Tag Archive: sộ


Vạch rõ âm mưu phá hoại của một số nghệ sĩ hải ngoại

Sinh ra và lớn lên tại Việt Nam, đến khi có cơ hội ra nước ngoài định cư thì không ít người gọi là “yêu nước” lại dùng lời khiếm nhã, chê xấu Việt Nam thế này – thế nọ. Thậm chí có người còn bạo động để lật đổ chính quyền. Hành động nhố nhăng như vậy mà lúc nào cũng bảo là vì tổ quốc, vì dân tộc. Những người như thế này đã làm được gì, cống hiến được gì cho đất nước Việt Nam chưa hay chỉ toàn làm hại đất nước?
Các trang Blog phản động ngày nào cũng ráo riết đi gom nhặt những mẫu tin tiêu cực, để xuyên tạc nói xấu nhằm hạ uy tín lãnh đạo và nhân cơ hội đó kêu gọi người dân Việt Nam đứng lên lật đổ. Nếu như không tiếp cận với nguồn thông tin chính thống, thì họ rất dễ dàng lọt vào kế sách của những người “yêu nước”. Người trung thực, vì chính nghĩa khi quan sát, nhận xét và phân tích vấn đề phải dựa trên sự thật. Có nghĩa là nếu có khen thì phải có chê. Còn đằng này những người xưng là “yêu nước” toàn là chỉ trích lãnh đạo, nhìn vào những tiêu cực và quy trách nhiệm cho những người đứng đầu đất nước. Cái khuyết điểm thì moi móc, xuyên tạc còn cái tích cực thì không đả động gì tới. Thậm chí có nhiều người còn bịa đặt nhiều câu chuyện nhằm hạ uy tín lãnh đạo. Với lời nói  như vậy thì những người “yêu nước” liệu có đáng tin cậy hay không?

Người Việt Nam có tài, đó là điều không một ai trên thế giới chối cãi. Thế nhưng, tài năng cũng được chia thành nhiều loại. Có người có tài lãnh đạo, có người có tài ngoại giao – chiến lược, có người có tài làm kinh tế – giáo dục… và cũng có nhiều người có cái tài chẳng bao giờ được vinh danh, đó là: tài lanh, tài phiệt, tài nói láo – xuyên tạc. Và nếu như được đọ sức thì những người tự xưng là “yêu nước” sẽ chiến thắng hoàn toàn những người Trung Quốc lếu láo – những người mà được mệnh danh là bậc thầy biến thủ phạm thành nạn nhân, đổi trắng thay đen…!

Chương trình của trung tâm băng nhạc Asia (Mỹ) “nói xấu bôi nhọ chính phủ nhà nước Việt Nam”!

Nói như vậy là bởi vì, trong khi Trung Quốc gây hấn, cho tàu hải giám xâm phạm lãnh hải… hòng để Việt Nam dùng vũ lực và nhân cơ hội đó dồn Việt Nam vào chỗ hiểm. Nhận thấy sự mưu mẹo của Trung Quốc, lãnh đạo Việt Nam không chọn lối dùng vũ lực đáp trả mà chọn phương pháp đàm phán và ngoại giao để từng bước xiết chặt Trung Quốc. Vậy mà, những người “yêu nước” lại tung tin rằng lãnh đạo bán nước, nói xấu hết điều này đến điều nọ. Thử hỏi, nếu bán nước thì liệu Trung Quốc có ngồi yên để quốc tế chỉ trích không? Nếu như bán cho Trung Quốc rồi thì Trung Quốc sẽ cầm tờ giấy “mua-bán” ra tòa án quốc tế rồi chứ dại gì mà đi gây chiến để chiếm đảo của Việt Nam?!

Tuấn Vũ và Giao Linh góp mặt trong liveshow của Quang Lê tại TP HCM tháng 4/2011. Ảnh: Lý Võ Phú Hưng.

Chưa kể đến là những thành phần tự xưng là “chính nghĩa”, là thông minh, lúc nào cũng “yêu nước”  nhưng dùng lời ca, tiếng hát để nói xấu quê nhà. Những ca sĩ hải ngoại lúc nào cũng bảo nhớ quê, thương quê nhưng rất nhiều trong số đó như Thanh Tuyền, Tuấn Vũ, Quang Minh – Hồng Đào, Mạnh Đình, Ngọc Huyền… lại “khôn nhà dại chợ”. Lúc nào cũng tung hô rằng sẽ cống hiến tài sức để Việt Nam nở mặt và ra sức kêu gọi về Việt Nam làm từ thiện vậy mà ẩn đằng sau đó là sự tráo trở – tham gia vào các chương trình của trung tâm băng nhạc Asia (Mỹ)  “nói xấu bôi nhọ chính phủ nhà nước Việt Nam”!.

Vợ chồng diễn viên Quang Minh, Hồng Đào trong lần về Việt Nam đóng phim.

Những người nghệ sỹ luôn soi gương trước khi bước lên sân khấu diễn, vậy thử hỏi có bao giờ họ tự soi gương, nhìn kỹ mình xem, xem bản thân xưng là “yêu nước” nhưng đã làm gì cho đất nước Việt Nam chưa? Hay chỉ toàn là làm hại đất nước, cỗng rắn đi cắn người nhà! Mang trong người dòng máu Việt, sanh ra, trưởng thành ở đất Việt vậy mà khi định cư nước khác lại mang tư tưởng và hành động phản bội đất nước nuôi mình lớn khôn. Như vậy thì có gọi là khôn ngoan được không? Chắc là không thể rồi! Nên nhớ rằng, một khi ý thức dân tộc không còn thì đã không còn là dân Việt nữa rồi. Bởi, nếu là người con đất Việt thì chẳng bao giờ đi phá hoại đất nước mình cả…!

Hải Dương

(Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả)

[nguồn: cộng đồng mạng yêu nước]

 Nhà báo, chủ báo bị chụp mũ, vu khống, sỉ nhục, bị đánh đập dã man hoặc thủ tiêu, ám sát. Tòa soạn báo bị côn đồ khủng bố, đốt cháy, bao vây gây náo loạn cả năm trời. Nhiều người bị ngăn cấm đọc báo, nghe đài… Đây là thực trạng nhức nhối, kéo dài suốt 37 năm qua, là “khổ nạn” của báo chí Việt trên đất Mỹ. Phan Nhật Nam – một cây bút chống cộng khét tiếng từ trước và sau năm 1975, phải cay đắng thốt lên: “Những người làm văn, làm báo ở đây (Mỹ) đang phải chịu đựng một áp lực tồi tệ”… (Phan Nhật Nam trả lời Lệ Hằng – đã đăng trên nhiều trang web). Nhà văn Nhật Tiến thì than thở: “Không có đủ tự do cho những người cầm bút ở hải ngoại…” (trích từ “Sống và viết trên đất Mỹ” – Thế Uyên tháng 4-1998, đã đăng trên “Tiền vệ”). Tại sao trên xứ sở tự do như Hoa Kỳ lại có chuyện đàn áp báo chí khốc liệt như vậy?

Kỳ 1: VÀI NÉT LỊCH SỬ BÁO VIỆT TRÊN ĐẤT MỸ

Ngày 30-4-1975, kết thúc sự tồn tại của chính thể Việt Nam cộng hòa (VNCH). Hai ngày sau, tại đảo Guam, tờ báo đầu tiên của người Việt tại Mỹ ra đời với tên gọi Chân trời mới. Tại thời điểm đó, trên đảo Guam có hơn 100 ngàn người Việt (gồm binh lính, sĩ quan, công chức chế độ VNCH vừa sụp đổ) được máy bay, tàu chiến bốc ra đang chờ sang Mỹ định cư.

Ồ ẠT RA ĐỜI RỒI… CHẾT YỂU!

Tờ Chân trời mới mỗi tuần ra năm số, mỗi số phát hành từ 5 – 10 ngàn bản. Đến cuối tháng 10-1975, tờ báo này cũng đóng cửa theo trại tạm cư Guam (theo BBC ra ngày 18-4-2005).

Tiếp đó, trong cộng đồng người Việt di tản trên đất Mỹ ra đời thêm một số tờ báo như: Đất mới (7-1975), Đất lành (8-1975), Văn nghệ tiền phong (11-1975), Tin yêu (2-1976), Việt báo (7-1976)… Tổng cộng trong hai năm 1975 – 1976 có tới 45 tờ báo Việt ra đời.

Những năm sau đó, cùng với làn sóng người Việt ồ ạt nhập cư vào Mỹ, báo chí (bao gồm báo in, truyền hình, truyền thanh và Internet) tiếng Việt càng nảy nở nhộn nhịp. Đến nay – 37 năm hình thành cộng đồng Việt tại Mỹ, đã có hàng trăm cơ sở báo chí ra đời hoặc… biến mất. Nhiều tờ báo khai trương ồn ào, phát hành được… một số rồi “tắt”. Như tờ Tin Văn của Hoàng Dược Sư ra một số duy nhất vào tháng  9-1975 với 15.000 bản in, sau đó… hết vốn, đóng cửa. Tờ Quê Hương của Du Tử Lê cũng đoản mệnh sau khi số thứ hai được phát hành. Có tờ như KBC Hải ngoại chết đi sống lại không biết bao nhiêu lần và mỗi lần “tái sinh” lại có một chủ mới…

