Tag Archive: Tân


Đây là 1 bài viết dài của mình về tổ chức khủng bố Việt Tân, chủ yếu từ các thông tin ngay tại Mỹ, ngay từ những bọn chống Cộng kiêm chống Việt Tân. Bài này nằm trong 1 dự án về tổ chức khủng bố VT mà mình đang hợp tác làm cùng Lê Dũng và 1 số bạn khác. Mấy ngày nay lướt web thấy có mấy đứa cò mồi của VT gào “nếu VT chống TQ thì tôi sẽ theo VT”. Báo chí và radio, TV Việt ngữ bên đây thì … nghe VT sủa điếc cả tai. Bực ko chịu nổi, VT chưa bao giờ chống TQ, chúng nó chỉ kêu gào bằng mồm và xúi con nít ăn cứt gà, xúi giục, kích động, khích tướng, rủ rê, dụ dỗ, lợi dụng người khác chứ bản thân chúng nó ko có chống gì TQ, chúng nó chỉ chống VN thôi. Thập niên 1980, trong lúc VN đang chống TQ công khai, thì chính bọn Việt Tân này đã vào VN khủng bố chứ ai vào đây. Bài này tính để dành post sau này, nhưng bực quá thôi post vào đây luôn cho các bạn tham khảo, đây cũng là thời điểm thích hợp để mọi người biết đc mặt thật, chân tướng, bản chất của tổ chức khủng bố này. Để ý thức đc bất cứ cái gì dính vào VT thì nên hết sức thận trọng.

——————————————————-

2- Tổ chức khủng bố Việt Tân

Sau khi cuộc chiến chống Mỹ của Việt Nam kết thúc, một số phần tử ngụy quân và ngụy quyền chạy theo sang Mỹ. Một bộ phận trong số này chẳng những không ăn năn hối cải, không cải tà quy chính, mà còn ngày càng lầm đường lạc lối, dấn thân vào tội ác, do thù hận, do ngu dốt không thức thời, vì lợi ích cá nhân, vì những đồng đô la nhơ nhuốc, chúng đã điên cuồng chống phá Việt Nam. Chúng lập rất nhiều tổ chức, đảng phái, hội đoàn, “cộng đồng” khác nhau để chống lại đất nước. Một trong những tổ chức khủng bố ấn tượng nhất, gây nhiều tội ác nhất, chính là tổ chức khủng bố Việt Tân.

Tổ chức khủng bố “Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng”, gọi ngắn gọn là “Việt Tân”, với lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng, là một tổ chức khủng bố xuyên quốc gia do cựu phó đề đốc ngụy Sài Gòn Hoàng Cơ Minh thành lập và huấn luyện, dưới sự tài trợ của chính phủ Hoa Kỳ trong thời Chiến tranh lạnh và trong thời gian Việt-Mỹ chưa bang giao. Sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ, Việt Tân vẫn được chính phủ Mỹ, chủ yếu những thành phần chính trị gia phản động, diều hâu, vẫn còn mang tư tưởng thực dân đế quốc, chống Việt Nam, chống XHCN, hoặc những chính trị gia cơ hội (muốn tranh thủ Việt Tân để lợi dụng chúng vận động kiếm phiếu trong cộng đồng người Việt hải ngoại) trong chính phủ Mỹ tài trợ qua nhiều quỹ khác nhau. Tổ chức khủng bố này hoạt động với chiêu bài “quang phục Việt Nam”, “phục quốc”, “đem lại tự do, dân chủ, nhân quyền, phú cường cho Việt Nam”. Chúng không dám thừa nhận bản chất khủng bố của mình, mà thường tự xưng, tự phong mình là những “nhà hoạt động nhân quyền”, “nhà dân chủ”, “người bất đồng chính kiến”, “người có quan điểm khác biệt”, “chiến sĩ tự do” (freedom fighter) v.v.

3- Những hoạt động của Việt Tân

Trong những năm 1980, dưới tên gọi “Mặt trận Quốc gia Thống nhất Giải phóng Việt Nam” hoặc còn được gọi là “Mặt trận Hoàng Cơ Minh”, tổ chức khủng bố Việt Tân đã nhiều lần đem các loại súng đạn, chất nổ, lựu đạn, mìn, tiền giả, ma túy vào Việt Nam để phá hoại xã hội, khủng bố người dân và khủng bố chính quyền.

Trong thập niên 1990, sau khi Mỹ chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam, đồng thời manh nha có ý tưởng “chống khủng bố” và sử dụng chiêu bài này để bành trướng quốc tế, xác định “kẻ thù chính của nước Mỹ chính là chủ nghĩa khủng bố”, thì Mặt trận Hoàng Cơ Minh cũng lập tức đổi tên thành “Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng” (Việt Tân) và tuyên bố cái gọi là “cương lĩnh mới” của chúng, hứa hẹn từ nay sẽ không còn đấu tranh bạo lực giết người nữa mà chuyển sang đấu tranh “bất bạo động”, bằng tuyên truyền chính trị, phù hợp với sự chuyển đổi sách lược từ chiến tranh bạo động sang Diễn Biến Hòa Bình của Hoa Kỳ và phương Tây. Tức quan thầy thay đổi sách lược thì đệ tử cũng thay đổi sách lược. Quan thầy tuyên bố “tôi đây chống khủng bố” và kêu gọi “chống khủng bố” thì đệ tử cũng vội vã thanh minh “tôi đây không phải là khủng bố”. Và cũng để quan thầy khỏi mang tiếng “tài trợ khủng bố”, nuôi dưỡng khủng bố.

Cũng trong những năm 1990, mặc dù bề ngoài đã tuyên bố thay đổi chiến lược từ bạo động sang “bất bạo động”. Nhưng thỉnh thoảng Việt Tân vẫn sai người vào VN đặt chất nổ, rải và dán truyền đơn, xách động, dụ dỗ, mua chuộc những thành phần bất mãn, những phần tử lưu manh, giang hồ, xã hội đen, tội phạm ở VN để hoạt động cho chúng. Hầu hết người của Việt Tân trong thời gian này khi bị bắt giữ ở VN đều tìm thấy vũ khí nguy hiểm trên mình chúng, như súng lục, lựu đạn, dao găm, lưỡi lê v.v.

Kể từ năm 2000, cuộc chiến “chống khủng bố” do Hoa Kỳ đứng đầu đã rất ác liệt. Mối quan hệ đối tác kinh tế Việt-Mỹ ngày càng tốt đẹp, thuận lợi. Thế giới văn minh hơn, yêu hòa bình hơn. Dân trí Việt-Mỹ ngày được nâng cao, tình thế đã khác xưa, thời thế thay đổi, nên Việt Tân ngày càng chuyển qua hình thức phá hoại chính trị, diễn biến hòa bình là chính, ít còn dùng bạo lực giết người cướp của như trước đây. Tuy nhiên, thỉnh thoảng chúng vẫn sai người về VN thực hiện các nhiệm vụ khủng bố để lấy tiếng. Nhằm thực hiện ý đồ vừa có thể khủng bố Việt Nam trong thời đại mới, vừa có thể tránh tiếng khủng bố, chúng đã tiến hành 2 bước:

1. Sai người về nước khủng bố. Trong thời gian điều tra, giam giữ phạm nhân thì Việt Tân ỡm ờ, không tuyên bố gì chính thức, và trả lời phỏng vấn kiểu nước đôi, ba phải, “văn chương huề vốn”, chung chung.
2. Sau khi tên khủng bố đã bị bắt, đã khai báo, đã tự viết bản nhận tội và ký tên và báo chí VN cho biết đây là thành viên của tổ chức khủng bố Việt Tân thì chúng mới tuyên bố chính thức và “minh định lập trường” rằng đây “không phải là người của chúng tôi”.

Hành động nước đôi, hai mặt này của Việt Tân xảo quyệt, hiểm độc ở chỗ nó vừa lấy tiếng được cho tổ chức này, rằng “chúng tôi vẫn có thực lực”, “chúng tôi có khả năng lật đổ chế độ VN”, “chúng tôi hoàn toàn có thể làm ra những việc lớn lao”, “chúng tôi có giá trị mặc cả”, “chúng tôi có đủ tư cách, đủ tiêu chuẩn để nhận tài trợ từ các quỹ của chính phủ Hoa Kỳ”, “chúng tôi có đủ tư cách để thu hút sự chú ý của chính phủ Mỹ và các chính phủ phương Tây khác”. Đồng thời cũng hé lộ, úp mở rằng ta đây có dây mơ rễ má với chính phủ Mỹ đấy nhé, nhằm ra oai với đồng bào hải ngoại. (Chứ 1 mình Việt Tân thì không dám làm những chuyện điên rồ như vậy nếu không có xếp Mỹ chống lưng) Mà cũng vừa tránh được tiếng khủng bố vì “chúng tôi đã tuyên bố chính thức rằng mình không phải khủng bố, và tên khủng bố này không liên quan với chúng tôi đấy nhé”. Như vậy, Việt Tân vừa lấy được tiếng, tăng cường “số má”, cường hóa “thương hiệu” của mình, và vừa tránh được tiếng khủng bố, tránh cho chủ Mỹ cái tiếng “nuôi khủng bố”, “tài trợ khủng bố”.

Một chiêu làm mãi cũng nhàm và bị chủ Mỹ chê là “one trick pony” (ngựa con chỉ biết diễn mỗi một trò), nên thỉnh thoảng Việt Tân cũng “mix it up” (thay đổi những cách đối phó khác nhau) bằng cách là trong nhiều trường hợp khác, thay vì làm bộ làm tịch tuyên bố “không phải người của chúng tôi” thì Việt Tân nói huỵch toẹt ra là “đây đúng là người của chúng tôi, nhưng họ không có khủng bố, công an CSVN đã vu oan giáo họa cho họ và viết giả các bài viết thú tội, giả mạo chữ ký của họ”, khi báo CAND đưa lên hình ảnh chữ viết, chữ ký, và những phạm nhân tự thú bằng chính lời nói của chúng trước máy ghi âm, máy quay, thì Việt Tân lại sửa giọng “quản giáo CSVN đánh đập tra tấn các tù nhân lương tâm của chúng tôi, hăm dọa họ, đe dọa gia đình họ, bắt ép họ phải nói, phải viết theo ý CSVN, theo kịch bản của CSVN v.v.” Mặc dù trong các video clips ai cũng thấy rõ những tên hèn nhát “chưa khảo đã khai” này tự thú rất ngoan ngoãn, trôi chảy, và không hề có dấu hiệu thương tích sứt mẻ hay bị đánh đập gì, hay bị sức ép tâm lý gì.

Nói chung, trong thập niên 1980, Việt Tân không hề che giấu bản chất khủng bố cố hữu của mình. Trong thập niên 1990 thì Việt Tân bề ngoài tuyên bố “bất bạo động” bằng mồm, nhưng bên trong thì vẫn có những đợt chống phá khủng bố thô bạo. Trong thập niên 2000 thì chúng hạ nhiệt khủng bố, tăng cường phá hoại bằng Diễn biến hòa bình. Tuy nhiên thỉnh thoảng làm vài cú để chứng tỏ với quan thầy rằng “chúng em vẫn còn xài được” và xù lông ra uy với đồng bào hải ngoại và các phe phái khác, các tổ chức khủng bố khác rằng “bọn tao vẫn còn số má lắm”. Nếu xưa kia đường lối của Mỹ đối với các nước XHCN và Việt Tân đối với VN thuần túy là bạo lực đẫm máu thì ngày nay đường lối và chủ trương của chúng là “Diễn biến hòa bình kết hợp bạo loạn lật đổ”, tức chúng dùng biện pháp hòa bình, ôn hòa, bất bạo động kết hợp với bạo động lật đổ. Mà biện pháp bất bạo động, cách mạng màu, cách mạng da cam, cách mạng nhung, cách mạng đường phố, dụ dỗ và kích động những người chống đối đổ xô ra đường để làm náo loạn đường phố, kinh động xã hội, rối loạn trật tự an ninh, là nhiệm vụ chủ yếu. Biện pháp bạo động, khủng bố ngày nay chỉ còn là những biện pháp phụ, có tính chất hỗ trợ.

Những nhân vật chóp bu lãnh đạo Việt Tân của thời khủng bố lộ liễu, trắng trợn vào thập niên 1980 (như Đỗ Hoàng Điềm, Hoàng Cơ Định em ruột Hoàng Cơ Minh, Lý Thái Hùng v.v…) cũng chính là những tên lãnh đạo tổ chức này trong thời khủng bố nhát gừng và diễn biến hòa bình hiện nay.

Địa bàn hoạt động của Việt Tân bao gồm khắp nơi trên đất Mỹ. Chúng luôn tìm cách khủng bố ở Việt Nam và cơ quan ngoại giao VN tại một số nước láng giềng, nhưng thường bị bắt trước khi thủ ác. An ninh VN đã và đang cài rất nhiều người trong hàng ngũ của chúng, mỗi khi chúng về nước là bị chặn bắt ngay từ phi trường, hoặc theo dõi ngay từ đầu tới cuối.

Tại Hoa Kỳ, bọn Việt Tân luôn thò cánh tay lông lá vào các cộng đồng người Việt, các thành phố có nhiều đồng hương, nhúng tay vào hầu hết các đảng phái, tổ chức, hội đoàn, báo chí, truyền thông, nhà xuất bản, trung tâm thương mại, cơ sở kinh doanh v.v. Trong nước thì chúng luôn tìm cách dùng điện thoại, Internet, e-mail, và cả Paltalk để móc nối, bắt liên lạc, để lấy tiếng với quan thầy. Ngoài nước thì chúng cũng không ngừng bành trướng thế lực, mở rộng địa bàn, cài cắm đồng bọn vào các tổ chức khác, tạo ra các tổ chức ngoại vi, các tổ chức đối lập cuội, mua chuộc, dụ dỗ, hăm dọa những người thuộc tổ chức khác. Chúng như một tổ chức băng đảng lưu manh quy mô lớn, không ngừng tìm cách mở rộng thế lực, bành trướng địa bàn, thôn tính các phe nhóm khác để độc quyền bá chủ, độc quyền chống Cộng, độc quyền làm trùm, độc quyền hưởng phân (fund) Mỹ. Hành động bành trướng, lũng đoạn, phá rối, quấy phá các phe đảng khác và có mưu đồ muốn xóa sổ họ của Việt Tân cũng đã bị các phe phái chống cộng khác chống trả quyết liệt, và phản pháo, lên án, vạch trần âm mưu thủ đoạn của chúng các đài báo chống cộng khác tại hải ngoại.

