Tag Archive: sử


Sự lạ ở một tên gọi quen – Kỳ cuối: Nhân sự theo cách Viettel (P2)

Canh trời giữ biển theo cách Viettel (P1)

TP – Thi thoảng gặp bộ ba trong Ban lãnh đạo của Tập đoàn Viettel, tôi hay chợt nghĩ đến chữ may! May cho ai? Cho cả ba, cho cơ chế? Chả biết! Mỗi người một tính nhưng may hợp cạ!

 

Một góc phòng làm việc của Viện
Một góc phòng làm việc của Viện.

 

Lại đương nói dở cái vận hội đang hồi hanh thông, thịnh đạt của Viettel. Lúc này, nếu ai nói Viettel đang có triệu chứng suy yếu ắt là… nhảm, là càn! Nhưng đôi hồi lại, chả phải không có lý? Trong dịch biến, thịnh và cực thịnh đã hàm chứa cái suy vậy. Vậy nên phải tính để khỏi suy.

Vậy Viettel đã tính thế nào? Ấy là sau khi bão hòa những là điện thoại để bàn, điện thoại di động và nhiều tiện ích thông tin khác, không ầm ĩ khua động giới truyền thông, Viettel lẳng lặng đầu tư thành công ở nước ngoài như Campuchia, Haiti, Mozambique… Viettel lẳng lặng đầu tư tiền vào Công ty phần mềm thu hút hơn 400 kỹ sư vào làm việc.

Nhanh chóng triển khai dây chuyền sản xuất thiết bị điện tử viễn thông (một tổ hợp có tên là M1 thu hút 350 kỹ sư). Rồi tiếp một tổ hợp sản xuất khuôn mẫu mang tên M3 với hơn 300 kỹ sư, nhân viên kỹ thuật.

Thi thoảng gặp bộ ba trong Ban lãnh đạo của Tập đoàn Viettel, tôi hay chợt nghĩ đến chữ may! May cho ai? Cho cả ba, cho cơ chế? Chả biết! Mỗi người một tính nhưng may hợp cạ! Tổng Giám đốc – Trung tướng Hoàng Anh Xuân cố hữu với cái nhìn lừ lừ và thường xồn xồn những khó khăn. Đang khó khăn lắm. Đang phải tìm cách mà vượt đây… Khó khăn ấy là chuyện kinh doanh mà Ban lãnh đạo đang phải đối mặt.

Còn Thiếu tướng, Bí thư Đảng ủy Dương Văn Tính cũng lại cố hữu với nụ cười cởi mở… Người ta nói ông là người tạo ra chất kết dính nội bộ, kiểu nói khác đi của hạt nhân đoàn kết.

Còn ông Phó Tổng Giám đốc, Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hùng thì luôn không để hai ông kia yên với những dự định táo bạo… Tôi nghe vậy thì chỉ biết vậy. Nhưng dứt khoát việc ra đời Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Viettel này chả phải là vô tình mà có trù tính kỹ càng cùng những lao tâm khổ tứ của ba vị ấy…

 

 Lúc này nếu ai nói Viettel đang có triệu chứng suy yếu ắt là… nhảm, là càn! Nhưng đôi hồi lại, chả phải không có lý?

Tôi tưởng nghe nhầm phải hỏi lại, thượng tá Viện trưởng Nguyễn Đình Chiến khi được thông báo rằng 34.000 tỷ đồng (vâng ba tư nghìn tỷ, ấy là lấy con số tròn), là số tiền Viettel được phép trích ra từ lợi nhuận trước thuế để đầu tư cho riêng Viện này trong công tác nghiên cứu! (Lẩn thẩn lẫn giật mình nghĩ đến gói cứu trợ bất động sản vừa tung ra nói nghe ghê khiếp nhưng cũng chỉ tròn 30.000 tỷ của Chính phủ!).

 

Có nghe thoáng qua những chế tài phân bổ vừa thoáng vừa chặt của các bộ phận ở Viện khi sử dụng đồng vốn đầu tư, nhưng tôi nghe kỹ hơn cơ chế tuyển dụng nhân sự hơi bị lạ của Viện.

Người vào làm ở Viện đích thị và dứt khoát phải là người tài và là người trẻ! Những cảm giác khâm phục tự hào khi hồi nãy ở gian chung rộng thênh, chúng tôi lướt qua hàng chục gương mặt trẻ măng (đó là mới một phòng của Viện) người cao nhất mới nhỉnh hơn 30 còn hầu hết chưa ai tới tuổi băm.

Gần trăm hồ sơ ngâm cứu, kiểm tra, gạn lọc mãi cũng chỉ nhặt được vài ba người. Nhân sự và cơ sở hạ tầng tính đến ngày 20/3/2013 là 441 người. Trong đó 33 tiến sĩ, 63 thạc sĩ chuyên ngành, đại học 244. Mục tiêu nhân sự đến năm 2015 sẽ là 1.000 người, năm 2020 sẽ là 2.500 người để Viện ứng lẫn xứng với tầm khu vực và quốc tế.

 

Một số khí tài thiết bị thông tin
Một số khí tài thiết bị thông tin.

 

Thu nhập tạm gọi là bình quân vài chục triệu một tháng cho mỗi kỹ sư, chuyên gia… rất nhiều người cao gấp đôi, gấp rưỡi thế. Tiền ? Chế độ đãi ngộ thỏa đáng? Cú hích để những người trẻ vào làm việc ở Viện, yếu tố đó cũng chỉ là một phần.

Ngồi một lát với các kỹ thuật viên hàm tiến sĩ, kỹ sư như Nguyễn Cương Hoàng chuyên ngành điện tử thông tin. Sinh năm 1978, Hoàng từng nhiều năm được đào tạo, làm việc ở Anh quốc. Nhiều nơi chào mời. Nhưng Hoàng đã chọn Viettel. Vì sao? Vì ở Viettel có nhiều cái open (mở) mà Hoàng nói đó là những cú hích, những gợi mở cho việc độc lập sáng tạo.

Nguyễn Lê Minh sinh 1980 – một chuyên gia hàng không được đào tạo ở Pháp. Minh đang tích cực, tự tin trong nhóm nghiên cứu dự án UAV- máy bay không người lái của Viện. Ngạc nhiên mới vừa xong sự kiện là Viện Công nghệ Không gian của Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam chế tạo và thử nghiệm thành công dự án máy bay không người lái. Nay ở Viện này lại tiếp tục? Viettel chậm? Hay dự án, phương án của Viettel khác với UAV nọ? Hóa ra khác thật.

Qua Minh, tôi láng máng về một UAV độc đáo của Viện nay mai. Có lẽ không xa nữa thiết bị UAV của Viện, của riêng Viettel với trọng lượng, trần bay, tầm bay và tốc độ ưu việt nhất có thể, được lập trình một chế độ bay tự động với nhiều tiện ích phục vụ cho dân sự và quốc phòng. Cười thông cảm trước câu hỏi lẩn thẩn của tôi rằng sao không mua của nước ngoài? Thứ hàng với tính năng tác dụng như Minh nói sẵn quá mà? Công phu nghiên cứu làm gì? Hóa ra cung cách giải thích của Minh chính là Viện này đang phải tìm ra bí quyết- chủ quyền của Viettel cho riêng loại khí tài này.

Kiến thức, công nghệ có thể của nước ngoài nhưng phải do người mình, người của Viettel làm. Làm một cách sáng tạo theo kiểu Viettel. Có một dự án nếu mua của nước ngoài phải mất 10 triệu đô la, nhưng anh em ở Viện đã làm được theo cách riêng tốn chỉ 2 triệu đô la. Tướng Xuân chi thưởng vài tỷ. Láng máng biết thêm UAV của Viettel sẽ bay bằng chế độ điều khiển vô tuyến, bằng hệ thống điều khiển tự động sử dụng các cảm biến quán tính và nữa, sẽ có cả UAV hạng trung.

Còn Vũ Việt Tiến, một chuyên gia điện tử có 6 năm tu nghiệp ở Hàn Quốc thì chia sẻ cảm giác tự tin và tự hào rằng, qua bạn bè mách bảo, tìm đến Viện mới thấy Viện đã âm thầm táo bạo dựng nên cả một ngành công nghiệp phần mềm. Tiến cho rằng có thể Viettel là nhân tố nòng cốt để xây dựng nền công nghệ cao ở Việt Nam nên Tiến rất yên tâm làm việc ở Viện này.

 

Còn nhớ mùa hè năm 1972, Bộ Chính trị và các cơ quan hữu trách có một cuộc họp trọng thể đặng tìm ra câu trả lời nếu Mỹ dùng B52 đánh Hà Nội chúng ta sẽ đối phó ra sao. Hằng trăm cặp mắt đổ dồn vào Giáo sư (GS) Trần Đại Nghĩa khi ông phát biểu. Những tưởng vị GS khả kính đó sẽ trưng ra bí quyết hay thứ át chủ bài nào đó nhưng GS đã điềm đạm và khúc chiết rằng, các phương án đánh B52, quân chủng PKKQ đã có nhưng bí quyết vẫn là con người!

Con người- những người lính rađa trắc thủ, phòng không tên lửa đã làm nên lịch sử như thế đó!

Và thời điểm ấy nếu như bộ đội rada có được những thiết bị khí tài như ở Viện bây giờ? Nhưng tiếc lịch sử không có nếu! Chỉ có kế tổ tông chi nghiệp của những người lính Việt Nam trong các cuộc vệ quốc.

Cũng có nghe qua kế hoạch của Viện sẽ thành lập những công ty chi nhánh tại nước ngoài mà cụ thể là ở Hoa Kỳ. Nói sẽ, nhưng mọi việc đương trong tầm tay cả rồi. Nghe thấy như một kế hoạch đi tắt đón đầu của Viện? Chứ không à? Rất nhiều chuyên gia người Việt ở nước ngoài đang có nhu cầu làm việc liên hệ với Viettel nói chung và Viện. Nhưng có thể do hoàn cảnh gia đình, địa lý và lý do khó về Việt Nam thì họ sẽ tìm đến những vệ tinh của Viện Nghiên cứu & Phát triển đang có mặt ở nước ngoài. Sẽ hữu ích tiện lợi nhiều bề.

 

Bây giờ tôi mới hiểu hàng ngàn nhân sự có cả những thành phần liên lục địa và quốc tế góp chất xám cho Viettel như thế! Một đồng nghiệp hỏi vui Viện trưởng Chiến rằng người của Viện nhưng ở nước ngoài Viện trả lương thế nào? Thượng tá Chiến cũng cười trả lời ngay rằng, với một mức khác chả hạn vài ngàn, vài chục ngàn USD/tháng chứ sao!

Hơi hiếm ở một cơ sở quốc phòng ngay cổng ra vào không lính gác nhưng ấn tượng ngay với khách là hai bức tượng kích cỡ như người thật đứng hai bên. Đó là tượng một nhà bác học (tượng trưng) với kính trắng và sách. Tượng kia là một người thợ với dụng cụ búa và thước kẻ. Hằng ngày vào ra Viện, hình ảnh hai nhân vật đó như thông điệp thân ái lẫn nghiêm cẩn với những người lính chuyên viên kỹ thuật.

Lại nữa, cũng hơi bị hiếm trên tường, trong phòng làm việc các công sở mà lại trưng ra những tấm biển, bảng đại loại như ở Viện này. Như tấm biển: Những tồn tại lớn trong năm nay. Ngoài những nhắc nhở thân ái ấy còn khuyến khích không phải bằng những mệnh lệnh khô khan cứng nhắc mà là những câu như: Trong mớ hỗn độn, hãy tìm ra cái đơn giản; Từ những bất đồng tìm ra cái hòa hợp; Trong khó khăn có cơ hội v.v…

Tôi biết những mệnh lệnh rất người của người lính đại loại thế không phải trích ra từ một cuốn sách nào đó, mà tác giả của nó chính là Phó TGĐ Viettel Nguyễn Mạnh Hùng mới được phong quân hàm Thiếu tướng mấy tháng nay.

