Tag Archive:


Vạch rõ âm mưu phá hoại của một số nghệ sĩ hải ngoại

Sinh ra và lớn lên tại Việt Nam, đến khi có cơ hội ra nước ngoài định cư thì không ít người gọi là “yêu nước” lại dùng lời khiếm nhã, chê xấu Việt Nam thế này – thế nọ. Thậm chí có người còn bạo động để lật đổ chính quyền. Hành động nhố nhăng như vậy mà lúc nào cũng bảo là vì tổ quốc, vì dân tộc. Những người như thế này đã làm được gì, cống hiến được gì cho đất nước Việt Nam chưa hay chỉ toàn làm hại đất nước?
Các trang Blog phản động ngày nào cũng ráo riết đi gom nhặt những mẫu tin tiêu cực, để xuyên tạc nói xấu nhằm hạ uy tín lãnh đạo và nhân cơ hội đó kêu gọi người dân Việt Nam đứng lên lật đổ. Nếu như không tiếp cận với nguồn thông tin chính thống, thì họ rất dễ dàng lọt vào kế sách của những người “yêu nước”. Người trung thực, vì chính nghĩa khi quan sát, nhận xét và phân tích vấn đề phải dựa trên sự thật. Có nghĩa là nếu có khen thì phải có chê. Còn đằng này những người xưng là “yêu nước” toàn là chỉ trích lãnh đạo, nhìn vào những tiêu cực và quy trách nhiệm cho những người đứng đầu đất nước. Cái khuyết điểm thì moi móc, xuyên tạc còn cái tích cực thì không đả động gì tới. Thậm chí có nhiều người còn bịa đặt nhiều câu chuyện nhằm hạ uy tín lãnh đạo. Với lời nói  như vậy thì những người “yêu nước” liệu có đáng tin cậy hay không?

Người Việt Nam có tài, đó là điều không một ai trên thế giới chối cãi. Thế nhưng, tài năng cũng được chia thành nhiều loại. Có người có tài lãnh đạo, có người có tài ngoại giao – chiến lược, có người có tài làm kinh tế – giáo dục… và cũng có nhiều người có cái tài chẳng bao giờ được vinh danh, đó là: tài lanh, tài phiệt, tài nói láo – xuyên tạc. Và nếu như được đọ sức thì những người tự xưng là “yêu nước” sẽ chiến thắng hoàn toàn những người Trung Quốc lếu láo – những người mà được mệnh danh là bậc thầy biến thủ phạm thành nạn nhân, đổi trắng thay đen…!

Chương trình của trung tâm băng nhạc Asia (Mỹ) “nói xấu bôi nhọ chính phủ nhà nước Việt Nam”!

Nói như vậy là bởi vì, trong khi Trung Quốc gây hấn, cho tàu hải giám xâm phạm lãnh hải… hòng để Việt Nam dùng vũ lực và nhân cơ hội đó dồn Việt Nam vào chỗ hiểm. Nhận thấy sự mưu mẹo của Trung Quốc, lãnh đạo Việt Nam không chọn lối dùng vũ lực đáp trả mà chọn phương pháp đàm phán và ngoại giao để từng bước xiết chặt Trung Quốc. Vậy mà, những người “yêu nước” lại tung tin rằng lãnh đạo bán nước, nói xấu hết điều này đến điều nọ. Thử hỏi, nếu bán nước thì liệu Trung Quốc có ngồi yên để quốc tế chỉ trích không? Nếu như bán cho Trung Quốc rồi thì Trung Quốc sẽ cầm tờ giấy “mua-bán” ra tòa án quốc tế rồi chứ dại gì mà đi gây chiến để chiếm đảo của Việt Nam?!

Tuấn Vũ và Giao Linh góp mặt trong liveshow của Quang Lê tại TP HCM tháng 4/2011. Ảnh: Lý Võ Phú Hưng.

Chưa kể đến là những thành phần tự xưng là “chính nghĩa”, là thông minh, lúc nào cũng “yêu nước”  nhưng dùng lời ca, tiếng hát để nói xấu quê nhà. Những ca sĩ hải ngoại lúc nào cũng bảo nhớ quê, thương quê nhưng rất nhiều trong số đó như Thanh Tuyền, Tuấn Vũ, Quang Minh – Hồng Đào, Mạnh Đình, Ngọc Huyền… lại “khôn nhà dại chợ”. Lúc nào cũng tung hô rằng sẽ cống hiến tài sức để Việt Nam nở mặt và ra sức kêu gọi về Việt Nam làm từ thiện vậy mà ẩn đằng sau đó là sự tráo trở – tham gia vào các chương trình của trung tâm băng nhạc Asia (Mỹ)  “nói xấu bôi nhọ chính phủ nhà nước Việt Nam”!.

Vợ chồng diễn viên Quang Minh, Hồng Đào trong lần về Việt Nam đóng phim.