4- Những tội ác khủng bố, lừa đảo của Việt Tân đối với Việt kiều hải ngoại

Mặc dù luôn rêu rao và khoe chiêu bài “đấu tranh vì tự do ngôn luận tại Việt Nam” nhưng Việt Tân có một “thành tích” đáng sợ về khoản giết người bịt miệng, khủng bố Việt kiều hải ngoại, nhất là trong thời gian cuối thập niên 80, khi Việt Tân còn mang tên “Mặt trận Quốc gia Thống nhất Giải phóng Việt Nam” hay “Mặt trận Hoàng Cơ Minh” và thời gian sau khi Hoàng Cơ Minh bị quân dân Việt – Lào bắn chết trong chiến dịch khủng bố mang tên “Đông Tiến”. Để tiếp tục lừa tiền đồng hương và không muốn làm hụt hẫng không khí chống Việt Nam tại Mỹ, những tên chóp bu, đầu mục, đầu sỏ, cầm đầu băng đảng khủng bố Việt Tân đã bưng bít thông tin, giấu diếm ém nhẹm đi tin tức Hoàng giáo chủ đã “băng hà”. Hoàng Cơ Định trâng tráo cầm micro tuyên bố chắc như đinh đóng cột rằng “Chiến hữu Hoàng Cơ Minh, và cũng là anh trai tôi, vẫn còn sống và đang hoạt động chống Cộng sản quyết liệt trong các rừng già tại biên giới Việt – Lào”, Đỗ Hoàng Điềm thì phụ họa tuyên bố chắc nịch trên đài phát thanh rằng “Chủ tịch Hoàng Cơ Minh không hề tuẫn tiết gì cả, đó chỉ là thông tin tuyên truyền dối trá của VC, không thể nào tin được”. Trong khi hình xác chết của Hoàng Cơ Minh đăng rõ ràng trên mặt báo. Rất tiếc xưa nay báo chí VN không được phép lưu hành tại hải ngoại, hầu hết những siêu thị, nhà sách nào phát hành báo chí trong nước đều bị những kẻ luôn mồm “đấu tranh cho tự do báo chí”, “đấu tranh cho tự do thông tin” kéo bè kéo đảng đến biểu tình, ăn vạ, bắt phải dẹp bỏ, có lúc chúng cho lâu la tự tay đem đốt hoặc giục những tờ báo trong nước vào thùng rác. Do bị bưng bít thông tin, rất nhiều người không biết trùm khủng bố Hoàng Cơ Minh đã đền tội, vẫn quyên tiền cho Việt Tân để chống phá trong nước.

Để lừa đảo, gạt tiền quyên góp từ đồng hương. Không những Việt Tân giấu diếm, bưng bít thông tin về cái chết của Hoàng Cơ Minh, mà chúng còn giả mạo những lá thơ “do Hoàng Cơ Minh gởi về”. Đôi khi chúng còn viết trên các tờ báo của chúng, chúng tuyên bố trên các đài phát thanh của chúng rằng “Chủ tịch Hoàng Cơ Minh có điện thoại về”… Những người nào nêu nghi vấn hoặc tố cáo, vạch trần trò lừa gạt bịp bợm của chúng đều bị chúng thuê xã hội đen đánh đập, dằn mặt, thủ tiêu. Như trường hợp chúng thuê người bắn chết ký giả Lê Triết, khủng bố vợ con của ông này. Ám sát hụt giáo sư Cao Thế Dung. Vợ ký giả Lê Triết và ông Cao Thế Dung từng kiện Việt Tân ra tòa vì tội mưu sát, nhưng cũng như bao vụ khác, những tên cầm đầu Việt Tân đều được trắng án và tha bổng một cách vô lý, kỳ lạ, mờ ám, và có dấu hiệu tiêu cực. Cho thấy ai là kẻ thật sự đứng sau lưng Việt Tân. Có rất nhiều cựu thành viên Việt Tân, bao gồm cả những tên từng là lãnh đạo cấp cao, đã viết sách, viết báo tố cáo bản chất tội lỗi, tàn bạo, hung ác, man rợ của Việt Tân, và những chuyện nội bộ nhơ nhớp, dơ dáy, bẩn thỉu mà Việt Tân bưng bít, trong đó chủ yếu là những chuyện lừa gạt, gian lận tiền bạc, kết bè kết cánh, ăn chia không đồng đều, khủng bố thanh toán người khác v.v. có không ít những chuyện chúng chém giết thanh toán, loại bỏ, trừ khử lẫn nhau vì đồng tiền và quyền lực. Có những người đã thoát ly Việt Tân từ lâu nhưng vẫn thường xuyên bị quấy rối, dằn mặt, hăm dọa tính mạng, khi thì bị gọi điện thoại phá (prank call), lúc thì bị chọi trứng, cà chua, gạch đá vào cửa sổ xe, cửa nhà, cửa sổ nhà v.v. Chúng thường thuê các nhóm xã hội đen, trộm cướp, và nhất là các băng đảng (gang) vốn đầy rẫy ở các trường trung học Mỹ, những tên thiếu niên này cần tiền, có tiền thì việc gì chúng cũng làm và không cần biết người bỏ tiền cho chúng là ai. Vì vậy thuê bọn bất hợp pháp, bọn gangster, bọn vô gia cư (homeless) này thì thường rất dễ chạy tội. Chúng thường thuê bọn gang “hit-n-run” và “drive by shooting” (chạy ngang bắn rồi chạy luôn), thường chúng bắn vào nhà, vào cửa, vào cửa gara, vào xe, vào bánh xe v.v. để khủng bố tinh thần, khủng bố tâm lý những người bất đồng chính kiến. Nghiêm trọng hơn là chúng dò biết trước và đậu xe chờ đến khi chủ nhà vừa mở cửa ra ngoài là bị bắn gục ngay trước cửa nhà.

Tất cả những cơ sở kinh doanh, thương mại, của Việt Tân cũng như của người khác, bất kỳ lĩnh vực gì, từ siêu thị cho tới nhà sách, tiệm video, văn phòng dịch vụ, địa ốc, bảo hiểm v.v. miễn sao người Việt là chúng kéo đến đặt thùng tiền “yểm trợ kháng chiến” hoặc “yểm trợ quốc nội” hoặc “yểm trợ phục quốc”. Chỉ có người Mỹ là chúng không dám đụng tới. Chúng chẳng khác gì bọn giang hồ chuyên kéo lâu la tới đòi tiền bảo kê, dĩ nhiên chẳng ai dám chống lại. Gọi cảnh sát địa phương thì cũng vô dụng, vì chúng sẽ giải thích là “chúng tôi chỉ đặt thùng tiền quyên góp mà thôi” và sau đó chủ thương mại sẽ phải dọn đi nơi khác vì không chịu nổi đòn trả thù tàn bạo và dai dẳng của chúng. Có khi chỉ là những trò biểu tình nhân danh “tự do ngôn luận”, “tự do biểu tình” của chúng để phá chuyện làm ăn của người ta, chiếm chỗ đậu xe của khách hàng, đưa kẻ bị hại đến tình trạng nhẹ thì lỗ lã, nặng thì phá sản, chúng sẽ tận dụng các báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình Việt ngữ của chúng để “đập” và “dìm hàng” đối tượng tơi tả, bịa đặt, xuyên tạc, vu khống, ngậm máu phun người, thậm chí chụp mũ họ là Việt Cộng, bịa đặt chuyện đời tư dơ bẩn v.v. để người ta thân bại danh liệt, phải bỏ sang tiểu bang khác. Nghiêm trọng hơn là chúng trả thù trực diện, cho người dán những tấm hình có biểu tượng đe dọa tính mạng vào cửa nhà, hay chỉ là đem vài con dao, vài khẩu súng đặt trước cửa nhà người ta để “nhắn nhủ”, “đánh tiếng”, hăm dọa, khủng bố tâm lý và tinh thần của nạn nhân. Có nhiều người đã phải dọn đi, vì không chịu nổi đòn thù, trò dày vò tinh thần, tra tấn tâm lý nạn nhân của chúng.

5- Hệ thống kinh tài và các tổ chức ngoại vi của Việt Tân

Có thể nói tổ chức khủng bố Việt Tân là tổ chức giàu có nhất trong tất cả các tổ chức khủng bố, đảng phái chống Cộng tại hải ngoại. Nhờ chúng tận dụng thời điểm cuối thập niên 1980 khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chúng tuyên truyền lên rằng CSVN sắp sụp đổ tới nơi, và “chúng tôi” sẽ về nước lập chính quyền mới, hứa hẹn phong cho ông A bà X chức này tước nọ, chúng tranh thủ tuyệt đối sự ủng hộ của những kẻ chống Cộng và những chính trị gia sa lông, cơ hội ở hải ngoại, quyên tiền quyết liệt. Những đồng tiền đó chúng dùng để mở hệ thống Phở Hòa với hàng ngàn chi nhánh có trên khắp California và nước Mỹ. Dĩ nhiên, mỗi tiệm phở đều có thùng “quyên góp kháng chiến”. Điều này làm chúng bị bà con hải ngoại chế giễu và gọi là “đảng Phở Bò” hay “Mặt trận Phở Bò” hoặc “kháng chiến Tái Nạm Béo”.

Tiền quyên góp, lừa gạt được của đồng hương cùng với tiền tài trợ từ các quỹ N.E.D., quỹ S.I.D.A., quỹ “nhân quyền”, quỹ “dân chủ”, quỹ xuất cảng đa đảng đa nguyên của Hoa Kỳ, chúng dùng để mở hệ thống Phở Hòa, mua / thuê các tàu cá, ăn bám vào thị trường hải sản Hoa Kỳ, rất nhiều nhóm đánh cá, đánh cá thuê ở Mỹ, nhất là vùng New Orleans là do Việt Tân làm chủ. Những số tiền kiếm được, không phải đồng tiền nào chúng cũng dùng cho việc chống phá VN, mà chúng còn dùng để mua xe, mua nhà, mua đất, đầu tư bất động sản, đầu tư kinh doanh, chúng có bonds, cổ phần, cổ phiếu (stock) trong nhiều cơ sở kinh doanh cổ phần hóa ở Mỹ. Chúng có hàng ngàn tài khoản chính, tài khoản phụ trong nhiều ngân hàng lớn. Những tên đầu sỏ đều đi xe Mỹ đời mới nhất, chúng thay xe như thay áo. Tên nào tên nấy sở hữu hàng chục tiệm làm móng tay, viện thẩm mỹ, siêu thị, nhà hàng, khách sạn v.v. Chúng vừa là một tổ chức khủng bố nguy hiểm, vừa là một tập đoàn tài phiệt tư bản Mafia giàu mạnh, là một tổ chức tội ác, tội phạm trá hình, mang tính chất xã hội đen quy mô lớn.

Chính phủ trung ương Mỹ và CIA thì nuôi chúng để cắn VN, tài trợ cho chúng xuất cảng “dân chủ Mỹ” và “chuyển lửa về quê hương”. Cảnh sát địa phương hoặc nhân viên công lực cấp tiểu bang, cấp thành phố thì không làm gì được chúng vì không có bằng chứng gì có thể chứng minh rõ ràng là chúng vi phạm luật pháp. Ông Hoàng Duy Hùng, chủ tịch cộng đồng thành phố Houston, TX, một người từng ngồi tù tại VN vì hoạt động lật đổ nhà nước và sau đó được đặc xá vì tỏ ra ăn năn hối cải, ông ta là một người chống Việt Tân nhưng cũng phải nhìn nhận “So với Hội Tam Hoàng của Tàu và Mafia của Ý thì Việt Tân cũng không thua kém bao nhiêu”.

Ngoài ra, Việt Tân còn thành lập rất nhiều tổ chức ngoại vi, các cơ quan truyền thông, báo chí, trong đó có những cái loa rất ấn tượng tại hải ngoại như Asia, SBTN v.v. Chúng còn dùng những thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh để tấn công các chương trình ca nhạc khác của đồng hương. Ví dụ khi trung tâm Thúy Nga sản xuất video ca nhạc với chủ đề Mẹ năm 1999, chúng viện cớ video có những cảnh lính Mỹ từ trực thăng xả súng vào dân lành chạy loạn do đạo diễn dựng lại từ phim tài liệu, video có nhạc cảnh Ca Dao Mẹ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn do Don Hồ trình diễn, nhạc phim có cảnh bông lúa màu đỏ do kỹ thuật video, và cuối phim MC Nguyễn Ngọc Ngạn có nói về “đàn chim xa xứ bay về tố ấm”, có vẻ trùng lặp với chủ trương Đại đoàn kết dân tộc của chính phủ Việt Nam, nên Asia đã mượn cớ đó cho tay sai tấn công, chửi bới chương trình ca nhạc Paris By Night. Chúng thuê người gọi vào các đài radio để mắng chửi Thúy Nga không tiếc lời. Chúng dàn dựng, kêu gọi, kích động những cuộc biểu tình một thời gian dài sau đó trong các chương trình Paris By Night sau này. Về sau Thúy Nga phải làm một số chương trình theo quỹ đạo chính trị của chúng để xoa dịu lũ côn đồ, rồi sau đó chúng mới để yên.

Trung tâm Asia đầu tiên do nhạc sĩ Anh Bằng sáng lập, sau khi Trúc Hồ, 1 thành viên Việt Tân mua lại trung tâm này thì nó đã biến chất, biến dạng thành một cái loa chống cộng rẻ tiền, chuyên tung hô, ca tụng ngụy quyền, ngụy quân, bóp méo lịch sử, bịa đặt thông tin, phỏng vấn cuội, tự phỏng vấn lẫn nhau, và đào bới hận thù, hòng dựng lại thây ma. Nếu Asia là một trung tâm ca nhạc thiên về tâm lý chiến, thì đài SBTN do Trúc Hồ và Việt Dzũng đứng tên làm chủ (Nguyệt Ánh cũng có cổ phần) lại là một đài truyền hình lá cải ở California, chuyên đưa tin giật gân để câu khách, câu quảng cáo, và phục vụ cho mục tiêu chống VN của Việt Tân.

SBTN từng đưa những “tin tức” làm nhiều người vừa buồn cười vừa phải lắc đầu vì mức độ hoang tưởng của chúng như: Đảo chánh ở Hà Nội, phe cộng sản miền Bắc và cộng sản miền Nam dàn trận đánh nhau, phe Nông Đức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng dàn trận đánh nhau, Võ Văn Kiệt bị đầu độc chết, CSVN họp bí mật với Trung Cộng xin được như Tây Tạng, quân đội tiếp quản Sài Gòn năm 1975 là quân đội… Trung Cộng v.v. và còn nhiều thông tin lá cải khác. Nhiều bà con Việt kiều nói vui rằng bọn SBTN này muốn cạnh tranh với Vân Sơn về khoản hài hước chắc. Ngoài ra Việt Tân còn thành lập và nuôi nhóm “Thanh Niên Cờ Vàng”, “Đoàn Thanh Niên Phan Bội Châu”, và “Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên Đường”, chúng lập ra vô số các trang web trên mạng, nhiều trang web chúng cho thiết kế toàn màu đen ra vẻ thần bí, rồi tự xưng “chúng tôi là tuổi trẻ Việt Nam ở ngay trong nước, trụ sở ở ngay Hà Nội” v.v. Ngoài các tổ chức ngoại vi, Việt Tân còn tổ chức nhiều trại hè, nhiều trung tâm hướng đạo, để nhồi sọ thiếu niên Mỹ gốc Việt, khiến họ mất gốc, vong bản, biến chất thành những con thiêu thân chống phá đất nước, căm thù dân tộc. Chúng bắt các em phải chào cờ ba que, cờ Mỹ, hát quốc ca Mỹ và cái gọi là “quốc ca VNCH” (bài hát mà cha anh bọn chúng ăn cắp của nhạc sĩ cộng sản Lưu Hữu Phước rồi tự ý thay tựa đề, chỉnh sửa lời hát) tẩy não, nhồi nhét vào đầu các em những thông tin bịa đặt về lịch sử nước nhà, gieo rắc những tư tưởng độc hại, thù hận vào đầu các em, chúng dạy các em cái gọi là “lịch sử” do chúng tự tưởng tượng ra. Việt Tân cũng mở những lớp võ thuật rồi nhồi sọ võ sinh rằng “học võ để sau này về quang phục quê hương”. Tổ chức “Đảng Dân tộc” của Nguyễn Hữu Chánh cũng học theo “chiêu” này.