Xuân Ba [TPO]

Advertisements

Sự lạ ở một tên gọi quen:

Canh trời giữ biển theo cách Viettel (P1)

TP – Ngày đẹp trời mới đây tôi may mắn được… lạc vào một cơ ngơi của “ông lớn” Viettel. Thi sĩ Hồng Thanh Quang vốn quen thuộc chốn này có người nhà (vợ) ở Viettel thế mà chả giấu được ngạc nhiên, quay sang tôi, buông gọn lỏn một từ: Khủng!

Made in Viettel

Trụ sở Tập đoàn Viettel trước ở Giang Văn Minh, Ba Đình (Hà Nội) vừa mới chuyển về khu vực Mỹ Đình thì nhiều người rành, nhưng cơ ngơi Viện Nghiên cứu& Phát triển của Viettel thì tọa lạc ở một vị trí hơi bị khuất nẻo…Một năm rưỡi, vâng Viện ấy mới thành lập ngày 12/9/2011 thôi mà đã chế ra bao thứ khủng như Hồng Thanh Quang từng nắc nỏm.

Viện trưởng Viện Nghiên cứu & Phát triển Viettel, thượng tá Nguyễn Đình Chiến (thứ 2 trái sang) đang giới thiệu các thiết bị
Viện trưởng Viện Nghiên cứu & Phát triển Viettel, thượng tá Nguyễn Đình Chiến (thứ 2 trái sang) đang giới thiệu các thiết bị.

Trước khi lang thang trong căn phòng rộng thênh của cơ ngơi ấy, tôi biên kỹ câu giới thiệu của Viện trưởng, thượng tá Nguyễn Đình Chiến vào sổ tay:

Viettel đủ năng lực đáp ứng hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ, phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin. Sửa chữa nâng cấp và sản xuất các chủng loại thiết bị điện tử viễn thông quân sự và dân sự.

Hóa ra Viettel không chỉ có mạng viễn thông cùng là máy di động này khác!

Nhưng hút mắt vẫn là rada. Đài rada bắt sóng thấp đề – xi – mét. Tôi không được phép chép ra đây những thông số, tính năng tác dụng khiến thế hệ cha anh phát… thèm, vì bí mật quân sự. Cũng như các thiết bị khác như xe ăng – ten rada P18, P19. Rồi khủng hơn, như thiết bị rada cảnh giới 3D băng S; rada cảnh giới bờ biển; thiết bị sonar cảnh giới dưới nước…

Đứng trước thiết bị quản lý vùng trời VQ, các ký giả dường như hơi bị choáng? Choáng không phải là cảm giác những lần may mắn được lọt vào Sở chỉ huy phòng không nào đó.

 Những thiết bị này đang thông tuệ và cần mẫn từng giây từng phút để Tổ quốc không bị bất ngờ trước một cuộc chiến tranh điện tử nào đó!

Trực tiếp ngắm ngó các cô báo vụ tóc tết đuôi sam (mốt của những năm bảy mươi) mồ hôi rịn bết mớ tóc, còn bên thái dương tai đeo cáp nghe, mắt các cô gần như không chớp, tay cầm chì đỏ, liên tục vạch những gạch đỏ trên tấm mica để nối mục tiêu. Miệng liên tục thông báo các thông số về tọa độ, độ cao… Các trận địa tên lửa phòng không tiếp nhận những tín hiệu ấy tùy cơ xử lý!

Biết bao những vất vả nhiêu khê cùng bất an, nguy hiểm của những người lính rada thời chống Mỹ? Và nữa, hiệu suất tác chiến đâu có được như mong muốn? Thế hệ cha anh của bộ đội rada của Phòng không Không quân từng vít cổ những Thần sấm ( F105), Con ma (F4), Giặc nhà trời (AD6) và Pháo đài bay B52 hẳn chẳng ngại ngần gì buông câu con hơn cha nhà có phúc để chỉ những thiết bị phát hiện mục tiêu ưu việt do những người lính kỹ thuật Viettel chế ra. Những thiết bị này đang thông tuệ và cần mẫn từng giây từng phút để Tổ quốc không bị bất ngờ trước một cuộc chiến tranh điện tử nào đó!

Mặt tiền của Viện Nghiên cứu & Phát triển Viettel
Mặt tiền của Viện Nghiên cứu & Phát triển Viettel.

Thốt nhiên dậy lên một cảm giác rân rân trong người khi nghĩ về các cô báo vụ kiêm đánh dấu đường bay cùng các trắc thủ rada vạch nhiễu tìm thù ngày ấy khi tôi đang đứng trước một màn hình trong văn vắt nhỏ hơn mặt cái tivi 30 inch.

Khoảng trời chủ quyền quốc gia thân yêu bao la cùng những vùng phụ cận nhấp nháy các tín hiệu của các loại tàu bay dân dụng đương thư thả (ngó thong thả vậy nhưng đang vun vút với tốc độ 900 cho đến 1.200 km/h ở độ cao trên 10 ngàn feet Và đâu đây những chấm sáng đỏ của các loại máy bay quân sự bay tập.

Khoảng trời bình yên ấy, nói dại mồm, thế lực thù địch nào đó manh tâm gây chiến, nhỡ không may nổi bão giông chiến sự thì từng mục tiêu, ngay tức thì bị những thiết bị điện tử do Viettel chế tạo khóa chặt! Và cũng ngay lập tức, những mục tiêu ấy chỉ bằng động thái nhẹ nhàng như nhấp chuột, được bàn giao cho các đơn vị hỏa lực từ cấp trung đoàn, sư đoàn và cấp quốc gia đương giăng, đương chờ sẵn.

Tôi còn nghe thêm rằng các loại nhiễu tiêu cực tích cực mà bộ óc điện tử của Không lực Hoa Kỳ ngày ấy tác oai tác quái trên bầu trời miền Bắc Việt Nam, hiện giờ khó mà nhằm nhò gì trước các thiết bị điện tử do người lính Viettel chế ra!

Vùng trời sơ bộ là thế. Còn biển đảo chủ quyền? Biên chép ra đây những thiết bị canh biển giữ đảo có lẽ không được phép. Nhưng tôi cũng may mắn được dò dẫm bên cạnh những thiết bị tạm gọi là giám sát tình trạng kỹ thuật tàu hải quân.

Hệ thống giám sát trinh sát định vị và chỉ thị mục tiêu cho hải đảo. Hệ thống thông tin chỉ huy phục vụ cho công tác tìm kiếm cứu nạn trên biển. Và nhất là thiết bị rada giám sát mặt nước vv… Đã đành là vào đây, thấy lắm sự lạ sự tinh khéo khiến mồm chữ O mắt chữ A.

Nhưng nghe vậy thì chỉ biết vậy. Thứ người trần mắt thịt như cánh ký giả đây nhỡn tiền cũng chỉ loáng thoáng nguyên lý là thiết bị điện tử của Viettel đọc mục tiêu trên trời cũng na ná như trên mặt biển chủ quyền! Nhưng chợt dậy lên cảm giác thêm an lòng thêm vững dạ.

Bỗng như muốn bật kêu “Hỡi các lương dân Việt, trời biển chủ quyền Tổ quốc đang được những cặp mắt thần ngày đêm canh giữ!” Nhưng câu ấy cũ rồi, giờ có lẽ phải thêm cụm từ hệ thống mắt thần đa năng và hữu hiệu thì mới tạm chính xác?

Cũng được nghe thoáng qua một thiết bị khủng khác, thiết bị điều khiển tổ hợp năng lượng tàu chiến loại hiện đại nhất của Hải quân nhân dân Việt Nam.

Tự tin hơn

Bạn đọc nên nhớ, những thiết bị khí tài phòng vệ và tấn công ấy, các nước Phương Tây, Âu, Mỹ, chả hạn như NATO rồi Nga, xa hơn là khối Vacsava đã có. Nhưng điều độc đáo và đáng nói ở đây là nó rơi vào tay Viettel sẽ phải khác! Tại sao khác? Cái câu cao nhân tắc hữu cao nhân trị phải được hiểu ở đây nôm na thế này: Người giỏi chế ra thứ vũ khí tài khéo thì cũng biết cách vô hiệu hóa nó khi lọt vào tay đối phương!

Vậy nên có thể đi mua (nếu nhiều tiền và bằng một giá rất đắt) nhưng nhiêu khê oái oăm là liệu có an tâm mà sử dụng dài dài khi bí quyết lại nằm trong tay người khác?

Sẽ phải khác vì chủ quyền quốc gia, vì xương máu người lính. Những bộ óc Viettel ấy từng hào phóng dân chủ với khách hàng ấy là nói theo cách của bạn! Nhưng trong lĩnh vực này đã làm theo cách của mình để tạo ra bản quyền và độ bảo mật cao của riêng Viện nghiên cứu& Phát triển Viettel.

Tổ quốc trong tầm tay
Tổ quốc trong tầm tay.

Không phải sẽ mà đã và đang khác. Ngoài tính bảo mật cao những sản phẩm điện tử viễn thông quân sự và dân sự của Viện chế tạo đã và đang phát huy thế mạnh canh trời giữ biển, đồng thời tiết kiệm khá nhiều ngoại tệ. Đến năm 2015, Viện Nghiên cứu& Phát triển Viettel sẽ phấn đấu đạt doanh thu hơn 1 tỷ USD.

Có vào đây mới thấy thấm thêm, những thiết bị thông tin cồng kềnh nặng cả vài chục ký, cả tạ của các cuộc chiến tranh vệ quốc trước đây, nay được những bộ óc Viettel cải hoán sao đó để nó chỉ thu gọn diện tích vài kilôgam hoặc bé gọn như những cuốn sổ lại phong phú thêm về chức năng hiệu quả sử dụng.

Viện trưởng Chiến cũng chia sẻ cảm giác của Trung tướng Hoàng Anh Xuân, Tổng giám đốc Tập đoàn Viettel lần ấy cứ xuýt xoa rằng cả đời ông từng miệt mài với ngành thông tin (vốn là lính của Bộ Tư lệnh Thông tin, rồi tiếp đó phụ trách luôn Tập đoàn Viễn thông Quân đội) nay mới được tận mắt nhìn tận tay sờ những thiết bị thông tin gọn nhẹ với nhiều tiện ích như thế này!

Người ta thường nói nhiều đến cuộc vượt thoát ngoạn mục đến cuộc đổi ngôi ngoạn mục của Viettel. Sau 12 năm tham gia “chợ” viễn thông Việt khi các sạp lớn nhỏ của các ông chủ VNPT, Mobifone, Vinaphone này khác đã giăng đầy “chợ” với 80-85% thị phần. Thế mà Viettel đã “nói theo cách của bạn”, từ vị trí thứ tư vươn lên thứ nhất.

Thầm nghĩ, nghiệp binh như tướng Xuân đây, được can dự vào một cuộc chơi do chính mình bày đặt ra tại Viện Nghiên cứu & Phát triển này. Bày đặt trên cơ sở mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Tối cao quyết không để Tổ quốc bị bất ngờ trong tác chiến chiến tranh điện tử. Lại cũng do chính mình đôn đốc lao tâm khổ tứ cùng anh em viết nên những dự án táo bạo, những chương độc đáo sáng tạo phần mềm. Để đến hôm nay, hàng chục công trình dự án quân sự và dân sự được quân dân hân hoan chào đón, lại cũng chẳng sướng sao?