Sở dĩ có tình trạng lạ lùng kể trên là vì ở Mỹ muốn ra một tờ báo rất dễ, dễ đến mức ai cũng có thể là chủ báo, nhà báo. Có người ví von: “Làm báo ở Mỹ dễ hơn lái xe. Bởi lái xe còn đòi hỏi bằng cấp, làm báo chẳng cần bằng cấp…”. Cũng có những người Việt tốt nghiệp các khoa, trường đào tạo báo chí của Mỹ nhưng hầu hết không tham gia làm báo Việt bởi thu nhập thấp và tương lai bấp bênh. Họ làm việc cho các cơ quan truyền thông của Mỹ. Có những tờ báo chỉ một người làm, “công nghệ” chính là cắt, dán. Cứ lấy tin báo khác đưa sang báo của mình, chẳng cần tính đến bản quyền. Báo loại này chỉ sống nhờ quảng cáo. Báo in xong, đem đi cho là chính. Trên trang web BBC tiếng Việt ngày 22-7-2007 đăng ý kiến của một độc giả người Việt ở Mỹ: “Ở Cali quơ tay là có hàng chục tờ báo (tiếng Việt) rơi rớt trong các tiệm phở, ngõ ngách các khu chợ, siêu thị. Chục tờ như một toàn nhai đi nhai lại, copy trên mạng, kể cả các “tin Việt Nam” đều từ các báo điện tử Việt Nam mà ra… Đa số “báo chợ” không có một phóng viên, chỉ có vài người lên mạng “sao y bản chính”. Nhà báo kỳ cựu Sơn Điền – Nguyễn Viết Khánh từng viết về một kỷ niệm buồn với báo Việt ở Mỹ: “Tình cờ ra chợ, thấy chồng báo để dưới đất cho thiên hạ lượm. Những tờ báo trang trọng đẹp đẽ, trong đó có biết bao tâm tư trí não đã gửi gắm thành văn bị chà đạp bởi bước chân vô tình của khách qua đường…”. Nhà báo Nguyễn Ngọc Bích (Giám đốc chương trình Việt ngữ đài CATD) trong bài “Người Việt hải ngoại và công tác truyền thông hải ngoại”, cho biết: “Báo Việt ngữ ở hải ngoại phần lớn (95 – 98%) là báo của một gia đình. Vợ chồng với đôi ba người thân phụ giúp… Các tin có thể viết dông dài, văn bất thành cú mà vẫn được đăng vì tờ báo có nhiều chỗ trống cần trám hoặc vì là chỗ quen biết… Đây là cách làm báo tiểu công nghệ”…

Ra một tờ báo quá dễ như vậy nên báo Việt ở Mỹ nhiều đến mức không đếm xuể. Cây bút chống cộng Phan Nhật Nam trong lần trả lời phỏng vấn Lệ Hằng, đã mỉa mai: “Chỉ riêng vùng Orange County (Nam California – USA) đã có hơn 200 hội đoàn, số lượng báo cũng xấp xỉ như nhu cầu hội đoàn này…”. Trong bài nói chuyện tại trụ sở cộng đồng Dallas ngày 12-11-2005, nhà báo Phan Thanh Tâm cho biết: “Có người ví trên trời có bao nhiêu ngôi sao thì quận Cam (nơi có đông người Việt định cư) có bấy nhiêu tờ báo. Tờ này chết, tờ khác phanh ngực tiến lên…”. Trong bài “Người Việt hải ngoại và công tác truyền thông đại chúng”, nhà báo Nguyễn Ngọc Bích có cùng quan điểm: “Riêng vùng tôi ở, Washington D.C và ngoại ô Virginia và Maryland, có chừng 60 ngàn người Việt Nam, mà có đến hơn mười tờ tuần báo (Việt ngữ) ra hàng chục năm nay. Nếu mỗi tờ in 3.000 bản mỗi tuần, thì ta cũng có con số 30 nghìn bản các loại một tuần. Có nghĩa là cứ hai người Việt từ tuổi sơ sinh đến lúc bạc đầu thì đã có một tờ báo Việt ngữ để đọc một tuần… Rất nhiều người thuộc lòng những giờ báo được phát đến các cơ sở thương mại, để nhanh chân đến đó lấy trước khi người ta lấy hết…”.

Trang web Bulletin ngày 13-6-2005, đăng phát biểu của tác giả Phạm Nam Vinh: “Ở thủ đô tị nạn này (quận Cam – California) chẳng mấy ai quan tâm đến sự báo này vừa ra, báo nọ âm thầm lặng lẽ đóng cửa. Có khi cầm một tờ báo trên tay mà chẳng biết nó ra hàng tuần hay nửa tháng, hay một tháng, ba tháng. Có tờ tìm đỏ con mắt không biết chủ nhiệm, chủ bút, ban biên tập là những ai. Ngay đến địa chỉ báo quán ở đâu cũng chẳng thấy nữa…”. Mỹ là xứ sở phát triển khoa học kỹ thuật bậc nhất thế giới. Nhưng hơn mười năm sau khi ra đời, báo Việt ngữ ở Mỹ sau khi in xong phải bỏ dấu bằng tay, trông lem luốc. Đến đầu những năm 90 thế kỷ 20, kỹ sư Hồ Thành Việt của Công ty VNI cho ra đời phần mềm tiếng Việt, nhờ đó báo Việt ở hải ngoại mới thoát được nạn “bỏ dấu bằng tay”!

“THÀ Ở TÙ CHỨ KHÔNG… ĐI LÀM BÁO!”
Tình hình báo chí đã buồn, nghề báo trong cộng đồng Việt ở Mỹ cũng hiu hắt không kém. Theo tìm hiểu của các tác giả loạt bài này, nhuận bút trung bình của một bài báo trên báo chí Việt ngữ  hiện cỡ 25USD (thấp hơn nhiều so với nhuận bút các báo trong nước đang trả). Dù ít ỏi, nhưng không phải báo nào cũng trả nổi. Chuyện chủ báo quỵt nhuận bút của nhà báo không hiếm xảy ra. Trên tờ Việt Fun ra gần đây, trong bài “Vui buồn đời viết báo hải ngoại”, tác giả Hà Đình Trung viết: “Phần lớn báo Việt ngữ ở hải ngoại đều phải dựa vào quảng cáo để sống. Trong vùng Bắc Cali (USA) có mấy chục tờ báo, đa phần đời sống của chủ báo cũng bấp bênh nói gì đến những tay ký giả làm công cho chủ báo. Người ký giả chuyên nghiệp sống nhờ vào nhuận bút, nhưng thành thật mà nói, từ trước đến nay có bao nhiêu ông chủ báo làm tròn nghĩa vụ cao cả này. Chi phí công tác không được chủ báo trả, đã vậy có người ba năm không được trả lương, nhuận bút. Nhưng nhục nhất là đi xin quảng cáo… bởi vậy có người vừa dí dỏm vừa cường điệu nói với nhà báo Thanh Thương Hoàng rằng – Nếu phải chọn giữa ở tù và làm báo, tôi thà đi tù…”. Trong giới ký giả Việt ở Mỹ, thường có câu đùa chua xót: “Ghét đứa nào cứ cho nó đi làm báo”…

Một “đặc tính” nữa của báo Việt ở Mỹ là “chửi”. Thời kỳ đầu là chửi bới quê hương, sau đó là chửi lẫn nhau giữa các báo với các báo, đài với đài, hội đoàn với hội đoàn và các cá nhân với cá nhân. Chửi xong lại kiện nhau ra tòa. Nhà báo Phan Thanh Tâm trong bài “Báo chí hải ngoại” (đã trích dẫn ở trên), viết: “Tuy sinh hoạt đã 30 năm, có lập hội ký giả, báo Việt ngữ vẫn chưa bao giờ có một làng báo… Đây là một tập thể phức tạp nhất. Không có làng nên không có lệ, không có quy ước. Nhiều vụ kiện tụng vì phỉ báng, chụp mũ đã xảy ra… Ngày 9-9-1993, hơn 100 nhà văn, nhà báo đã gửi một thư ngỏ đến quý vị chủ nhiệm báo, giám đốc truyền thanh, truyền hình yêu cầu các cơ quan truyền thông khi chỉ trích ai nên tôn trọng quyền trả lời của người bị chỉ trích…”.

Trên trang web Dân kêu ra ngày 29-1-2012, trong bài “Tú gàn – ông là ai?”, tác giả Nguyễn Văn Lục kết luận: “Truyền thông báo chí hải ngoại được tự do viết. Nhưng học đòi dân chủ, tự do không xong. Tự do biến thành tự do chửi, chửi vung vít, chửi bất cứ ai mình muốn chửi. Báo chí tự biến thành “báo bẩn” vì “chửi”… Cũng vì “đặc tính chửi” quá phổ biến trên báo Việt ở Mỹ nên ông Nguyễn Cao Kỳ – nguyên phó tổng thống VNCH lúc còn sống, phải than rằng: “Báo chí trong nước ngày càng hay, trong khi báo chí hải ngoại ngày càng tồi tệ” (trích từ sách “Tường trình cùng đồng bào trong nước” – xuất bản tại Mỹ 1998, trang 54).

Tuy gặp nhiều khó khăn như vậy, nhưng báo Việt ở Mỹ sẽ “dễ thở” hơn rất nhiều nếu như không có kềm kẹp, đàn áp man rợ của các tổ chức phản động lưu vong. Bọn khủng bố báo chí này thường xưng danh “Tập thể quân lực VNCH”, “Chánh nghĩa quốc gia”, “Kháng chiến phục quốc”, “Bảo vệ cờ vàng”… để bóp nghẹt tự do báo chí. Thế Uyên – một cây bút chống cộng thâm độc từ thập niên 60, 70 ở Sài Gòn, nay sang Mỹ tiếp tục đời viết văn, làm báo. Dù đã có “số má” như vậy, nhưng Thế Uyên vẫn không thoát khỏi “vòng kim cô” của lực lượng áp bức báo chí. Trong bài “Sống và viết trên đất Mỹ”, đăng trên tờ Tiền vệ tháng 4-1998, Thế Uyên cay đắng, uất hận kể: “Những môn đệ còn theo trường phái chống cộng cổ điển ở Mỹ ép buộc cộng đồng hải ngoại phải chấp nhận những tiền đề chính trị xã hội chẳng liên quan gì đến thực tại Việt Nam. Ai mà không chịu phát ngôn theo các tiền đề đó thì trước sau cũng bị chụp mũ, đả kích thậm tệ, biểu tình và tẩy chay. Và nếu là người cầm bút thì còn bị đánh trọng thương, bị đốt chết, bắn chết…”.
[http://www.congan.com.vn/?mod=detnews&catid=942&p&id=466363http://www.congan.com.vn/?mod=detnews&catid=942&p&id=466363]

Nhờ có các mã nguồn mở (hay còn gọi là Open source) này mà việc sở hữu 1 trang web đẹp và hoàn chỉnh ngày nay là vô cùng dễ dàng, nó không còn khó khăn và phức tạp như ngày xưa để có thể tự mình xây dựng 1 trang web.

