cùng với Windows 8. Trước đó, Kurt DelBene, Chủ tịch bộ phận Office, cũng tuyên bố số lượng người dùng Microsoft Office đã cán mốc 1 tỷ. Trên thế giới, cứ mỗi giây lại có một người mua một phiên bản Office 2010.
Office 2013 RT gồm Word, Excel, PowerPoint và OneNote mới nhất sẽ có mặt trên thiết bị chạy trên nền tảng Windows 8 ARM, trong đó có tablet Microsoft Surface. Hiện Office 2013 mới có bản duyệt trước tại Office.com/preview còn gói đầy đủ và giá cả sẽ được công bố trong mùa thu.

Giống như Windows 8, Office tương tác cảm ứng một cách tự nhiên. Người dùng có thể lướt ngón tay trên màn hình hoặc kéo, thay đổi kích cỡ để đọc các văn bản và thuyết trình. Họ cũng có thể tạo ra nội dung mới và tiếp cận các tính năng bằng các chạm ngón tay.

Office 2010 download mang tính xã hội cao, trong đó có Yammer là mạng xã hội có độ bảo mật cao dành cho doanh nghiệp và công cụ chat Skype. Khi đăng ký, người dùng sẽ được tặng 60 phút gọi toàn cầu mỗi tháng. Danh bạ Skype được tích hợp với Lync giúp gọi hoặc gửi tin nhắn tức thì tới bất kỳ ai trên Skype.

download
Bản 32 bit http://www.mediafire.com/?8sagwaus2u56u
Bản 64 bit http://www.mediafire.com/?8ky1wy5lb8c1d
hoặc

Bản 32 bit http://www.fshare.vn/file/T8PG7WKA6T/
Bản 64 bit http://www.fshare.vn/file/TYQGVBQ33T/

hoặc

Bản 32 bit http://share.vnn.vn/dl.php/11456369
Bản 64 bit http://share.vnn.vn/dl.php/11456368

Bản 32 bit http://t.co/MKK629es
Bản 64 Bit: http://t.co/D9OjSCXZ

32-bit:http://care.dlservice.microsoft.com/…_en-us_x86.exe
64-bit: http://care.dlservice.microsoft.com/…_en-us_x64.exe

key:
4N8CF-3M2CT-7TD3X-HP2K9-HB9TW
Y89N6-KWWJX-YHFVP-DWMGK-XKR9J
MT7NR-6GWBK-QGHBV-2YBFG-72V28

Office 2013 full Serial key bản quyền cho mọi HDH
Office 2013 Preview full 1link Download
Microsoft Office 2013 Customer Preview full link
Office 2013 full 1 link download tốc độ siêu khủng
[Từ internet]

