Tag Archive: sao


(TNO) Từ đầu năm 1988, Trung Quốc đã sử dụng một lực lượng lớn hải quân gồm nhiều tàu chiến chiếm đóng một loạt đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam

Cao trào của hành động xâm lược này diễn ra vào ngày 14.3.1988 khi biên đội gồm 6 tàu chiến, trong đó có 3 tàu hộ vệ có trang bị tên lửa và pháo 100 mm, của Trung Quốc đã bắn chìm và cháy 3 tàu vận tải của Việt Nam tại bãi đá ngầm Gạc Ma trong cụm đảo Sinh Tồn của Việt Nam.

Đảo Gạc Ma đã bị quân Trung Quốc đánh chiếm vào ngày 14.3.1988 – Ảnh: D.Đ.Minh

Trong vụ thảm sát này, 64 binh sĩ Việt Nam đã anh dũng hy sinh. Sau đó Trung Quốc còn ngăn chặn không cho tàu mang cờ chữ thập đỏ ra cứu những người bị thương, bị nạn.

Điều phải lưu ý là đây là lần đầu tiên người Trung Quốc (lục địa) đặt chân đến Trường Sa. Trước đó, với tư cách quan phương, Trung Quốc chưa bao giờ có mặt ở vùng biển này.


Tàu HQ505 đã lao lên bãi ngầm ở đảo Cô Lin cắm cờ khẳng định chủ quyền Tổ quốc vào ngày 14.3.1988 – Ảnh: tư liệu

Đã một phần tư thế kỷ trôi qua, từ sự kiện 14.3.1988, có những điều cần phải nói rõ như sau:

Đầu tiên, ngay sau ngày 14.3.1988, thông qua hệ thống tuyên truyền khổng lồ của mình, Trung Quốc đã ngang nhiên bịa đặt trắng trợn với dư luận trong nước và quốc tế rằng: Các tàu Trung Quốc đang thả neo để yểm trợ cho tàu chở đoàn các nhà khoa học Liên Hiệp Quốc (LHQ) đi khảo sát khoa học tại Trường Sa thì bị các tàu chiến của Việt Nam tấn công. Vì thế hải quân Trung Quốc bắt buộc phải đánh trả tự vệ!

Sau đó thông qua người phát ngôn của Tổng thư ký, LHQ đã nói rõ: không hề có tàu của LHQ tổ chức khảo sát khoa học ở Trường Sa vào 3.1988!

Rõ là “cháy nhà ra mặt chuột” và chính quyền Trung Quốc đã “lấy thúng úp voi”, đã “lấy thịt đè người” lại còn muốn lấy tay che mặt trời!

Đã không có tàu khảo sát khoa học của LHQ thì chắc chắn không có việc tàu chiến Việt Nam tấn công tàu Trung Quốc. Điều mà nhiều người đều biết đó là chuyện “ngậm máu phun người” là sở trường của các nhà cầm quyền Trung Quốc.

Trước đó, năm 1962 Trung Quốc phát động chiến tranh biên giới với Ấn Độ và chiếm của Ấn Độ hàng nghìn km2 nhưng lại vu cáo Ấn Độ xâm lược Trung Quốc. Năm 1979, Trung Quốc tiếp tục đem 60 vạn quân xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Bắc. Sự việc rõ ràng như vậy nhưng cũng được họ tuyên truyền là “phản kích tự vệ quân Việt Nam xâm lược”!


Lễ tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh ngày 14.3.1988 tại Cam Ranh (Khánh Hòa) – Ảnh: tư liệu

Thứ hai, có một câu hỏi cần đặt ra là, tại sao Trung Quốc lại tiến hành đánh chiếm các đảo của Việt Nam tại Trường Sa vào tháng 3.1988?

Cuối 1987 đầu 1988 là thời kỳ Việt Nam rơi xuống điểm thấp nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội. Tình hình trong nước chồng chất khó khăn: kinh tế đình đốn, đời sống của đại đa số người dân cực kỳ vất vả.

Cũng trong thời điểm đó, Liên Xô cũng bắt đầu lâm vào khủng hoảng chính trị – xã hội. Bắc Kinh cúi mình trước Washington, tự nhận là “NATO phương Đông” để nhận được nguồn tài chính và công nghệ, kỹ thuật từ Mỹ và phương Tây để phục vụ cho mục tiêu hiện đại hóa. Trong bối cảnh ấy, Trung Quốc cũng đã câu kết với Mỹ và hầu hết các nước trong khu vực (trừ Lào và Campuchia) siết chặt vòng bao vây, cấm vận đối với Việt Nam.

Lợi dụng tình thế khó khăn đó của Việt Nam, Trung Quốc đánh chiếm một số đảo của Việt Nam tại Trường Sa phục vụ cho ý đồ lâu dài.

Trung Quốc cũng là bậc thầy trong việc lợi dụng thời điểm. Mặc dù đã đưa lực lượng ra Trường Sa và có những hoạt động đe dọa từ đầu năm 1988, nhưng thời điểm được Trung Quốc lựa chọn nổ súng rơi đúng vào 14.3.1988 cũng là thời điểm lễ tang Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng được tổ chức tại Hà Nội! Một khi họ đã có dã tâm thì chuyện “tang gia bối rối” lại trở thành điều có thể lợi dụng được!


Độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là tài sản lớn nhất, quý giá và quan trọng nhất của cả dân tộc – Ảnh: Chiến sĩ canh gác trên đảo Len Đao (quần đảo Trường Sa) – Ảnh: D.Đ.Minh

Câu chuyện xảy ra ngày 14.3.1988 tại Trường Sa đến nay vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự. Sự hy sinh của những người lính Việt Nam 25 năm trước là một lời nhắc nhở tới 90 triệu người đồng bào hôm nay, trước hết là những người có trọng trách với dân tộc, không bao giờ được quên 3 điều:

Một là, lòng tin phải được đặt đúng chỗ. Đối với Trung Quốc, điều quan trọng không phải là lời nói mà là hành động. Các đấng quân vương Trung Hoa từ xưa đến nay và từ nay về sau đều là những bậc thầy về nghệ thuật “nói một đàng làm một nẻo”. Tin vào những điều mà giới lãnh đạo cấp cao ở Bắc Kinh nói không khác gì chuyện “gửi trứng cho ác”!

Hai là, cần phải hiểu về con đường mà Trung Quốc lựa chọn. Những toan tính và hành động của Trung Quốc liệu có phải là một quốc gia cộng sản đồng chí như họ từng miêu tả hay thực tế là chính sách dân tộc nước lớn vị kỷ?

Việc vô cớ đem quân đánh chiếm các đảo của một quốc gia láng giềng, bất kể quốc gia đó phát triển theo đường lối nào cũng là đi ngược lại những nguyên tắc sơ đẳng trong quan hệ quốc tế và phản bội đối với chủ nghĩa Marx – Lênin mà Trung Quốc từng sử dụng như một chiêu bài.

Láng giềng là vĩnh viễn và không bao giờ thay đổi, trừ phi có một trận siêu động đất đẩy hai quốc gia ra xa nhau!

Việt Nam cần và mong muốn có một mối quan hệ hữu nghị, ổn định, lâu dài với Trung Quốc. Tuy nhiên quan hệ ấy cần được đặt trong sự tôn trọng lẫn nhau về nhiều mặt, đặc biệt là vấn đề “bất biến” là chủ quyền quốc gia, lợi ích dân tộc. Không tỉnh táo nhận thức được điều này, lệ thuộc vào những yếu tố “ứng vạn biến” như “mười sáu chữ”, “bốn tốt” có thể dẫn đến những bước đi sai lầm mang lại hậu quả lớn cho quốc gia, dân tộc!

Chúng ta đã có được bài học đắt giá khi rơi vào cảnh bị cô lập trên trường quốc tế từ 1979-1990. Bài học ấy cùng với sự kiện 14.3.1988 mách bảo chúng ta rằng bị cô lập không đồng nghĩa với có độc lập, mà ngược lại, bị cô lập sẽ dẫn đến thảm họa, thậm chí mất cả độc lập và chủ quyền quốc gia.

Các nhà sử học Việt Nam chân chính và những người Việt có lương tâm trong sáng sẽ còn mất nhiều thời gian và công sức nghiên cứu, mổ xẻ, soi xét sự kiện 14.3.1988 một cách khách quan để rút ra bài học bổ ích cho những người Việt hiện nay và các thế hệ mai sau.

Độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc không thuộc sở hữu riêng của riêng ai. Nó là tài sản lớn nhất, quý giá và quan trọng nhất của cả dân tộc.

Liêm Thạch
Nguồn : http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130314/tai-sao-trung-quoc-danh-chiem-cac-dao-cua-viet-nam-vao-thang-3-1988.aspx

Những thông số 1080p hay 1080i ngày nay gắn liền với cách gọi về độ phân giải hình ảnh chất lượng cao cho phim HD. Tuy nhiên, cần hiểu rõ về sự khác biệt giữa hai thông số này để vận dụng tốt nhất.

 

Thông số 1080p và 1080i luôn gắn liền với hình ảnh nguồn phát

 

Hiện nay việc sở hữu một màn hình tivi có khả năng hiển thị hình ảnh độ phân giải độ nét cao Full HD (1920 x 1080 điểm ảnh – pixel) đã trở nên phổ biến, song bạn cần hiểu rằng chất lượng thật sự lại phụ thuộc vào nguồn phát nội dung. Trong hầu hết trường hợp, những gì bạn nhìn thấy trên màn hình đôi khi vẫn chưa đủ tiêu chuẩn 1080p.

Đây là lúc chúng ta cần hiểu về tên gọi khác nhau dành cho hai loại tín hiệu HD (độ nét cao) gồm 1080i và 1080p. Cả hai đều có chung độ phân giải, vậy sự khác nhau giữa chúng là như thế nào? Sau đây là năm điểm cơ bản để phân biệt:

Video 1080i là “tín hiệu xen kẽ”

Các đoạn phim 1080i được phát với tốc độ 60 khung hình/giây (fps), song thực chất lại… không đúng như vậy, vì tốc độ thật của loại tín hiệu này chỉ có… 30 khung hình/giây. Lúc này, chiếc tivi sẽ làm nhiệm vụ hiển thị các khung hình hai lần liên tiếp, với lần đầu có độ phân giải 1920 x 540 điểm ảnh để hiển thị các dòng quét cân bằng, và lần tiếp theo có độ phân giải 1920 x 540 để hiển thị các dòng quét lẻ.

* XemThe Hobbits: phim 40 khung hình/giây đầu tiên trên thế giới

Quá trình này gọi là hiện tượng phát đan xen tín hiệu, hay tín hiệu xen kẽ, giúp tạo cảm giác trơn tru cho mắt người xem cũng như giảm thiểu hiện tượng nháy ảnh.

Phim 1080p là “tín hiệu lũy tiến”

Các dòng quét của phim 1080p được hiển thị hết dòng này đến dòng khác (lũy tiến), nên tín hiệu 1080p khác hoàn toàn so với tín hiệu xen kẽ của 1080i. Vì lý do này, tín hiệu phim ảnh 1080p trông sẽ mịn màng và sắc nét hơn 1080i, đặc biệt tại những trường đoạn hành động và tiết tấu có tốc độ nhanh.

Hiện nay tín hiệu 1080p đôi khi được gọi bằng những thuật ngữ mang tính thương mại như Full HD hoặc True HD, để phân biệt với tín hiệu video 1080i hoặc 720p.

Đối với đĩa Blu-ray, định dạng đĩa này chỉ hỗ trợ phim 1080p với 24 khung hình/giây, song đã được nhà sản xuất sử dụng kỹ thuật 3:2 pull-down (*) nhằm đẩy lên thành 30 khung hình/giây trên màn hình tivi của người sử dụng.

 

Tín hiệu 1080p (lũy tiến) luôn được xem là tốt hơn tín hiệu xen kẽ 1080i. Ảnh so sánh (tương đối) sự chênh lệch về chất lượng giữa các loại tín hiệu hiển thị – Ảnh: Internet

 

Công nghệ nén tín hiệu có thể “đánh lừa” bạn

Đôi khi, vì mục đích tiết kiệm băng thông, nhà cung cấp dịch vụ truyền hình cáp sẽ thực hiện việc nén tín hiệu hình ảnh (thường là 1080i) cung cấp đến tivi của người xem. Kết quả là ở một số cảnh nhất định sẽ phát sinh hiện tượng nhạt màu hoặc chi tiết không sắc nét.

Về cơ bản, đây vẫn được xem là hình ảnh độ phân giải cao (HD), đẹp hơn tín hiệu cáp truyền thống nhưng vẫn chưa thật sự trọn vẹn.

Tóm lại, hiện nay đĩa Blu-ray là nguồn cung cấp duy nhất tín hiệu hình ảnh 1080p “nguyên bản”. Ngay cả thiết bị đầu thu Apple TV tân tiến nhất hiện nay, tuy được quảng cáo là mang lại chất lượng 1080p cũng vẫn “âm thầm” nén tín hiệu “chút đỉnh”, do đó không mang lại trải nghiệm thị giác tốt nhất, dù nếu nhìn bằng mắt thường thì cũng thật khó mà nhận ra sự khác biệt.

1080i và 1080p không khác nhau trên màn hình nhỏ

Có một điều chắc chắn: bạn cần trang bị một màn hình tivi càng lớn càng tốt để có thể thật sự phân biệt chất lượng hình ảnh của hai loại tín hiệu 1080i và 1080p, và màn hình “lớn” ở đây ít nhất cũng phải từ 42 inch trở lên.

Đối với một số màn hình chất lượng tốt, thậm chí ngay cả tín hiệu 720p vẫn mang đến trải nghiệm không hề “thua chị kém em”.