Thế nhưng vẫn luôn có những câu hỏi xoay quanh giữa việc nên dùng mã nguồn nào để làm web: cái nào dễ làm web hơn? cái nào nhẹ nhàng hơn? Cái nào SEO tốt hơn?….

Tùy vào mục đích mà lựa chọn 1 mã nguồn phù hợp, còn với mình thì WordPress vẫn là mã nguồn yêu thích nhất, và thực tế là nó cũng là mã nguồn web/blog thông dụng nhất hiện nay :D (Trang chủ Việt Designer hiện cũng đang sử dụng nền tảng WordPress)

Cùng tham khảo qua Infographic này để có cái nhìn khách quan hơn nhé!
[IMG]

Xem thêm tại đây: http://forum.vietdesigner.net/threads/infographic-so-sanh-giua-cac-ma-nguon-wordpress-drupal-joomla.5272/#ixzz2BkMo0CJV

Vĩnh biệt Sihanouk – nhân chứng số 1 của lịch sử hiện đại Campuchia

Cựu hoàng Campuchia Norodom Sihanouk tại vị hơn 60 năm cho tới khi nhường ngôi cho con vào năm 2004 sau khi trải qua bao nhiều thăng trầm của lịch sử Campuchia hiên đại.

Ông là người đã chứng kiến Campuchia giành lại độc lập từ Pháp, trải qua thời kỳ Khmer Đỏ thảm khốc, cuộc chiến tranh du kích sau đó, rồi quốc gia Campuchia quân chủ lập hiến ngày nay.

Theo trang web chính thức của hoàng gia, sau khi ông thoái vị, Quốc hội Campuchia ra nghị quyết tôn vinh ông làm thái thượng hoàng với các nghi thức và đặc quyền giống như một vị quân vương tại vị.

Cựu hoàng Campuchia Norodom Sihanouk đã qua đời ở tuổi 90 vì cơn trụy tim trong một bệnh viện tại Bắc Kinh, Trung Quốc. Thông tin này do Phó thủ tướng Campuchia Nhik Bun Chhay xác nhận vào sáng 15-10.Campuchia sẽ tổ chức quốc tang và cả nước sẽ treo cờ rủ, theo người phát ngôn chính quyền Khieu Kanharith. Hồi tháng 1, ông Sihanouk đã di nguyện được hỏa táng theo nghi thức Phật giáo và truyền thống Campuchia.

Sinh ngày 31-10-1922, ông Sihanouk trải qua thời thơ ấu sung túc trong gia đình hoàng tộc và được người Pháp chọn lên ngai vàng năm 1941 với lòng tin rằng một hoàng tử trẻ sẽ dễ kiểm soát hơn.

Nhưng người Pháp là những người đầu tiên trong nhiều người đã sai lầm khi đánh giá thấp Sihanouk. Năm 1953 người Pháp đã phải trả lại độc lập cho Campuchia.

Hai năm sau Sihanouk thoái vị để tổ chức một đảng chính trị lớn và đưa Campuchia vào một giai đoạn trung lập không dễ dàng ở thời kỳ đỉnh điểm của Chiến tranh lạnh. Ông chấp nhận viện trợ có hạn từ Mỹ và xây dựng quan hệ với Trung Quốc cũng như góp phần sáng lập Phong trào Không liên kết.

Sihanouk là một chính trị gia đầy nhiệt tâm, tài năng, đồng thời cũng là một quân vương ngẫu hứng và đôi khi hành xử bột phát. Ông làm phim, vẽ tranh, sáng tác nhạc, thành lập một đội bóng của hoàng gia và một ban nhạc jazz của riêng ông. Ông cũng thích xe hơi, phụ nữ và nghệ thuật ẩm thực. Sihanouk kết hôn ít nhất năm lần và có 14 người con.

“Tôi là Sihanouk và mọi người Campuchia đều là con cái của tôi”, ông từng nói.

Năm 1960, Sihanouk trở thành quốc trưởng sau khi cha ông qua đời. Năm 1970, tướng Lon Nol được Mỹ ủng hộ tuyên bố tiến hành đảo chính khi ông Sihanouk đang thăm chính thức Liên Xô và hủy bỏ chế độ quân chủ.

Sihanouk lưu vong sang Trung Quốc để lãnh đạo một phong trào chống đối, còn tại Campuchia, Khmer Đỏ dần lên nắm quyền. Sau khi Pol Pot và đồng bọn nắm hoàn toàn quyền lực tháng 4-1975, những cuộc tàn sát và tử hình hàng loạt bắt đầu, các trại tập trung mọc lên và khoảng 1,7 triệu người Campuchia, tương đương một phần năm dân số, đã thiệt mạng.

Bản thân Sihanouk mất năm người con và 14 người cháu dưới tay Khmer Đỏ. Nhà vua được phép trở lại đất nước vào năm 1976 nhưng qua can thiệp của Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai, Sihanouk mới thoát án tử hình và bị quản thúc tại cung điện của ông cho tới khi Pol Pot bị lật đổ ba năm sau đó.

Sihanouk là “một nhà quân chủ kiểu phong kiến của thời dân chủ. Ông được người dân yêu mến nhưng những nỗ lực của ông nhằm đem lại sự ổn định sau nhiều thập kỷ bạo lực rối ren ở Campuchia thường là thất bại” – theo AP.

Giai đoạn 1979-1991, ông lại phải rời Campuchia, rồi trở về lãnh đạo nền cộng hòa mới. Năm 1993, khi Campuchia tổ chức những cuộc bầu cử quốc hội đầu tiên, quyền lực nhà vua được khôi phục và quốc gia Đông Nam Á này trở thành một nhà nước quân chủ lập hiến.

Đảng bảo hoàng FUNCINPEC của con trai Sihanouk, Norodom Ranariddh, giành thắng lợi trong cuộc bầu cử và thành lập liên minh với Đảng Nhân dân Campuchia (CPP) của ông Hun Sen.

Tháng 9-1993, Sihanouk lại lên ngôi quốc vương Campuchia. Cuộc đấu tranh quyền lực giữa CPP và FUNCINPEC kéo dài năm năm, đôi khi dẫn tới đổ máu và Sihanouk đã lựa chọn im lặng, cho tới khi tình hình có nguy cơ trở thành nội chiến và Sihanouk can thiệp để buộc Ranariddh chấp nhận một liên minh mới với Hun Sen.

Trong những năm cuối đời, nhiều người lớn tuổi ở vùng nông thôn Campuchia vẫn sùng kính ông, nhưng một bộ phận lớp trẻ chỉ coi ông là một hình bóng quá khứ, thậm chí phải chịu trách nhiệm một phần vì những bi kịch của đất nước.

Cựu hoàng chuyển sang viết blog và lui hẳn về sau hậu trường, dành phần lớn thời gian của ông ở Bắc Kinh, trong sự chăm sóc của các bác sĩ.

Hoàng thân Sisowath Thomico, một thành viên hoàng gia và là trợ lý riêng của ông Sihanouk, nói cựu hoàng qua đời vì cơn trụy tim trong một bệnh viện ở Bắc Kinh. “Việc ông qua đời là một tổn thất lớn với Campuchia”, ông Thomico nói, đồng thời khẳng định ông Sihanouk đã cống hiến đời mình “cho lợi ích quốc gia, dân tộc và người dân Campuchia”.

Người kế nhiệm của ông, Quốc vương Norodom Sihamoni, đã cùng Thủ tướng Campuchia Hun Sen sang Bắc Kinh ngày 15-10 để đưa thi hài cựu hoàng về nước, theo lời đại tá Chhay Bunna, phụ trách an ninh ở sân bay quốc tế Phnom Penh.

HẢI MINH (TUỔI TRẺ ONLINE)

 

 

[lấy bài từ REDS.vn]

Ngày tận thế trong quan điểm một số tôn giáo lớn

Thuyết Tận thế của các tôn giáo lớn có một mẫu số chung là ngày tận thế thường được báo trước bằng một thời kỳ suy sụp đạo đức kéo dài. Thế cân bằng giữa trời, đất và con người bị phá hoại bởi những hành vi phi đạo đức của con người. Sự vận hành của trời, đất bị rối loạn, thiên tai liên tiếp xảy ra với tầm cỡ phá hoại ngày càng lớn…

1. Ba Tư giáo và ngày tận thế:

Zoroastre, cũng gọi là Zarathoustra, là vị tiên tri người Ba Tư, sống vào khoảng năm 1300 trước Tây lịch, lập ra Ba Tư giáo, cũng gọi là Hỏa giáo, cũng là người đầu tiên đề xướng thuyết tận thế sau này có ảnh hưởng đến Do Thái giáo và Thiên chúa giáo. Giáo sư James Russell, thuộc Trường Đại Học Mỹ Harvard, viết rằng, theo tín đồ ba Tư giáo thì “thế giới có điểm khởi đầu và điểm tận cùng, và là một chiến trường lớn giữa cái Thiện và Ác, tức là giữa Ahura Mazda, vị thần đại biểu cho sự minh triết và cái thiện và Ahriman, là quỷ Satan đại biểu cho cái ác”.

Tiên tri Zoroastre tuy tuyên bố là ngày tận thế sẽ xảy ra vào một ngày của năm thứ 1200, kể từ ngày sáng thế ; nhưng đáng tiếc là Zoroastre lại không tuyên bố ngày sáng thế cụ thể là ngày nào, cho nên người ta cũng không thể tính ra được cụ thể ngày tận thế là ngày nào. Zoroastre chỉ nói là ngày tận thế trùng với ngày xuất hiện của Đấng Cứu Thế, và cũng là ngày phán xử cuối cùng, sau đó những người thiện được lên Thiên đàng, còn bọn ác thì bị đọa xuống địa ngục.