Người ta nhắc nhiều đến Viettel đứng đầu trong những doanh nghiệp Việt Nam về nộp ngân sách đến con sốkhủng doanh thu 141.000 tỷ VND năm 2012. Người ta nói nhiều đến hệ thống cáp quang rải đều ở hơn 90% các xã vùng sâu vùng xa. Và nữa, hệ thống hàng trăm ngàn trạm BTS làm nên chất lượng mạng viễn thông của di động Viettel.

Hầu như chả ai nhắc nhớ đến một đơn vị trực thuộc Viettel ấy là Viện Nghiên cứu & Phát triển. Hay cái tên ấy vốn vô thưởng vô phạt nghe đã phát nhàm (mà hầu như bộ, ngành tỉnh, thành nào cũng có?). Hay anh Viettel này vẫn vốn chả mấy khi chú trọng ngó ngàng, chăm bẵm công tác truyền thông? Hoặc cái Viện này thuộc vùng cấm? Chả biết nữa…

(còn nữa)

Xuân Ba [TPO]

Ngày 18-4-2013 tại thành phố Strasburg (Pháp). Quốc hội Liên minh Châu Âu (Parliamentary Assembly of the Council of Europe) đã thông qua cái gọi là Nghị quyết B7-0184 về tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Chúng ta không lạ lẫm gì về cách ra những nghị quyết của tổ chức này. Trước đây, ngày 25 tháng 1 năm 2006 họ đã từng ra nghị quyết 1481 kết tội Chủ nghĩa Cộng sản, lúc đó đã dấy lên một làn sóng phản đối mạnh mẽ trong khối EU. Nhiều người đã cho rằng quốc hội liên minh châu Âu đã làm một việc sai trái và lố bịch. Tổng thống Nga PuTin gọi đây là một “Mưu toan viết lại lịch sử”, nhằm xóa bỏ công lao của nước Nga Xô viết trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít. Họ đặt chủ nghĩa cộng sản ngang hàng như là chủ nghĩa phát xít. Đây là một âm mưu tội lỗi và nguy hiểm, muốn gây rối về an ninh cho nhiều nước. Những tổ chức, cá nhân có lương tri đã kêu gọi cần phải vạch trần âm mưu này để mọi người cảnh giác với sự lừa đảo trắng đen của một số các nhân vật cực hữu trong quốc hội liên minh châu âu . Nhóm cực hữu của tổ chức này muốn dùng những thứ đã quá lỗi thời như bôi xấu cộng sản cốt để che giấu những mầm mống phát xít đang nảy nở và bị cánh tả lên án mạnh mẽ. Quốc hội liên minh châu âu liệu có công tâm, khách quan khi thông qua nghị quyết này đối với Việt Nam không? Tôi khẳng định là không vì phái cánh hữu cực đoan luôn “Chiều chuộng” các tổ chức, hội đoàn và những nhân vật có bề dày thành tích chống phá Việt Nam như: CPJ,RFS, Democracy Digest, trang tin ủng hộ dân chủ thuộc National Endowment for Democracy được Quốc hội Hoa Kỳ tài trợ. Người viết Bản “Phúc trình” kêu gọi gây sức ép với Việt Nam toàn một giọng chụp mũ và đầy mâu thuẫn. Điều này không lạ vì xuất xứ của nó là từ cái ổ phản động người Việt lãnh lương của NED để chống phá Việt Nam mà Võ Văn Ái cầm đầu.Võ Văn Ái, Chủ tịch của cái gọi là “Ủy ban Bảo vệ Quyền làm người Việt Nam” mà y tự phong nói trước Quốc hội Hoa Kỳ: “Đã đến lúc Hoa Kỳ và Châu Âu lột mặt nạ của Hà Nội về các vi phạm quyền con người’!?.
Đây thuộc về cái tâm của một số dân biểu trong nhóm cực hữu của hội đồng EU. Cái tâm không trong sáng, đầy thù hận với những quốc gia cộng sản, với Việt Nam thì điểm nhìn và cách nhìn của những người đó chắc chắn bị lệch lạc. Ở đây, không phải là sự ngộ nhận mà là ý đồ cố tình xuyên tạc. Ngộ nhận thì khác. Có thể người ta có cái tâm trong sáng, nhưng những thông tin đến với người ta bị sai lệch cho nên rất dễ làm cho người ta đi đến nhận định không đúng. Một khi thông tin đã được điều chỉnh, được đính chính thì người ta có thể dễ dàng thay đổi lại nhận định. Hoặc, cũng đối với một số người vốn có cái tâm trong sáng, khi nghiên cứu, nhìn nhận về tình hình nhân quyền ở Việt Nam phương pháp không đúng thì cũng có thể đánh giá về Việt Nam bị sai lệch. Cũng như trường hợp trên đây, nếu được thay đổi phương pháp nghiên cứu cho phù hợp, nhìn nhận vấn đề khách quan hơn thì nhận định sẽ được điều chỉnh cho đúng đắn hơn.
Nghị quyết B7-0184 vừa nói của Quốc hội Liên minh Châu Âu căn cứ vào những nhận định, báo cáo về nhân quyền, tự do ngôn luận và tự do tôn giáo ở Việt Nam trong thời gian qua mà họ đã nêu ra 12 điểm, Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy ở đây có đầy rẫy những sai sót, vu khống, áp đặt, trịch thượng đối với một quốc gia có chủ quyền và là thành viên của Liên hợp quốc. Chúng ta có quyền bác bỏ về tính trung thực của nghị quyết đó.Với những thông tin lệch lạc, đưa ra một cái nhìn bị bóp méo và những nhận định sai trái về thực tế tình hình nhân quyền ở Việt Nam.
Vậy thì dựa vào đâu mà họ đưa ra những nhận định, phán quyết về nhân quyền ở Việt Nam một cách bừa bãi như vậy ? Hay đây là “Đòn phủ đầu” như họ đã làm trước đây mỗi khi có cuộc gặp trao đổi thường niên giữa Việt Nam và EU ? Chiếu theo Hiệp định hợp tác và đối tác giữa EU và Việt Nam ký ngày 27 tháng 6 năm 2012 và các cuộc đối thoại nhân quyền tổ chức hai lần một năm giữa EU và chính phủ Việt Nam. Đối thoại được hiểu là bàn bạc, thương lượng gữa hai bên hay nhiều bên với nhau và gắn với các các vấn đề tranh cãi một số quan điểm không giống nhau nhưng chưa được giải quyết để đi đến sự thống nhất. Vì vậy việc thông qua đối thoại nhằm thu thập và cũng cố những thông tin có giá trị chứng cứ cụ thể để xác định sự thật như: Nguyên nhân, điều kiện phát sinh đối kháng, trách nhiệm từng bên, ai đúng, ai sai. Những thông tin là kết quả của đối thoại đó giúp cho người và tổ chức có thẩm quyền có được những quyết định đúng đắn trong việc giải quyết những bất đồng đó. Ấy vậy mà họ đã không dựa vào nguồn thông tin chính trực mà hùa theo cái được gọi là “Phúc trình” của một số nhân vật người Việt ở hải mà từ trước đến nay trong tâm trí của họ đã có những định kiến thâm thù với chế độ cộng sản. Đã như vậy thì một số người này sẵn sàng bóp méo thông tin, xuyên tạc, đổi trắng thay đen, thể hiện ra bằng những lời lẽ hằn học, đánh tráo sự thật nhằm đạt được mục đích đem tối của họ.Trong những năm gần đây Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong lãnh vực bảo đảm quyền con người, được dư luận thế giới, các tổ chức quốc tế công nhận. Giữa Việt Nam và EU cũng đã đạt được thỏa thuận về tổ chức đối thoại về quyền con người hai lần trong một năm, tạo cơ sở để hai bên đi tới đồng thuận về giá trị nhân quyền.Trong bối cảnh đó, nghị quyết mới của Nghị viện châu Âu về nhân quyền ở Việt Nam đã đi ngược lại xu thế đối thoại thẳng thắn, cởi mở giữa Việt Nam và các cơ chế của EU trong lĩnh vực quyền con người. Đại sứ liên hiệp châu âu tại Việt Nam ông Franz Jessen người có tám năm làm phó đại sứ EU ở Trung Quốc và trước đó có năm năm làm việc ở Nhật Bản.Ông nói: “Nhận thấy sự khác biệt giữa Việt Nam và các nước khác trong khu vực-Giữa Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam, tôi có thể thấy nhiều điểm chung của vùng Đông Á. Nhưng tôi rất ngạc nhiên khi tới Việt Nam và thấy rằng Việt Nam rất đặc biệt, có lẽ vì lý do lịch sử và bản sắc văn hóa”.Với nhận định thẳng thắn và sâu sắc đó theo tôi nhận định đó là điều xác đáng, nó cũng nói lên sự khác nhau về quan niệm về nhân quyền của mỗi quốc gia với những đặc thù riêng. Quan niệm về nhân quyền không phải là kiểu nhân bản vô tính của “Cừu donli”. Ngày 20-4-2013 VOA việt ngữ đã có cuộc phỏng vấn hai vị dân biểu thuộc hai chính đảng lớn nhất của Quốc hội Châu Âu: Bà Ana Gomes thuộc Liên minh Tiến bộ Xã hội và Dân chủ tại Quốc hội Châu Âu (S&D). Ông Bernt Posselt thuộc Đảng Bình dân Châu Âu (EPP) .Chẳng hạn như điểm (5) trong nghị quyết nói về tôn giáo bị bắt bớ, đàn áp, thì chẳng lẽ 14 bị cáo bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử tội danh Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân theo Điều 79, Bộ luật Hình sự thì được nghị quyết của Nghị viện châu Âu liệt vào diện “14 nhà hoạt động dân chủ” bị kết án tù do “thực hiện quyền tự do thể hiện quan điểm”!?.Thể hiện quan điểm kiểu gì khi mà có bằng chứng rõ ràng cho thấy các bị cáo đã tham gia các khóa huấn luyện đấu tranh lật đổ do tổ chức khủng bố Việt Tân tổ chức ở Thái Lan, Cam-pu-chia, Phi-lip-pin và Mỹ từ năm 2010 mà các bị cáo này khai và nhận tội trước tòa? Không những thế Bà Ana Gomes còn nói “Họ đừng quên rằng Quốc hội Châu Âu và toàn thể nhân dân Châu Âu hậu thuẫn họ.”?.Vậy thì họ đang ủng hộ cho những tổ chức khủng bố hay sao ?. Dân biểu Bernt Posselt cho biết vì sao ông đồng bảo trợ cho Nghị Quyết về Việt Nam thì nói rằng: “Theo quan điểm của tôi, điều tuyệt đối rõ ràng Việt Nam là một trong những quốc gia vi phạm tồi tệ nhất thế giới về tự do ngôn luận và tự do tôn giáo” !?. Vậy thì xin hỏi những người xưng danh “Tranh đấu cho tôn giáo” có phải mục tiêu vì sự duy trì phát triển Đạo Pháp không? Tự do Tôn Giáo như thế nào?, tự do tôn giáo của vài cá nhân hay của tập thể?, và phát triển Đạo Pháp nào, Đạo Pháp chống đối hay Đạo Pháp chuyển hóa?.Tôi chắc một điều là các vị sẽ lôi ra một mớ lý luận kiểu “Bần cùng sinh đạo tặc”, kiểu nói càn, nói xiên, tất cả đều trút hết vào luận điểm “Cộng sản vô thần”. 