Trong cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại có những nhân vật “hành nghề chính trị” mà khi nhắc đến thì mọi người đều lắc đầu ngán ngẩm với những nhận xét đầy khinh bỉ . Đó là những kẻ cơ hội , trục lợi, trơ trẽn với những việc làm trong quá khứ và hiện tại của họ . Ở đây tôi muốn nói đến một nhân vật thuộc hạng có “máu mặt” đó là Võ văn Ái với hỗn danh là “ma đầu”, hiện đang là chủ tịch cơ sở Quê mẹ và “Ủy ban bảo vệ quyền làm người VN” do chính Ái tự phong làm chủ tịch và điều hành. Qua việc theo dõi các thông tin trên báo chí thì tôi được biết vào tháng 3 đầu năm nay, 2012, dưới sự cầm đầu của Võ Văn Ái “Ủy ban bảo vệ quyền làm người VN” đã đến Genève vận động can thiệp cho những người mà họ gọi là “những tù nhân chính trị và tù nhân vì lương thức Việt Nam”? Võ văn Ái gặp gỡ “Tổ Hành Động Chống Bắt bớ Trái phép của LHQ”(WGAD). Theo thủ tục WGAD đã chuyển đạt tin tức cùng hồ sở do Võ văn Ái cung cấp đến chính quyền Việt Nam ngày 15.3.2012. Việt Nam hồi đáp ngày 13.7.2012 bác bỏ mọi luận điểm của hồ sơ, rồi tuyên bố các người bị giam tù do họ vi phạm pháp luật Việt Nam. 29-8-2012 WGAD đã gởi bản Fax đến “Ủy ban bảo vệ quyền làm người VN” với nội dung tuyên bố rằng,”Việt Nam vi phạm các điều 9, 19, và 21 của Công ước quốc tế khi giam giữ trái phép ông Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, và Lê Thăng”. Võ văn Ái vui mừng coi đây là một thành tích mà các “bề trên” ủng hộ, ngày 8-11-2012 vội vàng xuất xưởng với cái gọi là “Thông cáo báo chí” trên nguyệt san Quê mẹ.
Trong nội dung “Thông cáo báo chí” Võ Văn Ái lớn giọng “Phải trả tự do cho những người này và phải chấp nhận đền bù cho họ …”? Ông ta có cái quyền gì mà ra lệnh cho một nhà nước hợp pháp đang lãnh đạo 90 triệu dân ? chỉ có kẻ đầu óc hoang đường mới có những phát ngôn ngông cuồng như vậy.Theo sự tìm hiểu của bản thân tôi về việc thực hiện quyền con người và sự thúc đẩy nó đạt đỉnh thăng hoa nhất đó là trách nhiệm và quyền hạn của mỗi quốc gia , mỗi dân tộc. Việt Nam cũng như các quốc gia khác có trách nhiệm xây dựng hệ thống pháp luật trong nước cho phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế mà đặc biệt là hiến chương liên hợp quốc. Nhưng do hoàn cảnh khác biệt về lịch sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển, giá trị truyền thống văn hóa… nên cách thực hiện quyền con người ở mỗi quốc gia có thể khác nhau. Hợp tác đối thoại giữa các quốc gia nhằm mục đích thúc đẩy việc thực hiện và bảo vệ quyền con người là một yêu cầu thực tế, cần thiết khách quan chứ không phải là sự quy chụp võ đoán bất chấp thực tế.Thật khó mà kể hết những hoạt động của Võ Văn Ái chống phá đất nước và dân tộc Việt Nam mà đặc biệt là với bà con phật tử và Giáo hội Phật giáo Việt Nam . Võ Văn Ái là tên đầu cơ trục lợi chính trị một cách ma mãnh nhất, ông ta đã không từ một thủ đoạn nào với mục đích duy nhất là đánh bóng tên tuổi và kiếm chác tiền bạc từ các tổ chức ngoại bang chống Việt Nam và của bà con trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Một điều lẽ tất nhiên là khi nhận tiền của ngoại bang là phải chấp nhận những điều kiện, những hoạt động phục vụ cho đường lối chính sách của tổ chức đó thì đồng nghĩa với thân phận làm tay sai, điều này thì Võ văn Ái không thể phủ nhận được . Vậy thì những điều mà Võ Văn Ái lên tiếng tranh đấu cho tự do, dân chủ, quyền làm người của dân tộc Việt Nam như ông ta đã cao giọng nhằm phục vụ cho đường lối sách lược nào? cho thế lực ngoại bang hay cho dân tộc Việt Nam? Đúng là con người gian manh , một tên “ma đầu” về chính trị tự khoác lên người tấm áo choàng “bảo vệ quyền làm người” nhưng mục tiêu của ông Ái là làm tay sai để được trả tiền. Những việc làm của Võ văn Ái đã để lại những hậu quả tai hại là Phật giáo Việt Nam bị chia rẽ, rối ren . Đồng thời với hoạt động báo chí, Ái còn lập tổ chức “Ủy ban bảo vệ quyền làm người VN” như đã nói, do chính Ái làm chủ tịch và điều hành. Chúng ta thấy Võ văn Ái hay “mở sô” phỏng vấn trên các “mõ làng” như VOA, RFA, RFI… để Ái tự quảng cáo, đánh bóng, phô trương, phóng đại thành tích chống Cộng và tranh đấu cho quyền làm người Việt Nam hay tự do tôn giáo bằng bất kỳ thủ đoạn nào .Võ Văn Ái chuyên nghề câu kết với một số đối tượng cơ hội chính trị trong nước và các phần tử chống cộng cực đoan (CCCĐ) lợi dụng tôn giáo để kích động gây rối xã hội Việt Nam. Đối với Võ Văn Ái, thì tất cả người dân trong nước đều là những “nạn nhân” của chế độ cộng sản cầm quyền ,không có “nạn nhân” cũng phải cố tạo, cố nặn ra để được lên tiếng đánh bóng cái mác “bảo vệ quyền làm người” với chức danh chủ tịch tự phong của mình .
Lật lý lịch của Võ Văn Ái, có quốc tịch Pháp, dân tộc Kinh, quê Thừa Thiên – Huế, là Phật tử. Ái là bác sĩ, viết văn, làm thơ, làm báo với các bút danh: Nguyễn Thái, Thi Vũ, Trần Phổ Minh…, và làm con rối chính trị . Là Phật tử, đúng ra ông ta phải có những việc làm ích đời đẹp đạo vậy mà tất cả những việc làm của Võ văn Ái chỉ có duy nhất một niềm đam mê như con thiêu thân là chống lại dân tộc Việt Nam và kiếm tiền. Chỉ đáng tiếc là một số người trong nước không hiểu được dã tâm của những người như Ái họ đã tự nguyện làm vật tế thần, nhằm phục vụ cho mưu đồ đen tối .1978- khi Bernard Kouchner, Chủ tịch tổ chức “Thầy thuốc không biên giới Pháp” dùng con tàu mang tên “Đảo ánh sáng” đi vớt người vượt biển, thì Võ Văn Ái đã tích cực tham gia cổ vũ cho tổ chức này. Ông ta dùng địa chỉ nhà mình làm nơi quyên tiền ủng hộ, và đã thu được hơn 200 triệu frăng (tiền Pháp). Tuy nhiên, số tiền thực tế đến tay “người vượt biển” lại không bao nhiêu, mà chủ yếu Võ Văn Ái tiêu xài cá nhân dưới danh nghĩa chi phí để đi nơi này, nơi kia, tuyên truyền vận động. Nắm được thông tin cụ thể, báo chí Pháp liên tiếp đăng nhiều bài tố cáo khiến kế hoạch “quyên góp” của Võ Văn Ái phải ngưng lại nửa chừng khi bị sở thuế sờ gáy.
Năm 1983 trong khoảng thời gian này đời sống nhân dân trong nước gặp nhiều khó khăn vì bị cấm vận cầm đầu là Hoa Kỳ thì ở hải ngoại mọc lên một số tổ chức chống phá nhà nước Việt Nam, lợi dụng cơ hội đó tổ chức của Hoàng Cơ Minh tiền thân của băng đảng khủng bố Việt Tân với các chiến dịch lừa bịp, hù dọa bà con trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại quyên góp cho “kháng chiến quân” về “giải phóng quê hương” kiếm được rất nhiều tiền. Nắm bắt cơ hội “ngàn vàng” này Võ Văn Ái đẻ ra cái gọi là “Ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam “Theo tài liệu chính trên www.ned.org thì ông Ái nhận được sự tài trợ của NED, một tổ chức của Mỹ thành lập năm 1983 vào thời Tổng thống Reagan. Về hình thức, những hoạt động của NED không khác với những hoạt động của CIA nhưng được ngụy trang dưới danh nghĩa là tranh đấu của dân chủ. Khi được một thế lực nước ngoài đỡ đầu tài chính, thì ông ta lại càng tích cực gia tăng các hoạt động chống phá Việt Nam một cách điên cuồng . Võ văn Ái đứng ra thành lập “Ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam” tại Pháp như đã nói ở trên , rồi tự phong cho mình chức chủ tịch. Đồng thời lôi kéo một số người có tư tưởng hận thù chống cộng vào cuộc để khuếch trương và cho ra mắt tập san Quê Mẹ làm phương tiện chống phá Việt Nam mà nội dung không ngoài việc tuyên truyền, xuyên tạc các chủ trương, chính sách của Nhà nước Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực tôn giáo.
Ban đầu tập san có nội dung như văn nghệ, văn hóa, chính trị, thơ văn… do chính Ái viết dưới nhiều bút danh khác nhau và vài tác giả khác cộng tác. Quê Mẹ lúc ấy không gây được ảnh hưởng nhiều trong cộng đồng người Việt tại hải ngoại. Chỉ đến khi nhận được sự tài trợ của National Endowment for Democracy (NED), một tổ chức thuộc hạ viện Hoa Kỳ, từ đó Quê Mẹ bắt đầu “bẻ lái đổi hướng” sang mục tiêu chính là chính trị theo ý đồ của tổ chức tài trợ. Từ lập trường mang hơi hướng tinh thần hóa giải của Phật giáo Quê Mẹ chuyển sang lập trường chống Cộng một cách triệt để và cực đoan. Nội dung trọng tâm của tạp chí Quê mẹ là những tin tức liên quan đến “nhân quyền”, vi phạm “tự do tôn giáo” ở VN, sau khi được Võ văn Ái bóp méo xuyên tạc méo hoặc thổi phồng các tin tức này nhằm khuấy động dư luận quốc tế .
Sau đó Võ Văn Ái cho ra đời cái được gọi là “Phòng Thông tin Phật giáo hải ngoại” do Ái tự phong làm giám đốc. Đồng thời rủ rê một số tăng ni để hợp thức hóa thành lập “Văn phòng 2 Viện Hóa đạo” trực thuộc GHPGVNTN(giáo hội phật giáo Việt Nam thống nhất) hải ngoại . Cái “Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế” chỉ là một nhãn hiệu bịp bợm để lòe thiên hạ có như vậy mới vận động quyên góp tiền bạc của bà con phật tử. Sự thật thì đó chỉ là hang ổ cho ra lò những sản phẩm gọi là “Thông cáo báo chí” “kiến nghị” “điều trần” do Ái nghĩ ra chứa đựng nhiều thông tin bịa đặt đến mức thô thiển để chống Việt Nam chứ không dính dáng gì đến Phật giáo cả . Vì lập ra “Phòng Thông tin Phật giáo quốc tế” nên Võ Văn Ái cần có sự hậu thuẫn, ủng hộ của một số tu sĩ Phật giáo sống tại Việt Nam, đứng đầu là ông Quảng Độ. Giữa năm 2003, Võ Văn Ái sai tay chân của mình về Việt Nam, gặp ông Thích Quảng Độ, rồi đề nghị ông ta nhận lời làm người lãnh đạo GHPGVNTN . Và điều không ngoài dự đoán của nhiều người đối với ông thầy tu nhưng rất khoái chức tước, quyền lực, tháng 10/2003 ông Quảng Độ trao quyền quyết định cho Võ Văn Ái đứng ra tổ chức một đại hội bất thường của “GHPGVNTN hải ngoại” tại Mỹ. Mục đích đại hội này nhằm đưa ông Quảng Độ lên ghế “Tăng thống”. Đổi lại, ông Quảng Độ cho Võ Văn Ái toàn quyền sắp xếp nhân sự của Viện Tăng thống và Viện Hóa đạo tại hải ngoại, đồng thời còn có quyền là “người phát ngôn của giáo hội” được ban hành “thông điệp” từ trong nước đến các GHPGVNTN ở nước ngoài . Cho nên Ái mô tả, thêm bớt, vẽ vời thế nào thì các “đệ tử” cứ theo đó mà làm. Ngược lại hầu hết các thông tin, thông điệp, giáo chỉ từ trong nước đến được với các GHPGVNTN ở hải ngoại cũng là qua Ái. Cho nên Ái đã mặc tình thao túng cả GHPGVNTN. Do vậy, Thượng Phối Sư Thông Trần từng nhận xét rằng: “Võ Văn Ái không khéo sẽ biến Thích Quảng Độ thành… nài ngựa!” là vậy. Bộ mặt thật của Võ Văn Ái là chỉ vì bạc tiền danh vọng mà trở thành tay sai đắc lực của ngoại bang nhằm thực hiện diễn biến hòa bình để rồi gây ra hận thù chia rẽ Phật giáo Việt Nam , Và tất nhiên cái vỏ bọc đấu tranh cho nhân quyền, tự do tôn giáo chỉ là phương tiện để Võ Văn Ái kiếm Fund(tiền tài trợ) của các tổ chức ngoại bang chống Việt Nam và moi tiền bà con người Việt ở hải ngoại .Trước đây dư luận trong cộng đồng khi đề cập đến vấn đề tài chánh thì bao giờ Võ Văn Ái cũng tìm đủ mọi cách tránh né , phủ nhận là ông ta không bao giờ ăn tiền của ai: “Tôi làm những chuyện không công, chẳng có lương bổng gì hết, do vậy mà chư tôn đức tăng ni, phật tử cho bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu mà không đòi hỏi, để lo cho cơ sở Quê Mẹ” ?. Ngày 26-9-2012 Võ văn Ái thể hiện là kẻ ôm chân ngoại bang một cách trơ trẽn nhất đó là viết thơ cho tổng thống Pháp Francois Hhollande yêu cầu Tổng Thống nhân danh nước Pháp lên tiếng can thiệp cho các bloggers vi phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam như Điếu Cày, Phan Thanh Hải, Tạ Phong Tần và ký giả Hoàng Khương ?. Võ văn Ái đã lếu láo vu khống một cách trắng trợn rằng nhà nước Việt Nam đối xử với người dân trong nước “họ bị tù đày trên lãnh thổ họ như trong một nhà tù…” ? Xin hỏi ông Ái rằng hàng năm có trên nửa triệu người Việt từ hải ngoại về thăm cái mà ông gọi là “nhà tù” thì nhận xét của họ như thế nào ? kiều hối bà con gởi về “nhà tù” là 12 tỷ đô la trong năm qua thì ông có lý giải gì cho thỏa đáng với những lời vu khống vô căn cứ của ông ? Vẫn chưa hết ông Ái còn cao giọng : “Nhân danh Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam, xin được nói lên mối âu lo trước muôn nghìn hành động đàn áp của nhà cầm quyền Việt Nam tiếp tục đàn áp Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trong âm thầm nhưng thường trực.” ?. Khi đọc những cái gọi là “thông cáo” “kiến nghị”.. mà Võ Văn Ái nhào nặn thì những người Việt có tấm lòng với quê hương đất nước không khỏi phải phì cười về sự lố bịnh đến nham nhở của ông ta .Theo như tôi được biết Việt Nam hiện nay tôn giáo phát triển hơn bao giờ hết , đồng bào ở hải ngoại về thăm quê hương hàng năm đều nhận thấy sự đổi khác đang diễn ra từng ngày, nhà thờ, chùa chiềng được xây dựng mới khang trang lộng lẫy, vào các ngày lễ lớn nhà thờ, chùa chiềng, miếu mạo tấp nập vui như trẩy hội niềm vui hiên trên nét mặt của mọi người .Nhà nước Việt Nam hiểu rằng tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo là tôn trọng niềm tin, nghi thức thờ phượng, những sinh hoạt tôn giáo phù hợp với giáo lý với truyền thống văn hóa dân tộc là góp phần nâng cao đạo đức, nhân cách của con người chứ không chấp nhận những hành vi lợi dụng, hoặc đội lốt tôn giáo để làm những điều trái pháp luật, phản văn hóa đi ngược lại điều răn dạy của chúa, phật, thánh , thần và những yêu cầu chính đáng của đồng bào theo các tôn giáo.
Nói tóm lại những kẻ như Võ Văn Ái chỉ vì mục đích phô trương bản thân, trục lợi chính trị can tâm làm tay sai cho các thế lực thù địch chống Việt Nam để moi rút tiền bạc cho bản thân mình , những khẩu hiệu “dân chủ, nhân quyền” chỉ là tấm áo khoác để lừa bịp. Nhân bài viết này tôi cũng muốn nhắn gởi cho những ai ở trong nước cũng như bà con trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại hãy cảnh giác với những kẻ “ma đầu” như Võ văn Ái đừng để cho bọn chúng lợi dụng trở thành công cụ chống phá đất nước, đi ngược lại lợi ích của dân tộc mình.
Ngày 6-12-2012