2. Do Thái giáo và Thiên chúa giáo với thuyết tận thế:

Văn chương về chủ đề ngày tận thế (Apocalypse) rất là phổ biến trong các giới Do Thái giáo và Thiên chúa giáo vào những thế kỷ đầu Tây lịch, mô tả cảnh tượng hãi hùng của ngày tận thế, như có thể thấy trong các bài tập văn của các bậc tiên tri Do thái Ezechiel, Zarachie, Daniel. Cuốn sách cuối cùng của kinh Tân Ước cũng mang đầu đề Apocalypse (tận thế) theo truyền thuyết là một tác phẩm của thánh Jean, có thể được viết vào khoảng năm 94-95 của Triều đại Hoàng đế La Mã Domitien, và có nói tới các cuộc khủng bố của Hoàng đế Néron đối với tín đồ Thiên chúa giáo. Nội dung cuốn sách Tận thế trong kinh Tân Ước nhất là đoạn báo trước sự hủy diệt của thành Roma, bị tố cáo là thành phố đẫm máu và là “con đĩ” của toàn cầu, rõ rằng là nhằm an ủi những thế hệ các tín đồ Thiên chúa giáo từng bị các hoàng đế La Mã khủng bố, đặc biệt là hoàng đế Néron.

Văn chương tận thế của đạo Do Thái và Thiên chúa đã có ảnh hưởng rất sâu sắc đến quần chúng tín đồ của hai tôn giáo này, chứng cớ là một mô típ phổ biến của nghệ thuật điêu khắc và hội họa của Thiên chúa giáo là những cảnh hãi hùng của ngày tận thế. Chủ đề ngày tận thế cũng được đề cập trong tác phẩm văn chương nổi tiếng như cuốn “Hài kịch thiêng liêng của Dante, nhiều đoạn trong cuốn “Huyền thoại thế kỷ” (Legende des sieclès) của đại văn hào Pháp Victor Hugo…

3. Hồi giáo và ngày tận thế :

Đạo Hồi cũng cho rằng ngày tận thế trùng với ngày phục sinh của Jésus được xem như là một bậc tiên tri, như Mahomết vậy. Kinh Coran viết : “Đó là ngày tiếng kèn đồng vang lên và bọn ác xanh mắt lên vì kinh hoàng”. Tuy nhiên, hình như đạo Hồi không quan tâm mấy đến ngày tận thế . Vì theo họ, chỉ có Thượng Đế Allah mới biết được cụ thể là ngày nào. Họ chỉ nói ngày tận thế sẽ được báo trước bởi một thời kỳ suy sụp của mọi giá trị đạo đức. Hai con quỷ Gog và Magog sẽ băng qua con sông nước đồng chảy của địa ngục, và cùng với ác thần Dajjal, sẽ đem lại tang thương, chết chóc và khổ đau trên thế gian này. Thế nhưng tiên tri Jésus sẽ phục sinh và giết chết ác thần Dajjal, mở cửa vườn Thiên đàng cho những tín đồ sống thiện lành và xua hết bọn ác xuống địa ngục.

4. Bài học đạo đức của thuyết Tận thế các tôn giáo lớn:

Ít nhất, thuyết Tận thế của các tôn giáo lớn có một mẫu số chung là ngày tận thế thường được báo trước bằng một thời kỳ suy sụp đạo đức kéo dài. Thế cân bằng giữa trời, đất và con người bị phá hoại bởi những hành vi phi đạo đức của con người ; sự vận hành của trời, đất bị rối loạn, thiên tai liên tiếp xảy ra với tầm cỡ phá hoại ngày càng lớn. Theo tôi, những biện pháp bảo vệ môi trường thôi cấp thiết và cần thiết, nhưng vẫn là tạm bợ. Chiến lược gốc là khôi phục lại thế cân bằng giữa ba yếu tố trời, đất và con người, nhờ khắc phục ba ngọn lửa tham, sân, si đang thiêu cháy không những thế giới mà cả bản thân con người nữa. Quan hệ giữa con người với nhau phải là quan hệ thắm đượm tình người, phải là quan hệ được điều phối bởi lý trí, chứ không phải bởi quyền lực và đồng tiền. Các tôn giáo lớn sẽ không chỉ làm công việc rửa tội bằng thánh lễ hay bằng lễ cầu an, mà chủ yếu bằng một nếp sống đạo đức đích thực, nhân bản đích thực.

Theo Nguyệt san GIÁC NGỘ

TÂM SỰ VUI BUỒN CỦA SỐ CÁN BỘ CHIẾN SỸ CẢNH SÁT BIỂN
“Chúng tôi yêu cầu tàu cá dừng hành động vi phạm và rời ngay vùng biển Việt Nam!” – Đó là mệnh lệnh các chiến sĩ Cảnh sát biển Vùng 2 thường xuyên dùng đến để xua đuổi hàng trăm tàu nước ngoài xâm phạm chủ quyền lãnh hải.

CÁN BỘ CHIẾN SỸ CẢNH SÁT BIỂN VIÊT NAM TẠI TRƯỜNG SA

Đến Trường Sa thân yêu

Trong phòng khách trên con tàu Cảnh sát biển 6006 treo một tấm huân chương ở vị trí trang trọng. Các cán bộ trên tàu cho biết: Trước đó, chiếc tàu này thuộc lực lượng hải quân và biên chế qua lực lượng Cảnh sát biển. Nhiều năm trụ bám ở Trường Sa, trong đó có DK1, chính vì vậy, con tàu này gắn với biết bao câu chuyện vui buồn của các chiến sĩ trên biển khơi.

Các chiến sĩ cảnh sát biển vùng 2 tuần tra trên biển.
Khi ra Trường Sa, anh em trong đội tàu Cảnh sát biển thường đến thăm các gia đình đang sinh sống trên đảo. Một chiến sĩ tâm sự: “Nhìn vào khuôn mặt những em thơ trong các gia đình, chúng em cảm thấy sự gian nan của mình thật chẳng đáng là bao. Anh em như được tiếp thêm nghị lực để bảo vệ biển khơi”.

Trong những chuyến hải trình này, tàu Cảnh sát biển luôn quét radar để quan sát một vùng biển rộng lớn thuộc chủ quyền của VN. Tháng 4 năm 2011, anh em trên tàu đã phát hiện một số tàu nước ngoài đang đánh bắt cá trên vùng biển thuộc chủ quyền của VN.

Thượng úy Vũ Đức Tuyên nhấn ga, con tàu gầm lên như một con kình ngư, lao nhanh về phía mục tiêu. Khi áp sát tàu ngư dân Trung Quốc, loa trên tàu phát đi thông điệp bằng một số tiếng nước ngoài: “Giải quyết các vấn đề tranh chấp trên biển bằng biện pháp hòa bình, chúng tôi yêu cầu dừng ngay hành động vi phạm và rời ngay khỏi vùng biển VN…”.

Khi bắt và xử lý tàu Trung Quốc, các chiến sĩ thường giáo dục, nhắc nhở, và buộc các ngư dân vi phạm phải rời ngay khỏi vùng biển VN. Biện pháp xử lý vừa lý, vừa tình, thể hiện chính sách nhân đạo của người lính Cụ Hồ.

Theo đại tá Nguyễn Quang Trung – Chỉ huy trưởng Vùng Cảnh sát biển 2, trước tình hình các tàu cá của ngư dân đánh bắt trên vùng biển VN, đặc biệt là vùng biển Hoàng Sa luôn bị các tàu nước ngoài xua đuổi, bắt giữ, tịch thu hải sản, lực lượng Cảnh sát biển phối hợp với các lực lượng chức năng tăng cường hoạt động tuần tra trên biển và tổ chức các điểm trực ở khu vực quần đảo Hoàng Sa, đảo Cồn Cỏ, Lý Sơn, Phú Quý.

Đặc biệt, từ ngày 1.6, Cảnh sát biển vùng 2 đã điều một tàu túc trực thường xuyên 24/24 ở Cồn Cỏ (Quảng Trị). Từ khi có tàu túc trực tại đây, qua theo dõi trên radar, lực lượng Cảnh sát biển không phát hiện tàu nước ngoài xâm phạm vào vùng biển này. Hiện đơn vị cũng triển khai 1 tàu nữa túc trực thường xuyên tại Lý Sơn (Quảng Ngãi) để cơ động trong mọi tình huống, giúp ngư dân yên tâm đánh bắt hải sản.

Tuần trăng mật trên biển

Tại vùng 2 Cảnh sát biển, từ chỉ huy đến các chiến sĩ, phần lớn đều quê tận đất Bắc đến đóng quân nơi dải đất miền Trung xa xôi. Chính vì vậy, mỗi người lính đều có những câu chuyện riêng về mái ấm nơi quê nhà.

Trong một chuyến đi Trường Sa, thiếu úy Hoàng Văn Sáu, nhân viên máy tàu, quê ở Quảng Xương, Thanh Hóa, nhận được tin người mẹ già ở quê lại lên cơn đau tim. Chỉ kịp gọi điện về nhà động viên gia đình đưa mẹ vào viện cấp cứu, thiếu úy Sáu lên tàu nhổ neo ra khơi. Ngày tàu cập bến, được sự cho phép của cấp trên, anh mới tất tả mang món quà của chỉ huy và anh em đơn vị đón xe về quê thăm mẹ.

Nhiều chiến sĩ tâm sự: Khi ra vùng biển Trường Sa rộng mênh mông, mỗi khi nhìn thấy một chiếc tàu của ngư dân Việt Nam đánh cá treo lá cờ đỏ sao vàng, lòng ai cũng phấn chấn. Và ở vùng biển Trường Sa, những người lính biển thường gặp những chiếc tàu cá mang biển số Quảng Ngãi. Họ như những cột mốc chủ quyền trên biển.
Có gia đình thấy con đóng quân biền biệt ở miền Trung, một năm về phép một lần nên lo sắp chuyện tơ duyên cho con. Tết năm 2011, thiếu úy Phan Văn Trung, nhân viên pháo và thiếu úy Trần Văn Quân, nhân viên máy của tàu 4033 về quê ở tận Nghệ An để ăn tết và thực hiện lời hẹn ước với người thương. Khi hai chàng lính biển về quê thì mọi đồ sính lễ của nhà trai đã sắp đủ, bố mẹ cùng con sang nhà gái rước dâu.