Ngay cả tín hiệu 1080p cũng đang dần “lỗi thời”

Cùng với sự phát triển nhanh chóng mặt của công nghệ, ngay cả chuẩn Full HD 1080p cũng đang dần bị thế chỗ bởi những định dạng hình ảnh có độ nét cao hơn, cụ thể là chuẩn Ultra High Definition (Ultra HD) với độ phân giải 4K. Nhưng vào thời điểm hiện tại, 1080p cũng vẫn… tạm đủ cho nhu cầu giải trí tại gia của hầu hết chúng ta.

(*) Thuật ngữ pull-down chỉ việc kéo thả một khung hình để khiến nó nhân lên gấp đôi trong khi tốc độ vẫn không thay đổi. Một trong nhiều công thức pull-down thông dụng là 3:2, tức nhân khung hình thứ nhất 3 lần, rồi nhân khung hình thứ hai 2 lần, và cứ thế lặp lại đến khi bộ phim kết thúc. (Nguồn: Wikipedia)

THÚY QUỲNH

Đối với xã hội vẫn còn thiên về nông nghiệp như nước ta hiện nay thì việc hội nhập văn hóa với thế giới vẫn là điều rất cần phải bàn luận cho thấu đáo và kỹ càng.

Người xưa nói “sai một li, đi một dặm”. Muốn hội nhập “bàn cờ lớn” thế giới, chúng ta quyết không thể nóng vội, để tránh những bước đi sai lầm. Nhất là trong vấn đề “cải cách” những giá trị văn hóa truyền thống.

Tết “ta” có tự bao giờ?

Mặc dù Tết “ta” (hay Tết Âm lịch) có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng việc tính lịch của người Trung Quốc cũng rất khoa học. Nếu dương lịch của phương Tây tính theo chu kỳ của mặt trời, thì âm lịch của Trung Quốc lại tính theo chu kỳ của mặt trăng.

Lịch Thái sơ của người Trung Quốc được sử dụng từ khoảng năm 104 trước Công nguyên quy định tháng Chạp là tháng cuối năm, tháng Giêng là tháng đầu năm. Từ việc xác định này, người dân Trung Quốc đón năm mới vào khoảng thời gian từ đầu tháng Giêng. Thực tế, so với dương lịch, việc xác định năm mới từ tháng Giêng hợp qui luật thiên nhiên hơn, vì lúc này cỏ cây mới nảy mầm, mới khai hoa, mở đầu một chu kỳ sinh trưởng mới.

Nguyên nghĩa của từ “Tết” chính là “tiết”. Văn hóa Đông Á – thuộc văn minh nông nghiệp lúa nước – do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã “phân chia” thời gian trong một năm thành 24 tiết khác nhau (và ứng với mỗi tiết này có một thời khắc “giao thời”). Trong đó tiết quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức là Tiết Nguyên đán sau này được biết đến là Tết Nguyên đán.

Tết Nguyên đán là lễ tết đầu tiên của một năm. Tết được bắt đầu từ lúc giao thừa cùng với lễ trừ tịch. Theo chữ Hán, “Nguyên” có nghĩa là bắt đầu, “Đán” là buổi sớm mai. Tết Nguyên đán tức là Tết bắt đầu của năm, mở đầu cho mọi công ăn việc làm với tất cả mọi cảnh vật đều mới mẻ đón xuân sang.

Thứ hai, quy luật của văn hóa là phép bù, trừ. Nghĩa là đối với văn hóa, cái gì thiếu thì phải bổ sung cho đủ, nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn. Cái gì thừa thì phải cắt bỏ, cũng là vì những lý do tương tự.

Tết Âm lịch của người Trung Quốc cũng được người Việt chấp nhận như một dạng thức văn hóa để thích nghi và sinh tồn. Dù nó được du nhập ban đầu bằng con đường “đô hộ”. Về vấn đề này, Gs Nguyễn Anh Trí, Viện trưởng Viện Huyết học – Truyền máu TƯ đã nêu quan điểm rằng:

“Ai cũng biết, Tết Âm lịch đã có hàng ngàn năm nay nên đã trở thành “cổ truyền”. Nhưng cũng cần lưu ý lịch âm có nguồn gốc là lịch Trung Quốc. Trung Quốc là nước láng giềng chúng ta, có một nền văn hóa đồ sộ. Mặt khác, hàng ngàn năm trước đây Việt Nam “hội nhập” với Trung Quốc là chủ yếu. Việc dùng lịch Trung Quốc, ăn Tết như Trung Quốc nằm trong bối cảnh này”.

Điều này hoàn toàn phù hợp với định nghĩa về văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt, cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra, nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, NXB CTQG, HN, 2000, tr 431).

 

Bắn pháo hoa chào đón năm mới bên hồ Gươm

 

Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng, Tết “ta” không phải nguyên xi là Tết Trung Quốc 100%. Vậy Tết Âm lịch Việt Nam khác Tết Âm lịch Trung Quốc ở điểm gì?

Đó là tục nấu bánh chưng, bánh tét có từ thời Hùng Vương. Đó là truyền thống: “Mồng Một tết cha, mồng Hai Tết mẹ, mồng Ba tết thầy”. Riêng đối với Tết ở Huế, cố đô của Việt Nam chúng ta sẽ thấy nhiều điểm khác nữa. Đó là bánh tét làng Chuồn, hoa giấy Thanh Tiên (ảnh hưởng Chămpa) và chợ Gia Lạc ba ngày Tết. Những nét văn hóa Tết không thể tìm thấy ở bất cứ vùng miền nào ở Trung Quốc.

Có thể thay đổi Tết “ta”?

Gần đây, dư luận cả nước bàn luận rôm rả quan điểm của Gs Võ Tòng Xuân, về việc dân ta nên đổi cách ăn Tết “tây”, thay cho Tết “ta”. Quan điểm của GS Võ Tòng Xuân là “chúng ta nên cương quyết đổi mới, không ăn tết hai, ba, thậm chí bốn tuần theo âm lịch nữa mà chỉ nên ăn tết bốn ngày theo dương lịch là đủ”.

Theo Gs Võ Tòng Xuân, nếu ăn Tết “ta” theo ngày dương lịch, Việt Nam sẽ có những điều lợi sau đây:

1- Vừa giữ được các tập quán Tết cổ truyền, vừa ít bỏ lỡ cơ hội nắm bắt đối tác kinh doanh, giao thương với nước ngoài.

2- Ít mất thời gian của nông dân (đại bộ phận người dân) dành chăm sóc lúa đông-xuân, vụ lúa tiềm năng cao nhất trong năm.

3- Học sinh và sinh viên có thời khóa biểu học tập và thi học kỳ một cách hợp lý.

4- Giảm tối thiểu tình trạng dân chúng nhậu nhẹt, bài bạc dưới nhiều hình thức, rất tốn kém tiền của và thời gian học tập, tổn hại sức khỏe và tính mạng trong giao thông.

5- Chấm dứt lãng phí nhiều ngày làm việc mà mình nghỉ, trong khi quốc tế làm việc.

Quan điểm của Gs Võ Tòng Xuân là rất tâm huyết nhưng nó lại chưa phù hợp với tâm thế xã hội Việt Nam hiện nay.

Bởi không những Tết Âm lịch gói gọn trong ba ngày mà còn kéo dài đến mồng 10 tháng Giêng. Dân gian gọi là “Ba ngày tết, bảy ngày xuân”. Cái Tết Âm lịch dân tộc là cái tết của sự đoàn viên. Chính tâm lý “trọng tình” đã hun đúc nên một cái Tết kéo dài nhưng rất hợp lý.

Trong những cái khổ của con người, như Phật giáo đã chỉ ra là do “ái biệt ly khổ”. Nghĩa là thương nhớ, muốn gặp mặt, muốn đoàn tụ mà phải xa nhau nên khổ. Thử hỏi ai làm việc cực nhọc quanh năm suốt tháng, xa quê, xa gia đình, xa bạn bè, xa người yêu… lại không có tâm lý thích được có một khoảng thời gian dài để gặp lại người thân, kể lể tâm sự những tháng ngày đã qua?

Quan điểm của Gs Võ Tòng Xuân là rất tâm huyết nhưng nó lại chưa phù hợp với tâm thế xã hội Việt Nam hiện nay.

Tết “ta” sẽ còn ý nghĩa gì nữa khi vì không có thời gian (chứ không phải không có tiền bạc) mà thiếu đi việc tảo mộ, thiếu đi một cành mai vàng, một nụ tầm xuân, hay thiếu đi món bánh chưng, bánh tét, món ăn đặc trưng trong ngày Tết đã có từ thời Văn Lang – Âu Lạc?

Việc “bỏ lỡ cơ hội làm ăn” và “lãng phí thời gian làm việc” như Gs Võ Tòng Xuân đã nêu, là một điều không ai mong muốn. Nhưng chúng ta vẫn làm ăn trong dịp Tết chứ không phải bỏ bê, trì trệ. Đó là những địa điểm du lịch – dịch vụ luôn có cơ hội “hốt tiền” vào ngày Tết Âm lịch.

Bởi lượng khách du lịch trong và ngoài nước cũng luôn tăng mạnh trong những ngày Tết cổ truyền của Việt Nam. Đó chính là quy luật bù trừ về kinh tế. Khi nhiều ngành kinh tế khác “đóng băng” thì ngành du lịch- dịch vụ lại phất lên vào dịp Tết, thu hút được khá nhiều khách du lịch nước ngoài.

Tết “tây” kéo dài, được không?

Một vấn đề đáng bàn nữa là trong bài viết của mình Gs Nguyễn Anh Trí, Viện trưởng Viện Huyết học – Truyền máu TƯ đã nêu quan điểm rằng nên “kéo dài ngày nghỉ Tết Dương lịch và rút ngắn ngày nghỉ Tết Âm lịch”.

Phải thừa nhận hiện nay, một bộ phận không nhỏ cư dân thành thị nước ta ăn Tết “tây” theo kiểu “phú quý sinh lễ nghĩa” nhưng đa phần 90 triệu dân Việt Nam (sống ở nông thôn và rất nhiều người theo Phật giáo) vẫn hướng về cái Tết Âm lịch của dân tộc.

Thứ hai, Tháng Giêng (January) của phương Tây được đặt tên theo vị thần Janus, người được phác họa có hai đầu, một trông về phía trước, một trông về phía sau, biểu tượng cho sự chuyển giao giữa cái cũ và cái mới. Ngày nay, biểu tượng bắt đầu của năm mới ở phương Tây là một đứa trẻ sơ sinh và hình ảnh một ông già khép lại năm cũ.

Tuy nhiên, khi chúng ta vẫn sử dụng lịch âm- dương kết hợp (trên là ngày dương, dưới ngày âm) thì làm sao có thể cùng đón “buổi sáng sớm đầu tiên của tiết Xuân” (Nguyên đán) của cư dân phương Đông với ngày 1/1, ngày Năm mới (New Year’s Day) của cư dân phương Tây, vì cả hai đều chỉ chung cho một vụ mùa mới trong nông nghiệp?

Thứ ba, nếu Tết “tây” kéo dài thì tiền bạc, của cải, thời gian đâu để ăn Tết Âm lịch, dù chỉ có một- ba ngày.

Như vậy, đối với xã hội vẫn còn thiên về nông nghiệp như nước ta hiện nay thì việc hội nhập văn hóa với thế giới vẫn là điều rất cần phải bàn luận cho thấu đáo và kỹ càng. Trước tiên, có lẽ phải đợi đến mốc 2020, khi nước ta sẽ cơ bản là một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, khi người dân đủ tiền bạc để chu toàn về thời gian để đón được cả hai cái Tết “tây” và Tết “ta”.

Nguyễn Văn Toàn

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: ‘Mãi mãi là sao sáng dẫn đường’

LTS: Chủ tịch nước Trương Tấn Sang có bài viết nhân kỷ niệm 68 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 / 22-12-2012), Tiền Phong Online xin giới thiệu toàn văn bài viết này.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trong buổi làm việc với Bộ Quốc phòng ngày 14-3-2012
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trong buổi làm việc với Bộ Quốc phòng ngày 14-3-2012. Ảnh: Cổng TTĐT Bộ Quốc phòng

TRƯƠNG TẤN SANG (*)

Kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, tôi muốn tiếp tục nói lên những suy nghĩ của mình về tình hình đất nước hiện nay liên quan đến hai nhiệm vụ chiến lược, là bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.

Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập ngày 22-12-1944. Đó là ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, đội quân chủ lực đầu tiên, theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, dựa vào sức mạnh của nhân dân và nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam, sự đoàn kết, giúp đỡ của nhân dân và quân đội các nước anh em, vừa chiến đấu vừa xây dựng, Quân đội nhân dân Việt Nam đã phát triển từ nhỏ đến lớn, càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng lớn và trưởng thành vượt bậc. Sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam thể hiện trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược bắt nguồn từ truyền thống yêu nước được hun đúc qua mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, sự thống nhất về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, tình đoàn kết quân dân, đoàn kết nhất trí giữa cán bộ và chiến sĩ, mưu trí dũng cảm trong chiến đấu, năng động, sáng tạo trong sử dụng vũ khí, trang bị kỹ thuật phù hợp với nghệ thuật quân sự Việt Nam, chiến trường Việt Nam.

Kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, bên cạnh niềm tự hào về một quân đội bách chiến bách thắng, còn là dịp để chúng ta nhận thức một cách đầy đủ, sâu sắc hơn tất cả những gì mà quân đội của chúng ta đã từng và đã trải, đã chiến đấu, hy sinh, để trưởng thành lớn mạnh, để thắng lợi vẻ vang; là dịp để chúng ta tôn vinh tất cả những thế hệ đã hiến dâng cuộc đời mình cho vinh quang của dân tộc, cho độc lập, tự do của đất nước; là dịp chúng ta tưởng nhớ những người đã mất và cố gắng làm tròn trách nhiệm của những người còn sống, đang sống…

Ngày 22-12 sẽ mãi mãi là một Ngày Anh Hùng!