Thời kỳ Mỹ chưa phát động cuộc chiến “chống khủng bố” thì chúng đánh thẳng vào trong nước. Thời kỳ Mỹ đã phát động thì chúng móc nối với lũ Việt gian trong nước. Chúng luôn rình rập, tìm cách bắt liên lạc, móc nối, dụ dỗ, mua chuộc, kích động những thành phần bất mãn trong nước để biến họ thành những kẻ phản quốc, và trả lương cho những tên này qua hình thức “tài trợ”, “giúp đỡ tài chánh”, “yểm trợ quốc nội”, “bảo trợ” v.v. Chúng trích ra số tiền Mỹ tài trợ cho chúng rồi tài trợ cho đám “quốc nội”. Nhiều tên khi bị bắt đã khai báo huỵch toẹt trước máy quay rằng chúng bị Việt Tân móc nối, dụ dỗ, mê hoặc, có liên hệ với Việt Tân ra làm sao, được Việt Tân tài trợ ra nước ngoài huấn luyện ra sao v.v. như đám “Chị Hai”, “Chị Ba”, “Chị Tư” Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Định, “thầy bói kiêm nhà nghiên cứu Chấn” Trần Huy Duy Thức, Lê Thăng Long v.v., những video công khai tự thú, nhận tội, và xin xỏ khoan hồng của bọn mạo xưng “dân chủ” này đều được cư dân mạng tải lên trang web Youtube.

6- Tại sao tổ chức khủng bố này vẫn nhởn nhơ trên đất Mỹ?

Đơn giản là vì chúng không có khủng bố nước Mỹ và cũng chưa phải là một tổ chức khủng bố quốc tế như Al Qaeda. Chúng chỉ có khủng bố Việt Nam, một nước XHCN, có ý thức hệ và những lợi ích đối lập với Hoa Kỳ, nghịch với chính sách toàn cầu, chiến lược bành trướng toàn cầu, bá chủ thiên hạ của họ. Xưa nay Mỹ vẫn áp dụng một chính sách nước đôi, hai mặt, mà chính những nhà chính trị Hoa Kỳ vẫn hay gọi là “tiêu chuẩn kép” (double standard) về vấn đề chống khủng bố. Nghĩa là nếu có khủng bố nước Mỹ hoặc là khủng bố quốc tế từng khủng bố các đồng minh của Mỹ, hoạt động khủng bố trên các địa bàn của đồng minh Mỹ, có sự ảnh hưởng của quân đội Mỹ khắp thế giới, thì Mỹ mới liệt vào danh sách khủng bố. Còn những tổ chức khủng bố do các nước khác, đặc biệt là các nước không phải đồng minh của Mỹ, không cùng lợi ích chính trị, quân sự với Mỹ, khác ý thức hệ với Mỹ v.v. đưa vào danh sách khủng bố thì Mỹ sẽ không liệt vào danh sách khủng bố của họ, không coi đó là khủng bố, thậm chí còn bênh vực, biện minh, bao biện, bảo vệ, nuôi nấng, bảo trợ cho tổ chức đó. Như tổ chức Việt Tân mà chính phủ VN đã liệt vào danh sách khủng bố. Như tổ chức Tresnia mà Nga đã liệt vào danh sách khủng bố. Như một vài nhóm Pháp Luân Công và tổ chức vũ lực bạo động ở Tân Cương của Trung Quốc. Hay như các nhóm vũ trang đối lập ở Libya đã từng bắn giết, thảm sát người dân, làm sập nhà dân chúng v.v. và đã bị chính phủ Libya liệt vào danh sách khủng bố, nhưng Mỹ và phương Tây đã hỗ trợ, viện trợ, đỡ đầu cho họ. Trước đây, khi 2 công dân Đức du lịch Libya đã bị giết chết, chính phủ Libya điều tra xác định là Al Qaeda làm và đã phát lệnh truy nã toàn cầu gởi tới Interpol, tầm nã Bin Laden và các tay cầm đầu Al Qaeda nhưng lại bị Mỹ và Anh ngăn lại.

Ngoài ra, Mỹ còn viện trợ, tài trợ, giúp đỡ các chính phủ và quân đội đồng minh khủng bố người dân, như trường hợp họ tài trợ cho Israel khủng bố, thảm sát dân Palestine nhiều năm nay. Trong quá khứ, Mỹ từng ngầm hỗ trợ và bênh vực, biện hộ cho chế độ khủng bố, diệt chủng Khmer Đỏ. Từng dựng lên và nuôi dưỡng ngụy quyền Ngô Đình Diệm và dung túng cho chúng khủng bố trắng, lê máy chém khắp miền Nam Việt Nam. Ngay cả trùm khủng bố Bin Laden mới bị Mỹ vắt chanh bỏ vỏ gần đây và chính phủ độc tài Taliban cũng từng được Mỹ tài trợ để chống lại Liên Xô, trước khi được Mỹ bảo kê, Taliban và Al Qaeda chưa là gì cả, nhưng sau khi được Mỹ cung ứng tiền bạc, vũ khí, họ mạnh lên và trở thành một lực lượng đáng kể, có thể nói chính Mỹ đã dựng lên khủng bố, tài trợ cho khủng bố, để rồi phải đem quân đi diệt khủng bố, và dùng đó làm chiêu bài để công nhiên điều quân viễn chinh đi ra đi vô các nước như chốn không người, bành trướng thế lực ra khắp hoàn cầu. Tổng thống Mỹ Nixon đã từng “thân ái” ngồi chung với các lãnh tụ Taliban và Al Qaeda và nói “Những người đàn ông này tượng trưng cho các giá trị đạo đức của cha anh chúng ta”, “These gentlemen are the moral equivalents of America’s founding fathers” (Reagan nói vào năm 1985). Căn cứ trên lịch sử và bản chất của chính sách ngoại giao thực dụng Hoa Kỳ, thì có thể dễ hiểu vì sao Việt Tân là một tổ chức khủng bố Việt Nam, cùng với các tổ chức khủng bố khác vẫn có thể sống nhăn trên xứ Mỹ.

7- Tình hình Việt Tân hiện nay

Sau khi vụ bưng bít bị phanh phui. Cái chết của trùm khủng bố Hoàng Cơ Minh không còn có thể che giấu lấp liếm được nữa. Trong thập niên 1990, các tay trùm Việt Tân đành phải họp báo thú nhận tất cả, nước mắt cá sấu, giọt vắn giọt dài trước các ống kính video rằng chủ tịch Hoàng Cơ Minh đã bị CSVN giết rồi, đã “tuẫn quốc”, đã “vị quốc vong thân”, đã “hy sinh vô cùng oanh liệt” v.v. Việc này đã gây chấn động trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại, mọi người rốt cuộc đều biết hóa ra Việt Tân lâu nay giấu nhẹm cái chết của Hoàng Cơ Minh, bưng bít thông tin, che giấu sự thật, lừa đảo, gạt tiền đồng bào ra sao. Những vụ làm ăn nhập nhèm, nhơ nhớp, mờ ám, dùng tiền “kháng chiến” để mở tiệm phở bò, để cho gái, để ăn chơi sa đọa, để mua tàu ra biển đánh cá, để mua nhà, mua đất, mua xe, mua tiệm làm móng tay, mua siêu thị, mua các cơ sở kinh doanh thương mại v.v. đều được chính những người trong cuộc tiết lộ ra, nhiều người do bất mãn, do không được ăn chia đầy đủ, bị mất phần, hoặc chính những người do Tổng Cục 2 của an ninh Việt Nam cài vào biết được và nhà nước VN, báo chí VN tiết lộ ra, tất cả những yếu tố đó kết hợp lại gây lên một làn sóng căm phẫn dữ dội trong cộng đồng hải ngoại, tất cả các phe phái hải ngoại, từ những Việt kiều yêu nước, thân Cộng cho tới Việt kiều chống Cộng, đều quay sang chống Việt Tân, mạt sát, miệt thị Việt Tân không tiếc lời. Việt Tân được rất nhiều tiền, trở thành những triệu phú Mỹ gốc Việt, trở thành những ông trùm mà người Mỹ gọi là “Vietnamese Mafia”, nhưng mất đi lòng tin và sự ủng hộ của giới chống Cộng, bị giới này ghen tỵ, ganh ghét, ghen ăn tức ở, căm ghét, thù hận. Ngoài thì bị chửi, bị “ném đá” túi bụi, trong thì chia rẽ, xào xáo, nội bộ đấu đá lẫn nhau. Theo một số hồi ký, tự truyện của người trong cuộc kể lại thì lúc đó trong trụ sở không ngày nào không cãi nhau, dùng những từ ngữ hạ cấp nhất để lăng mạ, “tổng sỉ vả” lẫn nhau. Có những vụ liên quan như vụ năm 1999 khi 1 tay Việt Tân và 1 tay Việt Quốc hợp tác với nhau quyên tiền tổ chức lễ tưởng niệm ngày “Quốc Hận”, tay Việt Tân đông bầy đàn hơn nên liền sai đàn em bê nguyên cái thùng tiền về nhà, sau khi tổ chức xong tay này vì trước đó đánh bạc ở Las Vegas và cá độ football (bóng bầu dục, bóng đá Mỹ) cháy túi nên ăn cắp hết số tiền còn lại sang Hawaii, đã không chia lãi lại cho tên kia mà còn lấy sạch số vốn của hắn. Tay Việt Quốc và đồng bọn, cùng bọn Đại Việt (Đảng Dân Tộc của trùm lừa đảo Nguyễn Hữu Chánh cũng ăn theo chửi hùa vào Việt Tân) uất ức quá liền la lối, ăn vạ thì Việt Tân tỉnh bơ bảo đó là chuyện riêng giữa quý vị, ông kia hành xử với tư cách cá nhân, không liên quan gì tới Việt Tân bọn tôi.

Sau nhiều thảm họa dư luận đó, Việt Tân đành phải bỏ sào huyệt ở chốn phồn hoa đô hội nhiều người Việt sinh sống tại Cali mà dọn tới hang ổ mới là thành phố Seattle, tiểu bang Washington, tiểu bang nằm ở vùng cực Bắc Hoa Kỳ quanh năm đầy mưa và tuyết, và là thành phố có rất ít người Việt, và có tỷ lệ tự sát cao nhất nước Mỹ và 1 trong những thành phố có tỷ lệ tự sát cao nhất thế giới.

8- Cuộc chiến giành phân (fund) Mỹ

Nhằm mục đích xâm nhập, lũng đoạn, xâm lược bành trướng “sức mạnh mềm” vào các quốc gia khác. Mỹ đã mở rất nhiều quỹ, thành lập nhiều tổ chức tại Hoa Kỳ và các “tổ chức quốc tế” để phục vụ cho sách lược Diễn biến hòa bình của họ, bành trướng lan tỏa chính trị, thế lực ra khắp thế giới. Những tổ chức này có những quỹ tài trợ, hỗ trợ khác nhau, hướng tới những tổ chức bản xứ, những tổ chức lưu vong, để dùng chúng xuất cảng “dân chủ” kiểu Mỹ, đa đảng đa nguyên, các giá trị kiểu Mỹ, các chuẩn mực kiểu Mỹ, hệ thống chính trị kiểu Mỹ vào nước của chúng, tạo điều kiện để Mỹ thò cánh tay lông lá vào nước sở tại, xây dựng, nuôi dưỡng, hỗ trợ các lực lượng đối lập, hứa phong cho chúng chức này tước nọ sau khi Mỹ “giải phóng” nước họ xong. Đây là thủ đoạn chia rẽ, chia đất nước, dân tộc khác ra làm nhiều phe, ủng hộ thế lực thân mình, nếu cần thì dựng lên các chính phủ của mình, lật đổ các chế độ đối lập với lợi ích Hoa Kỳ. Và xây dựng, ủng hộ, yểm trợ các lực lượng, các tổ chức, các chính phủ chấp nhận thần phục Mỹ và có lợi cho kinh tế, chính trị, quân sự Hoa Kỳ, có lợi cho chính sách bá quyền và chiến lược quốc tế của chính phủ Mỹ. Đây là một biểu hiện của chủ nghĩa đế quốc, bành trướng quốc tế, tư bản bá quyền.

Nhờ đó, Việt Tân cũng nhận “tiền tài trợ” định kỳ từ nhiều quỹ khác nhau. Quỹ từ chính phủ, quỹ của các tổ chức trực thuộc chính phủ, quỹ từ các tổ chức tư bản phi chính phủ do các tập đoàn tài phiệt tư bản Mỹ, tư bản phương Tây, tư bản quốc tế làm chủ, và các tổ chức trá hình phi chính phủ trực thuộc CIA và chính phủ Mỹ, hoạt động dưới danh nghĩa “phi chính phủ”, “từ thiện”. Để có đủ điều kiện, đủ tư cách, đủ tiêu chuẩn, tiêu chí để nhận fund thì các tổ chức phản quốc ở hải ngoại phải chứng minh cho quan thầy thấy “bản lĩnh” và “khả năng” của mình. Rằng mình có thể làm được cái gì, mình có thực lực gì không, để xứng đáng nhận được những số tiền tài trợ, đài thọ định kỳ đó.