Đám cưới xong, tuần trăng mật mới được 3 ngày thì có lệnh đi biển khẩn cấp. Vậy là 2 chàng lính biển phải chia tay người vợ trẻ, khoác ba lô quay trở lại dải đất miền Trung, nơi có con tàu đang chuẩn bị nhổ neo ra khơi làm nhiệm vụ. Những ngày trên biển, 2 chàng lính trẻ vẫn còn lâng lâng men say của hạnh phúc.

Trong hành trang của Thuyền trưởng Tuyên cũng có những tấm ảnh của mái ấm gia đình của anh. Quê ở Quảng Ninh, hàng ngày, chị vừa đi dạy, vừa chăm sóc đứa con trai kháu khỉnh 2 tuổi. Ở dải đất miền Trung xa xôi, thỉnh thoảng anh thăm vợ qua… điện thoại. Là thuyền trưởng, trách nhiệm đứng mũi chịu sào càng lớn, người thuyền trưởng này càng phải gác niềm riêng cho anh em noi theo.

“Kiên quyết dũng cảm – Khắc phục khó khăn – Đoàn kết hợp đồng – Giữ nghiêm kỷ luật” – đó chính là phương châm của những người lính Cảnh sát biển. Phương châm đó giúp các anh vững vàng tay súng trên biển cả, không mắc mưu trước sự khiêu khích của kẻ địch.
Nguồn: Dân Việt

Là một tôn giáo lớn trên thế giới, đạo Tin lành đã có mặt ở Việt Nam hơn 100 năm. Trong quá trình tồn tại và phát triển ở Việt Nam, Tin lành đã chọn lựa các hình thức hoạt động mềm dẻo, giáo lí và lễ nghi được đơn giản hoá, quần chúng hoá.

Ở nhiều nơi đạo Tin lành đã thích nghi dễ dàng với phong tục tập quán của người địa phương, số lượng tín đồ đạo Tin lành ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, những ảnh hưởng của nó tới đời sống chính trị xã hội, tâm lý lối sống, phong tục tập quán… đang đặt ra nhiều vấn đề khá phức tạp và nhạy cảm.

Dưới đây là bài viết khái quát một số đặc điểm lịch sử về đạo Tin lành ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra hiện nay.

1. Sự hình thành đạo Tin lành và một số đặc điểm nhận biết

1.1 Sự hình thành đạo Tin lành

Nếu so sánh với các tôn giáo lớn trên thế giới như Phật giáo, Công giáo hay Hồi giáo thì Đạo Tin lành ra đời muộn hơn cả. Tuy nhiên, kể từ khi ra đời cho đến nay, đạo Tin lành đã phát triển rất mạnh, trở thành một tôn giáo quốc tế với khoảng 550 triệu tín đồ, gần 300 hệ phái tổ chức khác nhau và có mặt trên nhiều quốc gia.

Vào khoảng đầu thế kỷ XVI ở Châu Âu diễn ra sự phân biệt trong đạo Ki tô, dẫn tới việc ra đời của đạo Tin lành. Thực chất đó là cuộc cải cách tôn giáo và chính trị xã hội sâu sắc. Đạo Tin lành là kết quả của sự khủng hoảng đến mức trầm trọng về uy tín của Công giáo do những tham vọng quyền lực trần thế, sự sa sút về đạo đức của hàng giáo phẩm; là kết quả của sự lúng túng, bế tắc của nền thần học kinh viện thời trung cổ; là kết quả đầu tiên mà giai cấp tư sản mới ra đời giành được trong cuộc đấu tranh chống  lại giai cấp phong kiến mà chỗ dựa tư tưởng của giai cấp này là đạo công giáo.

Phong trào cải cách tôn giáo nổ ra đầu tiên ở Đức. Người khởi xướng và trở thành lãnh tụ nổi tiếng của phong trào này là Matin Luther. Ông là người đã bỏ dở chương trình Đại học Luật Erfurt để quyết định “dâng mình cho Chúa” rồi tu tại dòng Oguxtino. Sau đó Luther trở thành giáo sư, tiến sĩ thần học của truờng Đại học tổng hợp Wittenberg. Khi có dịp sang Rôma, Luther đã hoàn toàn thất vọng vì tận mắt chứng kiến đời sống xa hoa trần tục của số đông giáo sỹ. Với sự kiện này ông đã nhen nhóm những ý tưởng cải cách tôn giáo. Sau đó Luther đã công bố 95 luận đề với nội dung phê phán kịch liệt việc lợi dụng danh thánh để bóc lột dân chúng, lên án chức vụ giáo hoàng và giáo quyền Rôma…

Những quan điểm của Luther đã được đông đảo các tầng lớp nhân dân Đức ủng hộ, nhất là các công hầu quý tộc. Đến năm 1532, trước sự lớn mạnh của phong trào này, hoàng đế Đức đã phải thừa nhận sự tự do hoạt  động của đạo Tin lành.

Thụy Sĩ cũng là trung tâm lớn thứ hai của cuộc cải cách tôn giáo gắn với tên tuổi của Jean Calvin. Ông là người Pháp, đã từng theo học thần học và luật học  bằng học bổng của giáo hội Công giáo nhưng do hưởng ứng phong trào cải cách của Luther nên bị trục xuất khỏi Pháp và sinh sống ở Thuỵ Sĩ. Calvin đã nghiên cứu và hình thành một giáo thuyết riêng đồng thời cải cách về lễ nghi, giáo hội làm chuẩn mực cho phần lớn các hệ phái Tin lành đi theo…

Từ trung tâm Đức và Thuỵ Sĩ, phong trào cải cách tôn giáo phát triển nhanh chóng sang Pháp, Scotlen, Ireland, Hà lan, Anh , Nauy, Đan mạch… Đến cuối thế kỷ XVI đã hình thành một tôn giáo mới tách hẳn khỏi đạo Công giáo. Trong quá trình phát triển của mình, đạo Tin lành đã hình thành rất nhiều hệ phái khác nhau như Trưởng lão, Menhônai, Moóc Mông, Ngũ tuần, Giám lý, Thanh giáo và Giáo hội cộng đồng, Cơ đốc Phục lâm, Giáo hội thống nhất, Môn đệ đấng Chrits, Hội  Liên hiệp Phúc âm truyền giáo…

1.2. Đặc điểm nhận biết của đạo Tin lành

Đạo Tin lành có nhiều tổ chức hệ phái mặc dù có những dị biệt về giáo thuyết, nghi thức hành đạo và cách tổ chức giáo hội nhưng nhìn chung đều thống nhất ở những nội dung, nguyên tắc chính. Có thể khái quát và so sánh với đạo Công giáo:

Trước hết về thần học: Đạo Tin lành là một nhánh của Kitô giáo nên cũng lấy kinh thánh Cựu ước và Tân ước làm nền tảng giáo lý. Khác với Công giáo, Tin lành đề cao vị trí kinh thánh, coi đó là chuẩn mực căn bản duy nhất của đức tin và sự hành đạo, nhưng không coi kinh thánh là cuốn sách của riêng giáo sĩ mà tất cả các tín đồ, giáo sĩ đạo Tin lành đều đọc, sử dụng, nói và làm theo kinh thánh.

Đạo Tin lành cũng thờ Thiên chúa và thừa nhận chúa 3 ngôi: Cha, Con, Thánh thần; tin muôn vật đều do thiên chúa tạo dựng. Nhưng trong tín điều về Đức Bà hoài thai chúa GiêSu một cách mầu nhiệm, đạo Tin lành cho rằng Chúa chỉ mượn lòng bà Maria làm nơi sinh thành chứ Maria không thể là mẹ của Chúa dù theo bất cứ nghĩa nào, thậm chí sau khi sinh ra GiêSu, Maria không còn đồng trinh nữa và còn sinh rất nhiều con cái: Giacôp, Giôdep, Ximôn, Gruđa… Chính vì thế họ phản đối mọi sự thờ phụng bà Maria.

Là một tôn giáo đặc biệt đề cao lý trí trong đức tin. Do đó, luật lệ, lễ nghi, cách thức hành đạo của Tin lành đơn giản, không cầu kỳ rườm rà. Đạo Tin lành không thờ các tranh ảnh, hiện tượng cũng như dị vật phản đối việc hành hương đến các thánh địa. Trong 7 phép bí tích của đạo Công giáo, đạo Tin lành chỉ thừa nhận và thực hiện phép rửa tội và phép thánh thể. Nếu tín đồ đạo Công giáo xưng tội trong toà kín với linh mục là hình thức chủ yếu nhất thì tín đồ đạo Tin lành khi xưng tội và cầu nguyện có thể đứng giữa nhà thờ, đám đông để sám hối hoặc nói lên ý nguyện  của mình một cách công khai. Thánh đường của đạo Tin lành thường có kiến trúc hiện đại, đơn giản. Trong thánh đường chỉ có duy nhất cây thập giá, biểu tượng của Chúa GiêSu bị nạn.

Về nhân sự, đạo Tin lành cũng có giáo sĩ như công giáo. Giáo sĩ đạo Tin lành có hai chức: mục sư và giảng sư, không áp dụng luật độc thân như giáo sĩ đạo Công giáo. Và có một điều đặc biệt là giáo sĩ Tin lành có nhiều người là nữ. Các giáo sĩ tuy cũng được coi là người chăm sóc linh hồn cho tín đồ nhưng không có quyền thay mặt Chúa để ban phúc hay tha tội cho con chiên.