Tòa án xét xử họ với tư cách công dân, không phải với tư cách tín đồ. Những ai đang sử dụng chiêu bài “tự do tôn giáo” để phê phán Việt Nam phải hiểu rằng:Trong xã hội Việt Nam, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật. Dù là người theo tôn giáo hay là người không theo tôn giáo, dù là người đa số hay là người dân tộc thiểu số, dù là người có cương vị trong xã hội hay là người dân bình thường thì cũng đều bình đẳng như nhau trước pháp luật, và nếu vi phạm pháp luật thì cũng đều bị luật pháp trừng trị. Hành động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo, vi phạm pháp luật, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc là hành động của những kẻ “tà đạo”, làm ô danh giáo hội, làm vẩn đục tôn giáo. Nếu Nhà nước Việt Nam thực hiện chế tài pháp luật đối với những kẻ có hành động đó, thì không phải là sự vi phạm tự do tôn giáo như họ cố tình xuyên tạc và cố xếp Việt Nam là một nước “Tồi tệ nhất về vị phạn tự do tôn giáo”. và cần “đặc biệt quan tâm về tự do tôn giáo”.Những năm gần đây ở Việt Nam, trong khi Nhà nước luôn khẳng định và tạo điều kiện để thực hiện quyền tự do tôn giáo, trong khi phần lớn công dân theo tôn giáo đang cố gắng sống “tốt đời, đẹp đạo” thì một số người lại lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo để phục vụ mưu toan chính trị. Trong khi Giáo hoàng Benedict XVI nói: “Ðừng chính trị hóa tôn giáo” và nhân Hội nghị toàn thể lần thứ X Liên hội đồng Giám mục châu Á (FABC) tại Xuân Lộc – Việt Nam , Hồng y Oswald Gracias – Tổng Thư ký FABC, đã khẳng định: “Giáo hội không muốn tham gia vào đời sống chính trị của quốc gia nào cả… Vai trò của chúng tôi là tâm linh, là mục vụ” và ông cho rằng: “Mọi việc đang tiến triển rất tốt đối với Giáo hội Việt Nam” . 

Tôn giáo thực sự là “chính giáo”, không bị ô danh, hoen ố bởi những hành động trái pháp luật và trái với đạo pháp… Đó là việc làm vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, của nhân dân của một đất nước có chủ quyền. Cho nên, không vì thế mà cho rằng, Việt Nam là nước cần “đặc biệt quan tâm về tự do tôn giáo”, vì đó là một sự đánh giá hồ đồ, thiếu thiện chí.Như vậy để nói rằng, trước khi phê phán, người ta cần tìm hiểu kỹ vấn đề, để có một cái nhìn khách quan.
Tiếp tục chính sách áp đặt, vu khống, bẻ cong sự thật ,lợi dụng vấn đề “dân chủ, nhân quyền” để kích động một số phần tử cơ hội, biến chất trong nước gây rối, tạo cơ hội gây bạo loạn, chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam,thì đó là sự can thiệp thô bạo, trắng trợn và nghiêm trọng vào công việc nội bộ của Việt Nam – một quốc gia độc lập, có chủ quyền.Những phán quyết của quốc hội liên minh châu âu đối với Việt Nam khi họ tự cho mình là “Quan tòa”, “Cảnh sát quốc tế” để phán xét nước khác là một việc làm sai trái không thể chấp nhận được.Các quốc gia ,dân tộc đều có đặc điểm riêng về lịch sử, văn hóa, xã hội, truyền thống và bản sắc, trình độ phát triển kinh tế – xã hội khác nhau nên đều có quan niệm và tiêu chí về dân chủ, nhân quyền riêng của mình.Sử dụng chiêu bài “nhân quyền, tôn giáo” can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam đó chỉ là cái cớ trong chiến lược xóa bỏ hoàn toàn các nước theo chế độ Xã hội chủ nghĩa còn lại trên thế giới.
AMARI TX

Khi sự thật hoàn toàn vắng bóng!

Ảnh- Hạ viện Hoa Kỳ
Ở Việt Nam.Bảo đảm quyền con người là nguyện vọng tha thiết của nhân dân Việt Nam vì dân tộc này đã từng bị thực dân, đế quốc tước bỏ những quyền tự do cơ bản nhất khi phải làm người dân thuộc địa và dân tộc này đã trải qua muôn vàn hy sinh trong các cuộc chiến tranh vệ quốc để giành lại quyền sống. Sự hy sinh của nhân dân Việt Nam trải qua nhiều thập kỷ qua có thể coi đó là biểu tượng phấn đấu vì quyền con người một cách mạnh liệt nhất. Điều đó đã được nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới lấy đó là biểu tượng noi theo.
Trong những năm sau khi giành lại được độc lập, đất nước hoàn toàn thống nhất, đặc biệt sau 25 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong việc đảm bảo quyền con người trên tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội và được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Người dân Việt Nam tham gia đầy đủ và tích cực vào mọi mặt của đời sống xã hội. Quyền con người được đảm bảo và phát huy là nhân tố quan trọng tạo sự đồng thuận, đưa đến thành công của công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
Ngày 19-4-2013. Ngoại trưởng Mỹ, Ông John Kerry đã công bố báo cáo thường niên của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ về tình trạng nhân quyền trên thế giới. Riêng về Việt Nam, bản báo cáo này đã có những điều mà chúng ta có thể nhận thấy rằng: Bằng những luận điệu không mới, dựa trên những thông tin rất phiến diện mà có thể nhận ra là sự thật hoàn toàn vắng bóng. Thông qua đó họ đã chỉ trích: “chính quyền Việt Nam vẫn tiếp tục vi phạm nhân quyền”!?- Nội dung báo cáo của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ cáo buộc là:”Chính quyền Hà Nội vẫn hạn chế nghiêm ngặt các quyền chính trị của công dân, đặc biệt là quyền thay đổi chính phủ, hạn chế các quyền tự do dân sự….”!?
Tiếp theo cuộc họp báo trước thềm Quốc hội Hoa Kỳ ngày thứ Tư 10-4-2013 để giới thiệu cái gọi là “phái đoàn” tham dự cuộc điều trần về tình hình vi phạm nhân quyền của chính phủ Việt Nam. Ngày thứ Năm, 11-4-2013, trước một số dân biểu dưới sự chủ tọa của dân biểu Chris Smith, Chủ tịch Tiểu ban nhân quyền của ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ (ông Chris Smith .Hạ nghị sĩ đã từng hai lần đề nghị Dự luật Nhân quyền cho Việt Nam và được Hạ viện Mỹ thông qua nhưng đều bị Thượng viện bác bỏ), còn có những gương mặt quen thuộc mà trong quá khứ và hiện tại đã có nhiều “Thành tích” thuộc hạng bất hảo.Cộng đồng người Việt tại hải ngoại gọi họ là những kẻ bịp bợm, những người này tự phong cho mình những chức danh thuộc hạng “Tự sướng” mà hành động chống nước Cộng hoà XHCN Việt Nam là mục tiêu hàng đầu như: Võ Văn Ái, Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ quyền làm người Việt Nam (Vietnam Committee on Human Rights) . Nguyễn đình Thắng:Giám đốc Điều hành của Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển. Cựu dân biểu Cao quang Ánh.Hòa Thượng Thích Viên Lý, Chủ tịch Hội đồng điều hành GHPGVN Thống nhất hải ngoại tại Mỹ.Mấy vị này không ai lạ lẫm gì, họ hành nghề vu vạ Việt Nam trong một thời gian dài, hễ nghe nhắc tên của các tổ chức của các vị này trên các phương tiện truyền thông ở hải ngoại là mọi người có thể đoán ra là đang làm cái gọi là: “Phúc trình, Thông cáo, thỉnh nguyện thư….”. Đã quá quen đến nỗi mọi người nói đó là”Gánh hát rong” cứ “Đến hẹn lại lên” trong thời gian qua. Chính nghị sỹ Eni Faleomavaega, thành viên Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ, đã có lần khẳng định : “Tôi không nhất trí với cách nhìn nhận về nhân quyền của một số nghị sỹ Mỹ, những người có thiên hướng áp đặt tiêu chí mà họ cho rằng chuẩn mực trong vấn đề này. Mỗi nước đều có giá trị và nguyên tắc riêng trong thực thi nhân quyền. Tôi cho rằng chính phủ Việt nam đã làm những gì tốt nhất. Tôi luôn phản đối việc các nghị sỹ Mỹ chỉ trích tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Tôi cho rằng thực tế nhân quyền tại Việt Nam chưa được phản ánh chính xác.”
Trước hết, cần khẳng định rằng: Báo cáo thường niên của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ về tình trạng nhân quyền Việt Nam đã đi ngược lại nguyên tắc tôn trọng quyền dân tộc tự quyết trong quan hệ quốc tế , điều đã được Hiến chương Liên hiệp quốc ghi nhận. Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị của Liên hiệp quốc từng quy định rõ: “Các dân tộc tự do có quyền quyết định thể chế chính trị của mình. Việc xây dựng và thực thi Hiến pháp, pháp luật như thế nào là quyền của mỗi quốc gia, dân tộc”. Theo đó, mọi quyền của người dân Việt Nam, trong đó có quyền làm chủ, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tôn giáo… đã được Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước Việt Nam bảo đảm. Trên thực tế, nhân dân Việt Nam đã và đang được hưởng những quyền này. Người dân Việt Nam được tự do tham gia vào mọi mặt đời sống chính trị, xã hội của đất nước, được đóng góp ý kiến với Đảng và Nhà nước Việt Nam về những vấn đề quan trọng liên quan đến quốc kế dân sinh, kể cả việc xây dựng và chỉnh đốn Đảng và những chiến lược xây dựng và phát triển đất nước ,quyền con người, đồng thời là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm. Nội dung báo cáo của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ cho thấy,Họ đang tự cho mình cái quyền được phán xét, cũng như can thiệp vào Việt Nam bằng cách gắn các mối quan hệ với các đòi hỏi chính trị. Họ đã cố tình phớt lờ những tiến bộ thực chất mà Việt Nam đã đạt được trong việc thực hiện đầy đủ các quyền con người.Các chính sách vì dân của Nhà nước Việt Nam đã mang lại những kết quả đáng kể trong việc giảm tỷ lệ đói nghèo, phát triển giáo dục, chăm sóc y tế, tạo việc làm, cải thiện đời sống cho người dân. Chính vì thế, Việt Nam được đánh giá là một trong những nước đi đầu trong việc thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ của LHQ khi đã hoàn tất 5/8 mục tiêu đề ra trước thời hạn 2015″. .
 