Nhưng ý nghĩa của ngày này chỉ trở nên thật đầy đủ khi chúng ta phát huy thật tốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng đất nước hôm nay.

Mấy vấn đề thực tế

Quý vị độc giả hãy miễn thứ, và nếu có thể, hãy chia sẻ với tôi nếu như đôi chỗ trong bài viết này không đi theo khuôn mẫu thường thấy. Sự dè dặt, thận trọng quá mức và khuôn mẫu thường đem đến cảm giác an toàn cho người phát biểu, nhưng trong nhiều trường hợp, nó thật sự chưa thể lột tả được bản chất của vấn đề.

Có thể thấy được nguyện vọng thiết tha của mọi đảng viên và công dân trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, trên đất liền, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc, trong xây dựng Đảng, củng cố Nhà nước, xây dựng đất nước, trong việc không ngừng nâng cao đời sống nhân dân. Đó luôn là nguyện vọng, là quyền đòi hỏi chân chính và cấp bách. Đòi hỏi ấy đang đứng trước những thách thức to lớn.

Tôi muốn trước hết đề cập đến vấn đề kinh tế và tư tưởng. Kinh tế có mạnh, tư tưởng có vững, cả dân tộc có đoàn kết thống nhất, thì Quân đội mới có khả năng để trở thành một quân đội vô địch. Không có một quân đội mạnh trên nền tảng một xã hội chia rẽ, mất tinh thần, không sẵn sàng chiến đấu, đất nước thiếu sinh lực. Sức mạnh của quân đội, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc phải trên cơ sở sức mạnh của quốc gia. Đó là sức mạnh tổng hợp của cả chính trị, kinh tế, tư tưởng; của quân đội và nhân dân; tiền tuyến và hậu phương; đối nội và đối ngoại… Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng dân giàu, nước mạnh và đặc biệt là đoàn kết toàn dân tộc thì kẻ thù nào cũng sẽ không dám xâm lược nước ta, nếu có, chúng chỉ chuốc lấy thất bại mà thôi.

Về kinh tế, sau nhiều năm đất nước phát triển đầy hưng phấn, nay do nhiều nguyên nhân, cả bên trong và bên ngoài, đang lâm vào tình trạng suy giảm. Nguyên nhân bên trong có nhiều nhưng trong đó phải kể đến khuyết điểm của lãnh đạo và quản lý… Gần đây, báo chí và dư luận hằng ngày đề cập đến những “nhóm lợi ích”, đâu đó có hành vi thâu tóm quyền lực kinh tế làm cho lòng dân không yên, các định chế tài chính hoạt động bộc lộ yếu kém, nợ công cao, đầu tư dàn trải và tệ tham nhũng, lãng phí gây thiệt hại nghiêm trọng các nguồn lực quốc gia; lạm phát ở mức cao; thu nhập thực tế và đời sống của người dân khó khăn hơn; cùng với các tai, tệ nạn xã hội có dịp bùng phát; lối sống ích kỷ, suy đồi, vô cảm, vô trách nhiệm hiện diện ở nhiều lĩnh vực của cuộc sống… Tất cả những thực tế đó làm suy giảm lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Về tư tưởng, chưa bao giờ như trong vòng một năm qua, xuất hiện rất nhiều dư luận, trong đó có những tư tưởng và dư luận nguy hiểm, gây chia rẽ trong Đảng, giữa Đảng với nhân dân; cá biệt có người đòi “phi chính trị hóa quân đội”. Thử hỏi trên thế giới này có ở đâu và bất cứ việc gì lại ít nhiều không mang tính chính trị? Họ khoét sâu những yếu kém trong lãnh đạo, quản lý đất nước hoặc những khuyết điểm, sai phạm của một số cán bộ để gây phân tâm trong dư luận xã hội và ở chừng mực nào đó, họ đã đạt được những “kết quả” nhất định, làm cho xã hội trở nên bất ổn hơn.

Không thể không đề cập đến một mối lo ngại trong xã hội về khả năng xảy ra xung đột trong khu vực, liên quan đến Việt Nam; lo ngại về khả năng ứng phó của Đảng, Nhà nước, Quân đội ta trong tình hình thế giới rất khó lường hiện nay. Đã có nhiều cuộc đối thoại trong, ngoài nước và nhiều bài viết trên báo chí về chủ đề này. Một số hãng tin nước ngoài đã dùng chủ đề này như một phương tiện hữu hiệu để chuyển sự chú ý của dư luận theo hướng phục vụ cho ý đồ của họ. Có những trang mạng xã hội còn gây nghi ngờ trong nhân dân về chủ trương đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, thậm chí họ còn vu cáo, xuyên tạc rằng Đảng ta “bán rẻ đất nước”. Những luận điệu kiểu đó rất nguy hiểm, cần phải cảnh giác, bởi nếu không, nó sẽ gieo những mầm mống độc hại, cùng với những áp lực xuất phát từ những khó khăn trước mắt về kinh tế và tư tưởng, làm cho đất nước ta càng thêm khó khăn.

Sự hình thành và phát triển của Đảng đã chứng minh, Đảng ta không ngại phê bình. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, có loại phê bình xây dựng và có loại phê bình không phải là xây dựng, thậm chí là phá hoại. Không phải ai và lúc nào cũng phân biệt được sự phê bình xây dựng với sự phê bình phá hoại, và trong những lúc trắng đen chưa rõ ràng, thì dư luận dễ bị lạc hướng; những thiện chí bị lợi dụng bởi những tư tưởng có hại, đầu độc bầu không khí chính trị của đất nước. Nếu chúng ta không ý thức đúng mức những lo lắng của cộng đồng và bị những tư tưởng độc hại chi phối, sẽ bị dao động về ý chí, thậm chí bất mãn, ngả theo kẻ xấu, trở thành công cụ cho bất kỳ kẻ nào thừa cơ hội đứng lên khoác áo “nghĩa hiệp” và đưa đất nước đi đến chỗ hỗn loạn.

Tình trạng suy giảm kinh tế và sự suy thoái về tư tưởng chính trị nếu không được sớm chặn đứng, sẽ đặt tương lai của đất nước ta trước thử thách khốc liệt. Đúng như nhận định của Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) là những nguy cơ đó liên quan đến sự “tồn vong” của chế độ, đồng thời nó cũng đe dọa trực tiếp đến sự thành công của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chúng ta phải làm gì?

Trước hết, với tư cách là người có trọng trách trong Đảng và là người đứng đầu Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, tôi xin khẳng định rằng: Đảng, Nhà nước ta không bao giờ bán nước cho các thế lực bên ngoài như những kẻ xấu vu cáo.

Dù còn những khuyết điểm, yếu kém, nhưng Đảng và Nhà nước ta không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân.

Hành động bán nước hay những việc làm tương tự sẽ chịu sự nguyền rủa, oán hận của các thế hệ sau này, cũng như chúng ta đã từng phê phán nghiêm khắc những nhân vật và những chế độ như thế trong lịch sử.

Non sông đất nước ta, khắp nơi, những cảnh, những người, những phong tục tập quán, đâu đâu cũng đẹp và lòng chúng ta đau đớn khi nghĩ đến những nét đẹp ấy có thể bị vùi dập hay thậm chí bị lãng quên. Chúng ta không thể để cho viễn cảnh đen tối đó trở thành hiện thực.

Chúng ta có lúc tự ti hay bi quan về một số việc chúng ta làm chưa được bằng người, nhưng chúng ta cũng hiểu rằng, để phát triển và hoàn thiện không chỉ cần có thời gian, mà cần cả mồ hôi, nước mắt, kể cả máu. Không thể ngồi đó, so sánh và chẳng làm gì để xây dựng, thậm chí lại chửi bới – thái độ đó làm hạ thấp giá trị của mỗi một chúng ta và làm suy yếu hơn nữa khả năng phát triển đất nước. Không có hành động nào làm tàn hại đất nước nhanh hơn sự kích động, gây chia rẽ dân tộc; bởi trong một hoàn cảnh vô tổ chức, không một công việc gì của tập thể có thể thực hiện được, huống hồ là những mục tiêu to lớn, cao đẹp, mà để thực hiện, đòi hỏi phải có sự nỗ lực lớn lao của cả cộng đồng dân tộc.

Thái độ cần thiết hiện nay, dù có khác biệt nào chăng nữa, thì tất cả các giai tầng xã hội, các tầng lớp nhân dân cần hành động với một động cơ duy nhất, đó là vì lợi ích của dân tộc, vì sự ổn định chính trị, vì sự bình yên của xã hội để làm ăn và phát triển kinh tế, cần đẩy mạnh hơn nữa quá trình đại đoàn kết, hòa giải và hòa hợp dân tộc. Mọi hành động phá hoại mục đích đó hoặc khoét sâu thêm những bất đồng để đẩy đất nước đến bờ vực của sự hỗn loạn, phải bị loại trừ và lên án.

Thái độ tích cực đó cần được thể hiện trong mọi khía cạnh của cuộc sống, trong đó có việc cấp bách hiện nay là tiếp tục kiên trì thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI). Suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức lối sống phải bị chặn lại. Tham nhũng, tiêu cực phải kiên quyết loại trừ để cho bộ máy thực sự trong sạch vững mạnh, nhưng đồng thời phải làm sao giữ được sự ổn định, tránh sa vào những sai lầm ấu trĩ có thể dẫn đến những hậu quả tồi tệ về chính trị – xã hội. Mặt khác, cũng không thể nhân danh sự ổn định chính trị – xã hội để dĩ hòa vi quý và thỏa hiệp với cái xấu, cái sai. Đây thực sự là một yêu cầu khó khăn, đòi hỏi sự tỉnh táo, sự quyết tâm, sự đoàn kết nhất trí và bản lĩnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Tôi nhận thức sâu sắc rằng, nhân dân ta, các lực lượng vũ trang ta trông đợi vào kết quả thực chất của công cuộc này để củng cố lòng tin của mình vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta. Đây là thời cơ chính trị chúng ta phải nắm lấy, tạo ra sự chuyển biến mới như một cột mốc trong quá trình phát triển. Được như vậy, sức mạnh của chúng ta sẽ tăng lên gấp bội, trong đó có sức mạnh quốc phòng – an ninh.

Một trong những bất cập chính trong công tác quản lý nhà nước hiện nay là có việc thì tập trung quá mức, có việc thì lại phân cấp quá mức nhưng lại thiếu kiểm tra, đặc biệt là công cuộc cải cách hành chính quá chậm chạp và có nguyên nhân từ sự suy thoái của một số cán bộ, công chức các cấp, các ngành, đang cản trở sự phát triển đất nước. Toàn dân ta không ai muốn duy trì tình trạng này.

Tôi cũng mong muốn tất cả mọi người nhìn nhận đúng đắn một thực tế đáng buồn là, phải chăng sau khi đã trở nên khá giả hơn, một bộ phận người Việt Nam trở nên ít khát vọng trong sáng, thậm chí trở nên sa đọa về đạo đức lối sống. Những người như vậy cần nhìn nhận điều đó một cách cầu thị, thay đổi cách nghĩ, đồng hành cùng dân tộc, vì sự nghiệp chung, tiếp nối giá trị văn hóa tốt đẹp của cha ông thì cuộc sống mới có ý nghĩa.

Nhưng quan trọng hơn, cần phải có những “cú huých” đủ mạnh từ phía luật pháp, chính sách và dư luận để làm cho xã hội tốt đẹp hơn, ở đây tôi muốn kêu gọi cả sự thức tỉnh của đạo đức, của lương tâm để có sự chuyển biến mạnh mẽ.

Rõ ràng, thực tế đang đặt ra những yêu cầu cao đối với công tác quản lý nhà nước, chống lại tệ quan liêu, trì trệ, tham nhũng, “lợi ích nhóm” hay lợi ích cục bộ của ngành này, ngành khác; phải có những tiêu chí mới để đánh giá cán bộ trên cơ sở hiệu quả thực chất, vì lợi ích chung, chứ không phải những quy định mà người ta có thể lợi dụng theo ý muốn của mình.

Tất cả mọi việc đều có nguyên nhân từ con người. Để có cán bộ tốt, không thể chỉ kêu gọi chung chung, mà trước hết phải bằng chính sách, luật pháp, kỷ luật, kỷ cương và tất nhiên cao hơn thế nữa là phải xây dựng đạo đức con người ngay từ khi còn nhỏ, khi cắp sách đến trường. Chúng ta có thành công hay không trong việc thực hiện những mục tiêu xây dựng và bảo vệ đất nước, khâu cốt yếu tùy thuộc ở yếu tố cán bộ và dựa trên tinh thần kỷ luật, kỷ cương. Có kỷ luật, kỷ cương thì bộ máy mới tốt và vận hành thông suốt. Bộ máy càng lớn, kỷ luật càng trở nên cấp thiết, nếu không sẽ xuất hiện tình trạng vô tổ chức. Vì thế, hơn lúc nào hết, luật pháp và kỷ luật cần phải được tôn trọng triệt để.

Chúng ta phải làm mọi điều có thể để trong ngắn hạn phải ổn định kinh tế vĩ mô, lấy lại sự hưng phấn trong phát triển kinh tế cũng như niềm tin của nhân dân và doanh nghiệp. Không có niềm tin thì người dân, doanh nghiệp, cả nhà đầu tư nước ngoài, không ai dại gì đầu tư, kinh doanh để phải chấp nhận rủi ro. Bài học trong suốt 67 năm qua là, khi nào có niềm tin của nhân dân, thì dù có khó khăn đến đâu, chúng ta cũng nhất định vượt qua và vươn tới.

Đã đến lúc chúng ta phải hành động quyết liệt, phải tháo bỏ các rào cản phục vụ cho tăng trưởng, điều hòa các lợi ích xã hội; phải đổi mới và cương quyết thực hiện bằng được những mục tiêu về chính trị – kinh tế – xã hội đã đề ra.