Những người nghệ sỹ luôn soi gương trước khi bước lên sân khấu diễn, vậy thử hỏi có bao giờ họ tự soi gương, nhìn kỹ mình xem, xem bản thân xưng là “yêu nước” nhưng đã làm gì cho đất nước Việt Nam chưa? Hay chỉ toàn là làm hại đất nước, cỗng rắn đi cắn người nhà! Mang trong người dòng máu Việt, sanh ra, trưởng thành ở đất Việt vậy mà khi định cư nước khác lại mang tư tưởng và hành động phản bội đất nước nuôi mình lớn khôn. Như vậy thì có gọi là khôn ngoan được không? Chắc là không thể rồi! Nên nhớ rằng, một khi ý thức dân tộc không còn thì đã không còn là dân Việt nữa rồi. Bởi, nếu là người con đất Việt thì chẳng bao giờ đi phá hoại đất nước mình cả…!

Hải Dương

(Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả)

[nguồn: cộng đồng mạng yêu nước]

Đường hòa nhập của những nhân sĩ chế độ cũ

Với những nghiên cứu thầm lặng, Nhóm trí thức này đã đóng góp tích cực vào quá trình đổi mới của thành phố. Họ để lại dấu ấn trong những đột phá về cải cách giá – lương – tiền, cải tổ ngành ngân hàng, đề xuất lập khu chế xuất Tân Thuận…

LTS: GS. Đặng Phong trong cuốn Tư duy kinh tế Việt Nam 1975-1989 kể: Ở TP. Hồ Chí Minh có một nhóm chuyên viên kinh tế được nhắc đến với cái tên “Nhóm Thứ Sáu”. Thành phần chủ yếu là những người từng làm việc trong chế độ cũ. Họ được Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh thời đó là ông Võ Trần Chí trọng dụng.

Với những nghiên cứu thầm lặng, Nhóm trí thức này đã đóng góp tích cực vào quá trình đổi mới của thành phố. Họ để lại dấu ấn trong những đột phá về cải cách giá – lương – tiền, cải tổ ngành ngân hàng, đề xuất lập khu chế xuất Tân Thuận…

Thực ra lâu nay, cái tên “Nhóm Thứ Sáu” được nhắc đến rải rác trên một số trang báo, nhưng chưa từng có một tuyến bài nào kể lại đầy đủ hoạt động và đóng góp của nhóm. Tuần Việt Nam vừa có may mắn tiếp xúc với một số câu chuyện thực tế của họ. Chúng tôi trân trọng chia sẻ cùng độc giả.

Hơn hai chục năm trong chiều dài lịch sử không là bao nhiêu, nhưng đối với những người ray rứt với tình hình đất nước đang từng ngày chuyển biến thì quả thật là đáng kể.

Những nhân sĩ, trí thức trong Nhóm Thứ Sáu với điểm xuất phát tuy khác nhau nhưng do cùng hoàn cảnh và tâm tư, đã hội tụ thân thiết như các thành viên trong một gia đình. Mỗi tuần họp mặt ít nhất một lần, anh em cùng nhau lạm bàn chuyện thế sự mà không hề có tham vọng riêng tư. Đây là một nhóm lãng tử tìm đến nhau một cách tình cờ, tập hợp vốn hiểu biết rồi cùng nhau bàn luận, trước hết là để chung vui, còn ai muốn sử dụng những điều ấy như thế nào thì tuỳ hoàn cảnh và công việc.

Bao trùm lên trên cái thực thể của Nhóm là rất nhiều cái Không. Không giấy phép thành lập, không chủ quản, không tổ chức, không nội quy điều lệ, không trụ sở, không ai lãnh đạo, không ai hưởng lương, không vụ lợi, không kỷ luật lẫn khen thưởng, không ràng buộc cũng như không hơn thua với ai và còn nhiều cái không nữa.

Có lẽ nhiều cái không ấy đã làm nên cái có: đó là có anh em, có chuyện để bàn bạc, có tấm lòng và có dịp sinh hoạt với nhau đến nay đã 24 năm liên tục.

Tên gọi của nhóm này thật ra chỉ mới có vài năm gần đây và việc định danh “Nhóm chuyên viên kinh tế Thứ Sáu” cũng rất đơn giản là vì anh em gặp nhau định kỳ vào chiều thứ Sáu hàng tuần.

Nếu ai hỏi Nhóm Thứ Sáu có bao nhiêu người thì cũng khó trả lời chính xác. Trong những năm qua số này có nhiều biến động nhưng “cựu trào” thì còn không quá 10 người. Hiện nay có thường xuyên từ 15 đến 20 anh em gặp gỡ nhau hàng tuần, có thể coi như là những nhân vật nòng cốt.