Chính vì vậy, tổ chức khủng bố Việt Tân và tập đoàn lừa đảo Đảng Dân tộc của Nguyễn Hữu Chánh không ngừng gởi người vào VN để lấy tiếng. Thậm chí đối với một bọn nghiên về lừa đảo kinh tế hơn là khủng bố chính trị quân sự như “Đảng Dân tộc” của “chú phỉnh” Nguyễn Hữu Chánh thì chúng không cần thành công, chúng chỉ cần dụ được ai là chúng “thí” về VN cho bị công an bắt để lấy tiếng cho tổ chức. Cũng với “chiêu thức” cũ, đó là vừa ỡm ờ, nói xa nói gần cho cả thiên hạ hiểu mình là thủ phạm để lấy tiếng, nhưng khi tuyên bố chính thức thì chối phăng đi mỗi khi công an VN có được bằng chứng và đồng bọn chúng nhận tội. Như khi Nguyễn Hữu Chánh sai Võ Văn Đức về nước khủng bố, sau khi Đức ở tù, tưởng đại ca sẽ can thiệp cho đàn em thoát được, không ngờ chú Chánh trở mặt không nhận thằng em, khiến cho Đức uất ức vô cùng, những hình ảnh Đức trên mặt báo trong thời gian đó cho thấy 1 người đang rất phẫn uất, tức tưởi vì bị chơi xấu, vì bị đàn anh bỏ rơi, bị đem quăng ra giữa chợ, chịu tội thế cho đàn anh v.v. Trong khi cả hải ngoại đều biết Võ Văn Đức là đàn em loại “ruột” của Nguyễn Hữu Chánh. Sau khi mãn hạn tù, trở sang Mỹ thì Võ Văn Đức lập tức rời xa Đảng Dân tộc nhưng không dám có ý nghĩ trả thù hay đụng chạm gì tới đại ca, vì biết đại ca có hàng trăm lâu la đàn em, và trong người bao giờ cũng có súng. Cũng như Đảng Dân tộc, Việt Tân cũng gởi người đem chất nổ vào VN để lấy tiếng, ngoài ra chúng còn mở rộng địa bàn hoạt động ra ngoài phạm vi trong nước VN, ra các tòa đại sứ, tòa lãnh sự, và các cơ quan ngoại giao của VN ở các nước láng giềng, nhất là ở các nước an ninh khá lỏng lẻo như Thái Lan, Indonesia, Philipines v.v. Thậm chí, sau vụ nổ pháo hoa ở Mỹ Đình trong sự kiện 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, cả Việt Tân và Đảng Dân tộc đều nói xa nói gần để người ta tưởng người ra tay là thuộc tổ chức của mình. Chỉ sau khi báo chí Việt Nam và công an VN ra thông báo chính thức rằng đây chỉ là một tai nạn nghề nghiệp thì chúng mới ngừng bốc phét.

Nói chung, các tổ chức phản quốc và sẵn sàng bán nước ở hải ngoại đều tìm cách khuếch trương thanh thế, tiếng tăm, “số má” của mình ra cao nhất để giành lòng chủ Mỹ, mong được chính phủ Mỹ ân sủng, cưng chìu, và ban ơn mưa móc. Tất cả đều vì những số tiền “tài trợ” hàng năm của các quỹ “dân chủ”, “nhân quyền”, “vě tự do” của Mỹ vŕ phương Tây. Và xưa cho tới nay, Việt Tân đều giành vị trí đầu bảng, thứ hai là Đảng Dân tộc của Nguyễn Hữu Chánh, vì vậy không lạ khi 2 tổ chức này bị các tổ chức “rận chủ”, thế lực Vichoco, các hội đoàn chống cộng khác, các “cộng đồng” khác, các “nhân sĩ” khác chửi bới te tua. Và bản thân 2 tổ chức đó cũng thường chửi nhau tay đôi trên báo chí, truyền thanh và truyền hình. Chẳng qua là vì ghen ăn tức ở lẫn nhau. Kẻ thắng người thua trong cuộc chiến giành “phân” Mỹ. Cùng là chống Cộng nhưng người được ưu ái, được nuôi béo, kẻ thì trơ mõm hoặc chỉ nhận được ít “xu lẻ” theo kiểu bố thí ăn mày. Kẻ giàu người nghèo. Kẻ thì làm chủ tiệm làm móng tay, kẻ thì phải làm thợ giũa móng tay, rửa bát cắt cỏ, xin welfare, medicaid, foodstamp, ăn xin trợ cấp Mỹ và ăn bám xã hội Mỹ nhưng nó vẫn không cho (nhất là từ khi Bush lên thay Clinton, an sinh xã hội Mỹ bị bóp nghẹt, thắt chặt). Làm các chiến sĩ “dâng chủ” phải nai lưng ra làm culi, khuân vác, làm assembly cho các đại gia trùm tư bản, đi cày như trâu, bị bóc lột, bị kỳ thị, phân biệt chủng tộc mà vẫn mở mồm ra chửi XHCN, chửi chủ nghĩa Marx Lenin. Những kẻ đó đương nhiên cũng sẽ chửi Việt Tân và Đảng Dân tộc vì 1 lẽ duy nhất: Tại sao “tụi tao” cũng chống cộng mà “cực bỏ mẹ”, làm việc như trâu bò vẫn “trơ mõm chó” trong khi “chúng mày” lại giàu sang và ăn chơi đàng điếm thế? Tại sao tụi tao cày overtime (thêm giờ), cày cả những ngày nghỉ cuối tuần, cày cả những ngày nghỉ lễ, cày hai ba “jobs” vẫn không đủ trả bills, trong khi chúng mày suốt ngày đi du lịch, đi Las Vegas, đi đánh bài, cá độ football thế? Chung quy cũng chỉ là ganh ghét, ghen ăn tức ở lẫn nhau. Đó là nguyên nhân vì sao cùng là chống cộng, phản quốc, phản động như nhau mà tay này ghét tay kia, nhóm này ghét nhóm kia, tổ chức này chửi tổ chức kia, và đặc biệt là Việt Tân bị chửi nặng nhất, bị chửi nhiều nhất xưa nay. Bọn chống Cộng hải ngoại, nhất là tại Mỹ, chửi Việt Tân còn nhiều hơn cả chửi cộng sản.

9- Tương lai của Việt Tân

Khủng bố và phản quốc thì sẽ không thể có kết quả tốt. Việt Tân đã làm quá nhiều chuyện ác nhân thất đức, bị thất nhân tâm ở ngay cả địa bàn của chúng. Chúng bị bà con Việt kiều, trong đó bao gồm những kẻ chống Cộng tẩy chay, xa lánh, phỉ nhổ. Những kẻ từng trong nội bộ của chúng cũng quay sang viết hồi ký, viết sách, viết tự truyện, viết báo chửi chúng, vạch mặt chúng. Mà ngày nay chúng cũng không còn dễ dàng thuê sát thủ giết người diệt khẩu, lạm sát bừa bãi như những năm 1980, những năm công nghệ thông tin còn lạc hậu, chưa có điện thoại di động có thể chụp hình, quay phim, chưa có Internet v.v. Trước sức mạnh của công luận, chúng đã phải rời bỏ hang ổ cũ và lê thân tới nơi ít đồng hương, khí hậu lạnh lẽo ở bang Washington, và 1 thành phố u buồn như Seattle. Hầu như chúng vác mặt đi gặp ai cũng bị chửi. Chúng còn bị những phe phái chống cộng khác gọi chúng là VC nằm vùng, nghi ngờ hay chụp mũ chúng là do CSVN tạo ra. Chúng cũng dùng các phương tiện truyền thông cáo buộc, kết tội, quy chụp, phản pháo lại bọn kia là CS nằm vùng. Xét cho cùng, cái trò chụp mũ VC nằm vùng lẫn nhau, quăng nón cối tứ tung là một trò đã rất xưa như trái đất, đã có từ thời chống Pháp và chống Mỹ trong vùng địch. Đối với chúng, chỉ có tiền và lợi, và nếu mày có mâu thuẫn quyền lợi với tao thì đích thị mày là 1 “thằng Việt Cộng nằm vùng”.

Về quan hệ với chủ Mỹ, kể từ khi quan hệ kinh tế, làm ăn, kinh doanh giữa Việt – Mỹ càng thắt chặt thì Mỹ lại tỏ ra lạnh nhạt hơn với con chó săn của mình. Khi chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết chính thức sang thăm Mỹ, trước đó 3 ngày Bush đã gọi 3 tên Hoàng Cơ Định, Đỗ Hoàng Điềm và một tên nữa đến Nhà Trắng và răn đe, chỉ thị rằng “không được quậy”, “không được lộn xộn”. Và Việt Tân thời gian sau đó đúng là rất “ngoan”, án binh bất động không gây ra vụ gì cả.

Tới lúc Mỹ không cần xài nữa thì Mỹ cũng sẽ vắt chanh bỏ vỏ như với Al Qaeda mà thôi? Cùng là khủng bố như nhau có lẽ chúng sẽ rất sợ bị làm thịt như Bin Laden. Nhưng đó là 2 trường hợp khác, Bin Laden và Al Qaeda dám cắn ngược lại Mỹ và họ có thực lực nhất định, còn Việt Tân ư, Mỹ mà buông ra một cái thì Việt Tân chỉ còn lại những nhà triệu phú đô la rủng rỉnh nhưng không quyền không lực, không còn chút thực lực, sức mạnh nào. Việt Tân cũng là một con chó săn trung thành thật sự chứ không là loại dám lợi dụng Mỹ tức thời như bọn Taliban, Al Qaeda, và dám cắn lại Mỹ. Việt Tân thì lệ thuộc chính phủ Mỹ 100% và không bao giờ dám có ý nghĩ phạm thượng với quan thầy chứ đừng nói là dám cắn ngược lại ông chủ. Vì vậy Mỹ cùng lắm sẽ bỏ rơi chúng, “quăng con giữa chợ”, chứ sẽ không vắt chanh bỏ vỏ, giết chúng như đã giết Bin Laden.

Tác giả: thieulongtexas (được sự cho phép của tác giả, tôi đăng bài viết này để chúng ta hiểu rõ bản chất lưu manh, côn đồ & phản động của Việt Tân. Kẻ xách động những cuộc biểu tình, tuần hành gây rối vừa qua. Cảm ơn Thiếu Longtexas & sự quan tâm của quý vị. Trân trọng! – Tựa do Lê Vũ đặt)

Nếu cứ làm việc theo cung cách của các ngành, các cơ quan chức năng hiện nay: Thiếu tâm – thiếu tầm, và thiếu cả… quyền, thì biết đâu, sẽ còn những Vina khác nữa đang… mỉm cười đứng Đợi?

Cả làng cùng “thiếu” có mình em đâu?

Mới đầu năm 2013, tại Hội nghị trực tuyến tổng kết công tác của ngành Giao thông Vận tải, một quan chức cao cấp của Nhà nước có phát ngôn thật ấn tượng: Quản lý GTVT thiếu tâm lẫn tầm! Theo ông, quản lý ngồi đút chân gầm bàn, không có tâm và tầm, sâu sát với cuộc sống đang vận động.

Trước đó, là một loạt những số liệu mất mát đau lòng: Năm 2012, toàn quốc xảy ra trên 36.000 vụ tai nạn giao thông làm gần 10.000 người chết, 38.000 người bị thương… Tai nạn giao thông trong những tháng cuối năm 2012 có xu hướng tăng trở lại, số người chết hoặc bị thương vẫn ở mức cao và vẫn còn xảy ra tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng.

Thực ra, sự thiếu tâm này không chỉ là thói quan liêu, xa rời cuộc sống, của cán bộ, công chức Nhà nước. Mà tệ hơn, suy đồi hơn, nó là lòng tham, là tham nhũng. Và một khi trở thành quốc nạn, nó gây nên những thương tổn sâu sắc cho xã hội, cả vật chất lẫn tinh thần, niềm tin.

Tại hội nghị, diễn giải cho những yếu kém, bất cập của ngành GTVT, đặc biệt về các con đường huyết mạch, một vị thứ trưởng của ngành cho rằng do thiếu vốn duy tu, sửa chữa định kỳ nên ảnh hưởng lớn đến chất lượng kết cấu hạ tầng  giao thông…

Thế nhưng chả lẽ, mới đưa vào sử dụng cuối năm 2012, và còn chưa khánh thành, cây cầu Đất Sét trên tuyến quốc lộ 1A (thị trấn Tân Phú Thạnh, huyện Châu thành A- Hậu Giang)- thuộc dự án do Bộ GTVT làm chủ đầu tư, với kinh phí 2.371 tỷ đồng, đã bị lún, nứt, có chỗ lún nứt kéo dài hàng chục mét, cũng là do… thiếu vốn duy tu, sửa chữa?

Hiện trường một vụ TNGT. Ảnh: Baoninhthuan.com.vn

Ngược hẳn với ý kiến ông thứ trưởng ngành GTVT, tại kỳ họp QH tháng 6/2012, khi thảo luận về bổ sung năm dự án, sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ 2011- 2015, trong đó có ba dự án giao thông, chiếm tới gần 5000 tỷ đồng, ý kiến của nhiều đại biểu QH cho rằng tiền nhiều nhưng chất lượng giao thông vẫn kém. Đặc biệt là thất thoát tài chính, tiêu cực trong sử dụng kinh phí rất nhiều.

Có đại biểu nêu câu hỏi: Người ta đặt vấn đề xây dựng đường Việt Nam đắt nhất thế giới, đắt hơn Mỹ, đắt hơn các nước trong khu vực. Tại sao?

Đắt nên mới xắt ra… sụt lún, ra nứt toác, ra hố tử thần…

Phía nam, “nổi tiếng” nhất – thực chất là tai tiếng nhất, là Đại lộ Đông Tây. Có tổng chiều dài 22 km, được đầu tư tới 660 triệu USD, tính ra mỗi km đường ở đây đầu tư tới 30 triệu USD, thông xe vào cuối năm 2011.

Hoành tráng, khua chiêng gõ trống bao nhiêu ở “pha” động thổ, cắt băng khánh thành, thì mới chỉ sau sáu tháng sử dụng, Đại lộ Đông Tây đã “lộ” ra cái sự thê thảm của chất lượng. Mặt đường xuống cấp, lún sâu, thậm chí có chỗ lằn bánh xe tạo rãnh có độ sâu hơn 10cm. Và cũng lộ ra cái tâm làm ăn gian dối, tham lam vô độ của con người.

Phía bắc, không chịu…”kém miếng”, Đại lộ Thăng Long, chiều dài 30 km (được đầu tư tới 7.527tỷ đồng), chỉ sau nửa năm đưa vào sử dụng, đã bị xuống cấp, sụt, lún, nứt nẻ, bong tróc nghiêm trọng. Điệp khúc xuống cấp cũng lại được giành cho hai cây cầu mới của Thủ đô- cầu Vĩnh Tuy và Thanh Trì.

Vậy nhưng, nếu nói chữ thiếu tâm, hẳn ngành GTVT sẽ mượn câu ca dao xưa:Cả làng cùng “thiếu” có mình em đâu?

Bởi cái sự thiếu tâm ấy, sự tham lam ấy không phải là… độc quyền của riêng ngành GTVT, nó còn là của cả ngành ngân hàng. Khi chính vị lãnh đạo cao cấp nhất của ngành này phải thừa nhận: Có “lợi ích nhóm” trong hệ thống các tổ chức tín dụng.