Nhân đây, tôi cũng đánh giá cao vai trò của các cơ quan truyền thông, báo chí và cả các trang mạng thông tin có trách nhiệm đối với đời sống xã hội, các bạn hãy thực sự là người “chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng”, bên cạnh việc đấu tranh mạnh mẽ với cái xấu, hãy cổ vũ và làm nảy sinh những điều tốt đẹp vì nước, vì dân của các cơ quan, tổ chức và cá nhân, góp phần tăng cường niềm tin vào tương lai tốt đẹp của đất nước nhất định sẽ thành hiện thực; và rằng: Hiện tại không có con đường nào khác ngoài con đường xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, xây dựng và bảo vệ đất nước mình. Tôi tin rằng, nhân dân ta cũng rất muốn nghe các bạn kể những câu chuyện tốt đẹp có thật trong cuộc sống, khả dĩ có thể nhân rộng, lấn át đi những cái xấu, có tác dụng làm sáng trong và tươi đẹp tâm hồn.

Chắc chắn các bạn sẽ làm tốt điều đó!

Tôi ý thức một cách rõ ràng rằng, để thực hiện hữu hiệu các mục tiêu bảo vệ và xây dựng Tổ quốc không chỉ bằng những lời hô hào, kêu gọi. Lúc này, rất cần lòng nhiệt huyết, niềm tin và sự chung tay, góp sức của toàn dân tộc. Quân đội và các lực lượng vũ trang ta, càng không phải ngoại lệ, không chỉ với những vấn đề thuần túy quốc phòng-an ninh, mà cả với các vấn đề quốc kế dân sinh.

Hội nghị Quân ủy Trung ương họp phiên cuối năm hôm 13-12-2012
Hội nghị Quân ủy Trung ương họp phiên cuối năm hôm 13-12-2012. Ảnh: Cổng TTĐT Bộ Quốc phòng

Sức mạnh của dân tộc chúng ta

Thực hiện hiệu quả những công việc nói trên cũng là góp phần thiết thực nâng cao năng lực quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Xét cho cùng, cái gốc của bảo vệ Tổ quốc cũng chính là lòng dân. Lòng dân chính là sức mạnh không có giới hạn. Chúng ta đã nói nhiều đến “thế trận lòng dân”, “nền quốc phòng toàn dân”, nghệ thuật quân sự độc đáo của chúng ta chính là “nghệ thuật chiến tranh nhân dân”. Đó cũng là đặc trưng của Quân đội nhân dân Việt Nam, có truyền thống từ ngàn xưa. Dân là gốc. Đã là người sĩ quan, chiến sĩ Quân đội nhân dân thì phải luôn đề cao tính chính trị, tuyệt đối trung thành với Nước, với Dân, với Đảng, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Xây dựng và bảo vệ đất nước là hai nhiệm vụ chiến lược quyện chặt vào nhau. Thời bình Quân đội phải giúp dân, cùng với Đảng, chính quyền và dân chăm lo phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, hướng vào những vùng sâu, vùng xa có nhiều khó khăn; biên giới và hải đảo mà có dân cũng là cách bảo vệ biên giới và hải đảo tốt nhất…

Theo nhiều nhà phân tích chiến lược, thế giới và khu vực đang bước vào một cuộc chạy đua vũ trang mới. Chúng ta chưa bao giờ là người khởi xướng những cuộc chạy đua như vậy. Đó cũng không phải là sự lựa chọn phù hợp với chủ trương và khả năng của chúng ta.

Sách trắng quốc phòng của Việt Nam ghi rõ, “sức mạnh quốc phòng được xây dựng bằng nguồn lực mọi mặt của đất nước và con người Việt Nam, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đồng thời tranh thủ sự hợp tác, giúp đỡ của các nước bè bạn có chung mục đích đấu tranh cho hòa bình, độc lập và phát triển của khu vực và thế giới. Việt Nam không tham gia bất kỳ hoạt động nào sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực với các nước khác, nhưng sẵn sàng tự vệ chống lại mọi hành động xâm phạm lãnh thổ trên bộ, vùng trời, vùng biển và lợi ích quốc gia chính đáng của Việt Nam; không chạy đua vũ trang nhưng chúng ta luôn củng cố sức mạnh quốc phòng đủ để tự vệ”.

Tôi cho rằng, bản chất và động lực phát triển của chúng ta không dựa trên những nhân tố bạo lực, mà đòi hỏi ở Đảng và Nhà nước ta một sự lãnh đạo sáng suốt, mềm dẻo, khai thác hợp lý những nhân tố phi bạo lực, những cơ hội trong bối cảnh hiện tại để tìm cách phát triển. Đồng thời đối với chúng ta, đầu tư cho quân sự, cho quốc phòng là nhằm mục đích tự vệ, bảo vệ Tổ quốc, không gây lo ngại về an ninh cho các nước khác. Trên thực tế, dù chúng ta có dồn hết mọi nỗ lực của đất nước vào lĩnh vực quốc phòng thì cũng chưa đủ, bởi do nguồn lực hạn hẹp nên chi phí quốc phòng của chúng ta thấp hơn nhiều so với các nước phát triển hoặc các nước lớn. Chúng ta xây dựng quân đội trong khả năng có thể, bao gồm cả tiềm lực chính trị, kinh tế, khoa học – công nghệ và quân sự.

Sức mạnh của chúng ta phải là ở sức mạnh của chính nghĩa, được thế giới ủng hộ. Việt Nam phải là “lương tri của thời đại” như thế giới từng tôn vinh.

Sức mạnh của chúng ta phải là sức mạnh của lòng dân, của tinh thần đoàn kết, nhất trí toàn dân tộc. Đất nước sẽ không thể đứng vững bởi sự chia rẽ. Sự chia rẽ dân tộc chính là cơ hội cho những kẻ xâm lược.

Sức mạnh của chúng ta là ở truyền thống quật cường đã được hình thành từ hàng ngàn năm lịch sử, từng là nguyên nhân để chúng ta chiến thắng mọi kẻ thù hung bạo; sức mạnh của chúng ta còn là sức mạnh của cách đánh, khả năng tác chiến và cách thắng…

Nhân dân Việt Nam yêu hòa bình; hữu nghị, hòa hiếu vốn là truyền thống văn hiến của dân tộc ta. Chúng ta làm tất cả để hòa bình luôn được hiện diện. Sinh lực của cộng đồng dân tộc chúng ta đã từng được huy động tối đa vào các cuộc kháng chiến giành độc lập đầy hy sinh, giờ đây, những sinh lực ấy phải là của báu để bảo vệ và phát triển đất nước.

Độc lập và phát triển đất nước luôn là mục tiêu và động lực chính yếu của dân tộc chúng ta.

Khi có kẻ thù nào xâm lược nước ta, thì như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Chúng ta sẽ huy động tất cả mọi sức mạnh để tự vệ và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.

Đôi lời cảm xúc

Nhân Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22-12, cho phép tôi với tư cách đồng đội, xin chia sẻ niềm vui với toàn thể các vị tướng lĩnh, sĩ quan, cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng, các đồng chí cựu chiến binh, các gia đình liệt sĩ, các đồng chí thương binh, bệnh binh trên cả nước.

Vào những ngày này, âm hưởng của những bài thơ, bài ca cách mạng, những bài hát ca ngợi người chiến sĩ từng làm xúc động bao trái tim Việt Nam, đang đầy ắp trong xúc cảm và hồi ức của chúng ta.

Hôm nay không phải lần đầu tiên tôi cảm thấy vô cùng tự hào về Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, tự hào về hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” – một biểu tượng không chỉ đẹp về thể chất mà còn ở những nét đẹp của tinh thần đoàn kết, nỗ lực vượt qua khó khăn, gian khổ, trên hết là tình yêu Tổ quốc, yêu nhân dân nồng nàn, sâu lắng và có những nét nổi trội khó có thể thấy được ở những đội quân nào khác… Trong niềm xúc động, tự hào đó, tôi xin dừng bài viết này bằng việc dẫn câu thơ của Nhà thơ Vũ Cao, như một lời nhắn nhủ:

“Anh đi bộ đội sao trên mũ

Mãi mãi là sao sáng dẫn đường…”.

(*) Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam

http://www.tienphong.vn/hanh-trang-nguoi-linh/604942/Chu-tich-nuoc-Truong-Tan-Sang-Mai-mai-la-sao-sang-dan-duong-tpol.html

TT – Nhiều bạn đọc quan tâm đến việc sở hữu xe hợp pháp để tránh bị phạt nặng theo nghị định 71/2012 của Chính phủ. Vậy làm hợp đồng, thủ tục sang tên xe ra sao?

 

>> Không phạt người đi xe mượn

*  Ông Nguyễn Quang Thắng (phó chủ tịch thường trực Hội Công chứng TP.HCM):

– Theo Luật công chứng, các tổ chức hành nghề công chứng có thẩm quyền công chứng hợp đồng mua bán xe. Tại TP.HCM, người mua, bán xe có thể đến bất cứ tổ chức hành nghề công chứng nào (phòng công chứng nhà nước, văn phòng công chứng tư nhân) để yêu cầu chứng hợp đồng.

Tất cả tổ chức hành nghề công chứng hiện đã có sẵn biểu mẫu hợp đồng mua bán xe nên khách hàng chỉ cần điền thông tin, ký hợp đồng, mất 15-30 phút. Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, tài sản chung trong hôn nhân thuộc sở hữu của cả hai vợ chồng nên bên bán phải có cả vợ, chồng cùng ký tên trong hợp đồng bán xe, nếu độc thân phải có giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Đối với xe máy, để tạo thuận lợi cho khách hàng, tổ chức công chứng cũng có thể để bên bán ký cam kết chịu trách nhiệm về việc đơn phương ký hợp đồng bán xe của mình. Riêng đối với ôtô, do giá trị xe lớn nên các tổ chức hành nghề công chứng đều buộc bên bán phải có đủ vợ chồng hoặc có xác nhận tình trạng hôn nhân.

Bên bán phải xuất trình giấy đăng ký xe, chứng minh nhân dân phù hợp với thông tin trên giấy đăng ký xe và hộ khẩu. Bên mua cũng phải xuất trình chứng minh nhân dân và hộ khẩu để xác định thông tin.

* Trường hợp xe đăng ký tại tỉnh thành khác, người mua sinh sống tại TP.HCM có thể đến các phòng công chứng tại TP để chứng hợp đồng không?

– Vì lý do an toàn pháp lý, các phòng công chứng, văn phòng công chứng tại TP không nhận chứng hợp đồng mua bán xe đăng ký tại tỉnh thành khác do không thể biết được xe đó có bị ngăn chặn tại địa phương khác không. Người mua xe đăng ký tại tỉnh thành khác nên đến tổ chức hành nghề công chứng tại tỉnh thành đó để ký hợp đồng mua bán xe nhằm tránh rủi ro.

* Mua bán xe phải chịu mức phí công chứng như thế nào, thưa ông?

– Theo quy định, phí công chứng căn cứ trên giá trị xe mua bán. Xe máy trị giá dưới 50 triệu đồng phí công chứng là 50.000 đồng (cộng thêm tiền đánh máy hợp đồng, dịch vụ công chứng, hiện các tổ chức hành nghề công chứng thường thu khoảng 100.000 đồng/hợp đồng). Nếu xe có giá 50-100 triệu đồng thì phí công chứng là 100.000 đồng, xe có giá từ 100 triệu đến 1 tỉ đồng thì thu phí 0,1% trị giá xe; hợp đồng mua bán xe trị giá từ 1-3 tỉ đồng thì phí là 1 triệu đồng + 0,06% của phần giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch vượt quá 1 tỉ đồng…

* Thượng tá Trần Thanh Trà (phó Phòng cảnh sát giao thông đường bộ đường sắt (PC67) Công an TP.HCM):

 

Ảnh: Sơn Bình

– Theo quy định tại thông tư số 36/2010 của Bộ Công an về đăng ký sang tên xe trong cùng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, người dân nên đến nơi đăng ký xe gần nhất, mang theo một số giấy tờ quan trọng như chứng minh nhân dân (hoặc sổ hộ khẩu), giấy đăng ký xe, giấy chứng nhận đăng ký xe, các chứng từ chuyển nhượng như quyết định bán (cho, tặng). Khi đăng ký sang tên thì xe giữ nguyên biển số cũ và chủ xe mới được cấp giấy chứng nhận đăng ký xe.

 

* Trường hợp người dân mua lại xe máy nhưng không biết chủ sở hữu xe do xe đã được mua bán qua nhiều đời chủ thì làm sao để sở hữu xe hợp pháp?

– Theo quy định, người dân không sở hữu hợp pháp xe có thể bị xử phạt khi bị cơ quan chức năng kiểm tra, phát hiện nên phải tìm được chủ xe trước đó để làm thủ tục đăng ký sang tên. Trường hợp do mua bán qua nhiều người, mà người chủ sở hữu xe đã qua đời, thì người đang sử dụng xe phải tìm được người thừa kế tài sản của chủ sở hữu xe (có thể là vợ, con của người này…) để làm thủ tục đăng ký sang tên.

* Người dân sống ở quận này nhưng mua xe ở quận khác hoặc sống ở tỉnh này nhưng mua xe ở tỉnh khác thì thủ tục đăng ký sang tên như thế nào?

– Thủ tục sang tên đã được quy định cụ thể như đã nêu trên, tuy nhiên trường hợp sang tên xe máy khác quận (huyện) trong cùng thành phố (tỉnh) thì đến cơ quan đăng ký xe nơi chủ xe cư trú hoặc có trụ sở để làm thủ tục sang tên. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày làm giấy tờ mua bán (cho, tặng, thừa kế), người mua hoặc bán xe phải đến cơ quan đăng ký làm thủ tục sang tên, di chuyển, thay đổi đăng ký xe. Nghiêm cấm mọi hành vi giả mạo hồ sơ, đục xóa số máy, số khung để đăng ký.