Thời kỳ cuối thập niên 70 đầu thập niên 80, tình hình kinh tế xã hội ở miền Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng cực kỳ khó khăn.Sau hai đợt cải tạo, tiềm lực kinh tế của thành phố gần như kiệt quệ. Nhiều năm sau ngày giải phóng, nền kinh tế vận hành theo quán tính như một chiếc xe ngày càng cạn nhiên liệu, tạo điều kiện cho hoạt động kinh tế ngầm phát triển với hàng loạt sản phẩm tiêu dùng thuộc loại kém chất lượng vì thành phần nguyên liệu, phụ liệu không đủ, được đưa ra thị trường nhằm giải quyết nhu cầu không thể thiếu của người dân.

Nền kinh tế kế hoạch tập trung và cơ chế bao cấp áp đặt ở miền Nam làm cả hai miền đất nước nghèo như nhau. Đó là thời kỳ mà lần đầu tiên ở Sài Gòn biết thế nào là ăn độn. Trí thức Sài Gòn phần lớn dính dáng vào quân đội và chính quyền cũ nên phải đi học tập cải tạo, một số trở về mang tâm trạng hoang mang chán nản, một số không ít bỏ ra nước ngoài tạo nên tình trạng chảy máu chất xám đến mức báo động. Thêm vào đó, vụ Nạn kiều và những chuyến vượt biên bán công khai càng làm cho tâm lý xã hội thêm nặng nề.

Trong tình hình kinh tế xã hội gay gắt ấy, mô hình công ty xuất nhập khẩu trực dụng được lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh cho ra đời mà Quận 5 đã đi tiên phong với Công ty Cholimex.

Mục đích của công ty này là huy động những đồng vốn tản mát trong dân dưới hình thức cổ phần, tận dụng các mối quan hệ của những nhà kinh doanh người Hoa với bên ngoài để xuất khẩu các loại hàng nông hải sản rồi nhập vật tư nguyên liệu về cung ứng cho các cơ sở sản xuất tại Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh và cho cả các doanh nghiệp nhà nước.

Lúc bấy giờ, ông Phan Chánh Dưỡng sau khi giã từ ngành giáo dục được Quận uỷ đưa về làm Trưởng phòng kế hoạch tại Cholimex. Là một nhà giáo gần như chưa bao giờ tiếp cận với hoạt động kinh doanh ở cấp độ công ty, ông Dưỡng thấy rằng cần phải thu hút chất xám từ những người có kiến thức chuyên môn để bổ sung vào những hạn chế của mình.

Thế là ông Trần Bá Tước, một chuyên viên ngân hàng sau khi đi học tập về đã đến với Cholimex vào năm 1982 với tư cách là một phiên dịch. Tiếng lành đồn xa, nhận ra Cholimex là nơi có thể đóng góp hiểu biết của mình, nhiều trí thức cũ đã gặp ông Phan Chánh Dưỡng và trở thành những người trợ lý đắc lực.

Một trong những người này là ông Phan Thành Chánh, chuyên viên ngân hàng và ông Đỗ Hải Minh, chuyên viên hành chính nhiều kinh nghiệm trước đây làm việc ở Bộ phát triển sắc tộc trong chế độ cũ, sau khi đi học tập về đang tìm một chỗ làm việc để nhẹ gánh mặc cảm.

Ông Nguyễn Thông Minh, một chuyên gia mà cũng là một giáo sư đại học dạy vật lý có phương pháp sư phạm rất tốt (nhất là về môn điện tử) lại là một chuyên viên điện toán giỏi, sau khi “đầu quân” đã soạn chương trình vi tính về quản lý lương bổng cho Cholimex, một công việc cực kỳ mới mẻ lúc bấy giờ. Sau đó ông lại đứng ra thành lập Trung tâm Điện toán Cholimex, cơ sở vi tính đầu tiên tại thành phố Hồ Chí Minh.

Từ đó Cholimex thành một nơi đất lành chim đậu, tập hợp rộng rãi các anh em trí thức đang làm việc tại Ban Khoa học Kỹ thuật thành phố, Công ty Đại Dương, Công ty dịch vụ Kỹ thuật như các anh Lê Mạnh Hùng, Võ Hùng, Võc Văn Huệ. Rồi đến Mai Kim Đỉnh, Trương Quang Sáng, Lê Hoà, Nguyễn Chính Đoan, Lê Văn Bỉnh, Trần Văn Tư, Đỗ Trung Đường, Lê Đình Khanh, Lâm Tuấn Anh, Võ Gia Minh, Trần Quí Hỷ, Đỗ Nguyên Dũng, Phan Tường Vân, Lâm Võ Hoàng, Huỳnh Bửu Sơn, Hồ Xích Tú, Nguyễn Ngọc Hồ… cùng một số người khác.