Về phương diện tổ chức, đạo Tin lành không lập ra tổ chức giáo hội mang tính chất phổ quát cho toàn đạo mà đi theo hướng xây dựng các giáo hội riêng rẽ, độc lập với những hình thức khác nhau theo từng hệ phái, từng quốc gia. Trong tổ chức giáo hội, các hệ phái Tin lành chủ trương giao quyền tự trị cho các giáo hội cơ sở, chi hội, các cấp giáo hội bên trên hình thành phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cho phép. Giáo hội Tin lành không cấu thành bởi các vị giáo sĩ một cách cố định như Công giáo mà cả tín đồ, giáo sĩ tham gia thông qua bầu cử một cách dân chủ…

Nhìn chung, có thể thấy sự cải cách của Tin lành về cách thức hành đạo cũng như tổ chức giáo hội chịu ảnh hưởng đậm nét của tư tưởng dân chủ và khuynh hướng tự do cá nhân, giảm thiểu và bớt đi sự linh thiêng về luật lệ, lễ nghi, cơ cấu tổ chức của đạo Công giáo. Sinh hoạt tôn giáo không lệ thuộc nhiều vào việc lễ bái, nơi thờ tự, chức sắc… Người ta khó có thể đánh giá mức độ và nhu cầu tín ngưỡng của tín đồ Tin lành qua việc họ có đến nhà thờ tham dự các sinh hoạt tôn giáo hay không. Đối với tín đồ Tin lành, nếu có đức tin thì ở tại gia đình với quyển kinh thánh, họ có thể chu toàn bổn phận của một tín đồ.

Với lối sống đạo nhẹ nhàng đơn giản, không rườm rà và ràng buộc khắt khe như đạo Công giáo, lại đề cao tinh thần dân chủ trong các hoạt động về tổ chức nên đạo Tin lành là một tôn giáo có màu sắc mới mẻ, thích hợp với lối sống của giai cấp tư sản, tiểu tư sản, công chức thị dân nói chung trong xã hội công nghiệp. Ngày nay, người ta dễ dàng nhận thấy những nước có nền công nghiệp tiên tiến là những nước có đông người theo đạo Tin lành như Thụy Điển, Nauy, Đan Mạch, Đức, Anh, Hà Lan, Mỹ…

Bên cạnh đó, cũng có thể  nhận thấy rằng  Tin lành ra đời khi các tôn giáo lớn đã tạo được nhiều hình ảnh ở những địa bàn nhất định. Ví dụ như Phật giáo ở Châu Á, Công giáo ở Châu Âu, Hồi giáo ở Trung cận đông… Trước thực tế đó, Tin lành một mặt nỗ lực lôi kéo Công giáo ở Châu Âu, mặt khác tìm đến vùng xa xôi hẻo lánh để phát triển đạo. Ở những vùng này, đạo Tin lành không chỉ khai thác lợi thế là một tôn giáo có lối sống đạo đơn giản, đề cao dân chủ và vai trò cá nhân mà còn nghiên cứu rất kỹ đặc điểm văn hoá tâm lý, lối sống của từng dân tộc ở những vùng này để có phương thức phù hợp. Đặc biệt những nơi có phong tục tập quán lạc hậu, Tin lành xuất hiện với những điều mới lạ và tiến bộ lôi kéo người tin theo và trong những trường hợp đó đạo Tin lành phát triển rất nhanh. Vậy đối tượng tín đồ của Đạo Tin lành ngoài tầng lớp trí thức thị dân còn là dân tộc thiểu số.

Mặc dù được đánh giá là một tôn giáo “tiến bộ”, “năng động” và dễ thích nghi nhưng vì đạo Tin lành đề cao vai trò của kinh thánh, thậm chí có một số hệ phái Tin lành tỏ ra rất bảo thủ, không chấp nhận những điều gì trái với kinh thánh nên dẫn đến sự phản ứng đối kháng với văn hoá tín ngưỡng truyền thống của các tín đồ ở những nơi đạo Tin lành truyền bá.

2. Đạo Tin lành ở Việt Nam

2.1. Đặc điểm lịch sử

Với những đặc điểm riêng về địa lý, lịch sử, văn hoá, dân cư… Việt Nam là một quốc gia có nhiều tôn giáo và loại hình tín ngưỡng. Trước khi đạo Tin lành được truyền vào, Việt Nam đã có các tôn giáo lớn như Phật giáo, Lão giáo, Công giáo. Đạo Tin lành có mặt ở  Việt Nam vào những năm cuối thế kỷ XIX do tổ chức Tin lành Liên hiệp phúc âm và truyền giáo Mỹ (CMA) truyền vào. Tổ chức này đã cử nhiều mục sư sang Việt Nam để tìm hiểu và thăm dò: Mục sư Tiến sĩ A.B Sumpsm (1887); D.Leclacher (1893); C.H Reves (1897); R.A Jaffray (1899); S.Dayan (1901)… Đến năm 1911, CMA đã cử R.A.Jaffray, Paul.M.Husel, G.LoyHugher đến Đà Nẵng lập Hội thánh đầu tiên. Đây là sự kiện đánh dấu mốc cho sự truyền bá đạo Tin lành vào Việt Nam. Từ cơ sở ở Đà Nẵng, các giáo sĩ hội truyền giáo mở thêm một số cơ sở khác ở những vùng lân cận như: Hội An, Tam kỳ, Đại Lộc… và cử người dân đi truyền đạo ở Bắc kỳ và Nam kỳ với các hoạt động chủ yếu là: dịch kinh thánh, lập nhà in và mở trường đào tạo mục sư truyền đạo.

Tuy nhiên, chính quyền Pháp ở Việt Nam không ưa đạo Tin lành, họ lo ngại ảnh hưởng của Mỹ thông qua việc phát triển đạo Tin lành. Do đó đạo Tin lành trong thời kỳ này hoạt động rất khó khăn. Khi chiến tranh thế giới thứ nhất xảy ra, thực dân Pháp cho rằng các giáo sĩ Tin lành làm gián điệp cho Đức nên đã ra lệnh đóng cửa nhà thờ Tin lành và cấm các giáo sĩ Tin lành hoạt động. Ngoài ra người Pháp còn dựa vào Hoà ước 6/6/1884 chỉ cho phép Thiên chúa giáo được truyền bá vào Việt Nam. Toàn quyền Đông dương đã cho đóng cửa nhà thờ, trục xuất giáo sỹ truyền giáo CMA. Phải tới năm 1927, khi phong trào dân chủ Pháp lên cao thì những lệnh cấm này mới được huỷ bỏ. Thế nhưng trong sự cấm đoán đó, đạo Tin lành vẫn tìm mọi cách để phát triển. Tới năm 1918, CMA đã lập được 5 chi hội ở Bắc kỳ, 6 chi hội ở Trung kỳ và 5 chi hội ở Nam kỳ. Tất cả các chi hội Tin lành lúc đó đều được giấy phép hoạt động cả của khâm sứ 3 kỳ và đều lấy tên là : “Hội thánh Tin lành Đông Pháp” (MEI).

Từ năm 1924 đến năm 1927, đã có 4 Đại hội đồng của Đạo Tin lành được tổ chức. Đại hội đồng lần thứ IV ở Đà Nẵng đã bầu ra Ban Trị sự Tổng liên Hội thánh Tin lành Việt Nam do mục sư Hoàng Trọng Thừa làm Hội trưởng đầu tiên.

Trong thời kỳ chiến tranh Thế giới thứ 2, phát xít Nhật vào Đông Dương, tình hình chính trị xã hội phức tạp, Uỷ ban truyền giáo của CMA New York đã có lệnh triệu hồi tất cả các giáo sĩ rời Đông Dương. Hội thánh Tin lành Việt Nam rơi vào tình trạng suy thoái, các sinh hoạt tín ngưỡng của tín đồ cũng bị xáo trộn. Chiến tranh kết thúc, các giáo sĩ trở lại Việt Nam và các sinh hoạt của đạo Tin lành ở cả 3 miền được phục hồi.

Trải qua một quá trình truyền bá và phát triển, đến năm 1954, đạo Tin lành có khoảng 60.000 tín đồ với gần 100 mục sư truyền đạo. Trụ sở chung của giáo hội Tin lành Việt Nam được đặt tại Hà nội.

Sau Hiệp định Giơnevơ (1954), đạo Tin lành ở hai miền Nam – Bắc có sự khác nhau. Ở Miền Bắc số đông tín đồ giáo sĩ bị đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch kích động nên đã di cư vào Nam. Những người ở lại miền Bắc đã lập tổ chức giáo hội riêng lấy tên gọi là Hội thánh Tin lành Việt Nam thường gọi là Tổng hội Tin lành miền Bắc với những hoạt động bình thường, phạm vi ảnh hưởng không lớn, số lượng tín đồ cũng tăng một cách không đáng kể. Ở miền Nam, những năm 1954 – 1975, lợi dụng cuộc chiến tranh xâm lược, đế quốc Mỹ, CMA đã lập ra Tổng liên hội thánh Tin lành Việt Nam thường gọi là Hội thánh Tin lành Việt Nam.

Giai đoạn này, đạo Tin lành ở miền Nam phát triển mạnh mẽ. Tin lành ra sức củng cố, mở rộng hệ thống tổ chức cơ sở tôn giáo, các cơ sở kinh tế văn hoá xã hội, mở rộng phạm vi truyền đạo ra nhiều địa bàn, nhất là ở Tây Nguyên. Hội thánh Tin lành miền Nam đã cho tách riêng hai “hạt” vùng dân tộc ít người ra khỏi người Kinh và lập ra “cơ quan truyền giáo người Thượng” dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các giáo sĩ Tin lành Mỹ, đồng thời, mở cửa cho các hệ phái Tin lành, các tổ chức xã hội văn hoá, nhân đạo, từ thiện của Mỹ vào truyền đạo và xây dựng cơ sở khắp miền Nam. Hội thánh Tin lành miền Nam rất chú trọng đào tạo mục sư và truyền đạo, nâng “Trường kinh thánh” thành “Viện kinh thánh thần học” toàn miền Nam, đầu tư mở hai trường kinh thánh trung cấp cho Tây nguyên. Hội thánh Tin lành còn đưa nhiều mục sư và truyền đạo ra nước ngoài đào tạo. Giáo hội Tin lành đã thành lập hệ thống tuyên uý trong quân đội nguỵ từ Bộ Tổng tham mưu đến quân đoàn, quân khu và những đơn vị đặc biệt. Họ đã tuyển chọn và đưa gần 100 mục sư và truyền đạo vào ngụy quân.