Riêng về quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí, theo báo cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ: “chính quyền Việt Nam tiếp tục sử dụng các điều luật về an ninh quốc gia và vu khống, để hạn chế các quyền này, chẳng hạn như điều 88 về tội tuyên truyền chống Nhà nước “!? Những thực tế này được chính những người Mỹ và nhiều người nước ngoài từng đến Việt Nam chứng kiến, cũng từng được Việt Nam khẳng định và công bố trong các Báo cáo kiểm điểm định kỳ về nhân quyền tại Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc trong những năm gần đây. Cũng cần khẳng định rằng, ở Việt Nam không có cái gọi tù nhân tôn giáo hay tù nhân chính trị. Những kẻ mà trong báo cáo của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ nêu ra mà Họ đã dùng những ngôn từ mĩ miều để gán cho là “những nhà hoạt động đấu tranh vì nhân quyền và dân chủ,” Trớ trêu thay, lại là những kẻ vi phạm luật pháp Việt Nam. Những biện pháp mà Nhà nước Việt Nam thực hiện đối với các đối tượng này thời gian qua là nhằm duy trì ổn định chính trị-xã hội để bảo đảm sự phát triển. Theo luật pháp ở bất kỳ quốc gia nào thì những hành vi vi phạm pháp luật, đe dọa lợi ích căn bản của đất nước đều phải bị trừng trị theo pháp luật.
Cũng theo báo cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ , chính quyền Việt Nam tiếp tục kiểm soát Internet, đặc biệt là sử dụng điều luật về tội “tuyên truyền chống Nhà nước”!? Việt Nam cũng khẳng định rằng: 

Việc viết bài trên các blog, mạng xã hội… với nội dung xuyên tạc, vu cáo, chống chính quyền nhân dân là vi phạm các quy định hiện hành của luật pháp Việt Nam. Ngay tại nước Mỹ, nơi được cho là “thiên đường tự do ngôn luận”, thì luật pháp các bang ở Mỹ cũng quy định rất rõ vấn đề này và không ít cá nhân vi phạm đã bị bắt, xử lý.
Về mặt tín ngưỡng trong báo cáo của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ là : “Quyền tự do tôn giáo tiếp tục là đối tượng bị diễn giải và bảo vệ không đồng nhất” !?Chẳng hiểu căn cứ vào đâu mà Bộ Ngoại giao Mỹ lại cho mình cái quyền phán xét như vậy? Chỉ cần dẫn lời của những người Mỹ đã lên tiếng phản bác nội dung của Báo cáo cũng thấy rõ mưu đồ thực sự của việc đưa ra những đánh giá đó là gì. Nhiều người đã lên tiếng phản đối và vạch rõ: “chính quyền xử lý các hành vi phạm pháp mà có vài cá nhân theo đạo trong đó thì lại nói là đàn áp tôn giáo. Thấy dân tập trung khiếu nại đông người hay biểu tình thì lại ghép cho hai chữ “dân oan”. Nhận thức hết sức lệch lạc. Nếu thấy người dân biểu tình mà bảo là dân oan thì chắc chắn trên thế giới này nước Mỹ là nước có nhiều dân oan nhất”. Mọi công dân Việt Nam đều có quyền tự do theo đạo hoặc không theo đạo. Những người theo đạo được tạo điều kiện thuận lợi, cả trong khuôn khổ pháp lý cũng như trên thực tế, để thực hành những nghi lễ theo đức tin của họ. Mọi tổ chức tôn giáo được pháp luật Việt Nam thừa nhận đều được tự do hành đạo theo quy định của pháp luật. Những thực tế này được chính những người Mỹ và nhiều người nước ngoài từng đến Việt Nam chứng kiến, cũng từng được Việt Nam khẳng định và công bố trong các Báo cáo kiểm điểm định kỳ về nhân quyền tại Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc trong những năm gần đây.
Chủ tịch Tiểu ban về châu Á – Thái Bình Dương và Môi trường Toàn cầu thuộc ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ – Hạ nghị sĩ Eni F.H.Faleomaveaga đã có lần đưa ra ý kiến của mình không đồng tình về cách đánh giá phiến diện trên của Bộ Ngoại giao Mỹ trong những lần trước đây khi nói về tự do tôn giáo ở Việt Nam, Ông cho biết: “Trong các chuyến thăm đến Việt Nam, không có bất cứ nơi nào mà tôi phải chứng kiến cảnh người ta bị cấm đoán vì lý do tín ngưỡng”. Ông cho biết tiếp : “Qua tất cả những gì tôi biết và tất cả những chuyến đi của tôi đến Việt Nam chưa bao giờ trong đầu tôi tồn tại ý nghĩ rằng Chính quyền Việt Nam đàn áp những người theo tôn giáo của họ. Đó là tất cả trải nghiệm bản thân của tôi và tôi cũng muốn biết ai là những người viết ra bản báo cáo đó và tại sao họ lại có những kết luận như vậy”. Theo Ông, ngay cả khi bản báo cáo đã được công bố nhưng “có nhiều chi tiết mà những người viết báo cáo đó không bao giờ đến trực tiếp nước này để chứng kiến tận nơi” xem liệu những điều đó có diễn ra ở đấy không?.
Chỉ căn cứ vào lời vu khống, bịa đặt theo kiểu “Kinh niên” của một số người chống cộng cực đoan ở hải ngoại và một số tổ chức, cá nhân không có thiện cảm với Việt Nam mà khẳng định rằng ở Việt Nam đã xảy ra tình trạng “truy bức tôn giáo”, “chính trị và sắc tộc” thậm chí là còn là thủ phạm của việc “buôn người lao động cưỡng bức và mại dâm cưỡng bức” để đánh giá về tình hình nhân quyền của Việt Nam thì chỉ có thể là nhận xét hồ đồ hoặc xuất phát từ những định kiến lỗi thời của một cá nhân có “Thâm niên” về vu cáo với sự dẫn dắt kiểu “Cầm tay” của ông Chris Smith,mà bản báo cáo thường niên của bộ ngoại giao Hoa Kỳ là một minh chứng cổ vũ cho sự dối trá.
Bản báo cáo thường niên của bộ ngoại giao Hoa Kỳ về tình trạng nhân quyền trên thế giới trong đó có Việt Nam.Báo cáo này đang đi ngược lại lợi ích của cả hai quốc gia đang trên đà ngày càng thăng tiến. Tại Hội nghị cấp cao Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) lần thứ 19 ngày 10/11/2011, tổ chức tại thành phố Honolulu, bang Hawaii (Mỹ), Chủ tịch nước Cộng hoà XHCN Việt Nam Trương Tấn Sang đã có cuộc trao đổi với Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton. Tại cuộc trao đổi trên, bà Ngoại trưởng khẳng định: “Mỹ tiếp tục coi trọng và mong muốn thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác nhiều mặt với Việt Nam, trong đó có việc nâng tầm quan hệ, hướng tới đối tác chiến lược”. Chủ tịch Trương Tấn Sang cũng khẳng định: “Việt Nam luôn coi trọng quan hệ với Mỹ như một đối tác hàng đầu có ý nghĩa chiến lược”.Nỗ lực của 2 quốc gia. 

Để xây dựng lòng tin trên mọi phương diện, trong đó có vấn đề nhân quyền, không có cách nào khác là các bên phải tôn trọng sự khác biệt và tăng cường đối thoại. Chỉ có hợp tác, trao đổi thẳng thắn, thì những khúc mắc trong vấn đề nhân quyền mới được hóa giải.
Tại Việt Nam, những nền tảng cơ bản để bảo đảm quyền con người được củng cố ngày một vững chắc và đây là những tiến bộ cả thế giới công nhận. Việc “Sao chép” những thông tin mang tính định kiến từ các nhân vật mang tư tưởng chống phá Nhà nước Việt Nam là bằng chứng để chỉ trích Việt Nam “truy bức tôn giáo, chính trị và sắc tộc”, thậm chí là “thủ phạm của việc cưỡng bức lao động”… là không thực tế, thiếu công bằng và không thể chấp nhận được.Có thể khẳng định, Quyền con người ở Việt Nam không ngừng được phát huy và sự tham gia tích cực của người dân vào mọi mặt đời sống kinh tế xã hội của đất nước là nhân tố quan trọng của thành công của công cuộc đổi mới ở Việt Nam . Quyền con người luôn luôn gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hoá của đất nước. Do vậy không thể áp đặt các tiêu chuẩn, mô thức của nước này cho nước khác.Hoa Kỳ hãy thực hiện lời hứa của họ đó là: “sẽ lắng nghe” chứ không “chỉ dạy” các nước khác trong vấn đề nhân quyền.
AMARI TX
Viết tại Houston TX Hoa Kỳ

‘Việt Nam không chấp nhận sự can dự xâm hại chủ quyền’

 

Trong thế giới mở, sự can dự lợi ích của các quốc gia là điều không thể ngăn cấm. Nhưng nếu đó là sự can dự xâm hại chủ quyền thì không được phép chấp nhận.
Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh trao đổi với VnExpress.

– Đối thoại Shangri La lần thứ 12 vào cuối tháng 5 đầu tháng 6 tới diễn ra trong bối cảnh an ninh khu vực nhất là Biển Đông có nhiều căng thẳng. Việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được mời với tư cách là diễn giả chính mang thông điệp gì thưa ông?

– Lời mời dành cho Thủ tướng Việt Nam được Giám đốc Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế (IISS) của Vương quốc Anh đưa ra, đồng thời Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long có lời mời chính thức. Như vậy, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ là khách mời chính thức của IISS và là Quốc khách của Singapore.

Từ khi Việt Nam chính thức công bố Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dự đối thoại Shangri La và có bài phát biểu quan trọng mở đầu hội nghị, các hãng tin quốc tế đều đưa tin này với độ nóng cao. Họ đang chờ đợi Thủ tướng Việt Nam sẽ nói gì trong hội nghị này.

Trong bối cảnh tình hình an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương có nhiều vấn đề phức tạp, cả thuận lợi và thách thức, thì việc Thủ tướng Việt Nam được mời phát biểu đầu tiên chứng tỏ Ban tổ chức, nước chủ nhà cũng như cộng đồng quốc tế đánh giá cao vai trò của Việt Nam, đặc biệt trong đóng góp vào hòa bình, an ninh ổn định và hợp tác trong khu vực. Đồng thời, sự tham gia của Thủ tướng cho thấy Việt Nam rất quyết tâm mở rộng quan hệ quốc tế đa dạng, không chỉ song phương mà còn đa phương; quyết tâm hội nhập, trở thành đối tác tin cậy của tất cả các nước.

– Đối thoại Shangri La sắp diễn ra tại Singapore sẽ bàn đến sự can dự của Mỹ vào vấn đề an ninh khu vực cũng như vai trò của Trung Quốc đối với an ninh toàn cầu. Là một quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng, quan điểm của Việt Nam trước những vấn đề này như thế nào, thưa Thứ trưởng?

– Trong một thế giới mở, sự can dự lợi ích các quốc gia là điều không thể ngăn cấm. Họ có quyền bảo về chủ quyền và can dự lợi ích đồng thời tìm lợi ích trong quan hệ với các quốc gia khác. Sự can dự ấy nếu là can dự hòa bình, hợp tác và phát triển thì đó là tích cực. Điều này có lợi cho các nước nhỏ, các nước đang phát triển bởi nó tạo điều kiện hội nhập mạnh mẽ hơn giữa các nước trong khu vực, nhất là các nước đang phát triển như Việt Nam. Chúng ta kỳ vọng những can dự này sẽ đem lại sức sống mới, năng động mới cho cả khu vực.

Nhưng nếu việc can dự mang mục đích lợi ích đơn phương, cục bộ, cao hơn là mang tính bạo lực, xâm hại chủ quyền lợi ích quốc gia khác sẽ không được chấp nhận.

Tôi muốn nói thêm là sự can dự nếu quá thiên về quốc phòng, an ninh sẽ gây nguy cơ tiềm tàng va chạm trong khu vực. Hãy hình dung tình trạng này như có nhiều thùng thuốc súng để gần nhau quá sẽ có ngày bắt lửa. Sự hiện diện quân sự ấy có thể đem lại lo lắng dẫn đến cuộc chạy đua vũ trang mới trong khu vực mà gần đây đã có dấu hiệu của cuộc chạy đua này.

– Việt Nam từng trở thành bài toán mặc cả trong thỏa hiệp lợi ích của các nước lớn. Trong bối cảnh phức tạp hiện nay thì Việt Nam cần làm gì để tránh bị các nước thỏa hiệp trên lưng mình?

– Việc các nước thỏa hiệp mặc cả hy sinh lợi ích của Việt Nam chỉ xảy ra khi ta mất độc lập tự chủ, ngả về bên này hoặc bên kia. Việt Nam đã tuyên bố rõ đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, không tham gia liên minh quân sự, không đi với bên này để chống bên kia.