Thời kỳ đầu, họ đã đi thực tế ở nhiều nơi như Duyên Hải, Đồng Nai và các tỉnh miền Tây, nghiên cứu nhiều dự án với hy vọng khái thác tiềm năng cho nhu cầu phát triển kinh tế của thành phố. Thế nhưng đó lại là câu chuyện đội đá vá trời trong tình hình cơ chế xơ cứng đang còn ngự trị. Khi nhìn lại anh em thấy những công việc đã làm chẳng qua cũng là công dã tràng. Nhưng dù sao đây cũng là  nhân tố ban đầu của sự tập hợp một số trí thức cũ có tấm lòng và mong được đóng góp cho sự phát triển kinh tế thành phố nói riêng và đất nước nói chung.

Bước đầu hình thành Nhóm, ngoài hạt nhân là ông Phan Chánh Dưỡng còn có sự ủng hộ của ông Võ Trần Chí khi ấy đang làm Bí thư Quận 5- một người cầu thị, trân trọng trí thức, trong giao tiếp không bao giờ nói chuyện đao to búa lớn.

Ông Chí cũng nhận ra rằng không dễ dàng khai thác kiến thức của những người trí thức. Muốn anh em đóng góp thì phải tạo cho họ có được cảm giác tự do, không một mảy may gò bó. Cũng trong tư cách một người anh, ông chấp nhận ngay cả việc anh em có thể nói sai, cho rằng đó chẳng qua vì anh em chưa hiểu thấu đáo, lần lần rồi cũng sẽ hiểu ra. Chính sự bao dung đó đã thuyết phục được anh em.

Thời gian này, Nhóm Thứ Sáu sinh hoạt định kỳ ba lần một tuần tại Cholimex vào thứ Hai, thứ Tư và thứ Sáu, gặp gỡ nhau để bàn bạc, tranh luận. Đó vừa là cơ hội để kết thân vừa giải toả được mặt cảm nên ai cũng thấy rất vui, dần dần trở thành nhu cầu mà tuần nào không gặp nhau là cảm thấy như thiếu điều gì đó, một thứ thiếu vắng không có tên gọi.

Giai đoạn 1986-1990: Những công trình nghiên cứu

Sau mấy năm sinh hoạt tại cơ ngơi của Mạnh Thường Quân Cholimex, cùng nhau mổ xẻ một số vấn đề gay gắt trong đời sống kinh tế xã hội, cho đến một lúc họ bỗng giật mình nói với nhau: Cả Nhóm ngồi lại nhiều năm nói chuyện trên trời dưới đất nhưng nếu ai đó không hiểu thì lôi thôi, không chừng lại bị “hỏi thăm”.

Suy nghĩ này được ông Phan Chánh Dưỡng đề đạt lên ông Võ Trần Chí khi đó đang làm Bí thư Thành uỷ: nếu thấy tin cậy được thì đề nghị cấp cho một giấy chứng nhận hợp thức hoá sự tập hợp trí thức cũ. Rất may, do quá trình hiểu biết anh em nhiều năm, ông Võ Trần Chí đồng ý và giao nhiệm vụ này cho ông Năm Ẩn, lúc đó là Trưởng ban Kinh tế Thành uỷ.

Thế là một danh sách 24 người được gửi lên cho lãnh đạo, anh Năm Ẩn ký giấy xác nhận danh sách “Nhóm nghiên cứu chuyên đề kinh tế của Thành uỷ”. Đây không phải là giấy khai sinh mà chỉ là tấm lá chắn nhưng cũng đã đánh dấu thời điểm “hợp pháp” từ tháng 10 năm 1986.

Bắt đầu từ đấy, nhóm trí thức cũ sinh hoạt định kỳ hàng tuần, vẫn tại Cholimex và hoàn toàn có tính tự nguyện. Cũng từ đó các lãnh đạo thành phố như các ông Võ Trần Chí (Hai Chí), Nguyễn Vĩnh Nghiệp (Sáu Tường), Năm Ẩn, Tư Triết, Phạm Chánh Trực (Năm Nghị) thỉnh thoảng xuống tham dự hội họp với họ.

Cái tư cách pháp nhân lưng chừng ấy cũng đã khiến nhóm nhân sĩ này nghĩ đến một cách sinh hoạt có tính chủ đề hơn. Vì vậy đây chính là thời kỳ hình thành nhiều công trình nghiên cứu có tính bài bản của nhóm. Có thể kể ra đây một số công trình nghiên cứu được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, qua đó tâm huyết của anh em đã có cơ hội góp phần vào việc hình thành chính sách của nhà nước sau này.

  1. Nghiên cứu về Giá – Lương – Tiền:

Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên được thực hiện rất bài bản. Có mô tả hiện trạng, có phản biện, có cơ sở lý luận và chuẩn bị bảo vệ ý kiến của mình.

Bài toán giá – lương – tiền được mổ xẻ thấu đáo mà đáp số của nó theo quan điểm của nhóm có cự ly rất xa với nhận định của các nhà lập chính sách ở Trung ương vào lúc ấy. Sau nhiều tuần cọ xát quan điểm, anh em hoàn thành bản nghiên cứu về giá – lương – tiềm thì vào cuối năm 1986 ông Phạm Chánh Trực viết thư giới thiệu công trình này với ông Võ Văn Kiệt lúc ấy đang làm Chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước và đề nghị ông trực tiếp nghe anh em trình bày.