Nhân kỷ niệm ngày Nhân Quyền Quốc tế 10-12- 2012. Những tổ chức phi chính phủ liền bắt nhịp theo kiểu “theo đóm ăn tàn”như Ủy Ban Bảo vệ các Ký Giả (Committee to Protect Journalists – CPJ) có trụ sở tại New York (Hoa Kỳ). Tổ chức này cùng dàn “hòa tấu” với các mõ làng như VOA, BBC, RFA,RFI , cùng với các tổ chức của cái gọi là bảo vệ quyền làm người Việt Nam (vietnam commitee on human rights), liên đoàn quốc tế nhân quyền(FIDH, International Federation for human Rights), Tổ chức quan sát nhằm bảo vệ người đấu tranh cho nhân quyền ( The obsevatory for the protection of human rights defenders)…không có thiện cảm với Việt Nam trong suốt thời gian qua đã công bố cái gọi là “phúc trình” về tình hình tự do báo chí và tình trạng đàn áp ký giả diễn ra khắp nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Hơn thế, CPJ còn đưa ra nhiều luận điệu xuyên tạc về tình hình báo chí, đặc biệt là hoạt động internet, blog ở Việt Nam. xếp hạng Việt Nam nằm trên danh sách các nước đàn áp mạnh bạo nhất các nhà báo và bloggers độc lập.