Bên cạnh CMA, ở miền Nam còn có hệ phái Tin lành cũng từ Mỹ du nhập vào từ những năm 30 của thế kỷ XX, phát triển chủ yếu sau những năm 50, đó là phái Cơ đốc Phục lâm. Đây là phái lớn thứ hai sau CMA, có hệ thống giáo hội với hơn 10.000 tín đồ, gần 40 mục sư, 34 nhà thờ và một số cơ sở tôn giáo xã hội khác. Hội thánh cơ đốc Phục lâm còn có hơn 20 hệ phái vào truyền giáo và xây dựng cơ sở ở miền Nam như: Baptism, Pentecostim (Ngũ tuần), (Nhân chứng Giêhôva), Jehovah’s Witnesses…

Sau 1975, đất nước được hoà bình thống nhất, giáo sĩ người nước ngoài rút khỏi Việt Nam, một số giáo sỹ người Việt di tản, phạm vi và mức độ hoạt động của đạo Tin lành ở miền Nam thu hẹp lại. Hội thánh Tin lành Miền Nam còn khoảng 450 giáo sĩ, 487 nhà thờ. Các hoạt động của đạo Tin lành ở hai miền Nam Bắc vẫn tiếp tục phát triển tới năm 1990 đã có 300.000 người theo đạo Tin lành.

Những thập kỷ gần đây, các giáo phái Tin lành đã đẩy mạnh hoạt động như phục hồi các hình thức tôn giáo, phát triển tín đồ, củng cố giáo hội… Nhiều hoạt động như vận động lập lại các tổ chức cũ, quan hệ với bên ngoài… Cơ quan cứu trợ và phát triển Cơ đốc Phục lâm gần đây có thực hiện một số dự án viện trợ  nhân đạo trong lĩnh vực y tế, giáo dục, thuỷ lợi, ngư nghiệp…

Điểm lại diễn biến 100 năm đạo Tin lành vào Việt Nam, chúng ta có thể ghi nhận rằng quá trình này chịu sự tác động quá lớn của các sự kiện chính trị xã hội, nhất là khi đất nước bị chia cắt. Hội thánh Tin lành Việt Nam ngay từ đầu là một tổ chức chung nhưng sau đó lại bị chia rẽ  bởi hai tổ chức giáo hội ở hai miền với những tính chất chính trị và quy mô khác nhau. Tuy vậy, đạo Tin lành đã có cơ sở trong quần chúng ở nhiều vùng trên đất nước ta, thực tế hiện nay đã có khoảng hơn 1,2 triệu tín đồ. Đặc biệt là khoảng 10 năm trở lại đây, đạo Tin lành phát triển đột biến ở Tây Nguyên, Tây Bắc và một số vùng dân tộc thiểu số khác đang đặt ra một số vấn đề nhạy cảm, phức tạp cần được giải quyết, tháo gỡ.

2.2. Một số vấn đề đặt ra hiện nay

Có thể thấy đạo Tin lành là vấn đề nổi trội đột xuất trong các vấn đề tôn giáo ở Việt Nam.Sự hiện diện của cộng đồng Tin lành ở Việt Nam gần đây đã trở nên những điểm nóng khá phức tạp, nhạy cảm.

Trước hết đó là sự va chạm, xung đột với các tập tục gia đình, xã hội, tín ngưỡng cổ truyền và các tôn giáo khác ở Việt Nam. Đối với mỗi người Việt Nam, thờ cúng ông bà, tổ tiên, thành hoàng và những người có công với làng, nước… là sự thiêng liêng, thậm chí đã thành tiêu chí hàng đầu về đạo đức của mỗi thành viên trong gia đình, họ tộc, làng xóm. Những tập tục xuất phát từ trong  nghi lễ chịu ảnh hưởng của Nho giáo, thể hiện lòng hiếu thảo của con cái đối với ông bà, cha mẹ như giỗ chạp, ma chay, cưới xin đã góp phần vào nết đẹp văn hoá mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

Trong khi đó, đạo Tin lành là một tôn giáo độc thần, chỉ thờ phụng một đức Chúa Trời duy nhất. Tin lành vốn chủ trương triệt để phản đối việc thờ tranh ảnh, tượng thánh và nâng lên một bước nữa là chống lại việc thờ hình tượng. Điều kiện để trở thành tín đồ chính thức của đạo Tin lành là: không dự vào việc hương hoả, cúng cấp cùng các sự dị đoan, không nên dùng hoặc buôn bán các vật không hợp với tôn chỉ của đạo Tin lành như: thuốc phiện, rượu, các vật phẩm thờ cúng hình tượng.

Đạo Tin lành còn có những lí lẽ biện giải để chống đối với các tập tục gia đinh, tín ngưỡng cổ truyền như: Các ông thờ lạy tổ tiên được mấy đời? Thờ trong nhà chẳng qua được hai, ba, đời; thờ trong họ chẳng qua được đôi mươi đời, trước đôi mươi đời há không phải tổ tông xa nữa sao? Cho nên chúng tôi chỉ thờ một mình đức chúa Trời là tổ tông của chúng ta. Khi Tin lành du nhập vào Việt Nam, các nhà truyền giáo đã ra sức bài bác, tuyên chiến với hệ thống tín ngưỡng của người Việt như: xem địa lí,chọn ngày, thờ thổ công, thờ bà chúa Liễu Hạnh…

Vậy, cùng với sự phát triển của đạo Tin lành là sự thay đổi lối sống, tâm lý, tình cảm, sự phân giới về xã hội, văn hoá, tín ngưỡng  dân tộc.  Nó cũng tạo nên sự chia rẽ trong nội bộ gia đình, dòng họ, lưu tồn định kiến hoài nghi cộng sản, làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và  nghiêm trọng hơn là các tín đồ Tin lành dễ bị các phần tử xấu lôi kéo chống đối chính quyền, nổi loạn….Đây quả thật là những thách đố đối với chúng ta.

Hơn nữa, hiện nay các thế lực thù địch và lực lượng chống đối muốn thông qua đạo Tin lành để thực hành chủ nghĩa li khai, giải lãnh thổ. Ở Việt Nam, điều này đã trở thành hiện thực khi người ta thấy Tin lành lan toả một cách nhanh chóng ở những vùng đất “phên dậu” của tổ quốc: miền núi phía Bắc, Tây Nguyên..

Đặc biệt, sự phát triển của đạo Tin lành trong các đồng bào dân tộc thiểu ở Tây Nguyên vừa là hệ quả vừa là tác nhân của những diễn biến chính trị phức tạp trên địa bàn này thời gian gần đây. Đạo Tin lành có mặt ở Tây nguyên từ những thập kỷ 20 của thế kỷ trước, kể từ đó, nó đã kiên trì, bền bỉ chiếm cả không gian, xã hội cao nguyên, xâm thực vào buôn làng, văn hoá truyền thống và thâm nhập vào các nhóm xã hội mới xuất hiện theo đà chuyển đổi của nền kinh tế theo hướng thị trường hoá. Thí dụ: nhà thờ Tin lành thay thế cho nhà Rông trong việc đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cộng đồng của con người Tây nguyên. Lễ Noen, Phục sinh thay thế cho lễ Cơm mới, lễ Năm mới cổ truyền…

Số lượng tín đồ của đạo Tin lành ở vùng đất đỏ ba gian này ngày càng gia tăng và luôn chiếm ½ số tín đồ Tin lành cả nước. Các thế lực thù địch trên cơ sở này luôn ra sức kích thích, nuôi dưỡng chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, biệt lập li khai trong một bộ phận tầng lớp trên của các dân tộc Tây Nguyên, đồng thời lôi kéo các lực lượng này vào các phong trào bạo loạn nhằm khuynh đảo thể chế chính trị ở nước ta.

Hiện nay hùa theo chiến dịch: nhân quyền và tự do tôn giáo của chính giới Mỹ, Ksorkơk và các phần tử chính trị phản động gốc Tây Nguyên lưu vong ở Mỹ cho ra đời cái gọi là “Hội thánh Tin lành Đềga”, đòi lập nhà nước Đềga  của người Thượng. Đây là một chiêu thức lưu manh chính trị nguy hiểm lôi kéo một số tín đồ không nhỏ của Hội thánh Tin lành miền Nam, tạo nên một vụ áp phe chính trị đội lốt tôn giáo vào đầu năm 2001 và năm 2004.

Vấn đề đạo Tin lành hiện nay vẫn còn là một chủ đề “chứa chất nhiều tiềm năng” đối với các thế lực thù địch Việt Nam và các phần tử cơ hội chủ nghĩa trong chính giới Mỹ để họ khai thác trong các chiến dịch nhân quyền và tự do tôn giáo.

Với tinh thần đảm bảo và tôn trọng quyền phát triển tự do tín ngưỡng tôn giáo của công dân, nhà nước Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc giải quyết các vấn đề tôn giáo, đặc biệt là đối với đạo Tin lành. Nhà nước Việt Nam đã công nhận tư cách pháp nhân của Tổng Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) từ năm 1958 và Tổng Liên hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) từ đầu năm 2001. Vậy có nghĩa là chúng ta thừa nhận sự tồn tại khách quan của đạo Tin lành ở Việt Nam, từng bước đưa đạo Tin lành vào thể chế luật pháp tôn giáo để khai thác những mặt tích cực, nhưng kiên quyết ngăn chặn chống lại bất cứ một nhóm người nào lợi dụng đạo Tin lành để phá hoại sự nghiệp đoàn kết toàn dân làm hại đến nền văn hoá lành mạnh của dân tộc.