Các ông Phan Chánh Dưỡng, Huỳnh Bửu Sơn, Trần Bá Tước ra Hà Nội báo cáo đề tài này với các chuyên viên cấp cao của Chính phủ, buổi làm việc do ông Sáu Dân chủ trì, Đề tài nghiên cứu này có tính thuyết phục, được các chuyên viên như ông Trần Đức Nguyên, Vũ Quốc Tuấn, Lê Đăng Doanh đánh giá cao. Trước khi trở về thành phố Hồ Chí Minh, các anh Dưỡng, Sơn, Tước còn được ông Nguyễn Cơ Thạch (lúc ấy là Bộ trưởng Ngoại giao) mời trình bày đề tài này và cũng được ông đánh giá cao.

  1. Nghiên cứu đề tài Cải tổ Ngân hàng:

Sau chuyến thuyết khách ở Hà Nội, Nhóm Thứ Sáu nắm bắt thêm thực tế và phát hiện ra rất nhiều nghịch lý trong điều hành vĩ mô. Một trong những vấn đề đó là hoạt động thiếu hiệu quả của hệ thống ngân hàng của thời kế hoạch hoá tập trung. Đề tài này do hai ông Huỳnh Bửu Sơn và Lâm Võ Hoàng là những người có kinh nghiệm thực tiễn nhiều năm trong lĩnh vực ngân hàng chủ trì.

Nghiên cứu của họ đi sâu vào cơ thể dị dạng của hai bộ phận Ngân hàng và Tài chính dính chặt vào nhau, sự bất hợp lý trong điều hành chính sách tiền tệ và đề xuất một cơ chế hoạt động cho Ngân hàng theo hướng kinh tế thị trường. Đề tài nghiên cứu này cũng được Chính phủ quan tâm, những suy nghĩ và đề xuất của các thành viên trong Nhóm dường như có sự lan toả cho nên vào năm 1988, khi Chính phủ chẩn bị Pháp lệnh Ngân hàng, hai ông Lâm Võ Hoàng và Huỳnh Bửu Sơn đã được mời tham gia vào việc soạn thảo.

  1. Nghiên cứu phát triển Ngoại thương:

Đây là đề tài nghiên cứu khá gay gắt bởi vào thời điểm ấy thành phố Hồ Chí Minh chủ trương cho các công ty xuất nhập khẩu tự cân đối tài chính. Đề tài này làm rõ chủ trương vừa nói là sai lầm vì đó chính là một trong nguyên nhân đẩy giá cả tăng lên.

Do được quyền tự cân đối nên các công ty xuất nhập khẩu mua nông sản với bất cứ giá nào bất chấp giá thị trường để xuất khẩu, rồi dùng ngoại tệ bán được để nhập khẩu bán lại cho trong nước với giá cao để kiếm lời mà Nhà nước không can thiệp vào. Do tự cân đối mà giá cả nông sản tăng keo theo hàng công nghệ phẩm lên giá, góp phần làm tăng áp lực lạm phát.

  1. Đề tài Kinh tế vùng:

Đề tài này được giao cho ông Nguyễn Ngọc Hồ chủ trì và được bản thảo lâu nhất, kéo dài khoảng nửa năm. Công trình này được ông Lê Văn Triết lúc bấy giờ là Thứ trưởng Thương mại đánh giá cao và sau đó góp phần vào việc hình thành chính sách.

  1. Công ty tư vấn Đầu tư và Khu chế xuất:

Vào năm 1987, dưới tác động của chính sách mở của, Nhóm tập trung thảo luận về khả năng thu hút đầu tư nước ngoài và thống nhất thành lập Công ty tư vấn đầu tư (IMC). Đây là một chuyển biến quan trọng trong sinh hoạt của Nhóm, chuyển từ bàn bạc sang thực hiện. Ông Phan Chánh Dưỡng được giao làm Phó Giám đốc Công ty, nhưng sau đó do số cán bộ từ thành phố điều xuống áp dụng cách làm việc theo kiểu cũ nên vai tròg hạn chế, không phát huy được công năng của công ty. Vì vậy ông Dưỡng và một số anh em trong Nhóm từng bước rút lui khỏi công ty.

Năm 1989, ông Dưỡng đề nghị thành lập Hiệp hội Xuất nhập khẩu đầu tư (Infotra) và đề tài được anh em tập trung nghiên cứu là Khu chế xuất. Đây cũng là thời gian ông Dưỡng rút khỏi vị trí Giám đốc Cholimex và chú tâm vào việc biến công trình nghiên cứu trở thành hiện thực.