Cũng theo thông tư 36/2010 của Bộ Công an, đối với trường hợp khác tỉnh thành, người mua hoặc người bán xe phải xuất trình giấy tờ quy định như thủ tục đăng ký sang tên (không phải đưa xe đến kiểm tra), giấy chứng nhận đăng ký xe và biển số xe, hai giấy khai sang tên di chuyển, chứng từ chuyển nhượng xe theo quy định. Trường hợp di chuyển nguyên chủ đi tỉnh khác, chủ xe phải có quyết định điều động công tác hoặc sổ hộ khẩu thay cho chứng từ chuyển nhượng xe.

CHI MAI – SƠN BÌNH thực hiện

 

Mức thu phí đăng ký và cấp biển số xe

– Trường hợp cấp mới giấy đăng ký kèm theo biển số đối với ôtô con dưới 10 chỗ ngồi, không hoạt động kinh doanh vận tải hành khách thì mức thu phí từ 2-20 triệu đồng cho khu vực 1 (TP.HCM và Hà Nội); sơmi rơmoóc đăng ký rời hoặc rơmoóc thì mức phí từ 100.000-200.000 đồng. Riêng xe máy tính theo lệ phí trước bạ, nếu trị giá xe từ 15 triệu đồng trở xuống mức thu 500.000-1 triệu đồng; trị giá xe trên 15 triệu đồng đến 40 triệu đồng, thu phí 1-2 triệu đồng; trị giá xe trên 40 triệu đồng, thu phí 2-4 triệu đồng. Trường hợp cấp lại hoặc đổi giấy đăng ký xe kèm theo biển số đối với các loại xe tương tự như trên, mức thu phí thấp nhất là 30.000 đồng và cao nhất là 150.000 đồng.

S.BÌNH

[http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/520633/Thu-tuc-sang-ten-xe-ra-sao.html]

Vì sao ‘nhân dân’ không được làm chiến sĩ thi đua?

Có tới… 59 quan chức trong danh sách 60 người được đề nghị phong tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc của Ban thi đua khen thưởng Trung ương năm nay.

Duy nhất người mang hơi hướng “nhân dân”, đó là ông Nguyễn Viết Đức, giáo viên Tổng phụ trách Đội Trường Tiểu học Tân Lợi, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước. Chức vụ nhỏ nhất cũng tầm hiệu trưởng, còn lại toàn cỡ bộ trưởng (Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình), thứ trưởng (Nguyễn Thanh Long, Thứ trưởng Bộ Y tế; Ngô Văn Khánh, Phó Tổng thanh tra Chính phủ), cục trưởng, viện trưởng, giám đốc, phó giám đốc sở, bí thư tỉnh, chủ tịch huyện…

Có thể hiểu, 60 cá nhân trong danh sách được đề nghị phong tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc đợt này đều là những người ưu tú, có thành tích đặc biệt xuất sắc trong công tác chuyên môn, là tấm gương sáng về tài năng và nhân cách, tiêu biểu cho phong trào thi đua của cả nước.

Nhưng vì sao danh sách chỉ toàn những người có chức vụ cao mà vắng bóng những người công nhân đang lăn lộn trên công trường, xây dựng những công trình đưa đất nước lên tầm cao mới? Đâu rồi những người nông dân dãi nắng dầm sương, đối mặt với vô vàn thiên tai để trực tiếp làm ra hạt gạo, nuôi sống cả nước và mang đi xuất khẩu? Đâu rồi những chiến sĩ không tiếc tuổi thanh xuân, ngày đêm chắc tay súng bảo vệ vững chắc biên cương, hải đảo Tổ quốc?…

Vậy thì có không muốn cũng không thể không đặt câu hỏi: chẳng lẽ, chỉ có “quan” mới thi đua, còn công nhân và nông dân thì không? Và một khi người lao động đã đứng ngoài thì thử hỏi làm sao thúc đẩy được phong trào thi đua? Liệu có sự thiếu minh bạch, nể nang nào đó hay không?

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng phát biểu, thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua và thi đua trên tinh thần yêu nước. Khi thi đua đã trở thành phong trào thì tác dụng của nó đến lao động – sản xuất và sự phát triển xã hội là rất lớn. Nhưng khó ở chỗ là làm thế nào để thi đua trở thành phong trào.

Trước đây, trong thời kỳ chiến tranh cứu nước, mọi người đều ra sức thi đua lao động, sản xuất, chiến đấu, bởi họ thấy được tiền đồ tươi sáng của dân tộc khi đánh đuổi xong quân thù. Đó chính là những động lực để mọi người ra sức thi đua. Ngày nay, đất nước đã bước ra khỏi cuộc chiến tranh cứu nước và đi vào xây dựng, phát triển. Quy luật phát triển đòi hỏi cả tầng lớp lao động chân tay và lao động trí óc càng phải ra sức thi đua, cống hiến.

Muốn đẩy mạnh phong trào này, không gì khác là phải tạo ra những động cơ, động lực thi đua tương tự như thời kỳ trước.

Phát động thi đua ở mỗi một cơ quan, đơn vị cụ thể, thì người thủ trưởng, người đứng đầu không những phải gương mẫu, trong sạch mà còn phải làm cho từng người trong cơ quan, đơn vị đó thấy được tiền đồ phát triển của cơ quan cũng như của mỗi cá nhân.

Mỗi cá nhân đều phải được hưởng công bằng về cả chất lượng lẫn số lượng của những thành quả lao động. Khi được quan tâm tới đời sống vật chất, đời sống tinh thần cũng như thấy được tương lai tươi sáng của bản thân, có lẽ mỗi người sẽ tự bảo nhau thi đua chứ có khi không cần chờ phát động.

Liệu có thể kêu gọi được ai đó thi đua khi mà họ biết trước được rằng, dù có thi đua đến mấy thì đời sống vật chất và tinh thần của mình vẫn không được cải thiện, tương lai của mình vẫn bấp bênh; có thi đua đến mấy rồi các danh hiệu cuối cùng cũng về tay lãnh đạo, cấp trên?

TUẤN DŨNG (ĐẤT VIỆT ONLINE)

[nguồn: reds.vn]

 

Có một điều gần như là chân lý: Sự tử tế, lòng tốt của người ta là hữu hạn nhưng sự khốn nạn, xấu xa, bỉ ổi là vô hạn. Có thể thấy sự “vô hạn” đó trong bản chất của lũ Vichoco vong bản trên mặt trận “văn hóa sủa” của chúng. Những rác rưởi của lũ tâm lý chiến từ nửa thế kỷ trước vẫn được chúng coi là những “bảo bối”, lén lút xả ra làm ô nhiễm dòng sông internet, tạo thành những vệt dầu loang trên đại dương thông tin. Với những người có chút tư duy, chịu khó động não cùng cái tâm trong sáng thì không khó khăn gì để nhận ra cái mùi thối đặc trưng của chúng và cười khẩy bỏ qua, xem như vừa đạp nhầm một đống phân. Nhưng vì không phải ai cũng trang bị được cho bản thân mình một “bộ lọc thông tin” nên hy vọng bài viết này sẽ góp phần giúp bạn đọc “tẩy uế” khi lỡ chân bước nhầm những đống phân như vậy…

***

“Bảy thằng Việt Cộng bám vào một cọng đu đủ không gãy” hay “Việt Cộng có đuôi” là hai trong số những “tuyệt chiêu tâm lý chiến” nổi tiếng nhất của bầy đàn bán nước “sáng tạo” ra từ nửa thế kỷ trước. Những điều ngây ngô, hài hước đến như vậy mà vẫn có thể đầu độc được không ít người dân miền Nam thuở trước thì thử hỏi tác động của những đòn thâm độc, tinh vi hơn còn lớn đến thế nào? Hiển nhiên rằng những “tuyệt chiêu” trên giờ đã yên nghỉ trong kho tàng truyện tiếu lâm Việt Nam nhưng đám sâu bọ lúc nhúc trong hộp sọ của tụi Vichoco và tụi cơ hội theo đóm ăn tàn đâu có chịu ngồi yên. Chúng tập trung vào đánh phá hình ảnh các lãnh tụ cách mạng bằng tất cả những gì bẩn thỉu nhất mà những kẻ có tâm địa hẹp hòi, hèn hạ có thể nghĩ ra được, thông qua phương pháp đê tiện nhất: bôi nhọ cá nhân.

Những chủ đề được đám ngợm này ra sức thêu dệt, nhai đi nhai lại là:
– Chuyện vợ con của Bác Hồ.
– Chuyện TBT Lê Duẩn “tiếm quyền” đẩy Hồ Chủ Tịch và ĐT Võ Nguyên Giáp vào “cánh gà”.

Bỏ qua những nghiên cứu của các học giả, sử gia ở Việt Nam và thế giới về những vấn đề này, bỏ qua lời xác nhận của Bác rằng “Tôi chưa có gia đình riêng, gia đình của tôi là đại gia đình các dân tộc Việt Nam”, bỏ qua phủ nhận của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về mẫu thuẫn giữa ông và TBT Lê Duẩn (hay chuyện “đấu đá quyền lực” gì đó trong nội bộ Đảng CSVN),… đứng trên vai trò của một phó thường dân chẳng có nguồn thông tin ghê gớm nào, chẳng có mối quan hệ nào với “thâm cung bí sử” của Đảng CSVN và bộ máy nhà nước, tôi cũng có thể thấy được sự đê tiện của tụi sâu bọ trong việc đơm điều đặt chuyện cũng như sự ngu xuẩn của đám vô lại vuốt đuôi, chỉ biết sử dụng cái mõm để nhai lại mà không biết sử dụng não để nghĩ suy.

Âm mưu đê tiện của đám mãi quốc cầu vinh trong quá khứ nhằm bôi nhọ hình ảnh Bác và các vị lãnh đạo Đảng – Nhà nước thiết nghĩ cũng không cần phải đề cập đến nữa. Ở đây tôi chỉ nói đến hành vi của tụi quái thai chính trị, vong bản và một bộ phận không nhỏ những kẻ bản chất lưu manh nhưng mang danh trí thức đã góp phần xả cái thứ rác rưởi đó ra cộng đồng. Nguy hiểm hơn, chúng khiến nhiều người (nhất là trong giới thanh niên trí thức) vốn ngây thơ đến mức xem tất cả những gì đăng tải trên internet là sự thật, Wikipedia là chân lý, BBC – RFA là khách quan,… bị ngộ độc về tư tưởng, nhiễu loạn về thông tin (Than ôi, đến con cá voi to là vậy nhưng khi nó hút hàng khối nước biển vào người còn biết chọn lọc để giữ cái gì lại và phun cái gì ra đấy !).

I

Quay lại những thông tin thất thiệt về đời tư của Bác Hồ và sự “đấu đá” trong nội bộ Đảng CSVN thời kháng chiến chống Mỹ. Một người có lý chí thì trước những thông tin kiểu như vậy thì câu hỏi đầu tiên phải đặt ra là “nguồn thông tin từ đâu ?”. Có phải tất cả đều xuất phát từ bộ máy tuyên truyền của đám cướp nước, từ bè lũ tay sai, từ những kẻ quay lưng lại với dân tộc mà ngay cả cái tư cách làm người của chúng cũng chẳng ai dám thừa nhận ? Tôi thách chúng nó đưa ra được một công trình nghiên cứu, một tài liệu của một người, một tổ chức đáng tin cậy nào đó để chứng minh cho những lời lẽ bẩn thỉu ấy.

Tôi nhớ không nhầm thì tôi đã thoáng xem ở đâu đó những thông tin về việc Bác có “con rơi” với một cô nhân viên nào đó, rồi cô này bị thủ tiêu,… được viết bởi Bùi Tín, một kẻ cơ hội quay lưng lại với đất nước , với một chế độ đã đãi ngộ y và gia đình để ôm theo cuồng vọng trở thành một Boris Eltsin Việt Nam đến nỗi hiện giờ đang cầu bơ cầu bất “chửi mướn kiếm cháo” nơi xứ người. Y cũng là minh chứng rõ nét nhất cho những kẻ thích “bắn vào quá khứ bằng súng lục”… Vậy thì nguồn tin từ những kẻ như vậy là đáng tin cậy ?!

Là con người bình thường thì không mấy ai thoát khỏi những ham muốn cá nhân (lục dục). Nhưng lấy những tiêu chuẩn tầm thường của bản thân mình để áp đặt cho các bậc vĩ nhân thì đúng là ngu xuẩn. Lũ phàm phu tục tử được sống trong một đất nước yên bình, độc lập để được cơm no ấm cật, dậm dật khắp nơi nên lú lẫn hết đầu óc mà cho rằng Người đem lại cho gia đình, dòng tộc chúng cuộc sống như thế ắt hẳn cũng phải có những nhu cầu như chúng. Chắc chúng nó cho rằng một chàng trai nghèo khổ mới 21 tuổi đầu đã tự mình đi khắp năm châu bốn biển, ròng rã 30 năm trời để tìm ra con đường giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân phong kiến cũng đơn giản như chúng vung tiền đi du lịch, ăn chơi nhảy múa khắp nơi nên dứt khoát phải có “đào”. Hay chúng nghĩ vị lãnh tụ đã đoàn kết, lãnh đạo một dân tộc bị bóc lột cùng xương tận tủy suốt 100 năm nô lệ và đội quân khởi đầu với vỏn vẹn 34 người đánh bại 2 đế quốc lớn nhất thế giới cũng dễ dàng như việc chúng kéo bầy nhậu nhẹt, ăn tục nói phét, đuổi ong bắt bướm,… ? Với bản chất đớn hèn, ti tiện, tranh giành từng miếng ăn lẫn nhau như bầy chó giành cục xương thì làm sao chúng hiểu được hai chữ “HY SINH” của một người đã bỏ qua mọi mưu cầu hạnh phúc cá nhân để tạo dựng cái phúc chung cho toàn dân tộc ?