Thế giới xác định có 3 cách để bảo đảm hòa bình, tự chủ: Một là trở thành nước lớn để hạn chế đối phương hại đến hòa bình lợi ích nước mình. Hai là kiểu “đu dây”, lúc ngả theo bên này, lúc ngả bên kia, sẵn sàng hy sinh lợi ích chiến lược và uy tín quốc gia trong từng thời điểm để đạt mục tiêu trước mắt. Cách thứ ba, khó nhưng bền vững nhất là giữ được độc lập tự chủ, làm bạn với tất cả các nước. Trước hết là độc lập về chính trị, rồi đến độc lập về kinh tế, văn hóa, độc lập về quốc phòng an ninh.

Với Việt Nam, tính chất địa chính trị không cho phép chúng ta chọn “chỗ vắng” được mà buộc phải chọn “chốn đông người”. Vì vậy, trong khi giữ độc lập tự chủ thì mình phải đẩy mạnh mở cửa, trở thành bạn, thành đối tác với tất cả các nước. Đây là vấn đề có tính sống còn cho giữ gìn ổn định, hòa bình, phát triển, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và chế độ chính trị của đất nước ta.

– Quy tắc ứng xử trên Biển Đông chưa ra đời, Việt Nam đề xuất cơ chế hợp tác gì để có thể tránh các vụ va chạm, xung đột trên biển giữa các quốc gia trong khu vực?

– Những va chạm đáng tiếc trên Biển Đông hiện nay khiến ta rất quan ngại. Thậm chí đó là nguy cơ cho an toàn tính mạng của người dân. Điều này trước hết làm xáo trộn môi trường hòa bình của người lao động trên biển. Lợi ích của các nước có chủ quyền bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tôi quan ngại trước hành vi bạo lực nếu nó xuất hiện trên Biển Đông, nhất là khi nó trở thành có tính hệ thống.

Để đẩy lùi nguy cơ này, ta kiên quyết theo đuổi biện pháp hòa bình. Điển hình là Thỏa thuận về nguyên tắc xử lý các vấn đề trên Biển Đông mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký với Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào vào năm 2011. Thỏa thuận này không chỉ giải quyết vấn đề giữa Việt Nam – Trung Quốc mà còn đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định trong khu vực.

Thứ hai, ta đấu tranh mạnh mẽ với các hành vi bạo lực, với người sử dụng vũ lực, gây ra xung đột. Chúng ta cần công khai minh bạch, yêu cầu không tái diễn.

– Nhưng trong những tình huống thực tế, khi phải đối mặt với hành động bạo lực của lực lượng quân sự tấn công người dân như vụ tàu cá ở Quảng Ngãi bị tàu hải quân Trung Quốc bắn vừa qua thì lực lượng trên biển của ta phải hành động gì để đối phó?

– Chúng ta có cách để hạn chế họ dùng vũ lực và không để xảy ra xung đột. Trước hết là đấu tranh ngoại giao trực diện trên các diễn đàn song phương và đa phương. Trên thực địa, ta có nhiều biện pháp linh hoạt, hiệu quả như sử dụng lực lượng chấp pháp kết hợp với tàu đánh cá để bao vây, đẩy đuổi.

Về một số hành động vũ lực đối với tàu cá của ngư dân Việt Nam vừa qua, tôi hy vọng rằng đây mới chỉ là hành động cục bộ chứ chưa phải là chủ trương, tuy nhiên vẫn cần đấu tranh kiên quyết ngay từ những dấu hiệu ban đầu này, không để những hiện tượng tương tự tái diễn.

Lực lượng thực thi luật pháp trên biển của Việt Nam luôn đề cao tính nhân đạo trong xử lý các vấn đề trên biển với lao động bình thường. Xử lý nghiêm minh nhưng nhân đạo, đặc biệt không dùng vũ lực, bạo lực đe dọa ức hiếp người dân Trên bình diện đa phương, ta cũng cần nêu vấn đề công khai minh bạch, để cộng đồng quốc tế hiểu rõ chính sách của Việt Nam và hiểu rõ các vấn đề mà ta đang gặp phải.

– Cách đây một năm, ông từng nói Biển Đông sẽ có những diễn biến bất thường và khó lường. Vậy tại thời điểm này, ông đánh giá tình hình như thế nào?

– “Nhiệt độ” trên Biển Đông đã đến điểm mà các nước phải có tính toán rất kỹ nếu đi thêm bất kỳ bước nào nữa. Ví dụ như vừa qua nói rằng một số nước lớn phát triển chiến lược biển, có nhiều động thái đơn phương, không theo đúng luật pháp quốc tế, tuy mang nặng tính biểu tượng, mặc dù vậy đã gây ra nhiều quan ngại. Nhưng nếu họ đi từ tuyên bố đến hành xử trên thực tế thì vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn rất nhiều. Ta cần đấu tranh với từng thái độ, từng hành động để mọi tuyên bố đi ngược lại với luật pháp quốc tế, đi ngược với cam kết giữa các bên, phương hại đến hòa bình, ổn định trong khu vực không xảy ra trên thực tế.

NGUYỄN HƯNG (VNEXPRESS)

 
Học giả Stephen M. Walt là giáo sư chuyên về các vấn đề quốc tế tại trường Quản lý Nhà nước Kennedy thuộc Đại học Havard. Ông từng làm quản lý ở trường Kennedy này từ năm 2002 đến 2006. Ngoài ra ông còn từng tham gia giảng dạy ở một số trường đại học khác và tư vấn cho Viện Phân tích Quốc phòng và Trung tâm Phân tích Hải quân.
Hôm 28/1, Walt cho đăng 1 bài viết trên tạp chí Chính sách Đối ngoại (Foreign Policy) của Mỹ. Trong bài viết này, ông đã đưa ra tình huống giả định, đó là các quan chức cấp cao về đối ngoại của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ uống nhầm phải “huyết thanh sự thật” trước khi ra điều trần hoặc dự họp báo và sẽ nói thẳng đuột những gì họ cất giữ trong lòng. Walt đã nghiền ngầm, phân tích và lựa ra 5 “sự thật” mà theo ông, bình thường sẽ không có quan chức Mỹ nào chịu thừa nhận cả.
1. “Chúng ta không đời nào từ bỏ kho vũ khí hạt nhân”
Theo Stephen M. Walt, các đời Tổng thống Mỹ luôn nói về việc giải trừ vũ khí hạt nhân. Ông đề cập đến Hiệp ước Không Phổ biến Vũ khí Hạt nhân ký năm 1968, trong đó Mỹ cam kết theo đuổi đàm phán để tìm ra các giải pháp hiệu quả nhằm hạ nhiệt cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân thời đó và hướng tới việc giải giáp hạt nhân triệt để và rộng rãi 

Lầu Năm Góc cho biết, đó là số đầu đạn hạt nhân mà Mỹ có tính đến ngày 30/9/2009, giảm 84% kể từ thời kỳ đỉnh điểm là năm 1967 với 31.225 đầu đạn. Kho vũ khí của Mỹ có 22.217 đầu đạn hạt nhân khi Bức tưởng Berlin đổ vào 1989.
Số đầu đạn trên gồm cả những cái đã được triển khai, cất trong kho dự trữ chủ động và cất trong kho tích trữ. Tuy nhiên, nó không bao gồm hàng nghìn đầu đạn hạt nhân hiện không còn được sử dụng và chờ hủy, Lầu Năm Góc nói.
“Mỹ muốn chứng tỏ nước này ngày càng minh bạch”, một quan chức quốc phòng Mỹ cho biết. “Đó là một phần cam kết của chúng tôi…ấn định cơ sở cho nỗ lực không phổ biến và kiểm soát vũ khí”.
Bằng việc công bố dữ liệu tại hội nghị xem xét lại Hiệp ước không phổ biến hạt nhân, các nhà phân tích cho rằng Mỹ đang cố gắng thể hiện quyết tâm cắt giảm vũ khí để giúp thuyết phục các quốc gia khác siết chặt thể chế không phổ biến vũ khí hạt nhân toàn cầu.
“Việc làm đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng để Mỹ có thể lên tiếng rằng: Hãy nhìn xem, chúng tôi tuân thủ đúng nghĩa vụ của mình theo Hiệp ước không phổ biến hạt nhân”, giám đốc dự án thông tin hạ nhân của Liên minh các nhà khoa học Mỹ Hans Kristensen nói.
Mỹ công khai quy mô kho vũ khí hạt nhân chưa đầy một tháng sau khi Tổng thống Obama công bố một chính sách mới, giới hạn việc sử dụng vũ khí hạt nhân của Mỹ và ký kết một thỏa thuận mang tính bước ngoặt về cắt giảm vũ khí với Nga. .
Walt cho biết, thậm chí các chuyên gia kỳ cựu về đối ngoại như William Perry, Sam Nunn và Henry Kissinger cũng có “mốt” kêu gọi loại bỏ vũ khí hạt nhân. Và tất nhiên, ngay đầu nhiệm kỳ tổng thống của mình, ngài Barack Obama cũng đã có vài bài phát biểu về vấn đề này.
Đấy là bề nổi. Tuy nhiên, thực tế thì như thế nào? Học giả Walt phân tích tiếp: Cho dù Hoa Kỳ đã giảm đáng kể kho vũ khí hạt nhân từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, nước này vẫn sở hữu hàng ngàn đầu đạn hạt nhân đang trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu hoặc được dự trữ. Ông Walt khẳng định, “không có vị nào đương chức lại nghiêm túc cổ xúy cho việc trừ bỏ tất cả vũ khí hạt nhân trong thời gian ngắn”. Theo Walt, những việc cắt giảm khiêm tốn theo hiệp ước ký với Nga chẳng qua chỉ là “đãi bôi” mà thôi, và 1 số ít lãnh đạo Mỹ tuy có mong muốn cắt giảm toàn bộ vũ khí hạt nhân nhưng vẫn thấy cần phải giữ chúng để làm phương tiện răn đe.
2. “Mỹ không quan tâm lắm đến nhân quyền”
Giáo sư Walt ghi nhận, các tổng thống, các nhà ngoại giao, và một số chính trị gia khác nữa của Mỹ luôn miệng nói đến nhân quyền, và “cả Quốc hội lẫn nhánh hành pháp hay bắt nạt các nước nhỏ về thành tích nhân quyền, đặc biệt là khi chúng ta có các khác biệt với họ”.
Thế nhưng, khi các quan ngại của Mỹ về nhân quyền mâu thuẫn với các lợi ích của nước này thì tiếng nói ‘lương tâm’ của Mỹ lại gần như luôn thụt lùi lại đằng sau, Stephen Walt viết.
Vị giáo sư quan hệ quốc tế dẫn ra một loạt dẫn chứng cho thấy tính 2 mặt của Mỹ trong vấn đề nhân quyền:
1- Hầu hết người Mỹ không mảy may quan tâm khi các chương trình trừng phạt mà Mỹ áp dụng với Iraq đã gây ra cái chết của hàng trăm ngàn người dân Iraq (bao gồm nhiều trẻ em).
2- Không có quan chức cao cấp nào ra lệnh tra tấn dưới thời chính quyền Bush là bị truy tố hay điều tra một cách nghiêm túc cả. (Về điều này, Walt đem đối lập với hình ảnh quen thuộc: Người Mỹ sẽ tru tréo lên nếu nghi ngờ chính quyền nước khác đem những người Mỹ bị bắt giữ ra tra tấn theo hình thức trấn nước, tức là giội nước vào mặt các nạn nhân bị trói trên ván để gây ra sự ngạt nước cục bộ).
3 Hoa Kỳ có vô số đồng minh mà thành tích nhân quyền cũng có vấn đề nếu không muốn nói là khủng khiếp.
Đến đây, Walt tiếp tục nhận xét một cách chua cay về bản chất vị lợi của Mỹ: Hiếm khi nước này sẵn lòng làm nhiều việc hay chi nhiều tiền cho tiến bộ nhân quyền, trừ phi điều này đồng thời mang lại các lợi ích chiến lược cho họ!
3. “Sẽ không có chuyện giải pháp 2 nhà nước cho vấn đề Palestine
Theo quan điểm chính thức, Mỹ luôn coi câu trả lời đúng đắn về chính trị cho xung đột Israel-Palestine là một giải pháp 2 nhà nước dựa trên đàm phán song phương, đặc biệt là dưới sự bảo trợ của Mỹ. Tuy nhiên, theo Walt, người Mỹ trong bụng lại nghĩ khác. Walt cho rằng, người Mỹ thực ra không đếm xỉa gì đến việc có ít sự ủng hộ dành cho việc thành lập nhà nước Palestine có thể trụ vững được bên cạnh Israel, cũng như sự chia rẽ trong bản thân người Palestine, hay kỳ bầu cử gần đây nhất của Israel mà trong đó không có tín hiệu gì tích cực cho phía Palestine. Stephen Walt viết, “Hoa Kỳ đã mất hơn 20 năm để kiến tạo ra 1 thỏa thuận [hòa bình] rồi lại dễ dàng đánh mất nó, chủ yếu vì Hoa Kỳ chưa bao giờ là một nhà trung gian thực thụ cả.”
4. “Mỹ phải là số 1”
 