Có thể nói đây là công nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao vì sau đó nội dung này được áp dunhgj vào việc hình thành Khu chế xuất Tân Thuận dưới hình thức Công ty liên doanh trong đó anh Phan Chánh Dưỡng đại diện cho đối tác trong nước làm Phó Tổng Giám đốc. Và để thực hiện ý tưởng phát triển thành phố Hồ Chí Minh ra biển Đông, Công ty Phát triển Công nghiệp Tân Thuận sau đó được thành lập làm pháp nhân nghiên cứu và thực hiện các chương trình như đại lộ “Bắc Nhà Bè – Nam Bình Chánh” nay là đại lộ Nguyễn Văn Linh, khu đô thị mới Nam thành phố Hồ Chí Minh, Khu công nghiệp Hiệp Phước…

  • Mời theo dõi tiếp kỳ 2.
    [Tác giả: ĐÔNG HẢI]
    [link: http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-04-06-duong-hoa-nhap-cua-nhung-nhan-si-che-do-cu]

Mới đây, tác giả bộ truyện tranh Sát thủ đầu mưng mủ từng gây xôn xao dư luận – Nguyễn Thành Phong đã cho ra mắt loạt sản phẩm mới về văn hóa giao thông.

Vẫn giữ nguyên cái “chất” của bộ truyện trước, Thành Phong khéo léo chỉ ra những vấn đề bức xúc trong giao thông ở nước ta hiện nay như: tình trạng tắc đường, phóng nhanh vượt ẩu, phố ngập thành sông.. qua các bức vẽ sinh động kèm “ranh ngôn”, “thơ con cóc” dí dỏm. Người xem tranh khi đọc được những câu từ: “chồng lái lụa, vợ góa bụa”, “còi to, máy rú là thú lái xe”… khó ai có thể nín nổi cười.

Tranh Thanh Phong

Vì sao ‘nhân dân’ không được làm chiến sĩ thi đua?

Có tới… 59 quan chức trong danh sách 60 người được đề nghị phong tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc của Ban thi đua khen thưởng Trung ương năm nay.

Duy nhất người mang hơi hướng “nhân dân”, đó là ông Nguyễn Viết Đức, giáo viên Tổng phụ trách Đội Trường Tiểu học Tân Lợi, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước. Chức vụ nhỏ nhất cũng tầm hiệu trưởng, còn lại toàn cỡ bộ trưởng (Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình), thứ trưởng (Nguyễn Thanh Long, Thứ trưởng Bộ Y tế; Ngô Văn Khánh, Phó Tổng thanh tra Chính phủ), cục trưởng, viện trưởng, giám đốc, phó giám đốc sở, bí thư tỉnh, chủ tịch huyện…

Có thể hiểu, 60 cá nhân trong danh sách được đề nghị phong tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc đợt này đều là những người ưu tú, có thành tích đặc biệt xuất sắc trong công tác chuyên môn, là tấm gương sáng về tài năng và nhân cách, tiêu biểu cho phong trào thi đua của cả nước.

Nhưng vì sao danh sách chỉ toàn những người có chức vụ cao mà vắng bóng những người công nhân đang lăn lộn trên công trường, xây dựng những công trình đưa đất nước lên tầm cao mới? Đâu rồi những người nông dân dãi nắng dầm sương, đối mặt với vô vàn thiên tai để trực tiếp làm ra hạt gạo, nuôi sống cả nước và mang đi xuất khẩu? Đâu rồi những chiến sĩ không tiếc tuổi thanh xuân, ngày đêm chắc tay súng bảo vệ vững chắc biên cương, hải đảo Tổ quốc?…

Vậy thì có không muốn cũng không thể không đặt câu hỏi: chẳng lẽ, chỉ có “quan” mới thi đua, còn công nhân và nông dân thì không? Và một khi người lao động đã đứng ngoài thì thử hỏi làm sao thúc đẩy được phong trào thi đua? Liệu có sự thiếu minh bạch, nể nang nào đó hay không?

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng phát biểu, thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua và thi đua trên tinh thần yêu nước. Khi thi đua đã trở thành phong trào thì tác dụng của nó đến lao động – sản xuất và sự phát triển xã hội là rất lớn. Nhưng khó ở chỗ là làm thế nào để thi đua trở thành phong trào.

Trước đây, trong thời kỳ chiến tranh cứu nước, mọi người đều ra sức thi đua lao động, sản xuất, chiến đấu, bởi họ thấy được tiền đồ tươi sáng của dân tộc khi đánh đuổi xong quân thù. Đó chính là những động lực để mọi người ra sức thi đua. Ngày nay, đất nước đã bước ra khỏi cuộc chiến tranh cứu nước và đi vào xây dựng, phát triển. Quy luật phát triển đòi hỏi cả tầng lớp lao động chân tay và lao động trí óc càng phải ra sức thi đua, cống hiến.

Muốn đẩy mạnh phong trào này, không gì khác là phải tạo ra những động cơ, động lực thi đua tương tự như thời kỳ trước.