[IMG]

Tóm lại, về vấn đề tình cảm riêng tư của Bác, chẳng có gì chính xác hơn nhận định của nhà sử học MỹJosephine StensonNgười ta thấy Bác Hồ là một người cũng như mọi người: cũng có khát vọng tình yêu, cũng mong muốn có mái ấm gia đình. Nếu ai đó cho rằng những điều nhỏ bé này làm Bác Hồ kém vĩ đại đi là không đúng, vì chính những cái đó làm cho Bác càng thêm vĩ đại!“.

II

Nói đến vấn đề nội bộ Đảng CSVN trong những năm chống Mỹ mà chúng rêu rao rằng “TBT Lê Duẩn cô lập Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp để thiết lập quyền lực tuyệt đối cho bản thân mình” thì tôi càng thấy cái não trạng dặt dẹo, tư duy lý luận nghèo nàn và sự hiểu biết thiếu chất xám của chúng.

Thứ nhất, xét về năng lực chuyên môn thì TBT Lê Duẩn là người trình độ lý luận, am hiểu chủ nghĩa Mác và kinh nghiệm 9 năm là bí thư xứ ủy Nam Kỳ (1946 – 1954). Bên cạnh đó, ông là người có tầm nhìn chiến lược và khả năng lãnh đạo các cuộc đấu tranh vũ trang cách mạng. Bằng thực tiễn hoạt động chính trị, lãnh đạo và chiến đấu tại miền Nam, ông đã đưa ra “Đề cương cách mạng miền Nam” (1956), sau được thể hiện đầy đủ trong Nghị quyết 15 của Đảng (1959).

Thứ hai, xét về bối cảnh lịch sử thì sau năm 1956, hiệp định Geneve đã bị chính quyền Mỹ – Diệm trắng trợn xé bỏ, mục tiêu lớn nhất của Cách mạng Việt Nam bấy giờ là thống nhất đất nước, đánh đuổi Mỹ – ngụy bằng con đường đấu tranh vũ trang tại miền Nam. Chính vì vậy, năm 1957, Bác Hồ và Trung Ương đã cho gọi ông, người am hiểu địa thế và lòng dân phía nam ra Hà Nội để cùng trực tiếp điều hành. Nhiệm vụ cách mạng bấy giờ cùng với năng lực phù hợp của mình thì việc ông Lê Duẩn được bầu làm Bí Thư thứ nhất năm 1960 rõ ràng thể hiện cách dùng người đúng đắn của Bác Hồ và Trung Ương.

[IMG]

Thứ ba, ngoài nhiệm vụ cách mạng tại miền Nam, sứ mệnh của Đảng CSVN là xây dựng XHCN tại miền Bắc để làm hậu phương vững chắc chi viện miền Nam. Rõ ràng bộ máy Đảng và Nhà nước phải có sự phân công nhiệm vụ cho từng cá nhân lãnh đạo. Người tiền phương về như TBT Lê Duẩn sẽ nắm trọng trách lớn trong việc đối đầu trực tiếp với Mỹ ngụy trong khi Hồ Chủ tịch và cách lãnh đạo phù hợp khác tập trung vào xây dựng nền kinh tế – chính trị – xã hội và sức mạnh quân sự cho miền Bắc cũng như nâng cao vị thế của Việt Nam dân chủ cộng hòa trên trường quốc tế. Có thể thấy giai đoạn này Bác Hồ có nhiều chuyến công du nước ngoài, thiết lập mối quan hệ với các quốc gia khác và tranh thủ sự hỗ trợ của các nước bạn trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước.

Thứ tư, Bác Hồ không phải là một biểu tượng quyền lực (như kiểu tổng thống Mỹ), mặc dù Người đóng vai trò tối cao trong tổ chức Đảng và Nhà nước. Các chức danh của Người thời kỳ này đều mang tính chất Danh dự (chủ tịch nước, chủ tịch Đảng) mặc dù với uy tín của Người đối với nhân dân và thế giới thì không quyền lực nào sánh bằng. Hồ Chí Minh là biểu tượng của sự đoàn kết toàn dân, của tinh thần dân tộc, của tình bằng hữu quốc tế, của khát vọng Độc lập – tự do,… chứ không phải của quyền lực!

Thứ năm, về góc độ con người thì khi ấy Bác đã hơn 70 tuổi rồi. Ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước, mười năm rừng rú kháng chiến dù không làm nhụt chí vĩ nhân nhưng cũng làm xác phàm phải chồn chân mỏi gối. Nhân dân, Đảng, Nhà nước đâu thể yêu cầu Bác phải tham gia vào tất cả công việc của một đất nước non trẻ đang ngổn ngang thù trong giặc ngoài như một giám đốc điều hành đối với doanh nghiệp của mình được ?

[IMG]

Thứ sáu, về mối quan hệ giữa TBT Lê Duẩn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp thì chẳng có gì chân thực hơn bằng chính những lời bộc bạch của Đại tướng: “Với tôi, những năm công tác trong Bộ Chính trị, Anh (Lê Duẩn) đã thường xuyên trao đổi ý kiến, thường là nhanh chóng đi đến nhất trí trong những vấn đề lớn; khi có ý kiến khác nhau thì tranh luận thẳng thắn, những điều chưa nhất trí thì chờ thực tiễn kiểm nghiệm. Lúc mới ra Bắc, Anh thường tâm sự với tôi những khó khăn trong công việc… Từ sau Đại hội III và Đại hội IV, tôi đã ba lần đề nghị Anh là Tổng Bí thư kiêm luôn Bí thư Quân ủy Trung ương, nhưng Anh nói: “Anh là Tổng chỉ huy lâu năm nên tiếp tục làm Bí thư Quân ủy Trung ương, như vậy có lợi cho lãnh đạo”.
Và thực tế thì Đại tướng vẫn giữ cương vị Ủy viên Bộ Chính trị (đến 1982) – Bí thư Quân ủy Trung ương (đến 1977), Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam (đến 1975), Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (đến 1980).

***

Nói tóm lại, với cái não trạng của loài sâu bọ cùng cái tư duy nô lệ của chúng thì làm sao có thể hiểu được tầm vóc của các bậc vĩ nhân! Chỉ tiếc rằng không ít người, thậm chí cả các “trí thức già”, đã quá dễ dãi với việc tiếp nhận và tiêu hóa thông tin, dẫn đến việc hộp sọ họ vô tình trở thành nơi ấp trứng cho loài sâu bọ.

Với cá nhân tôi, nếu có chút gì đó làm cho Bác chưa được “toàn bích” là việc Người không bỏ được thuốc, điều làm hại sức khỏe của Người. Nhưng cũng chính hình ảnh Hồ Chủ Tịch và điếu thuốc rê ấy càng làm Người trở nên gần gũi, thân thương hơn và khiến cho những điều Người làm được cho dân tộc, cho đất nước và cho thế giới càng trở nên vĩ đại hơn. Điều quan trọng hơn nữa, Bác Hồ không phải là thần, là thánh, là Phật từ một cõi xa xăm, huyền ảo nào đó mà Người là hiện thân của những tinh hoa dân tộc Việt.

nguồn: http://www.doimat.cuanhcuem.net/2012/10/oc-sau-bo-sao-hieu-duoc-vi-nhan.html#.UHLL2ZgxrXh

Nói không với giả dối

“Công nghệ” sao chép

TT – Điển hình là trường hợp lập bản báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) của dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A. Dự án thủy điện này nằm trong vườn quốc gia Cát Tiên (Lâm Đồng) – một khu vực thuộc loại cấm “đụng chạm”.

 

Loài chà vá chân đen được ghi nhận trong đợt khảo sát tại nơi dự kiến xây dựng thủy điện Đồng Nai 6 (ảnh chụp tháng 7-2011) – Ảnh: Đ.tuyên

 

Sau khi bản ĐTM của Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam về dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A bị báo chí lật tẩy những “đường nét” sao chép, chủ đầu tư dự án là Công ty cổ phần Tập đoàn Đức Long Gia Lai lại phải thuê một đơn vị khác lập bản ĐTM mới. Tuy nhiên, ngay cả bản ĐTM thứ hai cũng bộc lộ không ít điều rất đáng ngờ.

Lòi đuôi

 

45

Đó là số ý kiến cũng như bài viết của bạn đọc gửi về trong ngày đầu tiên Tuổi Trẻ mở diễn đàn “Nói không với giả dối”.

Đơn vị đầu tiên lập ĐTM dự án thủy điện 6, 6A là Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam. Trong bản báo cáo này có đoạn khẳng định ảnh hưởng đến môi trường sinh thái dự án là “do việc chặt bỏ cây cối ven bờ kênh trong quá trình giải phóng mặt bằng xây dựng các hạng mục, đặc biệt là dừa nước hai bên bờ”. Nhưng thực tế là sông Đồng Nai chỉ có những thác ghềnh và dòng nước ào ào cuộn chảy, không hiền hòa như kênh rạch miền Tây. Đặc biệt khu vực này chẳng có một cây dừa nước nào.

 

Bản ĐTM này còn nêu: “Việc đào bới lòng hồ và kênh dẫn qua vùng đất chua, lầy úng đọng sinh phèn, nước mang chất phèn muối, axit, chất độc… lan truyền rộng”. Thế nhưng dọc sông Đồng Nai, cụ thể là vùng đất dự kiến xây dựng thủy điện Đồng Nai 6, 6A là vùng đất rừng bazan, đồi núi nối tiếp nhau cùng những con suối với nước ngọt mát lịm, không hề có “chua, lầy úng đọng sinh phèn”.

Trong phần kết luận về các lợi ích của hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A, Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam còn nâng cao hơn nữa “công nghệ” sao chép: “Các lợi ích kinh tế – xã hội do hai công trình thủy điện đem lại là thúc đẩy sự phát triển kinh tế khu vực, đặc biệt là các huyện vùng sâu vùng xa của tỉnh Quảng Nam”.

Dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A dự kiến được xây dựng trên sông Đồng Nai, nằm trên địa phận tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông và một phần nhỏ tỉnh Bình Phước, chẳng hề dính dáng gì đến tỉnh “Quảng Nam”?

Theo ông Trần Ký – một thành viên tham gia soạn thảo bản ĐTM, đoàn khảo sát của Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam chỉ đi thực tế khu vực vườn quốc gia Cát Tiên có bảy ngày, trong đó có ba ngày đi lạc. Cái giá mà chủ đầu tư phải trả cho bản ĐTM này là 420 triệu đồng. Đúng là làm giả mà ăn tiền thật.

Nói lấy được

Do xài “công nghệ” sao chép nên ĐTM của Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam bị bỏ. Thay vào đó, Viện Môi trường và tài nguyên (ĐHQG TP.HCM) được chủ đầu tư thuê lập lại bản ĐTM lần hai cho hai dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A. Bản ĐTM mới này vẫn thực hiện theo mong muốn của chủ đầu tư, cho rằng khu vực xây dựng thủy điện Đồng Nai 6, 6A có hệ sinh thái rừng nghèo nàn, nên có thể triển khai dự án.

Tại bản ĐTM này người ta kết luận: “Hầu hết là rừng tái sinh, rừng tre, nứa, lồ ô, rừng sản xuất, ruộng lúa, rừng nguyên sinh hầu như không có…”. Kết luận trên giống y chang kết luận của các cán bộ thuộc Bộ TN&MT, Bộ NN&PTNT, Bộ Công thương… sau khi đi khảo sát (cuối tháng 8-2012) khu vực dự kiến xây dựng thủy điện Đồng Nai 6, 6A. Kết luận này còn khẳng định “không phát hiện dấu hiệu của các loài động vật quý hiếm…”.

Nhiều cán bộ vườn quốc gia Cát Tiên cùng đi với đoàn khảo sát của các bộ cho biết đoàn chỉ làm việc trong hai ngày 24 và 25-8. “Đáng lẽ phải xuống đến tận khu vực dự kiến xây dựng đập thủy điện, nhưng họ chỉ đi tới khu vườn điều, ruộng lúa của bà con dân tộc – nơi cách xa địa điểm xây dựng đập hàng cây số”, một cán bộ vườn quốc gia Cát Tiên cùng đi với đoàn khảo sát thuật lại.

Dù còn nhiều thiếu sót, cắt dán, làm ẩu… nhưng cũng có một điều đáng chú ý là trong bản ĐTM đầu tiên do Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam lập có ghi nhận trong khu vực dự kiến xây dựng thủy điện Đồng Nai 6, 6A còn hiện diện rất nhiều loài động, thực vật quý hiếm. Trong khi đi khảo sát, đoàn cán bộ của Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam ghi nhận có gặp rất nhiều loài động, thực vật quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam và danh mục đỏ của Quỹ Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN).

Trong lần tiến hành khảo sát độc lập (phóng viên Tuổi Trẻ có tham gia) hồi tháng 7-2011, TS Vũ Ngọc Long, phó viện trưởng Viện Sinh thái học Việt Nam (Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam) và nhóm chuyên gia cũng ghi nhận tại khu vực dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A có 98 loài chim, trong đó năm loài quý hiếm có tên trong Sách đỏ. Riêng hệ thú có 14 loài và có những loài quý hiếm nằm trong Sách đỏ Việt Nam và quốc tế. Đặc biệt, đoàn của TS Long cũng phát hiện một loài thực vật mới – hoa trà Cát Lộc Camellia sp và mới đây loài này đã được công bố quốc tế về loài mới phát hiện và mang tên Camellia longgi.

Vậy là chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, những loài động, thực vật quý hiếm nêu trên bỗng nhiên biến khỏi bản ĐTM của Viện Môi trường và tài nguyên (ĐHQG TP.HCM) và cũng biến luôn khỏi kết luận của đoàn khảo sát của các bộ, ngành. Thật không thể hiểu nổi!

ĐỨC TUYÊN

 

“Lợi thì có lợi, hàm răng chẳng còn”

Theo số liệu thống kê, đến nay đã có không dưới 200 dự án thủy điện đã được xây dựng hoặc nằm trong quy hoạch ở miền Trung – Tây nguyên, trong đó Quảng Nam là nơi dẫn đầu về số lượng với 68 dự án nằm trải rộng trên tất cả các sông suối của địa phương này.