 CPJ - Công cụ xuyên tạc Việt Nam của Mỹ
Ngày 14-12-2012 “Mõ làng” VOA việt ngữ có cuộc phỏng vấn với ông Shawn Crispin, Đại diện cấp cao của CPJ ở Đông Nam Á. Ông này là tác giả của “phúc trình” nghiên cứu tình hình tự do báo chí ở Việt Nam.Theo CPJ, đa số các nhà báo tại Việt Nam bị bỏ tù vì tội danh chống nhà nước liên quan tới các bài viết về các vấn đề chính trị “nhạy cảm” như quan hệ Việt-Trung và cách chính quyền hành xử với cộng đồng Công giáo ?
Trong bản “phúc trình” , CPJ xếp Việt Nam hạng thứ 6 trên danh sách của CPJ, liệt kê 10 nước bỏ tù nhiều nhà báo nhất thế giới nhóm các nước mà họ gọi là “tấn công, đàn áp báo giới”. Tổ chức này cho rằng, cơ sở của nhận định đó là trong năm qua, Việt Nam đã “đàn áp nhiều ký giả, những người viết nhật ký trên mạng (tức blogger)”, “vô cơ bắt giam một số phóng viên” ? rằng, “Việt Nam ngăn chặn mọi trang web và những tài liệu trên mạng” .Trong danh sách các nước bỏ tù nhiều ký giả nhất trên thế giới, Việt Nam hiện đứng thứ sáu, với 14 nhà báo đang bị giam cầm trong đó có 13 người là báo mạng ?.
Theo ý kiến của tôi đây là những đánh giá hoàn toàn mang tính chủ quan, định kiến về tình hình báo chí cũng như hoạt động của các nhà báo Việt Nam . Như chúng ta biết cùng với nghĩa vụ khi tham gia ký kết các công ước quốc tế, mỗi quốc gia, dù theo hệ thống luật lục địa hay luật án lệ đều có các quy định về hành nghề báo chí, hoặc dưới dạng đạo luật của quốc gia hoặc các quy chế hoạt động do tổ chức nghề nghiệp đưa ra. Những quy định này luôn phản ánh các giá trị văn hóa, xã hội và chính trị của quốc gia đó.
Hầu hết các quốc gia thể chế hoá quyền tự do thông tin và đưa thông tin trong những văn bản mang tính chất pháp lý cao nhất (hiến pháp) và văn bản luật thành văn trong đó có Việt Nam. Một số quốc gia đưa các chế định về bảo vệ nhà báo, nghề báo vào trong Bộ luật hình sự. Luật báo chí của Việt Nam cũng khẳng định quyền của nhà báo được thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới, phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân, đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật, các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, và được pháp luật bảo hộ trong hoạt động nghề nghiệp. Quyết định này được ban hành theo quy định của pháp luật về báo chí Việt Nam và thực tế phát triển thông tin hiện nay Chính phủ Việt Nam ban hành quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí, hay như việc Nhà nước Việt Nam quản lý báo chí bằng Luật, hoàn toàn không phải là sự cản trở quyền tự do báo chí của người dân, cũng như hoạt động báo chí của các nhà báo. Báo chí và hoạt động báo chí ở Việt Nam luôn luôn vì sự phát triển của đất nước và cuộc sống ngày càng đầy đủ hơn cả về vật chất và tinh thần. Không hiểu các vị ở CPJ có biết được hay cố tình “lãng quên” những con số thống kê sau ở Việt Nam với hơn 550 cơ quan báo chí, với hơn 700 ấn phẩm báo chí với các loại hình, từ báo viết, báo nói, báo hình đến Internet, hiện nay, mỗi người dân được thụ hưởng tới 7,5 tờ báo. Với sự phát triển nhanh chóng trong nhu cầu được thông tin mà không gặp bất cứ một sự trở ngại nào. Đó chính là biểu hiện sinh động của tự do báo chí ở Việt Nam, thể hiện quyền tự do ngôn luận của mỗi người dân.
Việc CPJ và một số phương tiện truyền thông kiểu “mõ làng” phương Tây đã cố tình thêu dệt bức tranh “u ám” về báo chí ở Việt Nam, một lần nữa thể hiện sự thiếu thiện chí và định kiến của họ về tình hình phát triển của báo chí Việt Nam. Nền báo chí cách mạng Việt Nam hoạt động vì sự phát triển và phồn vinh của đất nước, Luật Báo chí Việt Nam khẳng định, báo chí không chỉ phản ánh trung thực tình hình phát triển của đất nước, thế giới, mà còn là diễn đàn tin cậy của người dân. Trong khi đó, với môi trường bùng nổ thông tin như hiện nay, không phải tất cả mọi nguồn thông tin về những sự kiện quan trọng của xã hội đều chính xác. Hơn thế nữa còn có cả những thông tin sai lệch, trái với bản chất của sự việc, do trình độ của người của nhà báo, thậm chí vì cả những toan tính chính trị không trong sáng. Mới đây TAND thành phố Hồ Chí Minh xét xử các bị cáo là blogger Nguyễn văn Hải (còn gọi là điếu cày), Tạ phong Tần, Phan thanh Hải (anh ba saigon) với tội danh “tuyên tryền chống nhà nước CHXHCNVN theo khoản 2 điều 88, BLHS. Theo cáo trạng chỉ trong thời gian từ tháng 9-2007 đến tháng 10-2010 đã có 421 bài đăng tải trên cái gọi là CLB nhà báo tự do này, trong đó có 327 bài lấy từ các blog, trang Web của các tổ chức CCCĐ ở hải ngoại, có 26 bài chứa nội dung kích động lật đổ chế độ Việc viết bài trên các blog, mạng xã hội có nội dung xuyên tạc vu cáo, chống chính quyền là vi phạm luật pháp việt Nam. ngay tại mỹ nơi được mệnh danh là “thiên đường tự do” thì luật pháp của các tiểu bang quy định rất rõ về vấn đề này và đã không ít người đã bị bắt và xử lý. Vậy thì các ngài ở CPJ nói “đàn áp” blogger ở điểm nào ? Xin thưa với các vị CPJ rằng : Ở Việt Nam, số người dùng mạng xã hội đang tăng lên nhanh chóng. Theo một thống kê mới nhất, trong số đối tượng 18 tuổi trở lên có tài khoản mạng xã hội thì: 43% dân số có một tài khoản, 25% có hai tài khoản, 13% có bốn tài khoản trở lên. Theo số liệu từ DoubleClick Ad Planner(1), trong tháng 1-2012, lượng người dùng Internet tại Việt Nam là 23 triệu (chiếm26% dân số Việt Nam)và lượt xem là 18,4 tỉ. Về mạng xã hội tại Việt Nam, Zing Me (me.zing.vn) có lượng người dùng cao nhất (8,2 triệu), thời gian truy cập nhiều nhất (1 tỉ phút) và lượt xem 540 triệu. Đứng thứ hai là Facebook.com với 5,6 triệu người dùng, thứ ba là yume.vn (2,2 triệu người dùng), thứ tư là tamtay.vn (1 triệu người dùng). Theo Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử (Bộ Thông tin và Truyền thông), công cụ tìm kiếm và mạng xã hội là hai dịch vụ được hàng chục triệu người dùng internet sử dụng rộng rãi nhất (100% sử dụng tìm kiếm, 80% sử dụng mạng xã hội). Tính đến tháng 3 năm 2012, trong lĩnh vực thông tin điện tử, Việt nam có 61 báo, tạp chí điện tử, 191 mạng xã hội, hơn 1.000 trang thông tin điện tử tổng hợp. Sự tương tác giữa các loại hình thông tin này đang diễn ra vô cùng sôi động. Ở Việt Nam hay nhiều quốc gia khác trên thế giới việc thông tin trên Internet đều phải tuân thủ những quy định, nguyên tắc cụ thể, các thông tin đăng tải phải bảo đảm tính khách quan, chính xác. Các thông tin xuyên tạc, bịa đặt, thóa mạ cá nhân, tổ chức tất nhiên đều là phạm pháp và đương nhiên người vi phạm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Các vị lãnh đạo CPJ có biết rằng: Mặc dù Hoa Kỳ không có một bộ thông tin mà lại để các hệ thống truyền thông và truyền hình tư chủ động làm công việc trên căn bản tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, theo mức độ tự kiểm và lương tâm nghề nghiệp. Người làm báo, truyền thông và truyền hình tại Hoa Kỳ và các nước tự do trên thế giới khi có nhiều quyền hành và thế lợi thì cũng có nhiều trách nhiệm và bổn phận, nhất là về mặt thủ tục nghề nghiệp trọng hiến pháp, trọng pháp luật và về mặt luân lý xã hội, tôn trọng công lý, lẽ phải và lý tưởng nhân đạo. Do đó, thế lực của báo chí truyền thông còn phải tương xứng với sứ mạng đăng tải tin tức xác thực, thông tri kiến thức, và phổ biến những điều cần biết để người dân tìm hiểu và chọn lựa thái độ liên hệ với thời cuộc. Nhờ vậy, báo chí truyền thông có bề thế gây ảnh hưởng sâu sắc trên dư luận quần chúng . Ngay tại Hoa Kỳ báo chí phải tuân theo hiến pháp và luật pháp hiện hành quy định tự do tin tức (Freedom of Information Act) để thi hành nghiệp vụ phóng sự, điều tra và phổ biến sự thật 