Cũng theo vị quan chức này, mới thanh tra ở 27 tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước thấy nhiều tổ chức tín dụng bị chi phối bởi một nhóm cổ đông, giữ chức danh lãnh đạo trong đó. Dư nợ cho vay nhóm cổ đông này chiếm tỷ lệ rất lớn trong tổng dư nợ, có lúc lên tới 90%, vi phạm nghiêm trọng quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước.

Vết lún, nứt ở cầu Đất Sét nghìn tỷ. Ảnh: Quốc Huy

Tại kỳ họp QH cuối năm 2012, quan chức cao cấp nhất của ngành công an cũng cho biết, năm 2012 tội phạm về kinh tế, tham nhũng phức tạp nổi lên trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, gây thiệt hại hàng ngàn tỉ đồng, tác động xấu đến an ninh tài chính, tiền tệ.

Cái sự thiếu tâm ấy còn là của ngành xây dựng, quản lý đất đai. Khi các công trình Đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội, các công trình thủy điện thi nhau “hom hem, già lão”, thi nhau vỡ toang, lộ ra bê- tông chỉ là đất và gỗ mục… Khi tới 70% vụ khiếu kiện của người dân thuộc về lĩnh vực đất đai- cũng là nơi màu mỡ nhất cho lòng tham nảy nở. Quản lý đất đai không công khai minh bạch, còn là nguyên nhân của những xung đột gay gắt, thậm chí phân ly giữa người dân với chính quyền.

Thiếu tâm của ngành GTVT là quá rõ. Còn thiếu tầm, thì e vị lãnh đạo cao cấp của Nhà nước phát biểu vừa đúng, vừa chưa đủ.

Bởi riêng ách tắc giao thông đô thị, hiện đang là nỗi khổ không của riêng ai, nó vừa là cái nhìn ngắn hạn của ngành này, nhưng nó cũng là hệ lụy của cái nhìn không …dài hạn của cơ chế quản lý xã hội chúng ta. Rút cục, giao thông đô thị đang phải lãnh đủ.

Bởi ách tắc giao thông đô thị, là hệ lụy của quy hoạch đô thị với tầm nhìn kiểu ăn sổi ở thì.

Là hệ lụy của việc coi thường tầm quan trọng của  các đô thị “vệ tinh”.

Là hệ lụy của tỷ lệ dân số tăng quá nhanh, vv…và vv..

Thế thì, thiếu tâm- thiếu tầm đâu phải chỉ là của riêng ngành GTVT?

“Vô hiệu” và “thanh kiu”

Cái sự thiếu tâm– tham lam, tham nhũng, giờ thiên hình vạn trạng. Hội thảo khoa học “Bàn về những giải pháp phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay” do Tạp chí Cộng sản cùng ĐH Quốc gia TP.HCM tổ chức mới đây đã đưa ra những con số đáng buồn.

Buồn, vì trong khi tham nhũng bị coi là quốc nạn, thì theo Gs Trần Đình Bút, nguyên Thành viên tư vấn Chính phủ, các vụ được phanh phui chỉ là những vụ nhỏ, ở cấp dưới – chỉ mới bắt được mèo con. Cán bộ xã, phường chiếm 30% còn cấp trung ương chỉ chiếm 0,3%, bằng 1/100 của cấp thấp nhất.

Bên cạnh kết quả chỉ mới bắt được mèo con, đáng lo ngại nhất là hiện tượng tham nhũng quyền lực và chính trị, như Gs Nguyễn Trọng Chuẩn, nguyên Viện trưởng Viện triết học đã chỉ ra. Vì quyền đẻ ra tiền, quyền đẻ ra lợi.

Ông cũng khẳng định, sức mạnh kinh tế một khi liên kết với quyền lực để hình thành lợi ích nhóm sẽ dẫn đến tham nhũng trong chính trị, chi phối chính sách. Đây mới là điều đáng lo ngại nhất đối với sự tồn vong của chế độ, đất nước.

Các vụ tham nhũng được phanh phui chỉ là những vụ nhỏ, ở cấp dưới- chỉ mới bắt được mèo con. Ảnh minh họa

Rõ ràng, tham nhũng có đủ “sức mạnh mềm”, để làm mưa làm gió, trong khi các công cụ chức năng “rắn” như Kiểm toán, như Thanh tra vận hành ra sao?

Trả lời phỏng vấn báo chí mới đây về vai trò, vị thế của Kiểm toán Nhà nước trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, ông Đặng Văn Thanh, Chủ tịch Hội Kế toán và kiểm toán VN cho rằng, nếu như kiểm soát nội bộ của bộ máy bị vô hiệu hóa thì sẽ lại dẫn đến những đổ vỡ như đã xảy ra với Vinashin, Vinalines…

Đó là một nhận xét mang tính thực tiễn sâu sắc, dù khá chua xót.

Kiểm toán là một lĩnh vực còn khá mới mẻ cho một xã hội văn minh nông nghiệp, nên đến tận giờ, vẫn còn “loay hoay” với “cái ghế” – địa vị pháp lý của mình, là giúp việc QH hay độc lập với QH? Tất cả còn trông chờ vào sự sửa đổi Hiến pháp 1992 sắp tới.

Nếu Kiểm toán thiếu tầm, thì Thanh tra khác hẳn.

Ngành thanh tra có tuổi đời gần 70 năm, cùng với tuổi đời của nước Việt, chứng kiến mọi sự thăng trầm, mọi thay đổi và đổi mới của quốc gia. Nghề nào cũng vậy, nhưng đặc biệt với thanh tra, nó đòi hỏi trước hết là phẩm cách chính trực, sự liêm khiết của cá nhân cán bộ thanh tra. Vì cái sự ông rút chân giò, bà thò chai rượu, ở đây rất dễ xảy ra.

Trong quá khứ (và hiện tại), xã hội ta từng có những cán bộ thanh tra liêm chính nổi tiếng. Nhưng…

Người viết bài chứng kiến một chuyện hài hước: Một chánh thanh tra ở cơ quan Bộ nọ, được cả cơ quan “trìu mến” gọi là “Chánh thanh- kiu” (cảm ơn). Ông chả giận, mà cứ dễ dãi cười…hề hề… Hay vì ông luôn phải “thanh- kiu” những nơi ông thanh tra? Chỉ ông và nơi bị thanh tra biết rõ nhất!

Hội nghị trực tuyến tổng kết công tác thanh tra ngày 4/1 mới đây cho thấy, hiệu quả công tác này trong phòng, chống tham nhũng rất hạn chế: Năm 2012, các ngành đã triển khai 1589 cuộc thanh tra trách nhiệm, nhưng chỉ xử lý hành chính 18 người, chuyển cơ quan điều tra ba vụ.

Một quan chức cao cấp của Chính phủ đã nói thẳng: Toàn hệ thống thanh tra có hơn 18.000 người. Thanh tra CP khoảng 700, còn lại khoảng 17.300 người là ở các bộ, ngành địa phương. Bộ nào cũng có thanh tra, sở nào quan trọng cũng có thanh tra nhưng vụ việc ai phát hiện? Báo chí phát hiện, Thanh tra CP phát hiện, đoàn thanh tra phát hiện… Vậy 17.300 người để làm gì?

Nếu kiểm soát nội bộ của bộ máy bị vô hiệu hóa, thì sẽ lại dẫn đến những đổ vỡ như đã xảy ra với Vinashin, Vinalines…

Người ta chợt nhớ, vụ Vinakhủng, suốt từ năm 2006 đến 2009, đã có ít nhất 11 cuộc thanh, kiểm tra các loại của đủ các đoàn kiểm tra, thanh tra. Vậy mà không đoàn nào đến thanh tra lại phát hiện ra… sai phạm (!) Thanh tra hay “thanh- kiu”, như dư luận xã hội nghi ngờ?

Hay thanh tra không thiếu nghiệp vụ, cũng không thiếu tầm, mà chỉ … thiếu tâm?

Còn tại Hội nghị Chính phủ làm việc với các tập đoàn, doanh nghiệp Nhà nước, ông Phó Trưởng ban chỉ đạo Đổi mới và phát triển doanh nghiệp cho biết, tổng nợ phải trả của các TĐ, TCT đã lên tới hơn 1,3 triệu tỉ đồng (?) Mức lỗ phát sinh của tất cả TĐ, TCT là 2.253 tỉ đồng, trong đó có một số đã lỗ từ năm 2011 đến năm nay… lỗ tiếp. Đáng quan ngại là có 10 TĐ, TCT có tổng lỗ lũy kế lên tới 17.730 tỉ đồng. Ai sẽ là người …bù những cái lỗ khủng khiếp này đây?

Đến nỗi, người đứng đầu Chính phủ đã phải hỏi, một số doanh nghiệp Nhà nước làm ăn thua lỗ cả tỷ đồng, nói ra ai cũng xót ruột. Và nhân dân có quyền đặt ra câu hỏi, sau Vinashin, Vinalines, liệu còn thêm Vina nào nữa?

Chưa có câu trả lời.

Nhưng nếu cứ làm việc theo cung cách hiện nay: Thiếu tâm- thiếu tầm, vàthiếu cả…quyền, thì biết đâu, sẽ còn những Vina khác nữa đang…mỉm cười đứng Đợi?

Kỳ Duyên [bài trên vietnamnet]

——————

Tham khảo:

http://nld.com.vn/20130110100852683p0c1002/pho-thu-tuong-hoang-trung-hai-quan-ly-gtvt-thieu-tam-lan-tam.htm

http://tuoitre.vn/Ban-doc/529689/hau-giang-cau-chua-khanh-thanh-da-lun-nut.html

http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2012/05/cau-rong-nhat-thu-do-co-dau-hieu-xuong-cap/

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/105253/hot-het-bay-sau-lam-ngheo-dat-nuoc.html

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/105425/chong-tham-nhung–moi-bat-duoc-meo-con-.html

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/105078/con-vinashin-neu-kiem-soat-noi-bo-bi-vo-hieu-hoa.html

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130105/17-300-nguoi-lam-gi-ma-khong-phat-hien-tham-nhung.aspx

Đi tìm sự thật về nhà thờ của gia đình Thủ tướng

Xung quanh thông tin Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xây dựng ngôi “nhà thờ họ” nguy nga ở Kiên Giang, suốt lâu nay đã được loan truyền râm ran và trở thành một đề tài nóng thu hút sự quan tâm của công luận. Sự thật ra sao?

Nguồn tin khởi đầu được tung ra bởi một số mạng thông tin không chính thống. Rồi tiếp tục xuất hiện cả một số đơn thư được lan truyền đã len lỏi tới đông đảo công chúng; càng khiến dư luận không ngớt xì xầm, bàn tán.

Theo các thông tin được mô tả thì: Ngôi nhà thờ này là một lâu đài đồ sộ, sang trọng gấp nhiều lần nhà thờ họ Hồ ở Nghệ An; nguy nga hơn cả đền thờ vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực; được tọa lạc trên khuôn viên rộng tới hơn 4.000m2 với quy mô rất hoành tráng, số tiền đầu tư xây dựng trị giá tới hơn 40 tỉ đồng. Đặc biệt, khuôn viên hơn 4.000m2 này là đất thu hồi của người dân địa phương.

 

Cổng chính ngôi nhà số 1108

 

 

“Nhà thờ họ” này đã và đang trở thành “bia miệng” trong dân chúng Việt Nam… Sức nóng của dư luận đã khiến không ít cán bộ lão thành cách mạng phẫn nộ, dân chúng hoài nghi và có người đã phải thốt lên rằng: “Ai đời đương kim Thủ tướng mà lại làm cái việc xa hoa đến thế!”.

Nhà báo vốn có đặc tính là luôn “săm soi” các nguồn tin nên tôi đã được chứng kiến không ít cuộc luận bàn xung quanh câu chuyện “nhà thờ họ” của đương kim Thủ tướng. Bản thân tôi đã có lúc thấy rất hoài nghi và thiếu tin cậy về những thông tin loan truyền ấy. Có một số người cũng nói với tôi rằng đó chỉ là sự đồn thổi, bịa đặt: “Làm gì có lâu đài, biệt điện nào! Chẳng qua chỉ là chuyện thêu dệt nhằm bôi đen lãnh đạo, gây mâu thuẫn trong nội bộ Đảng và kích động lòng dân…”.

Nhưng sự hoài nghi trong tôi lại lập tức bị tan biến bởi có không ít lời khẳng định như đinh đóng cột với tôi rằng họ đã trực tiếp mắt thấy tai nghe: “Không tin ông cứ đến TP. Rạch Giá, gặp bất cứ ai, từ anh xe ôm cũng đều đàm tiếu vanh vách!”.

Là người cầm bút, trước một sự việc tuy đang rất “bán tín bán nghi” – nhưng quả thực nó tác động mạnh đến dư luận xã hội, đến tâm trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân là điều có thật – đã thực sự làm tôi trăn trở. Và chính vì điều đó đã thôi thúc khiến tôi quyết định phải thực hiện một cuộc hành trình để kiếm tìm sự thật. Vào đầu tháng 12 năm 2012, nhân có chuyến vào TP. Hồ Chí Minh công tác tôi đã quyết định “phi” xuống Kiên Giang để đích thân “mục sở thị” xem hư thực ra sao.

Sự thật ra sao?

Cách đây hơn 20 năm tôi đã có dịp về Kiên Giang công tác – lúc đó tôi đang là phóng viên báo Quân đội Nhân dân (khi ấy Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đang là Chủ tịch tỉnh. Đồng chí Thiếu tá Quỳnh – Trợ lý Tuyên huấn Tỉnh đội – đã bố trí cho tôi phỏng vấn Chủ tịch tỉnh về công tác quân sự địa phương và việc thực hiện chính sách hậu phương quân đội. Và cũng suốt từ ấy đến nay tôi không có một cuộc tiếp kiến nào khác với ông).

Hơn 20 năm sau trở lại Kiên Giang, tôi thấy nơi đây đã thay đổi quá nhiều. Rạch Giá thời đó còn là thị xã, ngày nay đã trở thành thành phố. Ngày ấy Rạch Giá chỉ có bến xe ôtô, bến tàu biển; bây giờ đã có cả sân bay. Từ bến xe đi về các ngả, lúc đó phương tiện chủ yếu là xe lôi và Honda ôm. Bây giờ ở bến nào cũng thấy taxi nườm nượp. Bất giác tôi bỗng thấy nao nao nhớ về ký ức xe lôi thời ấy. Ngắm nhìn đường phố sạch đẹp và thoáng đãng, tôi cảm nhận rõ một quang cảnh thật thanh bình.