Phát động thi đua ở mỗi một cơ quan, đơn vị cụ thể, thì người thủ trưởng, người đứng đầu không những phải gương mẫu, trong sạch mà còn phải làm cho từng người trong cơ quan, đơn vị đó thấy được tiền đồ phát triển của cơ quan cũng như của mỗi cá nhân.

Mỗi cá nhân đều phải được hưởng công bằng về cả chất lượng lẫn số lượng của những thành quả lao động. Khi được quan tâm tới đời sống vật chất, đời sống tinh thần cũng như thấy được tương lai tươi sáng của bản thân, có lẽ mỗi người sẽ tự bảo nhau thi đua chứ có khi không cần chờ phát động.

Liệu có thể kêu gọi được ai đó thi đua khi mà họ biết trước được rằng, dù có thi đua đến mấy thì đời sống vật chất và tinh thần của mình vẫn không được cải thiện, tương lai của mình vẫn bấp bênh; có thi đua đến mấy rồi các danh hiệu cuối cùng cũng về tay lãnh đạo, cấp trên?

TUẤN DŨNG (ĐẤT VIỆT ONLINE)

[nguồn: reds.vn]

 

Tác giả : Họa sĩ Nguyễn Thành Phong.

 

Bé lợn, lớn bò của họa sĩ Nguyễn Thành Phong:

 
 
 

Ca sĩ Phi Nhung và 13 đứa con chung họ Phạm

SGTT.VN – Những chuyến đi về của ca sĩ Phi Nhung nay đã không còn lẻ loi, đơn độc. Bởi giờ đặt chân đến đâu thì chốn đầu tiên chị nhớ về là ngôi chùa nhỏ có 13 đứa trẻ ở Bình Phước. 13 đứa đều gọi người ca sĩ có giọng hát nỉ non này là “mẹ”.

 

Niềm vui bên các con nuô

“Sau vai diễn tôi chỉ chuyên tâm vai mẹ”

Làm mẹ của một đứa trẻ đã là khó, đằng này đến 13 đứa. Càng khó hơn khi Phi Nhung chưa một lần vượt cạn đẻ đau. Chị kể lại: “Năm 1998, tôi đi làm từ thiện ở Bình Phước, gặp một sư cô sống trong cái am nhỏ xíu, chỉ đủ chỗ nằm ngủ. Tôi cảm động, đi vận động tiền từ bè bạn khắp nơi, giúp sư cô xây lên cái chùa nhỏ. Rồi từ đó tôi nảy sinh ý nghĩ, quyết định cùng sư cô đi tìm những đứa bé bị bỏ rơi từ các bệnh viện địa phương mang về chùa nuôi dưỡng. Cũng phải mất hai năm làm đủ mọi thủ tục giấy tờ, chính quyền địa phương mới chính thức cho tôi được nuôi các con. Lúc đó, khả năng của tôi chỉ nuôi được bảy, tám trẻ. Nhưng trong quá trình tìm kiếm, thấy mấy đứa nhỏ mồ côi, không được nhìn nhận từ khi lọt lòng, thương quá, không kềm lòng được, tôi bóp bụng đưa các con về luôn. Thành ra giờ tôi được 13 đứa con”.

13 đứa trẻ xuất thân từ nhiều hoàn cảnh khác nhau, mà hoàn cảnh nào cũng thật oan nghiệt. Như chuyện cậu bé Phạm Đức Hiếu. Chị Nhung khóc khi nhớ lại lúc gặp cháu: “Cha mất sớm, mẹ mắc bệnh tâm thần, bỏ Hiếu trơ trọi ở bãi biển nọ, lúc cháu mới bốn, năm tuổi. Cháu cứ đi lang thang, người ta cho gì ăn đó, có khi ăn cả cá sống, cả cơ thể bị trầy trụa vì bỏng, vì đá sỏi đâm vào. Một lần đi làm từ thiện, chúng tôi vô tình gặp cháu, đưa về. Giai đoạn đầu Hiếu chẳng dám gặp ai, cháu cứ câm lặng, lo sợ. Tôi và sư cô Minh Viên thay nhau ôm con vào lòng, trò chuyện, phải mất hơn một năm Hiếu mới trở lại bình thường, biết cười, nói như bao đứa trẻ khác”. Tương tự, bé trai Đức Hạnh cũng mồ côi bố mẹ, ông bà nội quá già yếu, Hạnh lại có chứng tâm thần nhẹ, đi lang thang mọi nơi. Lúc được đưa về chùa, Hạnh cứ xé áo, xé quần, gặp vật gì cũng cắn xé, đập phá. Phải mất rất nhiều thời gian để mẹ Nhung giúp cho tâm hồn của con lành lặn lại.