Báo chí khi loan tin tức thất thiệt với dụng ý khai thác, trục lợi, sẽ mất quyền tự do ngôn luận (unprotected speech) và sẽ bị chế tài. Thật vậy, toà soạn, phóng viên, và người đăng tin thất thiệt có thể bị liên đới về mặt trách nhiệm dân sự, nếu họ chủ tâm đăng tải hoặc tái đăng những tin tức có tính cách mạ lỵ, phỉ báng, sai sự thật. Vì thế nhà báo phải thận trọng kiểm soát bài vở đăng tải, phải kiểm chứng tài liệu và nguổn gốc tin tức sử dụng.
Truy cập Internet với vô số thông tin nó có thể là những thông tin hay, chính xác, thông tin có giá trị nhưng cũng có thể là tin rác, hoặc chỉ là những thông tin thất thiệt, thiếu sự kiểm chứng. Không loại trừ, trong số đó có cả bàn tay của những thế lực chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc của nhân dân Việt Nam.Như vậy,báo chí truyền thông được xác định bởi sứ mạng gìn giữ truyền thống dân chủ hiến định, đồng thời bởi nghiệp vụ tôn trọng sự thật và phục vụ giá trị nhân bản của người dân, của độc giả. Nếu không tôn trọng giá trị hiến pháp, nếu không bênh vực mẫu mực dân chủ và lý tưởng nhân đạo, báo chí sẽ đi ngược lại với công lý và lẽ phải, sẽ lầm lẫn và gây ảnh hưởng rối loạn nơi quần chúng.Trên thực tế, bên cạnh một số trang mạng xã hội được cấp phép ở Việt Nam, một số thế lực thù địch lợi dụng internet đã dùng thủ đoạn xây dựng các trang web, đặt máy chủ ở nước ngoài, đăng tải các thông tin, luận điệu phản động, sai trái, kích động, trái thuần phong mỹ tục… nhằm chống phá Nhà nước Việt Nam. Những thế lực này, với tư cách thành viên của các trang mạng xã hội, đưa lên mạng những lời lẽ bình luận không khách quan hoặc thông tin sai sự thật, thậm chí bịa đặt, nhằm gây nhiễu loạn thông tin, bôi nhọ hình ảnh, nói xấu chế độ.
CPJ đưa ra quan điểm rằng những việc làm của các bị cáo trên là “bất bạo động”, là “bàn luận tự do” trong một xã hội dân chủ. Xin nói cho các vị biết rằng, qua tài liệu có được của cơ quan điều tra thu thập thì những phần tử này đã có hành vi xâm phạm an ninh quốc gia. Hành động có tổ chức chặt chẽ, có sự phân công nhiệm vụ cụ thể, có sự cấu kết, móc nối với các tổ chức phản động người Việt Nam lưu vong chống cộng cực đoan nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Họ tàng trữ, tán phát nhiều tài liệu có nội dung xuyên tạc, chống Nhà nước Việt Nam rồi đưa lên mạng nhằm kích động, gây nghi ngờ, làm mất lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của nhà nước. Ngay tại Hoa Kỳ báo chí được mệnh danh là đệ tứ quyền ( chỉ đứng sau lập pháp, hành pháp, tư pháp) phải luôn luôn là của dân, bởi dân, vì dân (Of the People, By the People, For the People). Nhưng dù hoạt động ở bất cứ dạng nào, bất cứ ở đâu, do bất cứ lực lượng nào đảm trách thi hành, đệ tứ quyền nếu muốn giữ đúng sứ mạng và khả năng tồn tại vẫn phải tôn trọng những tiêu chuẩn căn bản về tự do ngôn luận, phẩm giá nhân bản, công lý và nhân ái. Bởi vậy để hạn chế những thông tin tiêu cực, xấu, ở Việt Nam và ngay cả nhiều quốc gia khác, cũng phải có những biện pháp để ngăn chặn. Điều này thể hiện trách nhiệm của nhà nước đối với việc bảo vệ chế độ, bảo vệ những giá trị văn hóa, truyền thống của dân tộc. Có những phóng viên đã đưa những thông tin sai sự thật và có những hành vi vi phạm pháp luật và vi phạm Luật báo chí. Những phóng viên này, vì thế, phải chịu những hình phạt của luật pháp . Đó là thể hiện tính nghiêm minh của Nhà nước pháp quyền và sự quản lý báo chí bằng pháp luật ở Việt Nam, không phải là cản trở những hoạt động báo chí của các nhà báo.Thông tin của báo chí không chỉ tác động đến một, hai người mà cả triệu người. Những thông tin thiếu trung thực, kiểu giật gân, thiên lệch, thiếu tính xây dựng… gây ảnh hưởng rất lớn đến xã hội.Người làm báo phải xác định trách nhiệm xã hội, trách nhiệm công dân của mình. Mọi quy định, quy ước chỉ nhằm việc tôn trọng pháp luật. Vì thế, trước hết các nhà báo hãy thực hiện đúng, đầy đủ những quy định pháp luật về hoạt động báo chí. Việc CPJ coi những biện pháp chính đáng và cần thiết đó là sự tấn công, đàn áp bỏ tù các nhà báo, blogger là hoàn toàn sai trái không mang tính thuyết phục. Vì thế, chúng ta có quyền nhận định rằng, CPJ đã đi ngược lại với tiêu chí của mình, là “khách quan, tôn trọng sự thật” vì sự phát triển của báo chí của Việt Nam và các nước trên thế giới.
Hoa Kỳ 16-12-2012

Phía sau các ‘giải thưởng nhân quyền’

Ngày nay, nhân quyền đang trở thành một vấn đề tranh luận “nóng bỏng” giữa một số nước muốn áp đặt những quan niệm và sử dụng như một cái cớ để gây sức ép với những nước không chấp nhận sự chi phối và sự can thiệp từ bên ngoài.

Sự khác biệt trong quan niệm về nhân quyền là do nhiều nguyên nhân khác nhau về văn hóa, xã hội, nhân sinh, đặc biệt là từ sự lựa chọn các giá trị riêng có vai trò định hướng cho quá trình phát triển của mỗi quốc gia. Ðây cũng là một số trong nhiều lý do làm cho sách lược “lưỡng chuẩn về nhân quyền” của Mỹ và phương Tây bị nhiều nước lên án như là sự áp đặt để đạt tới những mục đích kinh tế, chính trị, tôn giáo…

Khi đánh giá nhân quyền, phải xem xét từ những thành tựu mà mỗi Nhà nước đã đem lại cho nhân dân của mình. Không thể nấp dưới chiêu bài nhân quyền để ngạo mạn đánh giá thành tích nhân quyền, từ đó tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác. Áp đặt về nhân quyền để đạt những mục đích kinh tế, chính trị, tôn giáo, đó là điều mà giới tri thức phương Tây từng thừa nhận. Noam Chomsky – một học giả của Mỹ viết: “Thật ra chính sách ngoại giao của Mỹ là đặt căn bản trên nguyên tắc không liên quan gì đến nhân quyền, mà là liên quan nhiều đến sự tạo ra một bầu không khí thuận lợi cho ngoại thương”. Lịch sử cũng đã và đang minh chứng, chưa bao giờ các quốc gia phương Tây đứng đầu là Mỹ, lại tỏ ra tôn trọng nhân quyền ở các nơi khác trên thế giới. Bởi thế, bất chấp việc chưa có một khái niệm thống nhất về nhân quyền trên thế giới, thì tiêu chí về nhân quyền đã và đang được Mỹ cùng các quốc gia phương Tây khai thác từ bản Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền được Liên hợp quốc thông qua ngày 10-12-1948. Nhưng kể cả khi vận dụng Tuyên ngôn này, họ vẫn cố tình lờ đi Ðiều 29 của Tuyên ngôn và một số điều khoản trong hai bản Giao ước quốc tế về quyền dân sự và quyền chính trị; Giao ước quốc tế về những quyền kinh tế – xã hội và văn hóa đã được Ðại hội đồng Liên hợp quốc chấp thuận ngày 6-12-1966, trong đó có một số quy định chỉ rõ các quyền cơ bản của con người đều chịu “sự hạn chế do luật pháp đặt ra”.

Hằng năm, tự đặt mình ở cương vị phán xét người khác, Mỹ lại đưa ra những bản phúc trình về tình trạng nhân quyền, tự do tôn giáo của các quốc gia khác, trừ Mỹ, và đều bị các nước liên quan phản đối kịch liệt.

Những cuộc xung đột đó sẽ còn dài và một trong những phương tiện đang được sử dụng trong cuộc chiến nhân quyền ấy là: trao giải thưởng nhân quyền. Ðến ngay cả giải thưởng Nobel hòa bình – một giải thưởng mà người sáng lập ra nó đặt tiêu chí là trao giải cho “người có cống hiến to lớn cho tình hữu nghị giữa các quốc gia, cho việc giải trừ hoặc hạn chế các lực lượng vũ trang và việc tổ chức hay xúc tiến các hội nghị hòa bình”, tưởng như chẳng dính dáng gì mấy tới cuộc xung đột nhân quyền, cũng đang bị biến dạng. Không ít học giả quốc tế nhận xét, Nobel hòa bình “đã chệch xa khỏi sứ mệnh ban đầu của mình”. Tác giả Ronald R.Krebs – Phó Giáo sư Khoa học Chính trị tại Ðại học Minnesota, Hoa Kỳ trên Tạp chí Foreign Policy đánh giá: “Từ 1971 đến 2008, các nhà bất đồng chính kiến được nhận giải tới 10 lần… giải thưởng của họ không đồng nghĩa với những đóng góp đáng kể vào hòa bình trong nước và quốc tế”.