Cùng đi với tôi là anh bạn thân ở Sài Gòn nhưng rất thông thạo Rạch Giá – Kiên Giang. Chúng tôi tìm đến số nhà 1108 đường Nguyễn Trung Trực một cách chẳng khó khăn gì. Đường Nguyễn Trung Trực trước đây chỉ là một con đường nhỏ nằm trong lòng Rạch Giá; bây giờ trở thành con phố đường đôi huyết mạch rộng rãi, phong quang. Đứng trước cổng số nhà 1108, quan sát toàn cảnh khuôn viên tôi thấy lòng đầy nghi hoặc. Có phải cái “lâu đài” đang lan truyền gây xôn xao dư luận ấy chính là đây? Không lẽ tôi đã có một sự lầm lẫn nào khác?…

Nhưng hoàn toàn không phải như sự ngờ vực của tôi. Số nhà 1108 này chính là địa chỉ ngôi nhà của người em trai út và thân mẫu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hiện đang sinh sống ở Kiên Giang miền quê nơi ông sinh trưởng. Bước chân vào khuôn viên, đảo hết một vòng, mang thông tin loan truyền ra đối chiếu, tôi bỗng thấy sửng sốt…

 

Phần mộ thân phụ Thủ tướng tại nghĩa trang liệt sĩ Kiên Giang

 

 

Toàn bộ khuôn viên này theo con mắt ước tính của tôi chỉ cỡ năm sáu trăm mét vuông là “kịch đường tàu”, chứ không phải tọa lạc trên diện tích tới hơn 4.000 m2 như đồn thổi! Qua xác minh tôi được biết, vào khoảng những năm 1980, nơi đây vốn là một xưởng sản xuất nước mắm của tư nhân rất ô nhiễm. Con lộ khang trang nơi mặt tiền bây giờ, ngày ấy chỉ là một con đường xấu xí và nhỏ hẹp. Lúc bấy giờ, Thủ tướng ngày nay đang là Bí thư ở huyện Hà Tiên. Mẹ và em trai của Thủ tướng là Tư Thắng đã mua mảnh đất này với thời giá lúc đó “rẻ như bèo” và được cấp đầy đủ quyền sử dụng. Như thế là thông tin mảnh đất này là đất thu hồi từ đất ruộng của dân rồi qui hoạch… thật sự chỉ là sự thêu dệt!

Tiếp tục quan sát từ ngoài vào trong tôi thấy: Chiều dài mặt tiền của khuôn viên ước tính chỉ khoảng ba, bốn chục mét. Một bờ tường bao nơi mặt tiền cao trên dưới 3 mét, ốp vật liệu bình thường chứ không hề thấy một loại vật liệu quý nào. Phía ngoài tường bao là một rặng cau cao vút. Toàn bộ khuôn viên được chia dọc làm hai phần, từ đường nhìn vào thì bên tay trái là nhà ở, và bên phải là nhà thờ. Lối chính vào nhà là một cái cổng quá đơn sơ, lợp ngói thô. Một mảnh sân nho nhỏ ước chừng vài chục mét vuông không thấy có kiến trúc gì tạo dựng hay trang trí cảnh quan mang tính mĩ thuật. Căn nhà ở của gia đình được xây một trệt, một lầu, hết sức bình dị như trăm ngàn ngôi nhà khác trên khắp phố phường Việt Nam. Hoàn toàn không có một chút kiến trúc hay vật liệu gì quí giá theo hình mẫu, phong cách và dáng dấp của các loại biệt thự đương thời. Bước chân vào phòng khách tại tầng trệt, đi qua phòng của mẫu thân Thủ tướng rồi xuống nhà bếp của gia đình tôi thấy thật sự ngỡ ngàng. Phòng khách chỉ rộng chừng ba chục mét vuông, chỉ có một bộ sa-lông gỗ rất mộc mạc. Tôi đã từng đến nhiều phòng khách đẹp lộng lẫy của không ít anh em bè bạn. Trước khi bước vào phòng khách này tôi cũng mường tượng như vậy. Nhưng quả là nhầm to! Phòng khách đơn sơ tới mức vượt xa trí tưởng tượng của tôi. Thân mẫu của Thủ tướng năm nay đã 87 tuổi hiện đang sống trong căn nhà này. Tôi không thể ngờ rằng căn phòng đang sinh sống của thân mẫu Thủ tướng lại đơn sơ, mộc mạc và bình dị đến mức thật khó tin!

Kề bên căn nhà ở là nhà thờ của gia đình nằm chung trong một khuôn viên, có cổng riêng. Quan sát toàn cảnh nhà thờ tôi thấy: Đó là một ngôi nhà gồm 3 gian, 3 tầng mái truyền thống, tọa lạc cuối khuôn viên, được xây dựng trên cốt nền cao, gồm 9 bậc thềm, đá lát là loại đá xanh bình thường. Tôi sải bước đo chiều dài áng chừng chỉ 10m, chiều ngang sâu khoảng 5m. Nhẩm tính tổng diện tích ngôi nhà thờ chỉ vào khoảng 50m2. 3 gian trong nhà thờ, mỗi gian được đặt một ban thờ. Ban chính giữa là ban thờ gia tiên, trên cùng là thờ ảnh Bác, tiếp phía dưới là di ảnh phụ thân rồi đến di ảnh người chị của Thủ tướng. Thân phụ của Thủ tướng là ông Nguyễn Tấn Thử (tức Mười Minh), chính trị viên Tỉnh đội Kiên Giang, hi sinh trong một trận Mỹ ném bom B52 vào ngày 16/4/1969.

Ban thờ phía bên phải là Ban thờ Má chiến sĩ – tức Má Tư cùng 3 chiến sĩ cũng hi sinh trong trận bom ngày 16/4/1969 với ông Nguyễn Tấn Thử. Ban thờ phía bên trái là Ban thờ ông Phan Thái Quí (tức Chín Quí), Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Kiên Giang – đồng đội của thân phụ Thủ tướng – cũng hi sinh trong trận bom ngày 16/4/1969. Quan sát kĩ thêm tôi thấy: Ban chính phía trên nóc có một chùm đèn và dưới là một chiếc sập gỗ cũng quá đơn sơ mộc mạc. Hai bên phía hồi nhà thờ ngay lối cửa ra vào là 2 lọ lục bình lớn nom y hệt bằng đồng nhưng kỳ thực chỉ là 2 bình đất nung, sản vật của Vĩnh Long. Toàn bộ hệ thống cửa chính hoàn toàn là gỗ mộc, đã hư hỏng, xuống cấp. Quan sát hết lượt từ ngoài vào trong, từ trong ra ngoài tôi chẳng thấy có một vật dụng gì được cho là quí giá! Còn ở ngoài khuôn viên phía trước nhà thờ chỉ thấy toàn là cây cau, xoài, mít và vài cây đại nhỏ, không hề có một cây cảnh đắt tiền hay quí hiếm nào cả. Qua kiểm chứng, ngôi nhà thờ này được anh em trong gia đình Thủ tướng xây dựng vào khoảng năm 2000.

Như vậy là đích thân tôi đã “tai nghe, mắt thấy, tay sờ” và hoàn toàn không hề thấy có “lâu đài xa hoa” nào như dư luận loan truyền, đồn thổi! Đến đây thì bạn đọc đã hiểu đầy đủ rằng câu chuyện về “Nhà thờ Họ của Thủ tướng” tất cả chỉ là sự thêu dệt mà thôi! Và từ sự thêu dệt ấy đã được thổi phồng thành sự thật! Sau khi đã tìm hiểu rõ ngọn ngành, tôi thầm nghĩ, sự thật hiển nhiên đến như thế mà được tạo dựng thành chuyện “như có thật” thì có lẽ những thông tin thị phi khác về Thủ tướng và gia đình bấy lâu loan truyền trong công luận chỉ là xuyên tạc! Trong khoảng thời gian ở Kiên Giang tôi cũng đã đến thăm và thắp hương ở Đình thờ vị Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực. Đến đây tôi mới sáng tỏ rằng việc đồn thổi “nhà thờ họ” của Thủ tướng “nguy nga gấp nhiều lần đình thờ vị Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực” sự thật chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng và hư cấu! Tôi được biết, mới rồi nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã vào tận đây và cũng đã phải thốt lên rằng “Hóa ra tất cả chỉ là sự thêu dệt!”.

Sự thật nói lên điều gì?

Sau khi đã thực hiện xong cuộc thị sát tường tận, tôi rời Rạch Giá về Sài Gòn trên một chuyến xe khách tốc hành. Định bụng lên xe là “đánh” một giấc nhưng tiếc thay vớ phải chiếc vé nằm tầng 2, lại ở phía cuối xe nên cứ bị lay lắc như đánh võng. Suốt 6 tiếng đồng hồ trong cuộc hành trình không hề chợp mắt, tâm trí tôi cứ miên man suy nghĩ…

 

Bia thờ liệt sĩ tại khuôn viên nhà thờ

 

 

Trước khi thực hiện cuộc hành trình tìm kiếm sự thật, một anh bạn rất thân đã gay gắt phê phán tôi rằng: “Bao nhiêu việc lớn sao không quan tâm vào cuộc, hà cớ gì mà phải mất thời giờ cho một việc nhỏ nhoi như thế!” Nhưng lương tâm chức nghiệp đã mách bảo tôi rằng: “Việc tuy nhỏ nhưng nếu không minh bạch ắt đủ khiến lòng người ly tán!

Họa lớn âu cũng khởi nguồn từ những đốm lửa nhỏ! Bởi vậy, sự việc dẫu nhỏ hay lớn cũng đều cần tới sự quang minh!” Nói tới chuyện nhà thờ – thờ tự – tức là nói tới việc tâm linh. Phàm đã là việc tâm linh thì không thể nói không thành có hoặc nói có thành không được. Câu chuyện về “nhà thờ họ” của Thủ tướng đang được công luận loan truyền đã thực sự gây hoài nghi, bức xúc trong dư luận, vì thế rất cần được kiểm chứng, phân minh.

Tôi đã được trực tiếp chứng kiến sự thật! Và sự thật ấy đã khiến tôi phải ngỡ ngàng bởi nó hoàn toàn trái ngược với những thông tin được loan truyền trong đời sống dư luận suốt bấy lâu nay. Sự thật ấy đã nói lên điều gì và đã tác động ra sao trong đời sống xã hội? Không còn nghi ngờ gì nữa, xuất phát từ những thông tin xấu độc được bịa đặt, từ đồn đại đã được thêu dệt và thổi phồng tạo thành một “sự thật giả dối”! Trong mỗi chúng ta ai cũng đều nhận diện được chân lý nhưng không phải tất cả đều tỉnh táo. Cái “sự thật giả dối” ấy đã thực sự gây xúc động trong tâm lý xã hội, tạo sự hoài nghi trong công chúng, gieo rắc sự bất an trong đời sống… Hơn thế nữa, cái “sự thật giả dối” ấy đã bóp méo hình ảnh của người đứng đầu Chính phủ, gây nghi kỵ, phân hóa, chia rẽ, mất đoàn kết trong nội bộ Đảng và khiến lòng tin của nhân dân bị hao tổn. Nguy hiểm hơn nữa đó là, từ sự giảm sút niềm tin vào người lãnh đạo đất nước tới việc đánh mất niềm tin vào chế độ, ranh giới chỉ là “trong gang tấc”. Và càng trở nên nguy hiểm bởi trong khi đất nước đang cần trên dưới một lòng thì lại “mắc ngay vào bẫy” của các thế lực thù địch một cách vô cùng ấu trĩ…

Tôi vừa đọc một bài báo mới đây của nhà báo lão thành Hữu Thọ. Ông viết rằng: “Chiến đấu cho thông tin sự thật và nhanh chóng công bố thông tin là cuộc chiến đấu sinh tử trong cuộc cạnh tranh thông tin ngày càng gay gắt hiện nay. Thông tin sai là thua mà thông tin chậm, cũng là thua!”. Và “…Không chỉ nói sự thật mà phải tới sự “chân thật” – tức là sự thật phải được phản ánh “đúng hiện thực khách quan” – chân thật tức là bản chất của sự thật! Ông kết luận: “Thông tin sai sự thật có nhiều loại, có số ít do bịa đặt, thêm bớt là sai phạm nặng nề nhất về mặt đạo đức của người làm báo… Có trường hợp thông tin “sai sự thật” do suy diễn chủ quan dẫn đến sự thật bị thổi phồng, bóp méo cũng không còn là sự thật như nó vốn có, gây hiểu lầm tai hại trong xã hội” (theo Tạp chí Tuyên giáo số tháng 12/2012)…

Trước lúc trở về TP. Hồ Chí Minh tôi đã đến thắp nhang ở nghĩa trang liệt sĩ Kiên Giang. Mộ các liệt sĩ hàng hàng, lớp lớp quần tụ uy nghi. Người quản trang đã đưa tôi đến thắp hương trên mộ phần của thân phụ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Mộ của thân phụ Thủ tướng nằm đây, hết sức khiêm nhường hòa lẫn cùng hàng cùng lối với các liệt sĩ đang an giấc ngàn thu. Người quản trang kể với tôi rằng: Đã không ít lần lãnh đạo các khóa của tỉnh Kiên Giang có nguyện vọng muốn di dời mộ phần của thân phụ Thủ tướng vào khu an táng các quan chức lãnh đạo được qui hoạch ở một khu riêng gần đó, trước hết là để tỏ lòng thành kính; sau nữa là được khang trang hơn. Song cứ mỗi lần nhắc đến, Thủ tướng đều nhất quyết một mực rằng: “Bố tôi sống, chiến đấu cùng đồng đội, nay hãy cứ để yên cho ông được an nghỉ bên đồng đội của ông!”.

Giây phút đứng đây – tại nghĩa trang liệt sĩ này – tôi chợt nhớ tới lời hứa của Thủ tướng trên diễn đàn Quốc hội mới rồi: “… Chính phủ, Thủ tướng và từng thành viên sẽ nghiêm túc với mình, đoàn kết, hết lòng làm việc… tất cả vì Tổ quốc, nhân dân, vì Đảng, chế độ, vì sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước…”. Điều đó đã gieo vào tôi một niềm tin vững chãi, cũng như sự kỳ vọng của các tầng lớp nhân dân rằng: Sứ mệnh của Thủ tướng không có gì cao cả hơn ngoài việc một lòng một dạ phụng sự dân tộc và dốc lòng dốc sức tận tụy vì sự bình an của xã tắc sơn hà – tức chế độ này!

Theo Nhà báo và Công luận
http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/103097/di-tim-su-that-ve-nha-tho-cua-gia-dinh-thu-tuong.html

Nhân kỷ niệm ngày Nhân Quyền Quốc tế 10-12- 2012. Những tổ chức phi chính phủ liền bắt nhịp theo kiểu “theo đóm ăn tàn”như Ủy Ban Bảo vệ các Ký Giả (Committee to Protect Journalists – CPJ) có trụ sở tại New York (Hoa Kỳ). Tổ chức này cùng dàn “hòa tấu” với các mõ làng như VOA, BBC, RFA,RFI , cùng với các tổ chức của cái gọi là bảo vệ quyền làm người Việt Nam (vietnam commitee on human rights), liên đoàn quốc tế nhân quyền(FIDH, International Federation for human Rights), Tổ chức quan sát nhằm bảo vệ người đấu tranh cho nhân quyền ( The obsevatory for the protection of human rights defenders)…không có thiện cảm với Việt Nam trong suốt thời gian qua đã công bố cái gọi là “phúc trình” về tình hình tự do báo chí và tình trạng đàn áp ký giả diễn ra khắp nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Hơn thế, CPJ còn đưa ra nhiều luận điệu xuyên tạc về tình hình báo chí, đặc biệt là hoạt động internet, blog ở Việt Nam. xếp hạng Việt Nam nằm trên danh sách các nước đàn áp mạnh bạo nhất các nhà báo và bloggers độc lập.