Cậu bé Phạm Đức Hiếu, học lớp hai, kể về mẹ Nhung:

“Ngày nào mẹ Nhung cũng gọi điện về cho mấy chị em con. Mẹ dặn con phải ngoan, phải siêng uống sữa. Sau khi ăn thì rửa chén bát của mình, lau bàn rồi học bài. Mẹ Nhung về thì đưa mấy con đi chơi Suối Tiên, Đầm Sen. Con thích được cùng mấy anh chị lên thăm mẹ Nhung, kể chuyện, rồi hát cho mẹ nghe. Có mẹ Nhung rồi, con không còn cảm giác bị bỏ rơi”.

Tất cả các cháu đều được chính thức mang họ Phạm của mẹ Phi Nhung. Làm mẹ của 13 đứa trẻ, phần lớn là những bé có tinh thần bất ổn, chị Nhung mới hiểu thế nào là nỗi đau, sự cơ cực của người mẹ. “Một đứa bị ốm thì ảnh hưởng dây chuyền, mấy đứa sau cũng kéo nhau ốm theo. Một đứa khóc là cả nhóm còn lại cứ thế khóc theo. Nhưng sự xuất hiện của mấy đứa nhỏ làm cuộc sống của tôi thay đổi hoàn toàn. Sau vai diễn, tôi chỉ chuyên tâm vào vai làm mẹ, đi chợ sắm cho từng đứa cái bàn chải đánh răng, khăn lau mặt, ly uống nước, bình đựng sữa. Tôi hạnh phúc vì tụi nhỏ sống không thể thiếu mẹ Nhung. Mẹ con tôi gắn với nhau như một sợi dây, cắt một cái là đau thấu trời. Làm mẹ cực lắm, nhưng chẳng thấm vào đâu so với những mất mát của các con. Những lúc ôm tụi nhỏ vào lòng, cho con uống sữa, thay tã lót cho con, rồi những khi rời con đi lưu diễn, mấy đứa nhỏ cứ quấn quýt khóc đòi, chẳng cho mẹ đi, tôi lại thấy làm mẹ sao mà thiêng liêng quá, có những điều chỉ có mẹ mới làm được”.

Trồng mì, mở quán lo cho con

13 đứa con nuôi của Phi Nhung đang sống yên bình, vui vầy tại ngôi chùa Pháp Lạc, Bình Phước. Các em được sư cô Minh Viên thay mẹ Nhung chăm sóc. Tất bật với lịch diễn, Phi Nhung chủ yếu liên lạc với các con qua điện thoại. Trong những cuộc gọi về, chị lúc nào cũng “mẹ đây, mấy đứa đang làm gì đó? Có nghe lời sư phụ không? Nhớ nghe lời mẹ, dọn dẹp giường ngủ, bàn học ngăn nắp. Đi học về thì chăm sóc, vệ sinh chân tay sạch sẽ cho mấy em nghen. Rảnh thì nhớ giúp sư phụ lột hạt điều, quét tước sân nhà”. Và cho dù bận bịu thế nào, ngày tết, Trung thu chị vẫn luôn dành thời gian mua quà bánh, hoa quả đến trường của các con để tham gia với tụi nhỏ. Chị tâm sự: “Tôi muốn cho các con một tình mẹ thật sự, không muốn để tụi nhỏ tủi thân với những gì chúng đáng phải có”.

 

Làm cùng con để dạy con.

Một bà mẹ độc thân với hơn chục đứa con tuổi ăn, tuổi lớn, nỗi lo lớn nhất của ca sĩ Phi Nhung là nguồn kinh phí nuôi dưỡng các con ăn học, trưởng thành. Chị thổ lộ: “Tất nhiên vất vả gấp trăm lần khi mình sống độc thân, bởi không chỉ cho các con ăn uống là đủ, mà còn gây dựng tương lai về sau cho các con. Tôi và sư cô trong chùa cùng nhau mua đất, trồng mì, làm hạt điều, mở quán ăn. Việc gì có ích, có lợi cho các con mà vừa khả năng mình là tôi đều làm, không riêng gì biểu diễn trên sân khấu. Tôi cũng đã mở tài khoản cho mỗi đứa, để sau này chúng lớn mình cũng già rồi, tài khoản đó sẽ là nguồn tài chính ổn định cho các con”.

Không ít khán giả thắc mắc tại sao ca sĩ Phi Nhung xinh đẹp, tài năng như vậy lại không chọn cho mình một bến đỗ bình yên, bù đắp lại những mất mát thuở nhỏ, lại đi làm “mẹ xã hội” cho những đứa trẻ mồ côi. Chị tỏ bày suy nghĩ của mình: “Có lẽ tôi không đủ khả năng để trở thành một người vợ, nhưng tôi có thể là người mẹ của các con, đủ tình thương để nuôi các con khôn lớn. Đó cũng là một sự bù đắp cho tuổi thơ thiếu thốn của tôi. Nếu nhỡ tôi lấy chồng, chắc các con hụt hẫng lắm”.

Trà My (ảnh do nhân vật cung cấp)