Stephen M. Walt tiếp tục “bóc mẽ” giới lãnh đạo Mỹ khi cho rằng đừng bị đánh lừa bởi vẻ ngoài của họ. Theo Walt, đa phần các nhà lãnh đạo Mỹ thích nói về quan hệ đối tác toàn cầu và nhu cầu phối hợp với các đồng minh, đồng thời tiết giảm việc nói về vai trò chế ngự của nước Mỹ. Nhưng mặt khác, không ai tranh cử tổng thống lại cam kết “biến Mỹ thành số 2” cả. Và đó là lý do vì sao mà giới lãnh đạo Mỹ mập mờ về tính thống nhất của châu Âu. Họ vừa muốn châu Âu đủ thống nhất để không phát sinh rắc rối cho Mỹ, lại vừa không muốn châu Âu quá đoàn kết để thành 1 siêu nhà nước có đủ sức đối trọng với Washington.
Theo Walt, việc Washington mềm mỏng trong tuyên bố lập trường chẳng qua là để tránh gây khó chịu cho các chính phủ khác và tránh đẩy họ đến chỗ phải dè chừng và tìm cách kiềm chế Mỹ. Walt nói thẳng “tưng”: Tham vọng của Mỹ là không thay đổi – cả ông Clinton, Bush con, đến Obama đều không từ bỏ mục tiêu cơ bản là giữ Mỹ ở vị trí siêu cường số 1 thế giới.
5. “Mỹ đã mắc phải nhiều điều ngớ ngẩn trong đối ngoại”
Walt cho rằng, mọi người Mỹ đều biết chính sách của nước Mỹ đối với Cuba đã phá sản từ những năm 1960, nhưng chính sách này không thay đổi. Rồi nữa, ai cũng biết nỗ lực của Mỹ trong việc hỗ trợ cuộc chiến chống ma túy ngoài lãnh thổ Mỹ cũng không thành công hơn mấy so với chiến dịch chống ma túy ở trong nước. Vẫn theo Walt, nhiều người Mỹ cũng biết rằng cuộc chiến Afghanistan là một thất bại đối với nước Mỹ, nhưng phía Mỹ lại cứ giả vờ đó là 1 chiến thắng để có thể rút lui khỏi chiến trường này về mặt chính trị. Walt cũng cho rằng nước Mỹ đã có cách tiếp cận sai lầm đối với chương trình hạt nhân Iran và đã mất tới 2 thập kỷ chỉ để khiến cho Tehran có thêm lý do tin rằng họ cần đến khả năng hạt nhân./.
Amari tx

Một sự tiếp tay cho các hoạt động chống phá Việt Nam

Tổ chức HRW đã đi lệch tôn chỉ của chính mình.

Ngày 18-12, Ðại sứ quán Mỹ tại Hà Nội đã gửi thông cáo tới giới truyền thông phê phán việc cơ quan chức năng Việt Nam không cho Huỳnh Trọng Hiếu xuất cảnh đi Mỹ để nhận giải thưởng do Tổ chức nhân quyền thế giới trao cho cha và chị gái là Huỳnh Ngọc Tuấn, Huỳnh Thục Vy.

Thông tin trên lập tức được một số cơ quan truyền thông nước ngoài và các thế lực thù địch lợi dụng để vu cáo Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam về vấn đề dân chủ, nhân quyền. Vậy thực chất của sự kiện này là gì?

Ngày 20-12-2012, Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW) ra thông cáo báo chí về việc HRW trao “Giải nhân quyền Hellman/Hammett” cho 41 người ở 19 quốc gia. Trong danh sách có năm công dân Việt Nam, gồm: Huỳnh Ngọc Tuấn, Huỳnh Thục Vy, Nguyễn Hữu Vinh, Phạm Minh Hoàng, Vũ Quốc Tú – những cái tên mà người quan tâm đều biết họ là các blogger “tích cực” viết bài trên các blog cá nhân và các trang web có tính chất chống đối, cũng như trả lời phỏng vấn trên một số cơ quan truyền thông nước ngoài như BBC, RFA, VOA,… mà trong đó chủ yếu là xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam, kích động chống phá Nhà nước.

Tiền thân của HRW là tổ chức Helsinki Watch do Robert L.Bernstein thành lập năm 1978 với mục đích “giám sát” Liên Xô (trước đây) bằng cách thu thập tư liệu liên quan tới việc Liên Xô thực hiện quy ước của Tổ chức an ninh và hợp tác châu Âu (OSCE), hỗ trợ các nhóm bảo vệ nhân quyền tại nước này.

Năm 1988, Helsinki Watch hợp nhất với một số tổ chức quốc tế khác cùng tôn chỉ, mục đích, từ đó đổi tên thành Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW).

Tuy nhiên, hoạt động của HRW đang đi lệch tôn chỉ, mục đích ban đầu và trở thành “con rối” đội lốt nhân quyền phục vụ mục đích chính trị.

Nhiều năm qua, lợi dụng chiêu bài hoạt động bảo vệ “dân chủ, nhân quyền” theo tiêu chí phương Tây, HRW đưa ra nhiều thông tin sai sự thật khi đánh giá về tình hình “dân chủ, nhân quyền” ở nhiều quốc gia, gây phản ứng trong dư luận quốc tế. Tổ chức này ngày càng phải chịu nhiều chỉ trích từ chính phủ các nước, các tổ chức phi chính phủ, các cơ quan, trong đó có cả ý kiến của người sáng lập HRW là cựu Chủ tịch Robert L.Bernstein khi ông này cho rằng: HRW có phương pháp nghiên cứu sai lầm, cung cấp thông tin thiếu chính xác, hoặc không thể kiểm chứng.

Thậm chí, Chính phủ Venezuela còn cáo buộc HRW từng bị chính quyền Bush thao túng vì mục đích chính trị. Ðối với Việt Nam, HRW thường tuyên truyền, xuyên tạc tình hình nhân quyền qua báo cáo nhân quyền thường niên, các thông cáo báo chí, gửi thư tới lãnh đạo Nhà nước, Chính phủ Việt Nam và một số cơ quan, tổ chức quốc tế.

Ðiều đáng nói là HRW không dựa vào khảo sát thực tế mà chỉ cóp nhặt thông tin sai sự thật, một chiều và có dụng ý xấu về tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam do các thế lực thù địch với Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam phát tán trên internet hoặc rêu rao trên một vài tờ báo lá cải ở nước ngoài.

“Giải nhân quyền Hellman/Hammett” do HRW lập ra cách đây 23 năm, với mục đích hỗ trợ về tài chính cho các nhân vật được gán cho cái mác “nhà văn đấu tranh cho nhân quyền phương Tây”.

Giải thưởng này được đặt theo tên của nhà viết kịch người Mỹ là Lillian Hellman và bạn của bà, tiểu thuyết gia Dashiell Hammett. Trong 23 năm qua, HRW đã trao giải cho hơn 750 “nhà văn” ở 92 quốc gia với mỗi giải thưởng trị giá khoảng 10 nghìn USD. Hơn 10 năm trở lại đây, HRW dần dà lái việc trao “giải” cho cả những nhân vật chống chính quyền, gây mất an ninh trật tự ở Việt Nam.

Thực chất đây chính là màn kịch do HRW dựng lên để hậu thuẫn tài chính, kích động một số đối tượng chống Nhà nước Việt Nam. Những nhân vật là người Việt Nam được HRW chọn trao “Giải nhân quyền Hellman/Hammett” đều là các đối tượng có “thâm niên” trong hoạt động chống đối chế độ, kích động hận thù, gây chia rẽ khối đoàn kết dân tộc.

Trong số họ, chẳng có người nào là “nhà văn” như tiêu chí để xét trao “Giải thưởng nhân quyền Hellman/Hammett”. Ðiểm chung nhất của những người này là bán rẻ danh dự, nhân phẩm, tự nguyện trở thành công cụ trong tay thế lực xấu để chống phá đất nước, chống phá chế độ.

Nổi bật trong năm người Việt Nam được HRW “vinh danh” vào năm 2012 là Phạm Minh Hoàng – nhân vật trung thành với tổ chức khủng bố “Việt Tân”.

Trong thời gian du học tại Pháp, Phạm Minh Hoàng đã được kết nạp vào “Việt Tân”. Năm 2000, Hoàng trở về Việt Nam và được Ðại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh ký hợp đồng làm giảng viên môn khoa học ứng dụng.

Tuy nhiên, Hoàng vẫn giữ liên lạc thường xuyên với “Việt Tân”. Từ năm 2002 tới 2010, với bút danh Phan Kiến Quốc, Phạm Minh Hoàng viết 33 bài có nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Ðảng, Nhà nước. Bài viết của Hoàng được “Việt Tân” nhanh chóng đăng tải, phát tán trên internet.

Không chỉ viết bài xuyên tạc sự thật, trong tháng 11-2009, sau khi tham dự lớp tập huấn tại nước ngoài của “Việt Tân”, Hoàng còn cùng vợ là Lê Thị Kiều Oanh, em trai là Phạm Duy Khánh, cùng một số Việt kiều khác đứng ra tổ chức hai khóa học mang tên “kỹ năng phần mềm” cho 43 thanh niên, sinh viên, nữ tu tại TP Hồ Chí Minh với nội dung tuyên truyền, lôi kéo, tập hợp lực lượng cho “Việt Tân” để chống phá Nhà nước.

Cùng với Phạm Minh Hoàng, Huỳnh Ngọc Tuấn và con gái Huỳnh Thục Vy (thường trú tại Tam Kỳ – Quảng Nam) cũng liên tục viết bài rêu rao trên các blog, các trang web và báo đài phản động, xuyên tạc lịch sử, bóp méo thực tế phát triển kinh tế – xã hội và tiến bộ nhân quyền tại Việt Nam.