Việt Nam không phải là ngoại lệ. Chưa bao giờ, việc trao các loại giải thưởng nhân quyền cho những người được gọi là “nhà bất đồng chính kiến bị chính quyền đàn áp” trong nước lại “nhộn nhịp” như mấy năm gần đây. Tính sơ sơ đã có gần chục loại giải thưởng nhân quyền được trao cho các đối tượng chống Nhà nước Việt Nam, như “giải thưởng Hellman/Hammet” của tổ chức Quan sát nhân quyền quốc tế (HRW); “giải thưởng Stephanus” của Hiệp hội quốc tế nhân quyền tại Ðức; “giải thưởng quốc tế Gruber” của Nghiệp đoàn luật sư quốc tế; “giải nhân quyền Gwangju”; giải thưởng nhân quyền của “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam”,… Với một số giải thưởng khác, như “giải thưởng nhân quyền Sakharov” của Quốc hội châu Âu; giải thưởng Nobel hòa bình, Nobel văn chương… tuy chưa có cá nhân nào là người Việt Nam được nhận, nhưng một số “nhân vật” đã được đưa vào danh sách đề cử như: Thích Quảng Ðộ, Nguyễn Văn Lý, Dương Thu Hương…

Vậy những “giải thưởng nhân quyền” ấy có biểu lộ chút giá trị nào như tên gọi không? Ðiểm mặt một số cá nhân được các tổ chức nọ “vinh danh”, sẽ thấy ngay bản chất của các loại giải thưởng này. Lê Thị Công Nhân, người được nhiều “giải thưởng nhân quyền” nhất, chỉ được biết đến sau khi Tòa án kết tội “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Trong vài năm liền, hầu như năm nào, nhân vật này cũng được các tổ chức chống phá chính quyền Việt Nam trao giải thưởng: năm 2007 là giải thưởng của “mạng lưới nhân quyền Việt Nam”; năm 2008 là “giải nhân quyền Gwangju”. Năm 2009 là “giải thưởng quốc tế Gruber” và năm 2010 là “giải thưởng Stephanus”. Lý do trao giải không có gì khác, ngoài việc kích động Lê Thị Công Nhân ngày càng liều lĩnh chống chính quyền như con thiêu thân. Ðáp lại sự “lăng-xê” của các tổ chức này, Lê Thị Công Nhân không ngại nói năng xằng bậy, cho rằng cả dân tộc Việt Nam “mê muội” và “cuồng tín”, kích động quần chúng phải đứng lên lật đổ chính thể hiện hành, ca tụng các hành động khủng bố điên cuồng của Lý Tống, kể cả hành động cướp máy bay xâm nhập lãnh thổ Việt Nam để rải truyền đơn…

Kế đến là Nguyễn Văn Lý, người có “thâm niên” đi tù nhiều lần vì các tội danh chống chính quyền nhân dân từ những năm 1977. Ðó là người hễ mở miệng ra là kêu gọi lật đổ chế độ, kích động chống Nhà nước, kêu gọi nước ngoài cấm vận, đề nghị đưa Việt Nam vào danh sách CPC (các nước cần quan tâm đặc biệt về vấn đề Tôn giáo), không cho Việt Nam vào WTO, tẩy chay bầu cử Quốc hội và Ðại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội…, toàn những việc làm phi pháp; phản dân, hại nước.

Thứ nữa là những kẻ như Trần Khải Thanh Thủy, kẻ “nổi tiếng” với thành tích lừa phỉnh dân khiếu kiện và lập ra “hội dân oan” để “kinh doanh” kiếm lời, rồi có hành vi côn đồ hung hãn, đánh người gây thương tích… Không phải ngẫu nhiên mà người ta lại dùng cái hỗn danh “Trần Khải Ma Quỷ” để đặt cho Trần Khải Thanh Thủy. Hay Nguyễn Khắc Toàn, trình độ tư duy quá thấp kém nhưng bằng cái tài lưu manh làm cho đồng bọn phải kinh hãi, như thủ đoạn “triệt hạ” Trần Khải Thanh Thủy để chiếm lấy món lợi “dân oan”, khiến kẻ thân tín là Hồ Thị Bích Khương bỏ chạy “tháo thân” bằng những bài viết tố Nguyễn Khắc Toàn trên Internet v.v. Ðiểm qua vài gương mặt được nhận các “giải thưởng nhân quyền” đã đủ thấy tiêu chí của các giải thưởng này rất cụ thể là: càng chống chính quyền cực đoan thì càng nhận được nhiều giải thưởng! Hoàn toàn trái ngược với những căn cứ được nêu trong các văn bản quốc tế về nhân quyền.

Xét đến công cụ trao giải, trước tiên phải kể đến “mạng lưới nhân quyền Việt Nam” gồm những kẻ chống phá Nhà nước Việt Nam đã có thâm niên, như Nguyễn Thanh Trang, Võ Văn Ái, Nguyễn Tường Bách, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Minh Cần, Ðoàn Viết Hoạt, Nguyễn Hữu Lễ, Phạm Ngọc Lũy, Nguyễn Quốc Quân, Nguyễn Chí Thiện… Mạng lưới này được lập ra từ năm 2002, với hàng loạt các hoạt động “chống cộng”, và “giải thưởng nhân quyền” được trao theo kiểu xếp hàng, lần lượt được trao cho các đối tượng có hoạt động tuyên truyền hoặc mưu đồ lật đổ Nhà nước Việt Nam như: Trần Anh Kim, Ðỗ Nam Hải, Nguyễn Chính Kết, Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Khắc Toàn…

Còn các tổ chức trao giải nhân quyền quốc tế khác, thì từ khâu xét chọn đến trao giải, đều có vai trò tích cực của các cá nhân, tổ chức thù địch với Nhà nước và nhân dân Việt Nam, như: “Việt Tân”, “tập hợp dân chủ đa nguyên”, “cao trào nhân bản”… Nổi bật là tổ chức Quan sát nhân quyền quốc tế (HRW) với “giải thưởng Hellman/Hammet” mà tiền thân là tổ chức Helsinki để “giám sát” dân chủ, nhân quyền của Liên Xô (cũ), sau này được bành trướng, mở rộng thành một tổ chức tự phong cho mình quyền giám sát nhân quyền thế giới! Sự thật là những đối tượng được HRW trao “giải thưởng Hellman/Hammet” đều là các công dân Việt Nam vi phạm pháp luật. Nhìn khung cảnh những buổi lễ trao giải của HRW, không ai có thể nhận xét khác được về vai trò tích cực của các cá nhân, tổ chức mà ta gọi là bọn phản động lưu vong người Việt. “Giải thưởng Hellman/Hammet 2010” được trao cho sáu đối tượng người Việt thì trong đó có bốn đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật, hiện đang là phạm nhân trong các trại cải tạo.

Không có gì ngạc nhiên khi đứng sau mỗi giải thưởng nhân quyền ấy đều có hình bóng trực tiếp hoặc gián tiếp điều hành của một số nước phương Tây và đồng minh. Việc khai thác chiêu bài bảo vệ nhân quyền để ép buộc những quốc gia có chủ quyền khác vẫn không ngoài tham vọng điều hành thế giới. Trước xu thế phản đối quan điểm nhân quyền cưỡng chế của Mỹ và phương Tây (thể hiện trong Hội nghị Quốc tế Nhân quyền ở Vienna năm 1993 và nhiều diễn đàn, hội nghị khu vực, quốc tế khác), việc đẩy mạnh hình thức trao “giải thưởng nhân quyền” chỉ là màn kịch vụng về trên sân khấu chính trị hải ngoại, ngày càng phơi bày bộ mặt chống phá Nhà nước Việt Nam của các thế lực thù địch và những kẻ phản động lưu vong.

Theo NHÂN DÂN ONLINE

DÂN: ĐỪNG KHÓC HỘ TÔI

Chào anh “dân chủ”
Chào các chị “tự do”
Chào các em đang ngày đêm tranh đấu “nhân quyền”

Tôi là Dân
Là “dân đen” mà các anh bình thường vẫn gọi
Là “dân hèn” mà các chị vẫn gọi thân thương

Mấy nay bận rộn đủ đường
Giờ nét về bản mới lên tường hàn huyên
Số là cái bệnh kinh niên
Tôi thường sổ mũi, liên miên hắt xì
Hỏi thăm bác sỹ: chuyện gì ?
Thì ra anh chị thầm thì nhắc tên
Anh rằng: “Dân nó kêu rên”
Chị rằng: “Dân nó cái mền cũng không
Sông kia nước chảy thành dòng
Dân kia nước mắt lưng tròng chảy ra”

Ủ ÔI !
Anh ở đâu, khi tôi tất bật ngoài đồng
Chị ở đâu, khi tôi vất vả gánh gồng trên vai

Tối biết:
Anh ôm bàn phím canh hai
Chị ngồi láp tóp khoan thai “khóc thầm”

Tôi cũng biết:
Anh “thương” tôi, phím Vờ (V) hết đậm
Chị “khóc” tôi, thấm đẫm cả màn hình

Nhưng sao sự thật rất kinh
Mồ hôi tôi chảy thật tình chẳng vơi
Không thêm một phút thảnh thơi
Không thấy cơm nấu hàng ngày đầy thêm

Nay xin:
Xin anh đừng có yếu mềm
Xin chị đôi mắt biết kiềm nước nôi
Từ nay anh chị hãy thôi
Đừng khóc hộ nữa, Dân tôi hắt xì.