Lợi ích kinh tế tất nhiên là có và người hưởng thụ không ai khác chính là các nhà đầu tư. Nhưng hậu quả về môi trường phải trả giá do việc ngăn sông phá rừng để làm thủy điện thì địa phương phải “chịu trận”.

Còn nhớ đầu tháng 10-2010, cả huyện Đại Lộc của tỉnh Quảng Nam bất ngờ chìm trong lũ dữ, nhiều gia đình bỏ hết của nả chạy lũ trối chết trong đêm… Khi bình tĩnh trở lại, người dân ven sông Thu Bồn mới nghiệm ra rằng chính thủy điện A Vương nằm ở đầu nguồn con nước là thủ phạm gây ra trận lũ bất thường và kinh hoàng ấy. Tưởng câu chuyện “xả lũ A Vương” đã được ngành điện rút kinh nghiệm, nhưng rồi chỉ một thời gian ngắn sau đó người dân vùng hạ lưu của thủy điện An Khê Kanat ở Gia Lai đã phải kêu trời vì trâu chết, hoa màu trôi sạch chỉ trong một đêm.

Tiếp theo đó là TP Tuy Hòa (Phú Yên) cũng “trắng trời” vì nước lũ của thủy điện Sông Ba Hạ… Liên tiếp các bộ ngành kéo nhau vào miền Trung họp bàn để rồi một quy trình xả lũ liên hồ cuối cùng cũng đã được xây dựng, hình thành.

Sự hủy hoại về môi trường của thủy điện cũng thể hiện rất rõ. Vì lợi ích kinh tế, khi lập báo cáo nghiên cứu khả thi, nhà đầu tư thủy điện Đak Mi 4 là Tổng công ty Đầu tư phát triển đô thị và khu công nghiệp VN – IDICO (Bộ Xây dựng) quyết định chuyển toàn bộ nguồn nước từ sông Đak Mi cho đổ về sông Thu Bồn để phát điện. Với cách tính toán này, hơn 80km sông Đak Mi trở thành con sông chết và hậu quả cuối cùng là cả một vùng hạ lưu rộng lớn bao gồm cả Đà Nẵng và Hội An rơi vào cảnh khát nước trong mùa khô hạn.

“Cuộc chiến” đòi lại nước từng diễn ra giữa địa phương và chủ đầu tư, cuối cùng Chính phủ phải buộc IDICO hoàn trả một phần nước cho hạ lưu Đak Mi… Tương tự, sông Ba Hạ (Phú Yên) cũng bị chuyển mất nước, khiến cánh đồng Cam – vựa lúa chính của Phú Yên – nhiều năm rơi vào cảnh khô hạn chưa từng có.

Vì thủy điện mà hàng nghìn hecta rừng bị biến mất. Hình ảnh cả một dòng sông gỗ lậu nổi lên sau trận lũ kinh hoàng vào tháng 10-2010, hay những bè gỗ dài tít tắp nằm ở lòng hồ thủy điện A Vương tại Quảng Nam là minh chứng không thể chối cãi cho nạn phá rừng khi làm thủy điện.

ĐĂNG NAM

Nguồn: http://tuoitre.vn/Ban-doc/514139/%E2%80%9CCong-nghe%E2%80%9D-sao-chep.html


Ông Hoàng Hữu Phước

Câu nói hay nhất đầu năm 2011 cũng là câu đầy dõng dạc, dứt khoát, và khí thế – rất hiếm khi được nghe thấy ở Việt Nam trong suốt vài thập kỷ qua – chính là câu trả lời“Việt Nam Không Cần Đa Đảng” của một lãnh đạo Đảng khi được phóng viên nước ngoài phỏng vấn nhân Đại Hội Đảng Lần Thứ XI vừa qua. Cái thần uy của vị lãnh đạo Đảng là ở chỗ không cần nói nhiều, không cần giải thích dài dòng, vì sự phân bua nhỏ nhẹ dịu dàng không bao giờ là chiến thuật thượng đẳng hay phong thái đường bệ luôn phải có của người chiến thắng. Thế nhưng, vấn đề đa đảng sẽ cứ mãi được phóng viên nước ngoài lập đi lập lại trong những ngày tháng năm sắp đến, cũng như sẽ mãi được các nhóm chống Cộng khai thác để công kích Việt Nam, còn những người Việt ít làm việc trí óc thường dễ bị phân vân trước các khích bác. Nhân một số học trò và bạn hữu ở nước ngoài, những người hay chuyển đến tôi nhiều bài viết chống cộng ở hải ngoại do thích nghe tôi phản pháo [1] mà họ cho là dễ hiểu dễ nhớ khó cãi khó chống, hỏi tôi dịp Tết này vì sao Việt Nam vẫn còn “độc đảng độc tài” khi sự kiện Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn còn nóng hổi và vì cũng để những bạn trẻ Việt Nam hiểu biết thấu đáo hơn và hết phân vân trước các luận điệu chống đối của nước ngoài, tôi thấy cũng nên mạn phép dùng kiểu giải thích “cực kỳ bình dân” cho vấn đề “cực kỳ hàn lâm” trên.

Việt Nam không cần đa đảng vì sáu lý do rất đơn giản mà tất cả những người Việt Nam có sở hữu trí tuệ uyên bác và trong tình trạng sức khỏe tâm thần ổn định tốt đều đã hiểu và biết rất rõ như sau:

1) L‎ý do thứ nhất: Lẽ Công Bằng

Tại các nước Âu Mỹ dù có hay không có kinh qua các cuộc chiến tranh nội bộ, xâm lược hay bị xâm lược, khu vực hay toàn cầu, thì mọi tầng lớp nhân dân thuộc mọi phe nhóm hay đảng phái đều có đóng góp công của vào việc xây dựng đất nước, đóng góp xương máu trong tiến hành xâm chiếm nước khác làm giàu cho nước mình, hay đóng góp máu xương chống giặc xâm chiếm nước mình để giữ yên bờ cõi; thế nên ở xứ của họ đương nhiên là các phe nhóm chính trị, các đảng phái chính trị, và các tầng lớp nhân dân có quyền lợi như nhau trong sinh hoạt phe nhóm, đảng phái, mà họ gọi hoa mỹ là “đa đảng” như một nền tảng của “tự do ngôn luận” và “tự do lập đảng”. Tất nhiên, “đa đảng” là để che dấu một sự thật là tất cả các đảng đều chỉ khác nhau ở cái tên còn giống y nhau ở hai điểm (a) phục vụ lợi ích các nhà tài phiệt chủ nhân của đảng cầm quyền và (b) phục vụ lợi ích các nhà tài phiệt chủ nhân của các đảng khác đang nắm quyền ở Thượng Viện và Hạ Viện – nghĩa là nếu giả dụ hoang đường rằng ngay cả khi đảng “Cộng Sản Mỹ” có người “đắc cử” làm Tổng Thống Hoa Kỳ thì người ấy vẫn phải răm rắp thực hiện đầy đủ các cam kết của và tiếp tục các đường lối đối ngoại và thậm chí các cuộc chiến tranh gây ra bởi vị tổng thống tiền nhiệm. Tương tự, đa đảng ở Anh Quốc có nghĩa là bất kỳ đảng nào lãnh đạo chính phủ cũng đều phải tuyệt đối ủng hộ Mỹ, chung vai sát cánh với Mỹ tiến hành chiến tranh tại bất kỳ khu vực nào Mỹ muốn. Thêm vào đó, “đa đảng” tại các quốc gia theo thể chế quân chủ lập hiến chính là trò bát nháo buồn cười khi vẫn tồn tại miên viễn đặc quyền bất khả xâm phạm của các “vua”, các “nữ hoàng”, tức “đảng cấp trên” hay “đảng thượng cấp”, còn các đảng ở quốc hội và “nội các” là … “đảng hạ cấp” mà họ tự an ủi bằng danh xưng hoa mỹ “đa đảng của tự do dân chủ”.

Việt Nam hoàn toàn khác: tất cả các phe nhóm và đảng phái chính trị đều hoặc làm tay sai cho Pháp hay Nhật hay Hoa hay Mỹ, hoặc tự bươn chải chỉ biết dùng nước mắt bạc nhược cố tìm “đường cứu nước” (như Phan Bội Châu khóc lóc với Lương Khải Siêu [2] khi nhờ Lương Khải Siêu giới thiệu với Nhật xin giúp kéo quân sang Việt Nam đánh Pháp, mà không biết mình rất có thể đã “cõng rắn cắn gà nhà”, “rước voi về dày mả tổ”, mở đường cho sự quan tâm của Quân Phiệt Nhật tàn bạo đánh chiếm và giết chết nhiều triệu người Việt Nam sau này, và phải nhờ Lương Khải Siêu ban phát cho lời khuyên can mới hiểu ra sự nguy hiểm của lời yêu cầu Nhật đem quân đến Việt Nam giúp đánh Pháp), và tất cả đều chống Cộng. Chỉ có Đảng Cộng Sản Việt Nam đánh thắng tất cả, tạo dựng nên đất nước Việt Nam thống nhất, nên việc “đòi quyền lợi” hay “đòi quyền tham chính” của tất cả các cá nhân, tất cả các phe nhóm chính trị bên ngoài Đảng Cộng Sản Việt Nam là điều không tưởng, vô duyên, khôi hài và bất công, nếu không muốn nói là hành vi bất lương của kẻ cướp muốn thụ hưởng quyền lực chính trị trong khi đã không có bất kỳ công sức đóng góp nào cho Đảng Cộng Sản Việt Nam, ngoài sự chống phá ngay từ bản chất.

Người Việt Nam yêu sự công bằng nên không ai chấp nhận đa đảng. Bất kỳ ai nói nhặng lên về đa đảng đích thị là phường gian manh muốn ngồi mát ăn bát vàng, hoặc phường Việt gian tay sai Hoa-Mỹ, và do đó không thuộc cộng đồng người dân Việt chân chính.

2) Lý do thứ nhì: Yêu Cầu Cao Và Chuyên Nghiệp Của Trị Nước

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về chính trị.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về quân sự.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về ngoại giao.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về kinh tế.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về tạo uy danh lớn, uy tín cao, uy thế mạnh trên trường quốc tế.

Do đó, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã bảo vệ đất nước thành công, đã xây dựng đất nước thành công, và tất cả những điều này có nghĩa rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam có kinh nghiệm thực tế về trị quốc.

Nhân dân Việt Nam không bao giờ cho phép Đảng Cộng Sản Việt Nam đặt sinh hoạt chính trị sống còn của đất nước Việt Nam vào tay những kẻ vô danh tiểu tốt chỉ có hai thứ lận lưng là (a) tấm bằng thạc sĩ hay tiến sĩ của đại học Mỹ và (b) tiền tài trợ của Mỹ và những nước tương cận mưu toan xóa sổ Đảng Cộng Sản Việt Nam để ăn cướp thành quả cách mạng mà chỉ riêng Đảng Cộng Sản Việt Nam tạo dựng nên.

3) L‎ý do thứ ba: Kinh Nghiệm Thực Tế Và Sâu Sắc Của Người Việt Đối Với Những Kẻ Đặt Vấn Đề Đa Đảng

Tất cả những kẻ đặt vấn đề đa đảng đều nhận tiền của các thế lực chống cộng, từ đó dễ dàng suy ra rằng đòi hỏi đa đảng chỉ nhằm một mục đích duy nhất là tiêu diệt cộng sản để chỉ còn một đảng duy nhất của riêng chúng, chứ không phải để cùng Đảng Cộng Sản hữu hảo sinh hoạt chính trị “tự do” như ở các nước khác. Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ không xứng đáng lãnh đạo đất nước Việt Nam nếu để bản thân Đảng bị tiêu diệt vì luận điệu đa đảng ngây ngô trẻ nít ấy.

Điều nói thêm tuy không cần thiết do đã là sự thật quá rõ ràng là tất cả những người đã và đang kêu gào đòi đa đảng đều là phường bất tài vô dụng, vô danh tiểu tốt, vô hạnh, và vô lại. Không một ai trong nhóm người đòi đa đảng có thể cho ra một cái tên cụ thể nào của một con người cụ thể nào trong toàn thế giới chống cộng có uy danh hiển hách cùng kỳ tích trong và kinh nghiệm về trị quốc để có thể “tham chính” tại Việt Nam.

4) Lý do thứ tư: Kinh Nghiệm Thực Tế Và Sâu Sắc Của Người Việt Đối Với Đa Đảng

Người dân Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã có kinh nghiệm rằng Đảng Cộng Sản ở Miền Bắc đã lãnh đạo cách mạng thành công, chiến thắng xâm lược, xây dựng đất nước, và thống nhất đất nước trong vẻ vang.

Người dân Việt Nam Cộng Hòa đã có kinh nghiệm rằng Miền Nam đã chưa hề có chế độ đa đảng mà chỉ có vài phe nhóm linh tinh hay nói đúng hơn là chế độ đa đảng với chữ “đảng” là “băng đảng”. Sau nhiều năm làm tổng thống, Nguyễn Văn Thiệu cho rằng nhất thiết phải có một đảng chính trị để hòng có được uy danh một tổ chức có cương lĩnh hẳn hoi hầu sánh được với Đảng Cộng Sản Việt Nam nên đã khẩn cấp tổ chức nên cái gọi là Đảng Dân Chủ, với cờ vàng sao đỏ (đối chọi với cờ đỏ sao vàng) do Nguyễn Văn Thiệu làm đảng trưởng (đối chọi với chủ tịch đảng Hồ Chí Minh) trong lễ ra mắt ồn ào rợp cờ xí năm 1973 tại tòa nhà sát bên nơi nay là trụ sở Ủy Ban Nhân Dân Quận Bình Thạnh. Kỳ dư chỉ là những “liên danh tranh cử” của các tên tài phiệt, nhân sĩ “xôi thịt”, trí thức nửa vời, tu sĩ hổ mang, tay sai Mỹ, bất tài về kinh tế, bất lực về quân sự, dẫn đến sự thất bại nhục nhã khi các tổng thống nối đuôi nhau khóc lóc trên đài truyền hình quốc gia, run rẩy giàn giụa nước mắt thề tử thủ trước khi ôm vàng trốn chạy, còn quân đội vứt bỏ cả quân trang quân dụng và quân phục tháo chạy tán loạn.