Năm 1992, Huỳnh Ngọc Tuấn bị Tòa án nhân dân phạt 10 năm tù về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Mãn hạn tù, Tuấn không những không ăn năn hối cải mà còn lôi kéo hai con ruột là Huỳnh Thục Vy, Huỳnh Trọng Hiếu đi theo vết xe đổ của mình. Ngày 2-12-2011, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam đã ký ba quyết định xử phạt ba cha con Huỳnh Ngọc Tuấn 270 triệu đồng, vì đã có hành vi vi phạm hành chính về công nghệ thông tin. Tuy nhiên, đến nay, ba đối tượng này vẫn ngoan cố không chịu thi hành quyết định. Bên cạnh việc viết bài kích động chống phá Nhà nước, Huỳnh Ngọc Tuấn và hai con còn bày tỏ thái độ chống đối, như không đi bầu cử Quốc hội khóa XII (năm 2005), bầu cử Quốc hội khóa XIII (năm 2011). Khi tổ công tác đến nhà vận động đi bầu cử, thì bị Tuấn và gia đình xúc phạm. Ngoài ra, ba cha con Tuấn còn ghi vào thẻ cử tri chữ “NO!”; sau đó, chụp ảnh đăng tải trên internet và trả lời phỏng vấn của báo chí nước ngoài với nội dung xuyên tạc bầu cử Quốc hội ở nước ta. Vừa qua, do hành động chống phá Nhà nước, vi phạm pháp luật của cha con Huỳnh Ngọc Tuấn, nên ngày 16-12-2012, Huỳnh Trọng Hiếu sang Mỹ để thay mặt bố và chị gái nhận “Giải nhân quyền Hellman/Hammett”, đã bị cơ quan chức năng tại sân bay Tân Sân Nhất (TP Hồ Chí Minh) không cho xuất cảnh.

Ngay sau đó, Ðại sứ quán Mỹ tại Hà Nội và Tổng Lãnh sự quán Mỹ tại TP Hồ Chí Minh ra tuyên bố bày tỏ “quan ngại”, và kêu gọi Việt Nam bãi bỏ hạn chế đi lại đối với Huỳnh Trọng Hiếu… Lập tức, mấy cơ quan truyền thông như VOA, RFA, BBC,… đều đồng loạt đưa tin, nhân sự việc này vu cáo Việt Nam tiếp tục vi phạm các quyền tự do cơ bản!

Những năm qua, với tinh thần mở cửa và hội nhập, Việt Nam luôn luôn tạo điều kiện để công dân Việt Nam được xuất cảnh đi nước ngoài vì mục đích thăm nom người thân, du lịch, học tập, hay đầu tư, kinh doanh, định cư nhân đạo,… Tuy nhiên, để bảo đảm an ninh quốc gia, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, công dân Việt Nam, pháp luật Việt Nam cũng cấm xuất cảnh đối với các đối tượng “đang phải chấp hành án hình sự, dân sự, các quyết định xử phạt hành chính; đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang bị truy cứu về trách nhiệm dân sự, hành chính”. Huỳnh Trọng Hiếu là đối tượng đang trong thời gian thi hành quyết định xử phạt hành chính của UBND tỉnh Quảng Nam, do đó việc cơ quan chức năng Việt Nam cấm xuất cảnh đối với đối tượng này là phù hợp với quy định của pháp luật. Ðáng tiếc là Ðại sứ quán Mỹ tại Việt Nam lại không quan tâm tới điều này. Việc tặng “Giải nhân quyền Hellman/Hammett” cho năm nhân vật đã và đang có hành vi tuyên truyền, kích động chống đối Nhà nước Việt Nam, HRW đã khuyến khích, cổ súy cho hoạt động gây mất ổn định an ninh chính trị ở một đất nước có chủ quyền. Và tuyên bố của Ðại sứ quán Mỹ tại Việt Nam là can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia có chủ quyền, phải chăng là sự nối dài của thói quen áp đặt “tiêu chuẩn kép” về dân chủ, nhân quyền đối với các nước khác?

Kịch bản để mở đầu một cuộc chiến.

Photo: EPA
Câu nói “Cái mới chẳng qua là điều  xưa đã bị quên lãng” đã trở nên thông dụng 200 năm nay và nhiều lần khẳng định sự tồn tại của mình.
Chẳng hạn như thí dụ mới đây. Thượng viện Mỹ công bố gói tài liệu tiếp theo về thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Bình luận về các tài liệu này trên tạp chí New York Times vào tuần qua, nhà báo Mỹ Elizabeth Bumiller đã rút ra kết luận: “Những tài liệu này chứng tỏ, Nhà Trắng và Lầu Năm góc lừa dối các thượng nghị sĩ về sự kiện Vịnh Bắc Bộ năm 1964″.
Không ít người còn coi đây là một tin giật gân. Liệu có đúng như vậy?
Sự lơ đãng, với hình thức tồi tệ nhất là cố tình quên lãng, vốn là một trong những bản chất tính cách không những của con người, mà cả nhiều quốc gia. Nhưng ông Lê Đức Thọ, người được trao giải thưởng Nobel Hòa bình đã công bằng nhận xét “ai quên đi sai lầm của mình sẽ không tránh khỏi sự lặp lại”. Người đại diện của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tại các cuộc thương lượng với Henry Kisinger, trước lễ ký kết Thỏa thuận Paris 1973 về đình chiến ở Việt Nam, đã trả lời như vậy khi nhân vật đối thoại người Mỹ đề nghị hai nước quên đi mọi chuyện cũ và bắt đầu mối quan hệ từ trang giấy trắng.
Tìm cách quên lãng quá khứ là những ai cảm thấy đó điều bất lợi cho mình , Mới đây, trên một kênh truyền hình chiếu bộ phim về chiến tranh Việt Nam , có một cảnh làm  đó là cuộc tranh luận giữa hai người Mỹ, một già một trẻ, về nguyên nhân sự thất bại của Hoa Kỳ ở Việt Nam. Nhân vật đứng tuổi giải thích đó là bởi sự công minh trong tính chất đấu tranh của người Việt Nam, bởi chiến lược và chiến thuật quân sự tài tình của họ. Còn nhân vật trẻ tuổi giải thích đấy là nhờ vào hoạt động chống chiến tranh của những người theo chủ nghĩa hòa bình và trào lưu hippy tại chính nước Mỹ. Có thể thấy, không hề thừa khi chúng ta nhắc nhở cho các thế hệ trẻ về những điều bị quên lãng. Cả về nguyên nhân sự thất bại của Mỹ ở Việt Nam, cũng như lý do khởi đầu sự xâm lược của Mỹ.  Cụ thể, về sự kiện Vịnh Bắc Bộ mà Mỹ đã sử dụng như lý lẽ để khai màn cuộc chiến tranh trên không chống nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Ngày 05/08/1964, phát biểu trên đài truyền hình Mỹ, Tổng thống Johnson thông báo, tại vịnh Bắc Bộ ngày 02/08 tầu ngư lôi của Bắc Việt Nam đã tấn công tầu khu trục Mỹ, và đến ngày 04/08 thì đã hai tầu Mỹ là Maddox và Turner Joy bị phía Việt Nam tấn công. Vì những nguyên nhân này mà không quân Mỹ vừa tổ chức cuộc ném bom đầu tiên xuống lãnh thổ Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Chỉ sau đó vài giờ, dự thảo nghị quyết chuẩn y hoạt động chiến tranh qui mô tại Việt Nam đã được đưa vào Hạ nghị viện. Văn bản được gọi là “Nghị quyết vịnh Bắc Bộ” đã thông qua ngày 07/08 và trở thành cơ sở khởi đầu sự tham gia toàn diện của Mỹ trong các hoạt động chiến sự chống nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, không cần tới sự tuyên chiến chính thức.
Nhà sử học Makxim Siunenberg chuyên viên về nghiên cứu các mối quan hệ Việt Nam và Mỹ những năm 1950-1970  nói: “Ngay từ đầu, sự trung thực của cái gọi là sự kiện vịnh Bắc Bộ đã gây nên nhiều hoài nghi chính tại Mỹ cũng như từ các hạ nghị sĩ. Vào đầu năm 1968, các tạp chí Esquire và Times đã đăng những tài liệu  vạch trần toàn bộ sự dối trá trong nội dung giả thiết chính thức của Mỹ về sự kiện này”.
Cả hai ngày 2 và ngày 4 tháng 8, không một tầu khu trục nào của Mỹ đã bị trúng ngư lôi. Sau đó, như Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Robert McNamara thông báo vào tháng 2/1968, các tầu khu trục Mỹ đã có mặt  tại vịnh Bắc Bộ với mục đích “khiêu khích hoạt động của các thiết bị radar Bắc Việt Nam, nhằm ghi lại tần số các radar này”.
Và nếu ngày 02/08/1964, đúng là tầu hải quân Bắc Việt Nam có mặt ở khu vực Maddox, nhưng tại hải phận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thì ngày 04/08 hòa toàn không có một tầu nào tại đây.
“Toàn bộ là những hành động đáng ngờ”, – thuyền trưởng John Gerric, người nắm quyền điều kiển linh hoạt cả hai tầu khu trục, đã thông báo như vậy với ban chỉ huy Hải quân Mỹ ngày 05/08. Người này tỏ ra nghi ngờ sự đúng đắn các chỉ số của thiết bị định vị âm thanh trên khu trục hạm. “Tôi tin rằng, đây chỉ là những thông số ghi lại tiếng ầm của động cơ hai tầu khu trục”, – ông tuyên bố như vậy.
Bản thân thuyền trưởng Gerbert Ogayer của tầu Meddox đã cho biết, tầu của ông không hề bị tấn công. Ông thú nhận đã nhầm tiếng ồn của động cơ tầu mình với tiếng ồn của tầu phóng ngư lôi. Thuyền trưởng Bartnhart của Turner Joy cũng  phủ nhận là khu trục hạm bị tấn công.
Trung úy Connell, sĩ quan pháo trên tầu Maddox thì nói như sau: “Chúng tôi đã nã pháo loạn xạ. Không có một mục tiêu nào trên màn hình radar. Các máy bay được điều động từ hàng không mẫu hạm cũng không phát hiện thấy đối phương”.
Tháng 3/1968, Ủy ban đối ngoại Thượng nghị viện Mỹ đã điều tra đầy đủ sự kiện vịnh Bắc Bộ và kết luận, sự kiện này được “sáng tác từ đầu đến cuối”.  Những bằng chứng mới khẳng định điều này nằm trong các tài liệu thời chiến tranh Việt Nam, vừa được Ủy ban quan hệ quốc tế Thượng nghị viện Mỹ giải mật .
Hoa Kỳ cần tới sự kiện vịnh Bắc Bộ như một casus belli – lý do để tuyên chiến. Trong lịch sử thế giới đây không phải là trường hợp đầu tiên.

(REDS.VN) Đó là khi New York chìm trong biển nước, Trung Quốc bị sa mạc nuốt chửng, Paris biến thành xứ sở nhiệt đới…

Hãng sản xuất quần áo Diesel của Italia đã thực hiện một chiến dịch quảng cáo đầy khiêu khích mang tên “Sẵn sàng cho sự nóng lên toàn cầu”, với hình ảnh các người mẫu mặc trang phục của hãng này trong bối cảnh một thế giới bị xáo trộn bởi nhiệt độ tăng cao và nước biển nhấn chìm chiều thành phố.

Thành phố New York chìm sâu dưới nước biển.

Bồ câu sẽ biến mất khỏi quảng trường St Mark, venice (Italia), thay vào đó là những chú vẹt sặc sỡ của xứ sở nhiệt đới.

Vạn lý trường thành của Trung Quốc sẽ bị bao phủ bởi sa mạc cát.

Thư giãn trên biển ở London.

Bãi biển thơ mộng ở núi Rushmore, nơi tạc tượng chân dung các vị Tổng thống nổi tiếng của nước Mỹ.

Paris trở thành một thiên đường nhiệt đới.

Dấu vết duy nhất còn lại của Rio de Janeiro (Brazil) là bức tượng Jesus khổng lồ.

Kỳ nghỉ hè với đàn chim cánh cụt ở Nam Cực.

T.N