Phờ Rom Dân Vít Lớp

[https://www.facebook.com/hoighetphandong]
Tựa đề mới do kenminhthien.net đặt

Bài viết hôm nay sẽ hướng dẫn các bạn cách sử dụng phần mềm diệt virus Norton Internet Security 2013 có bản quyền chính hãng trong 180 ngày.

Norton Internet Security 2013 boxshot

Symantec đã chính thức phát hành Norton 2013 vào ngày 04/09/2013 với 3 sản phẩm chính là: Norton Antivirus 2013, Norton Internet Security 2013, Norton 360 v20. Bạn đọc hãy tham khảo bài viết dưới đây để có thể sử dụng miễn phí Norton Internet Security 2013 lên đến 180 ngày.

Đầu tiên chúng ta hãy điểm qua một số điểm mới trong phiên bản 2013 này:

  • Hỗ trợ Windows 8: Norton 2013 hỗ trợ Windows 8 và Windows 8, một số cải tiến bên trong giúp phiên bản này chạy nhay ổn định hơn các phiên bản cũ
  • Smart Firewall: tường lửa trong Norton 2013 đã được kết hợp với điện toán đám mây để có lựa chọn phù hợp nhất đối với những ứng dụng mạng.
  • Tích hợp sẵn Norton Power Eraser.
  • Norton Safe Web for Facebook: quét “tường nhà” Facebook để tìm những liên kết độc hại, đường dẫn đến những website không an toàn.
  • Norton Identity Safe: Ghi nhớ, tự động điền thông tin đăng nhập vào các website.

Yêu cầu hệ thống:

  • Windows XP SP2 hoặc cao hơn, Windows Vista SP1 hoặc cao hơn, Windows 7, Windows 8/Windows 8 Pro
  • RAM: 256MB
  • Ổ cứng còn trống trên 300MB

Sau đây là hướng dẫn để có thể sử dụng phần mềm diệt virus Norton Internet Security 2013 hoàn toàn miễn phí trong 180 ngày:

  • Download Norton Internet Security Netbook Edition (OEM), tại đây hoặc đây
  • Tiến hành cài đặt bình thường, sau khi cài đặt hoàn tất ứng dụng sẽ yêu cầu bạn đăng nhập hoặc đăng ký  một tài khoản Norton để quản lý bản quyền.

Norton Internet Security Netbook Edition screenshot

Activation - Norton Account

  • Sau khi đăng nhập/đăng ký tài khoản hoàn tất, bạn hãy download bộ cài đặt Norton Internet Security 2013 tại đây, và tiến hành cài đặt.
  • Quá trình cài đặt diễn ra nhanh và bạn sẽ cần khởi động lại máy. Bây giờ, bạn đã có 180 ngày sử dụng hoàn toàn miễn phí.

Norton Internet Security 2013 - 180 days FREE
Bên cạnh đó, bạn đọc cũng có thể dùng thử Norton Antivirus 2013 và Norton 360 v6 trong 60 ngày, hãy tải bộ cài theo liên kết dưới đây:
Norton Antivirus 2013 | Norton 360 v20

 

[Nguồn:afublog]

Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam giai đoạn 1975 – 1991

 

Kể từ tháng 4-1975, Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tiếp quản toàn bộ quần đảo Trường Sa và các đảo khác trên Biển Đông.

Sau đó, nước Việt Nam thống nhất với tên gọi Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN), với tư cách kế thừa quyền sở hữu các đảo và quần đảo từ các chính quyền trước theo luật pháp quốc tế và sự liên tục của lịch sử, có trách nhiệm tiếp tục khẳng định và duy trì việc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Cùng với các bản Hiến pháp các năm 1980, 1992, Luật Biên giới quốc gia năm 2003, Tuyên bố của Chính phủ CHXHCN Việt Nam ngày 12-11-1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, Tuyên bố của Chính phủ CHXHCN Việt Nam ngày 12-11-1982 về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam trước sau như một đều khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam, có các vùng biển riêng sẽ được quy định cụ thể trong các văn bản tiếp theo. Trong các năm 1979, 1981 và 1988, Bộ Ngoại giao nước CNXHCN Việt Nam công bố các Sách Trắng về chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các tài liệu này đã chứng minh hết sức rõ ràng chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa về tất cả các khía cạnh lịch sử, pháp lý và thực tiễn.

Xuất phát từ nhu cầu quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ngày 09-12-1982 Hội đồng Bộ trưởng nước CHXHCN Việt Nam ra Nghị định tổ chức quần đảo Hoàng Sa thành huyện đảo Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng và tổ chức quần đảo Trường Sa thành huyện đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Đồng Nai. Ngày 28-12-1982, trong kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa VII nước CHXHCN Việt Nam đã ra Nghị quyết tách huyện đảo Trường Sa ra khỏi tỉnh Đồng Nai để sáp nhập vào tỉnh Phú Khánh (nay là tỉnh Khánh Hòa). Nghị quyết ngày 06-11-1996 kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX nước CHXHCN Việt Nam tách huyện đảo Hoàng Sa ra khỏi tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng cũ, để sáp nhập vào thành phố Đà Nẵng trực thuộc trung ương. Các chính quyền tại hai huyện đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ đó đến nay vẫn liên tục thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ của mình.

Trong suốt thời gian thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ khi thống nhất đất nước đến nay, bên cạnh việc ban hành các văn bản hành chính để quản lý nhà nước về lãnh thổ trên hai quần đảo này, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam đã có nhiều hành động cụ thể, kịp thời nhằm khẳng định chủ quyền và kiến quyết đấu tranh với các thông tin xuyên tạc, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 30-12-1978, người phát ngôn Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam đã ra Tuyên bố bác bỏ luận điệu nêu trong Tuyên bố trước đó của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc về vấn đề quần đảo Trường Sa, tiếp tục khẳng định chủ quyền lâu đời của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhắc lại lập trường của Việt Nam chủ trương giải quyết mọi tranh chấp hoặc bất đồng bằng giải pháp thương lượng hòa bình. Ngày 17-2-1979, Trung Quốc đem quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía bắc, càng khiến cho quan hệ giữa hai nước thêm căng thẳng và tình hình trên Biển Đông càng gia tăng sự phức tạp. Mặc dù ngay sau đó, quân Trung Quốc đã gặp phải sự kháng cự quyết liệt của quân và dân Việt Nam buộc họ phải lui quân và chịu nhiều tổn thất, thế nhưng hậu quả lâu dài do cuộc chiến tranh và sự cắt đứt quan hệ ngoại giao giữa hai nước khiến cho các cuộc trao đổi thương lượng hòa bình về vấn đề biên giới và hải đảo bị gián đoạn trong một thời gian khá dài.

Trong thời gian đó, Trung Quốc liên tục đưa ra các tuyên bố và tài liệu xuyên tạc về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa). Ngày 30-7-1979, Trung Quốc cho công bố tài liệu mà phía Trung Quốc cho là để chứng minh Việt Nam đã “thừa nhận” chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngay sau đó, Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam đã ra Tuyên bố ngày 7-8-1979 bác bỏ sự xuyên tạc trắng trợn của Trung Quốc đối với văn bản ngày 14-9-1958 của Thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tinh thần và ý nghĩa của văn bản này chỉ trong khuôn khổ công nhận giới hạn lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc chứ không hề nói tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên thực tế đang thuộc quyền quản lý tạm thời của chính quyền Việt Nam Cộng hòa phía Nam vĩ tuyến 17 theo Hiệp dịnh Genève năm 1954. Chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam một cách bất hợp pháp bằng vũ lực, Trung Quốc đã xâm phạm vào sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và trái với tinh thần của Hiến chương Liên Hợp Quốc kêu gọi giải quyết tất cả các tranh chấp bằng thương lượng hoà bình. Sau khi phát động một cuộc chiến xâm lược Việt Nam trên quy mô lớn, phía Trung Quốc lại nêu ra vấn đề quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tạo ra tình trạng càng ngày càng căng thẳng dọc theo biên giới phía bắc Việt Nam và từ chối việc thảo luận những giải pháp cấp thiết để bảo đảm hoà bình và ổn định trong khu vực biên giới giữa hai nước.