Là một tôn giáo lớn trên thế giới, đạo Tin lành đã có mặt  ở Việt Nam hơn 100 năm. Trong quá trình tồn tại và phát triển ở Việt Nam, Tin lành đã chọn lựa các hình thức hoạt động mềm dẻo, giáo lí và lễ nghi được đơn giản hoá, quần chúng hoá, ở nhiều nơi đã thích nghi dễ dàng với phong tục tập quán của người địa phương, số lượng tín đồ đạo Tin lành ngày càng gia tăng. Điều cốt yếu là tín đồ đạo Tin lành không tách rời với điều kiện lịch sử mới, tìm được nhiều phương sách đúng đắn để hoà nhập trong cộng đồng dân tộc, không đi ngược lại lợi ích của dân tộc. Chúng ta có quyền hy vọng vào một cộng đồng Tin lành ở Việt Nam “kính chúa, yêu nước” “sống phúc âm…” như đường hướng hoạt động của Hội thánh Tin lành miền Bắc và miền Nam đề ra.

_____________________________

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Xuân Hùng, Về nguồn gốc và sự xuất hiện tên gọi đạo Tin lành tại Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, Số 3, 2001.

2. Nguyễn Xuân Hùng, Tìm hiểu những hệ quả của việc truyền giáo Tin lành đối với văn hoá truyền thống và tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, Số 1, 2001.

3. Phạm Đăng Hiển, Góp một góc nhìn về vấn đề đạo Tin lành ở Tây nguyên, Tạp chí Dân tộc học, Số 5, 2003.

4. Nguyễn Thanh Xuân, Bước đầu tìm hiểu đạo Tin lành trên thế giới và ở Việt Nam, NXB Tôn giáo, Hà Nội, 2002.

5. Nguyễn Văn Trung, Một số hiểu biết về tôn giáo ở Việt Nam, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1993.

TRẦN THANH GIANG (ĐH VĂN HÓA HÀ NỘI)

[Reds.vn]

Mời bạn đọc cùng chiêm ngưỡng hàng loạt xe máy đắt tiền mang biển tứ quý, tiến lên, “thần tài”… trên đường phố.

“Thần tài” trên Đại lộ Đông Tây (quận 2 – TP.HCM).
 Nào ta cùng tiến…lên.
 “Bộ sưu tập” tứ quý!
Xe máy biển đẹp 'diễu' phố Sài Gòn
Ảnh chụp trên đường Võ Văn Ngân, quận Thủ Đức ngày 26/7
Xe máy biển đẹp 'diễu' phố Sài Gòn
Ảnh chụp trên đường Đặng Văn Bi, phường Trường Thọ, quận Thủ Đức ngày 25/7
Xe máy biển đẹp 'diễu' phố Sài Gòn
Ảnh chụp trên đường Kha Vạn Cân, phường Linh Tây, quận Thủ Đức ngày 22/7
Xe máy biển đẹp 'diễu' phố Sài Gòn
Ảnh chụp trên Xa lộ Hà Nội, quận 9 ngày 26/7
Xe máy biển đẹp 'diễu' phố Sài Gòn
Ảnh chụp trên đường Hoàng Diệu 2, phường Linh Chiểu, quận Thủ Đức ngày 22/7

 

Theo Kiến Trúc và Bee

1 nghệ sĩ chuyên về Digital Painting, cô gái người Việt trẻ tuổi này cũng là 1 nghệ sĩ kì cựu trên DeviantArt. Nhìn vào những tác phẩm của cô, bạn sẽ phải thán phục về những nét vẽ rất điêu luyện và thanh thoát, đặc biệt là phần tóc cô vẽ, rất thật và đẹp.

Cô gái này có nickname trên DeviantArt là leejun35, tên thật là Lê Dung, vừa tốt nghiệp chuyên ngành Tài chính ngân hàng. Nghe tới đây chắc các bạn sẽ phải ngạc nhiên vì chuyên ngành học của cô không hề liên quan đến mảng nghệ thuật. Đam mê vẽ từ nhỏ nhưng không tìm được trường dạy vẽ chuyên nghiệp, đến khi chuẩn bị thi vào đại học thì lại không được gia đình ủng hộ theo 1 mái trường kiến trúc hay mỹ thuật nào, thế là Dung phải chiều theo gia đình mà theo ngành Tài chính ngân hàng. Trong quá trình từ Cần Thơ lên TPHCM học đại học, Dung vẫn ấp ủ đam mê và vẫn thường xuyên cho ra những tác phẩm rất có hồn. Và sau 4 năm đại học, mặc dù cũng đã thử làm việc ở 1 ngân hàng nhưng tự thấy không phù hợp cho nên Dung đã quyết định vào làm cho 1 công ty game ở vị trí 2D Artist.

Đây chính là Dung, còn rất trẻ và xinh đẹp nhưng lại rất tài năng :">Đây chính là Dung, còn rất trẻ và xinh đẹp nhưng lại rất tài năng :”>

Về những tác phẩm của Dung, bạn gái này thổ lộ bí quyết làm lên những tác phẩm digital painting này là nhờ vào phát thảo hoàn toàn trên Paint Tool SAI bằng tablet và cuối cùng hoàn thành trên Photoshop. (Paint Tool SAI là phần mềm tô màu manga nhỏ gọn nhưng rất tiện lợi, trên Việt Designer đã có bài viết giới thiệu về phần mềm này, bạn có thể xem tại đây).

Tâm sự với Việt Designer, Dung có bảo mặc dù mất 4 năm học đại học với ngành tài chính mà sau khi ra trường lại đi theo làm ở 1 lĩnh vực khác, bạn ấy cảm thấy không hề hối tiếc vì trong suốt 4 năm đó, Dung đã được trải nghiệm rất nhiều điều và có thêm đam mê để theo đuổi lĩnh vực nghệ thuật. Cho nên qua gương điển hình của Dung, càng chứng tỏ rằng giới trẻ ngày nay không nhất thiết phải làm theo ngành mình học, có thể ngành học chính của bạn không phải là việc sau này mình làm nhưng nó cũng giúp ích cho bạn rất nhiều, cho nên không việc gì phải hối tiếc cả, giới trẻ thời nay là thế, rất năng động.

Okay, nói sơ sơ về Dung như thế thôi, vì bạn nữ này cũng khá khép kín, không muốn bật mí nhiều về bản thân mình, cho nên mình xin giới thiệu luôn những tác phẩm tiêu biểu của cô gái trẻ tài năng nay. (nói tiêu biểu nhưng thực ra là những tác phẩm gần đây nhất của cô ấy).

Bộ sưu tập "đồ sộ" digital painting của một cô gái Việt trẻ tuổi

Bộ sưu tập "đồ sộ" digital painting của một cô gái Việt trẻ tuổi

Bộ sưu tập "đồ sộ" digital painting của một cô gái Việt trẻ tuổi

Bộ sưu tập "đồ sộ" digital painting của một cô gái Việt trẻ tuổi

Bộ sưu tập "đồ sộ" digital painting của một cô gái Việt trẻ tuổi

Bộ sưu tập "đồ sộ" digital painting của một cô gái Việt trẻ tuổi

Bộ sưu tập "đồ sộ" digital painting của một cô gái Việt trẻ tuổi

Bộ sưu tập "đồ sộ" digital painting của một cô gái Việt trẻ tuổi

Bộ sưu tập "đồ sộ" digital painting của một cô gái Việt trẻ tuổi

Bộ sưu tập "đồ sộ" digital painting của một cô gái Việt trẻ tuổi

Bộ sưu tập "đồ sộ" digital painting của một cô gái Việt trẻ tuổi

Bộ sưu tập "đồ sộ" digital painting của một cô gái Việt trẻ tuổi

Bộ sưu tập "đồ sộ" digital painting của một cô gái Việt trẻ tuổi

Bộ sưu tập "đồ sộ" digital painting của một cô gái Việt trẻ tuổi

Bộ sưu tập "đồ sộ" digital painting của một cô gái Việt trẻ tuổi

Bộ sưu tập "đồ sộ" digital painting của một cô gái Việt trẻ tuổi

Bộ sưu tập "đồ sộ" digital painting của một cô gái Việt trẻ tuổi

Bộ sưu tập "đồ sộ" digital painting của một cô gái Việt trẻ tuổi

Những tác phẩm rất chuyên nghiệp đúng không nào? Nhưng ít ai biết được trước khi có điều kiện để tạo ra những tác phẩm đỉnh cao này, Dung đã phải cực khổ vẽ tay trên giấy để thỏa mãn đam mê của mình, nhưng những tác phẩm vẽ tay của cô không hề tệ 1 chút nào nhé!

Bộ sưu tập "đồ sộ" digital painting của một cô gái Việt trẻ tuổi

Bộ sưu tập "đồ sộ" digital painting của một cô gái Việt trẻ tuổi

Bộ sưu tập "đồ sộ" digital painting của một cô gái Việt trẻ tuổi

Bộ sưu tập "đồ sộ" digital painting của một cô gái Việt trẻ tuổi

Dung có rất nhiều tác phẩm khác cũng đẹp không kém nhưng trong giới hạn bài viết mình chỉ có thể chia sẻ được nhiêu đây thôi, nếu ai muốn chiêm ngưỡng hết những tác phẩm của cô gái trẻ tuổi này thì vào gallery của cô trên DeviantArt tại địa chỉ: http://leejun35.deviantart.com/gallery/. Ngoài ra, Dung còn chia sẻ những bài tutorial digital painting của cô, tuy nhiên lại là tiếng Anh nên nếu bạn muốn tìm hiểu có thể tham khảo tại đây: http://leejun35.deviantart.com/gallery/9367232

Bạn có thích những tác phẩm của Dung không? Nếu thích thì ấn Like bài viết này nhé, và mình hi vọng sẽ có dịp chia sẻ những nghệ sĩ, designer Việt trẻ tuổi và tài năng hơn nữa! Enjoy!!!

 

Written by: Việt Designer