Người dân Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam biết rất rõ rằng “tự do đa đảng” kiểu Mỹ áp dụng ở Đông Nam Á hoàn toàn là “độc-đảng-có-sự-ủng-hộ-của-Mỹ” như vết xe đổ của Philippines, Indonesia, v.v.; đồng thời, “tự do dân chủ” dưới sự bảo trợ của Mỹ luôn đồng nghĩa với độc tài gia đình trị tàn bạo và phản dân chủ như phiên bản các “đồng minh” khủng khiếp của Mỹ mà cụ thể là các tên tổng thống “độc đảng độc tài” như Ferdinand Marcos (Philippines), Suharto (Indonesia), Park Chung-hee (Hàn Quốc), Ngô Đình Diệm (Việt Nam Cộng Hòa), Nguyễn Văn Thiệu (Việt Nam Cộng Hòa), v.v., mà hiện nay là Husni Mubarak (Ai Cập) đã cai trị cùng kiểu và bị lật đổ cùng với sự dấy lên của phong trào chống Mỹ và/hoặc chủ nghĩa cực đoan gây bất ổn triền miên trên toàn thế giới.

Do đó, người dân Việt Nam chân chính, biết tự trọng, có tính hào hùng dân tộc, và hiểu biết sâu sắc về chính trị sẽ không bao giờ đặt vấn đề về đa đảng hay có nhu cầu đối với đa đảng.

Người Việt chân chính và có học thức đều biết rằng Hoa Kỳ và Việt Nam đều độc đảng, với điểm khác nhau duy nhất là đảng ở Việt Nam ở dạng sinh học nhất thể, còn đảng ở Hoa Kỳ là dạng sinh năm sinh ba sinh mười giống nhau như đúc do tự phân thân kiểu vi trùng để hoạt động giống y nhau bằng những cơ thể khác nhau, phục vụ cho mục đích không khác nhau.

Người Việt chân chính và có học thức đều biết rằng Hoa Kỳ và phe người Việt chống cộng hiểu rất rõ là họ đang sử dụng chiêu bài công kích cộng sản độc đảng chỉ với mong muốn tiêu diệt cộng sản, hình thành một xã hội độc-đảng-không-cộng-sản mà thôi, như những cuộc tiêu diệt cộng sản và chụp mũ cộng sản lên đầu phe đối lập đã luôn xảy ra dưới thời Suharto, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu cùng những tên tương cận khắp thế giới.

Người Việt chân chính và có học thức muốn đất nước được lãnh đạo bởi một đảng chính trị có thực tài để không phải chứng kiến trò hề tranh cử như ở Mỹ và sự rối loạn chính trị như ở Thái Lan. Đảng phái chính trị ở Việt Nam Cộng Hòa hoặc hữu danh vô thực, hoặc bất tài vô dụng, nên không bao giờ là mong muốn có tồn tại của người dân. Đảng phái chính trị “tương lai” mà những tên nhóc con vô danh tiểu tốt điên rồ như Lê Công Định [3] hay Cù Huy Hà Vũ [ 4] hoặc những tên lưu manh mặc áo chùng đen hay cà sa điên loạn muốn thành lập dù bất tài vô dụng về chính trị, ngu dốt về trị quốc, và chà đạp giáo lý đấng Chí Tôn không bao giờ được người dân Việt Nam chân chính yêu nước cho phép hình thành.

5) L‎ý do thứ năm: Người Dân Việt Nam Hài Lòng Với Và An Tâm Dưới Sự Lãnh Đạo Của Đảng Cộng Sản Việt Nam

6) Lý do cuối cùng và là lý do quan trọng nhất: Sự Tồn Tại Của Việt Nam

Mỹ kiêng sợ Trung Quốc đến độ nhiều chục năm qua không bao giờ dám gọi đồng minh Đài Loan là quốc gia. Thái Lan kiêng sợ Trung Quốc. Thế giới kiêng sợ Trung Quốc. Trung Quốc không sợ bất kỳ quân đội nào của thế giới. Trung Quốc chiếm Hoàng Sa đánh tan các chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa ngay trước mũi Đệ Thất Hạm Đội hùng hậu của Hoa Kỳ. Trung Quốc chỉ sợ quân đội của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Bọn đòi đa đảng là nhằm xóa sổ Đảng Cộng Sản Việt Nam. Người dân Việt Nam biết rằng xóa sổ Đảng Cộng Sản Việt Nam đồng nghĩa với thủ tiêu tất cả các tướng lĩnh Cộng Sản của quân đội Việt Nam, và làm tan rã quân đội Việt Nam. Người dân Việt Nam biết rằng Trung Quốc không trông mong gì hơn là Việt Nam có đa đảng, vì ngay khi bọn đa đảng xóa sổ được Đảng Cộng Sản Việt Nam, Trung Quốc sẽ xua quân đánh chiếm toàn bờ cõi Việt Nam và chiếm Việt Nam trong vòng 8 giờ làm việc của một ngày làm việc.

Người Việt chống cộng hay rêu rao Đảng Cộng Sản Việt Nam làm tay sai cho “giặc” Trung Quốc mà không đủ trí tuệ để hiểu rằng chính những hành vi chống Việt Nam của họ mới làm hài lòng mấy anh “giặc” ấy.

Hoa Kỳ thiếu ánh sáng trí tuệ nếu tài trợ dưỡng nuôi các phe nhóm chống Việt Nam Cộng Sản, vì chỉ có quân đội của Đảng Cộng Sản Việt Nam mới có thể ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc xuống vùng Đông Nam Á, không cho Trung Quốc uy hiếp Châu Úc, không cho Trung Quốc đặt dấu chấm hết cho sự ngự trị tung hoành của các hạm đội Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương.

Cộng sản không bao giờ có thể bị tiêu diệt; do đó, sự trỗi dậy của đa đảng đồng nghĩa với nội chiến, tàn phá đất nước, tàn diệt dân tộc, và tạo điều kiện cho Trung Quốc xóa sổ Việt Nam.

Ngoài sáu lý do đơn giản cực kỳ bình dân dễ hiểu và dễ nhớ trên còn có vô số các lý do khác, chẳng hạn (a) thế giới đang đánh giá cao về sự ổn định chính trị (do độc đảng đem lại) ở Việt Nam, nên Việt Nam dứt khoát kiên trì độc đảng để không làm thất vọng các nhà đầu tư quốc tế; (b) thế giới tư bản biến loạn với sự suy thoái kinh tế toàn cầu và các chủ thuyết của Karl Marx được Châu Âu quan tâm tái nghiên cứu tìm cách cứu thân trong khi Việt Nam đã nhuần nhuyễn áp dụng sáng tạo nên không lý do gì phải đi theo con đường đa đảng vô hiệu và thất bại của Âu Mỹ; hay (c) ngay cả Chính Phủ Hoa Kỳ cũng phải nhìn nhận vai trò quan trọng chiến lược của Việt Nam, đất nước độc đảng, trong an ninh khu vực và quốc tế, v.v.

Lời kết luận sẽ rất đơn giản, như lời lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nói:

“Việt Nam Không Cần Đa Đảng.”

Hoang Huu Phuoc, MIB

* Tựa đề do kenminhthien.net đặt.

[nguồn: http://my.opera.com/thanhniendatviet/blog/2012/09/29/da-dang]

Không chỉ là công trình phục vụ mục đích quân sự trong quá khứ, những pháo đài này còn có kiểu dáng hình sao đẹp mắt và là điểm du lịch hấp dẫn ngày nay.

1. Carré, Pháp

Carré là pháo đài được xây từ thế kỷ 16 ở ngoại ô Antibes và do kiến trúc sư Henri de Mandon thiết kế. Được nhà quân sự Vauban cải tạo lại vào cuối thế kỷ 17, pháo đài kiên cố này chưa bao giờ bị kẻ địch chiếm giữ. Carré cũng đóng vai trò quan trọng trong nhiệm vụ phòng thủ cho thị trấn Antibes trong những năm 1860. Trong giai đoạn diễn ra cuộc Cách mạng Pháp, vị tướng lỗi lạc Napoleon Bonaparte từng bị giam cầm một thời gian ngắn ở đây.

2. Naarden, Hà Lan

Naarden là một điển hình của pháo đài hình ngôi sao, với những bức tường kiên cố và một con hào bao quanh. Pháo đài có hình dạng đẹp mắt với 6 góc và bao quanh thị trấn cùng tên. Ở mỗi góc của Naarden là một công sự nhỏ hơn có nhiệm vụ bảo vệ vòng ngoài. Giới chức địa phương vừa cải tạo lại các công trình ở đây và chúng đang trong tình trạng rất tốt.

3. Kronborg, Đan Mạch

Kronborg là một pháo đài nổi tiếng ở thị trấn Helsingør. Công trình này nằm ở mũi Đông Bắc của đảo Zealand, tại eo biển  Øresund nằm giữa Đan Mạch và Thụy Điển. Vì chỉ rộng 4km và có đường ra biển Baltic, nên eo biển Øresund đóng vai trò chiến lược về quân sự. Kronborg được xem là một trong những lâu đài có kiến trúc kiểu Phục hưng quan trọng nhất ở Bắc Âu và được UNESCO công nhận Di sản thế giới ngày 30/10/2000.

4. Good Hope, Nam Phi

 

Tòa nhà hình sao này được xây vào thế kỷ 17 ở Cape Town. Vốn được đặt trên bờ biển Vịnh Table và sau khi được cải tạo, pháo đài được chuyển vào sâu trong đất liền. Năm 1936, công trình được công nhận là một di tích quốc gia và sau đó được cải tạo vào những năm 1980. Hiện nó được xem là công trình được bảo quản tốt nhất do công ty đa quốc gia Dutch East India xây dựng.

5. Pháo đài Độc lập, Mỹ

Pháo đài Độc lập là một công trình làm bằng đá granite với mục đích bảo vệ cảng cho thành phố Boston, Massachusetts. Nằm trên đảo Castle, đây là tòa nhà kiên cố và lâu đời nhất do người Anh xây dựng ở Mỹ. Lâu đài được xây dựng từ năm 1833 đến 1851. Ngày nay, nó được bảo tồn rất tốt và đóng vai trò nhưu một công viên. Năm 1970, pháo đài Độc lập được thêm vào danh sách những công trình lịch sử cấp quốc gia của Mỹ.

6. Pháo đài McHenry, Mỹ

Tòa nhà này nằm ở Baltimore, Maryland và đóng vai trò quan trọng trong Chiến tranh Mỹ – Anh năm1812. Pháo đài McHenry đã bảo vệ thành công Cảng Baltimore từ một cuộc tấn công của Hải quân Anh ở Vịnh Chesapeake ngày 13-14/9/1814. Sự kiện này sau đó là nguồn cảm hứng để nhà thơ Francis Scott Key sáng táng bài “The Star-Spangled Banner” và sau đó được chuyển thành quốc ca Mỹ.

7. Palmanova, Italy

Đây là pháo đài bao bọc thị trấn Palmanova. Công trình này bao gồm 3 vòng được xây dựng trong các giai đoạn khác nhau. Vòng đầu tiên có chu vi 7km, được xây vào năm 1593 và mất 30 năm để hoàn thành. Vòng thứ 2 được xây từ năm 1658 đến 1690. Vòng cuối được hoàn thành từ năm 1806 đến 1813. Palmanova  gồm 9 công sự hình tam giác, 9 pháo đài nhỏ, 9 công sự hình bán nguyệt và 18 chòi canh.

8. Goryōkaku, Nhật Bản

Goryōkaku là pháo đài ở thành phố Hakodate. Công trình này được xây dưới thời Mạc phủ Tokugawa (chế độ phong kiến Nhật Bản) từ năm 1857 đến 1866. Có hình dạng như một ngôi sao 5 cánh, đây là công trình cho phép gắn nhiều ụ súng trên tường hơn so với các pháo đài truyền thống của Nhật Bản. Ngoài ra, nó cũng có tác dụng giảm các điểm mù, nơi các khẩu pháo không thể bắn đến. Ngày nay, Goryōkaku là một công viên và được công nhận là di tích lịch sử đặc biệt. Công trình này cũng là nơi đặt bảo tàng thành phố Hakodate và là địa điểm để người dân Nhật Bản thưởng thức lễ hội hoa anh đào truyền thống.

9. Neuf-Brisach, Pháp

Công trình được xây dựng năm 1697 dọc theo sông Rhine, nhằm thay thế thị trấn Villa Nueve bị phá hủy trước đó. Kiểu pháo đài có dạng hình ô kẻ và bao bọc cả một khu dân cư như vậy là tương đối hiếm gặp ở châu Âu thời đó. Pháo đài do Vauban, một kiến trúc sư quân sự phục vụ cho vua Louis XIV, thiết kế. Năm 2008, thị trấn Neuf-Brisach được UNESCO công nhận là di sản thế giới.

10. George, Canada

Được đặt tên theo vua George II của Vương quốc Anh, đây là một di tích lịch sử quốc gia ở Halifax, Nova Scotia. Công trình được xây dựng trong giai đoạn chiến tranh Father Le Loutre vào thế kỷ 18. Mục đích là để bảo vệ những khu định cư của người theo đạo Tin lành chống lại cuộc tấn công của người Pháp, người Acadian và liên minh Wabanaki. Vào thế kỷ 19, lâu đài được khôi phục và từng trở thành căn cứ quân sự.

BÌNH AN

Theo Infonet