Ngày 28-9-1979, Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam công bố Sách Trắng đưa ra thêm nhiều tài liệu tiếp tục khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 30-1-1980, Bộ Ngoại giao Trung Quốc công bố văn kiện đòi hỏi chủ quyền ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Tây Sa và Nam Sa) Ngày 5 tháng 2 năm 1980, Bộ Ngoại giao Việt Nam ra tuyên bố vạch trần thủ đoạn xuyên tạc của Trung Quốc trong văn kiện ngày 30 tháng 1 năm 1980 của họ về chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tháng 6 năm 1980, tại Hội nghị Khí tượng Khu vực Châu Á II họp tại Genève, đại biểu Việt Nam tuyên bố trạm khí tượng của Trung Quốc tại Sanhudao (đảo Hoàng Sa của Việt Nam) là bất hợp pháp. Kết quả là trạm Hoàng Sa của Việt Nam được giữ nguyên trạng trong danh sách các trạm thuộc hệ thống quốc tế như cũ. Ngày 13 tháng 6 năm 1980, Việt Nam yêu cầu OMM (Tổ chức Khí tượng Thế giới) đăng ký trạm khí tượng Trường Sa vào mạng lưới OMM. Tháng 12 năm 1981, Tổng cục Bưu điện Việt Nam điện cho Chủ tịch Ủy ban đăng ký tần số tại Genève phản đối việc Trung Quốc được phát một số tần số trên vùng trời Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Tháng 12 năm 1981, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Sách Trắng: “Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, lãnh thổ Việt Nam”. Tháng 6 năm 1982, Tân Hoa Xã loan tin một hải cảng lớn được xây dựng tại đảo Hoàng Sa. Tháng 10, tại Hội nghị Toàn quyền của UIT (Hiệp hội Quốc tế Vô tuyến Viễn thông), Việt Nam tuyên bố không chấp nhận việc thay đổi phát sóng đã được phân chia năm 1978 tại Genève. Ngày 12 tháng 11 năm 1982 Việt Nam công bố đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải? Tháng 1-1983 Hội nghị Hành chính Thế giới về thông tin vô tuyến đồng ý sẽ xem xét đề nghị của Việt Nam về việc phát sóng trên vùng trời Hoàng Sa và Trường Sa tại hội nghị sắp tới. Cũng tháng 01 năm 1983 tại Hội nghị Hàng không Khu vực Châu Á-Thái Bình Dương họp ở Singapore. Trung Quốc muốn mở rộng vùng thông báo bay (FIR) Quảng Châu lấn vào FIR Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, nhưng Hội nghị quyết định duy trì nguyên trạng. Tại Hội nghị Tổ chức Thông tin Vũ trụ Quốc Tế (INTU SAT) lần thứ 13 họp tại Bangkok, đại biểu Việt Nam đã phản đối việc Trung Quốc sử dụng những bản đồ ghi Hoàng Sa, Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa, Nam Sa) là của Trung Quốc. Việt Nam phản đối việc ngày 1 tháng 6 năm 1984 Quốc hội Trung Quốc tuyên bố việc thiết lập khu hành chính Hải Nam bao gồm cả hai quần đảo Tây Sa, Nam Sa. Đầu năm 1985, Đại tướng Văn Tiến Dũng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam ra thăm quần đảo Trường Sa. Tháng 5 năm 1987, Đô đốc Giáp Văn Cương, Tư lệnh Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam ra thăm quần đảo Trường Sa.

Từ 16 tháng 5 đến tháng 10 năm 1987, Hải quân Trung Quốc liên tục diễn tập quân sự tại vùng nam Biển Đông và tây Thái Bình Dương. Ngày 10 tháng 11 năm 1987, Hải quân Trung Quốc đổ bộ lên bãi đá Louisa. Tháng 1 năm 1988, một lực lượng lớn tàu chiến, có nhiều tàu khu trục và tàu tên lửa của Trung Quốc, đi từ đảo Hải Nam xuống quần đảo Trường Sa, khiêu khích và cản trở hoạt động của các tàu vận tải Việt Nam trong khu vực bãi đá Chữ Thập và bãi đá Châu Viên. Quân lính Trung Quốc cắm cờ trên hai bãi đá trên, đồng thời cho tàu chiến thường xuyên ngăn cản, khiêu khích các tàu vận tải Việt Nam đang tiến hành những hoạt động tiếp tế bình thường giữa các đảo do Hải quân Việt Nam bảo vệ. Ngày 14 tháng 3 năm 1988, Trung Quốc sử dụng một biên đội tàu chiến đấu gồm sáu chiếc, trong đó có ba tàu hộ vệ số 502, 509 và 531 trang bị tên lửa và pháo cỡ 100mm, vô cớ tấn công bắn chìm ba tàu vận tải Việt Nam đang làm nhiệm vụ tiếp tế ở các bãi đá Len Đao, Cô Lin, Gạc Ma thuộc cụm đảo Sinh Tồn, quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Cuộc tấn công vào các tàu vận tải của Việt Nam từ các tàu chiến trang bị vũ khí hạng nặng của Trung Quốc đã làm cho 64 cán bộ, chiến sỹ Hải quân Việt Nam cùng 3 tàu vận tải đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng biển của Tổ quốc. Các chiến sỹ Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam đã anh dũng xiết chặt hàng ngũ, giữ vững lá cờ Tổ quốc biểu tượng chủ quyền của Việt Nam trên đảo cho đến giây phút cuối cùng. Từ đó đến ngày 6-4-1988, Trung Quốc đã chiếm đóng trái phép bằng vũ lực các đảo: Đá Chữ Thập, Đá Châu Viên, Đá Ga Ven, Đá Tư Nghĩa, Đá Gạc Ma, Đá Subi thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Trong năm 1988, Chính phủ CHXHCN Việt Nam đã thông báo cho Liên Hợp Quốc, gửi nhiều công hàm phản đối Trung Quốc và đặc biệt là các công hàm ngày 16, 17, 23 tháng 3 năm 1988 đề nghị hai bên thương lượng giải quyết vấn đề tranh chấp. Trung Quốc tiếp tục chiếm giữ trái phép các bãi đá đã chiếm được và khước từ thương lượng. Ngày 14 tháng 4 năm 1988, Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam phản đối việc Quốc hội Trung Quốc sáp nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào tỉnh Hải Nam (ngày 13 tháng 4 năm 1988). Tháng 4-1988, Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam công bố Sách Trắng khẳng định chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam theo luật pháp quốc tế. Ngày 14-8-1989, Chính phủ Việt Nam quyết định thành lập Cụm Kinh tế Khoa học Dịch vụ trên vùng bãi ngầm Tư Chính, Huyền Trân, Quế Đường, Phúc Tần, Phúc Nguyên thuộc thềm lục địa Việt Nam. Ngày 2-10-1989, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam tuyên bố bác bỏ luận điệu trong bản tuyên bố của Trung Quốc ngày 28-4-1989. Ngày 18-3-1990, nhiều tàu Trung Quốc đến đánh cá ở Trường Sa. Ngày 16-4-1990, Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi bản ghi nhớ cho Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, phản đối việc Trung Quốc cho nhiều tàu quân sự, tàu khảo sát, tàu đánh cá đến hoạt động trong vùng biển Việt Nam tại quần đảo Trường Sa. Ngày 28-4-1990, Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi công hàm cho Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, phản đối việc Trung Quốc đã cho quân lính xâm chiếm bãi Én Đất trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Ngày 10-11-1991, các nhà lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc ký Thông báo chung về bình thường hoá quan hệ giữa hai nước. Thông báo chung của hai nước khẳng định việc bình thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc phù hợp với lợi ích cơ bản và lâu dài của nhân dân hai nước và cùng có lợi cho hoà bình, ổn định và sự phát triển của khu vực. Hai bên tuyên bố Việt Nam và Trung Quốc sẽ phát triển quan hệ hữu nghị và láng giềng thân thiện, trên cơ sở 5 nguyên tắc: tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi và cùng tồn tại hoà bình. Hai bên đồng ý thông qua thương lượng giải quyết hoà bình vấn đề lãnh thổ, biên giới vv… tồn tại giữa hai nước.

Theo ĐẠI ĐOÀN KẾT

http://reds.vn/index.php/lich-su/hoang-sa-truong-sa/2424-chu-quyen-hoang-sa-truong-sa-1975-1991