 CPJ - Công cụ xuyên tạc Việt Nam của Mỹ
Ngày 14-12-2012 “Mõ làng” VOA việt ngữ có cuộc phỏng vấn với ông Shawn Crispin, Đại diện cấp cao của CPJ ở Đông Nam Á. Ông này là tác giả của “phúc trình” nghiên cứu tình hình tự do báo chí ở Việt Nam.Theo CPJ, đa số các nhà báo tại Việt Nam bị bỏ tù vì tội danh chống nhà nước liên quan tới các bài viết về các vấn đề chính trị “nhạy cảm” như quan hệ Việt-Trung và cách chính quyền hành xử với cộng đồng Công giáo ?
Trong bản “phúc trình” , CPJ xếp Việt Nam hạng thứ 6 trên danh sách của CPJ, liệt kê 10 nước bỏ tù nhiều nhà báo nhất thế giới nhóm các nước mà họ gọi là “tấn công, đàn áp báo giới”. Tổ chức này cho rằng, cơ sở của nhận định đó là trong năm qua, Việt Nam đã “đàn áp nhiều ký giả, những người viết nhật ký trên mạng (tức blogger)”, “vô cơ bắt giam một số phóng viên” ? rằng, “Việt Nam ngăn chặn mọi trang web và những tài liệu trên mạng” .Trong danh sách các nước bỏ tù nhiều ký giả nhất trên thế giới, Việt Nam hiện đứng thứ sáu, với 14 nhà báo đang bị giam cầm trong đó có 13 người là báo mạng ?.
Theo ý kiến của tôi đây là những đánh giá hoàn toàn mang tính chủ quan, định kiến về tình hình báo chí cũng như hoạt động của các nhà báo Việt Nam . Như chúng ta biết cùng với nghĩa vụ khi tham gia ký kết các công ước quốc tế, mỗi quốc gia, dù theo hệ thống luật lục địa hay luật án lệ đều có các quy định về hành nghề báo chí, hoặc dưới dạng đạo luật của quốc gia hoặc các quy chế hoạt động do tổ chức nghề nghiệp đưa ra. Những quy định này luôn phản ánh các giá trị văn hóa, xã hội và chính trị của quốc gia đó.
Hầu hết các quốc gia thể chế hoá quyền tự do thông tin và đưa thông tin trong những văn bản mang tính chất pháp lý cao nhất (hiến pháp) và văn bản luật thành văn trong đó có Việt Nam. Một số quốc gia đưa các chế định về bảo vệ nhà báo, nghề báo vào trong Bộ luật hình sự. Luật báo chí của Việt Nam cũng khẳng định quyền của nhà báo được thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới, phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân, đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật, các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, và được pháp luật bảo hộ trong hoạt động nghề nghiệp. Quyết định này được ban hành theo quy định của pháp luật về báo chí Việt Nam và thực tế phát triển thông tin hiện nay Chính phủ Việt Nam ban hành quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí, hay như việc Nhà nước Việt Nam quản lý báo chí bằng Luật, hoàn toàn không phải là sự cản trở quyền tự do báo chí của người dân, cũng như hoạt động báo chí của các nhà báo. Báo chí và hoạt động báo chí ở Việt Nam luôn luôn vì sự phát triển của đất nước và cuộc sống ngày càng đầy đủ hơn cả về vật chất và tinh thần. Không hiểu các vị ở CPJ có biết được hay cố tình “lãng quên” những con số thống kê sau ở Việt Nam với hơn 550 cơ quan báo chí, với hơn 700 ấn phẩm báo chí với các loại hình, từ báo viết, báo nói, báo hình đến Internet, hiện nay, mỗi người dân được thụ hưởng tới 7,5 tờ báo. Với sự phát triển nhanh chóng trong nhu cầu được thông tin mà không gặp bất cứ một sự trở ngại nào. Đó chính là biểu hiện sinh động của tự do báo chí ở Việt Nam, thể hiện quyền tự do ngôn luận của mỗi người dân.
Việc CPJ và một số phương tiện truyền thông kiểu “mõ làng” phương Tây đã cố tình thêu dệt bức tranh “u ám” về báo chí ở Việt Nam, một lần nữa thể hiện sự thiếu thiện chí và định kiến của họ về tình hình phát triển của báo chí Việt Nam. Nền báo chí cách mạng Việt Nam hoạt động vì sự phát triển và phồn vinh của đất nước, Luật Báo chí Việt Nam khẳng định, báo chí không chỉ phản ánh trung thực tình hình phát triển của đất nước, thế giới, mà còn là diễn đàn tin cậy của người dân. Trong khi đó, với môi trường bùng nổ thông tin như hiện nay, không phải tất cả mọi nguồn thông tin về những sự kiện quan trọng của xã hội đều chính xác. Hơn thế nữa còn có cả những thông tin sai lệch, trái với bản chất của sự việc, do trình độ của người của nhà báo, thậm chí vì cả những toan tính chính trị không trong sáng. Mới đây TAND thành phố Hồ Chí Minh xét xử các bị cáo là blogger Nguyễn văn Hải (còn gọi là điếu cày), Tạ phong Tần, Phan thanh Hải (anh ba saigon) với tội danh “tuyên tryền chống nhà nước CHXHCNVN theo khoản 2 điều 88, BLHS. Theo cáo trạng chỉ trong thời gian từ tháng 9-2007 đến tháng 10-2010 đã có 421 bài đăng tải trên cái gọi là CLB nhà báo tự do này, trong đó có 327 bài lấy từ các blog, trang Web của các tổ chức CCCĐ ở hải ngoại, có 26 bài chứa nội dung kích động lật đổ chế độ Việc viết bài trên các blog, mạng xã hội có nội dung xuyên tạc vu cáo, chống chính quyền là vi phạm luật pháp việt Nam. ngay tại mỹ nơi được mệnh danh là “thiên đường tự do” thì luật pháp của các tiểu bang quy định rất rõ về vấn đề này và đã không ít người đã bị bắt và xử lý. Vậy thì các ngài ở CPJ nói “đàn áp” blogger ở điểm nào ? Xin thưa với các vị CPJ rằng : Ở Việt Nam, số người dùng mạng xã hội đang tăng lên nhanh chóng. Theo một thống kê mới nhất, trong số đối tượng 18 tuổi trở lên có tài khoản mạng xã hội thì: 43% dân số có một tài khoản, 25% có hai tài khoản, 13% có bốn tài khoản trở lên. Theo số liệu từ DoubleClick Ad Planner(1), trong tháng 1-2012, lượng người dùng Internet tại Việt Nam là 23 triệu (chiếm26% dân số Việt Nam)và lượt xem là 18,4 tỉ. Về mạng xã hội tại Việt Nam, Zing Me (me.zing.vn) có lượng người dùng cao nhất (8,2 triệu), thời gian truy cập nhiều nhất (1 tỉ phút) và lượt xem 540 triệu. Đứng thứ hai là Facebook.com với 5,6 triệu người dùng, thứ ba là yume.vn (2,2 triệu người dùng), thứ tư là tamtay.vn (1 triệu người dùng). Theo Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử (Bộ Thông tin và Truyền thông), công cụ tìm kiếm và mạng xã hội là hai dịch vụ được hàng chục triệu người dùng internet sử dụng rộng rãi nhất (100% sử dụng tìm kiếm, 80% sử dụng mạng xã hội). Tính đến tháng 3 năm 2012, trong lĩnh vực thông tin điện tử, Việt nam có 61 báo, tạp chí điện tử, 191 mạng xã hội, hơn 1.000 trang thông tin điện tử tổng hợp. Sự tương tác giữa các loại hình thông tin này đang diễn ra vô cùng sôi động. Ở Việt Nam hay nhiều quốc gia khác trên thế giới việc thông tin trên Internet đều phải tuân thủ những quy định, nguyên tắc cụ thể, các thông tin đăng tải phải bảo đảm tính khách quan, chính xác. Các thông tin xuyên tạc, bịa đặt, thóa mạ cá nhân, tổ chức tất nhiên đều là phạm pháp và đương nhiên người vi phạm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Các vị lãnh đạo CPJ có biết rằng: Mặc dù Hoa Kỳ không có một bộ thông tin mà lại để các hệ thống truyền thông và truyền hình tư chủ động làm công việc trên căn bản tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, theo mức độ tự kiểm và lương tâm nghề nghiệp. Người làm báo, truyền thông và truyền hình tại Hoa Kỳ và các nước tự do trên thế giới khi có nhiều quyền hành và thế lợi thì cũng có nhiều trách nhiệm và bổn phận, nhất là về mặt thủ tục nghề nghiệp trọng hiến pháp, trọng pháp luật và về mặt luân lý xã hội, tôn trọng công lý, lẽ phải và lý tưởng nhân đạo. Do đó, thế lực của báo chí truyền thông còn phải tương xứng với sứ mạng đăng tải tin tức xác thực, thông tri kiến thức, và phổ biến những điều cần biết để người dân tìm hiểu và chọn lựa thái độ liên hệ với thời cuộc. Nhờ vậy, báo chí truyền thông có bề thế gây ảnh hưởng sâu sắc trên dư luận quần chúng . Ngay tại Hoa Kỳ báo chí phải tuân theo hiến pháp và luật pháp hiện hành quy định tự do tin tức (Freedom of Information Act) để thi hành nghiệp vụ phóng sự, điều tra và phổ biến sự thật 

Báo chí khi loan tin tức thất thiệt với dụng ý khai thác, trục lợi, sẽ mất quyền tự do ngôn luận (unprotected speech) và sẽ bị chế tài. Thật vậy, toà soạn, phóng viên, và người đăng tin thất thiệt có thể bị liên đới về mặt trách nhiệm dân sự, nếu họ chủ tâm đăng tải hoặc tái đăng những tin tức có tính cách mạ lỵ, phỉ báng, sai sự thật. Vì thế nhà báo phải thận trọng kiểm soát bài vở đăng tải, phải kiểm chứng tài liệu và nguổn gốc tin tức sử dụng.
Truy cập Internet với vô số thông tin nó có thể là những thông tin hay, chính xác, thông tin có giá trị nhưng cũng có thể là tin rác, hoặc chỉ là những thông tin thất thiệt, thiếu sự kiểm chứng. Không loại trừ, trong số đó có cả bàn tay của những thế lực chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc của nhân dân Việt Nam.Như vậy,báo chí truyền thông được xác định bởi sứ mạng gìn giữ truyền thống dân chủ hiến định, đồng thời bởi nghiệp vụ tôn trọng sự thật và phục vụ giá trị nhân bản của người dân, của độc giả. Nếu không tôn trọng giá trị hiến pháp, nếu không bênh vực mẫu mực dân chủ và lý tưởng nhân đạo, báo chí sẽ đi ngược lại với công lý và lẽ phải, sẽ lầm lẫn và gây ảnh hưởng rối loạn nơi quần chúng.Trên thực tế, bên cạnh một số trang mạng xã hội được cấp phép ở Việt Nam, một số thế lực thù địch lợi dụng internet đã dùng thủ đoạn xây dựng các trang web, đặt máy chủ ở nước ngoài, đăng tải các thông tin, luận điệu phản động, sai trái, kích động, trái thuần phong mỹ tục… nhằm chống phá Nhà nước Việt Nam. Những thế lực này, với tư cách thành viên của các trang mạng xã hội, đưa lên mạng những lời lẽ bình luận không khách quan hoặc thông tin sai sự thật, thậm chí bịa đặt, nhằm gây nhiễu loạn thông tin, bôi nhọ hình ảnh, nói xấu chế độ.
CPJ đưa ra quan điểm rằng những việc làm của các bị cáo trên là “bất bạo động”, là “bàn luận tự do” trong một xã hội dân chủ. Xin nói cho các vị biết rằng, qua tài liệu có được của cơ quan điều tra thu thập thì những phần tử này đã có hành vi xâm phạm an ninh quốc gia. Hành động có tổ chức chặt chẽ, có sự phân công nhiệm vụ cụ thể, có sự cấu kết, móc nối với các tổ chức phản động người Việt Nam lưu vong chống cộng cực đoan nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Họ tàng trữ, tán phát nhiều tài liệu có nội dung xuyên tạc, chống Nhà nước Việt Nam rồi đưa lên mạng nhằm kích động, gây nghi ngờ, làm mất lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của nhà nước. Ngay tại Hoa Kỳ báo chí được mệnh danh là đệ tứ quyền ( chỉ đứng sau lập pháp, hành pháp, tư pháp) phải luôn luôn là của dân, bởi dân, vì dân (Of the People, By the People, For the People). Nhưng dù hoạt động ở bất cứ dạng nào, bất cứ ở đâu, do bất cứ lực lượng nào đảm trách thi hành, đệ tứ quyền nếu muốn giữ đúng sứ mạng và khả năng tồn tại vẫn phải tôn trọng những tiêu chuẩn căn bản về tự do ngôn luận, phẩm giá nhân bản, công lý và nhân ái. Bởi vậy để hạn chế những thông tin tiêu cực, xấu, ở Việt Nam và ngay cả nhiều quốc gia khác, cũng phải có những biện pháp để ngăn chặn. Điều này thể hiện trách nhiệm của nhà nước đối với việc bảo vệ chế độ, bảo vệ những giá trị văn hóa, truyền thống của dân tộc. Có những phóng viên đã đưa những thông tin sai sự thật và có những hành vi vi phạm pháp luật và vi phạm Luật báo chí. Những phóng viên này, vì thế, phải chịu những hình phạt của luật pháp . Đó là thể hiện tính nghiêm minh của Nhà nước pháp quyền và sự quản lý báo chí bằng pháp luật ở Việt Nam, không phải là cản trở những hoạt động báo chí của các nhà báo.Thông tin của báo chí không chỉ tác động đến một, hai người mà cả triệu người. Những thông tin thiếu trung thực, kiểu giật gân, thiên lệch, thiếu tính xây dựng… gây ảnh hưởng rất lớn đến xã hội.Người làm báo phải xác định trách nhiệm xã hội, trách nhiệm công dân của mình. Mọi quy định, quy ước chỉ nhằm việc tôn trọng pháp luật. Vì thế, trước hết các nhà báo hãy thực hiện đúng, đầy đủ những quy định pháp luật về hoạt động báo chí. Việc CPJ coi những biện pháp chính đáng và cần thiết đó là sự tấn công, đàn áp bỏ tù các nhà báo, blogger là hoàn toàn sai trái không mang tính thuyết phục. Vì thế, chúng ta có quyền nhận định rằng, CPJ đã đi ngược lại với tiêu chí của mình, là “khách quan, tôn trọng sự thật” vì sự phát triển của báo chí của Việt Nam và các nước trên thế giới.
Hoa Kỳ 16-12-2012

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: ‘Mãi mãi là sao sáng dẫn đường’

LTS: Chủ tịch nước Trương Tấn Sang có bài viết nhân kỷ niệm 68 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 / 22-12-2012), Tiền Phong Online xin giới thiệu toàn văn bài viết này.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trong buổi làm việc với Bộ Quốc phòng ngày 14-3-2012
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trong buổi làm việc với Bộ Quốc phòng ngày 14-3-2012. Ảnh: Cổng TTĐT Bộ Quốc phòng

TRƯƠNG TẤN SANG (*)

Kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, tôi muốn tiếp tục nói lên những suy nghĩ của mình về tình hình đất nước hiện nay liên quan đến hai nhiệm vụ chiến lược, là bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.

Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập ngày 22-12-1944. Đó là ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, đội quân chủ lực đầu tiên, theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, dựa vào sức mạnh của nhân dân và nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam, sự đoàn kết, giúp đỡ của nhân dân và quân đội các nước anh em, vừa chiến đấu vừa xây dựng, Quân đội nhân dân Việt Nam đã phát triển từ nhỏ đến lớn, càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng lớn và trưởng thành vượt bậc. Sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam thể hiện trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược bắt nguồn từ truyền thống yêu nước được hun đúc qua mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, sự thống nhất về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, tình đoàn kết quân dân, đoàn kết nhất trí giữa cán bộ và chiến sĩ, mưu trí dũng cảm trong chiến đấu, năng động, sáng tạo trong sử dụng vũ khí, trang bị kỹ thuật phù hợp với nghệ thuật quân sự Việt Nam, chiến trường Việt Nam.

Kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, bên cạnh niềm tự hào về một quân đội bách chiến bách thắng, còn là dịp để chúng ta nhận thức một cách đầy đủ, sâu sắc hơn tất cả những gì mà quân đội của chúng ta đã từng và đã trải, đã chiến đấu, hy sinh, để trưởng thành lớn mạnh, để thắng lợi vẻ vang; là dịp để chúng ta tôn vinh tất cả những thế hệ đã hiến dâng cuộc đời mình cho vinh quang của dân tộc, cho độc lập, tự do của đất nước; là dịp chúng ta tưởng nhớ những người đã mất và cố gắng làm tròn trách nhiệm của những người còn sống, đang sống…

Ngày 22-12 sẽ mãi mãi là một Ngày Anh Hùng!

Nhưng ý nghĩa của ngày này chỉ trở nên thật đầy đủ khi chúng ta phát huy thật tốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng đất nước hôm nay.

Mấy vấn đề thực tế

Quý vị độc giả hãy miễn thứ, và nếu có thể, hãy chia sẻ với tôi nếu như đôi chỗ trong bài viết này không đi theo khuôn mẫu thường thấy. Sự dè dặt, thận trọng quá mức và khuôn mẫu thường đem đến cảm giác an toàn cho người phát biểu, nhưng trong nhiều trường hợp, nó thật sự chưa thể lột tả được bản chất của vấn đề.

Có thể thấy được nguyện vọng thiết tha của mọi đảng viên và công dân trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, trên đất liền, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc, trong xây dựng Đảng, củng cố Nhà nước, xây dựng đất nước, trong việc không ngừng nâng cao đời sống nhân dân. Đó luôn là nguyện vọng, là quyền đòi hỏi chân chính và cấp bách. Đòi hỏi ấy đang đứng trước những thách thức to lớn.

Tôi muốn trước hết đề cập đến vấn đề kinh tế và tư tưởng. Kinh tế có mạnh, tư tưởng có vững, cả dân tộc có đoàn kết thống nhất, thì Quân đội mới có khả năng để trở thành một quân đội vô địch. Không có một quân đội mạnh trên nền tảng một xã hội chia rẽ, mất tinh thần, không sẵn sàng chiến đấu, đất nước thiếu sinh lực. Sức mạnh của quân đội, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc phải trên cơ sở sức mạnh của quốc gia. Đó là sức mạnh tổng hợp của cả chính trị, kinh tế, tư tưởng; của quân đội và nhân dân; tiền tuyến và hậu phương; đối nội và đối ngoại… Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng dân giàu, nước mạnh và đặc biệt là đoàn kết toàn dân tộc thì kẻ thù nào cũng sẽ không dám xâm lược nước ta, nếu có, chúng chỉ chuốc lấy thất bại mà thôi.

Về kinh tế, sau nhiều năm đất nước phát triển đầy hưng phấn, nay do nhiều nguyên nhân, cả bên trong và bên ngoài, đang lâm vào tình trạng suy giảm. Nguyên nhân bên trong có nhiều nhưng trong đó phải kể đến khuyết điểm của lãnh đạo và quản lý… Gần đây, báo chí và dư luận hằng ngày đề cập đến những “nhóm lợi ích”, đâu đó có hành vi thâu tóm quyền lực kinh tế làm cho lòng dân không yên, các định chế tài chính hoạt động bộc lộ yếu kém, nợ công cao, đầu tư dàn trải và tệ tham nhũng, lãng phí gây thiệt hại nghiêm trọng các nguồn lực quốc gia; lạm phát ở mức cao; thu nhập thực tế và đời sống của người dân khó khăn hơn; cùng với các tai, tệ nạn xã hội có dịp bùng phát; lối sống ích kỷ, suy đồi, vô cảm, vô trách nhiệm hiện diện ở nhiều lĩnh vực của cuộc sống… Tất cả những thực tế đó làm suy giảm lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Về tư tưởng, chưa bao giờ như trong vòng một năm qua, xuất hiện rất nhiều dư luận, trong đó có những tư tưởng và dư luận nguy hiểm, gây chia rẽ trong Đảng, giữa Đảng với nhân dân; cá biệt có người đòi “phi chính trị hóa quân đội”. Thử hỏi trên thế giới này có ở đâu và bất cứ việc gì lại ít nhiều không mang tính chính trị? Họ khoét sâu những yếu kém trong lãnh đạo, quản lý đất nước hoặc những khuyết điểm, sai phạm của một số cán bộ để gây phân tâm trong dư luận xã hội và ở chừng mực nào đó, họ đã đạt được những “kết quả” nhất định, làm cho xã hội trở nên bất ổn hơn.

Không thể không đề cập đến một mối lo ngại trong xã hội về khả năng xảy ra xung đột trong khu vực, liên quan đến Việt Nam; lo ngại về khả năng ứng phó của Đảng, Nhà nước, Quân đội ta trong tình hình thế giới rất khó lường hiện nay. Đã có nhiều cuộc đối thoại trong, ngoài nước và nhiều bài viết trên báo chí về chủ đề này. Một số hãng tin nước ngoài đã dùng chủ đề này như một phương tiện hữu hiệu để chuyển sự chú ý của dư luận theo hướng phục vụ cho ý đồ của họ. Có những trang mạng xã hội còn gây nghi ngờ trong nhân dân về chủ trương đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, thậm chí họ còn vu cáo, xuyên tạc rằng Đảng ta “bán rẻ đất nước”. Những luận điệu kiểu đó rất nguy hiểm, cần phải cảnh giác, bởi nếu không, nó sẽ gieo những mầm mống độc hại, cùng với những áp lực xuất phát từ những khó khăn trước mắt về kinh tế và tư tưởng, làm cho đất nước ta càng thêm khó khăn.

Sự hình thành và phát triển của Đảng đã chứng minh, Đảng ta không ngại phê bình. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, có loại phê bình xây dựng và có loại phê bình không phải là xây dựng, thậm chí là phá hoại. Không phải ai và lúc nào cũng phân biệt được sự phê bình xây dựng với sự phê bình phá hoại, và trong những lúc trắng đen chưa rõ ràng, thì dư luận dễ bị lạc hướng; những thiện chí bị lợi dụng bởi những tư tưởng có hại, đầu độc bầu không khí chính trị của đất nước. Nếu chúng ta không ý thức đúng mức những lo lắng của cộng đồng và bị những tư tưởng độc hại chi phối, sẽ bị dao động về ý chí, thậm chí bất mãn, ngả theo kẻ xấu, trở thành công cụ cho bất kỳ kẻ nào thừa cơ hội đứng lên khoác áo “nghĩa hiệp” và đưa đất nước đi đến chỗ hỗn loạn.

Tình trạng suy giảm kinh tế và sự suy thoái về tư tưởng chính trị nếu không được sớm chặn đứng, sẽ đặt tương lai của đất nước ta trước thử thách khốc liệt. Đúng như nhận định của Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) là những nguy cơ đó liên quan đến sự “tồn vong” của chế độ, đồng thời nó cũng đe dọa trực tiếp đến sự thành công của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chúng ta phải làm gì?

Trước hết, với tư cách là người có trọng trách trong Đảng và là người đứng đầu Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, tôi xin khẳng định rằng: Đảng, Nhà nước ta không bao giờ bán nước cho các thế lực bên ngoài như những kẻ xấu vu cáo.

Dù còn những khuyết điểm, yếu kém, nhưng Đảng và Nhà nước ta không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân.

Hành động bán nước hay những việc làm tương tự sẽ chịu sự nguyền rủa, oán hận của các thế hệ sau này, cũng như chúng ta đã từng phê phán nghiêm khắc những nhân vật và những chế độ như thế trong lịch sử.

Non sông đất nước ta, khắp nơi, những cảnh, những người, những phong tục tập quán, đâu đâu cũng đẹp và lòng chúng ta đau đớn khi nghĩ đến những nét đẹp ấy có thể bị vùi dập hay thậm chí bị lãng quên. Chúng ta không thể để cho viễn cảnh đen tối đó trở thành hiện thực.

Chúng ta có lúc tự ti hay bi quan về một số việc chúng ta làm chưa được bằng người, nhưng chúng ta cũng hiểu rằng, để phát triển và hoàn thiện không chỉ cần có thời gian, mà cần cả mồ hôi, nước mắt, kể cả máu. Không thể ngồi đó, so sánh và chẳng làm gì để xây dựng, thậm chí lại chửi bới – thái độ đó làm hạ thấp giá trị của mỗi một chúng ta và làm suy yếu hơn nữa khả năng phát triển đất nước. Không có hành động nào làm tàn hại đất nước nhanh hơn sự kích động, gây chia rẽ dân tộc; bởi trong một hoàn cảnh vô tổ chức, không một công việc gì của tập thể có thể thực hiện được, huống hồ là những mục tiêu to lớn, cao đẹp, mà để thực hiện, đòi hỏi phải có sự nỗ lực lớn lao của cả cộng đồng dân tộc.

Thái độ cần thiết hiện nay, dù có khác biệt nào chăng nữa, thì tất cả các giai tầng xã hội, các tầng lớp nhân dân cần hành động với một động cơ duy nhất, đó là vì lợi ích của dân tộc, vì sự ổn định chính trị, vì sự bình yên của xã hội để làm ăn và phát triển kinh tế, cần đẩy mạnh hơn nữa quá trình đại đoàn kết, hòa giải và hòa hợp dân tộc. Mọi hành động phá hoại mục đích đó hoặc khoét sâu thêm những bất đồng để đẩy đất nước đến bờ vực của sự hỗn loạn, phải bị loại trừ và lên án.

Thái độ tích cực đó cần được thể hiện trong mọi khía cạnh của cuộc sống, trong đó có việc cấp bách hiện nay là tiếp tục kiên trì thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI). Suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức lối sống phải bị chặn lại. Tham nhũng, tiêu cực phải kiên quyết loại trừ để cho bộ máy thực sự trong sạch vững mạnh, nhưng đồng thời phải làm sao giữ được sự ổn định, tránh sa vào những sai lầm ấu trĩ có thể dẫn đến những hậu quả tồi tệ về chính trị – xã hội. Mặt khác, cũng không thể nhân danh sự ổn định chính trị – xã hội để dĩ hòa vi quý và thỏa hiệp với cái xấu, cái sai. Đây thực sự là một yêu cầu khó khăn, đòi hỏi sự tỉnh táo, sự quyết tâm, sự đoàn kết nhất trí và bản lĩnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Tôi nhận thức sâu sắc rằng, nhân dân ta, các lực lượng vũ trang ta trông đợi vào kết quả thực chất của công cuộc này để củng cố lòng tin của mình vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta. Đây là thời cơ chính trị chúng ta phải nắm lấy, tạo ra sự chuyển biến mới như một cột mốc trong quá trình phát triển. Được như vậy, sức mạnh của chúng ta sẽ tăng lên gấp bội, trong đó có sức mạnh quốc phòng – an ninh.

Một trong những bất cập chính trong công tác quản lý nhà nước hiện nay là có việc thì tập trung quá mức, có việc thì lại phân cấp quá mức nhưng lại thiếu kiểm tra, đặc biệt là công cuộc cải cách hành chính quá chậm chạp và có nguyên nhân từ sự suy thoái của một số cán bộ, công chức các cấp, các ngành, đang cản trở sự phát triển đất nước. Toàn dân ta không ai muốn duy trì tình trạng này.

Tôi cũng mong muốn tất cả mọi người nhìn nhận đúng đắn một thực tế đáng buồn là, phải chăng sau khi đã trở nên khá giả hơn, một bộ phận người Việt Nam trở nên ít khát vọng trong sáng, thậm chí trở nên sa đọa về đạo đức lối sống. Những người như vậy cần nhìn nhận điều đó một cách cầu thị, thay đổi cách nghĩ, đồng hành cùng dân tộc, vì sự nghiệp chung, tiếp nối giá trị văn hóa tốt đẹp của cha ông thì cuộc sống mới có ý nghĩa.

Nhưng quan trọng hơn, cần phải có những “cú huých” đủ mạnh từ phía luật pháp, chính sách và dư luận để làm cho xã hội tốt đẹp hơn, ở đây tôi muốn kêu gọi cả sự thức tỉnh của đạo đức, của lương tâm để có sự chuyển biến mạnh mẽ.

Rõ ràng, thực tế đang đặt ra những yêu cầu cao đối với công tác quản lý nhà nước, chống lại tệ quan liêu, trì trệ, tham nhũng, “lợi ích nhóm” hay lợi ích cục bộ của ngành này, ngành khác; phải có những tiêu chí mới để đánh giá cán bộ trên cơ sở hiệu quả thực chất, vì lợi ích chung, chứ không phải những quy định mà người ta có thể lợi dụng theo ý muốn của mình.

Tất cả mọi việc đều có nguyên nhân từ con người. Để có cán bộ tốt, không thể chỉ kêu gọi chung chung, mà trước hết phải bằng chính sách, luật pháp, kỷ luật, kỷ cương và tất nhiên cao hơn thế nữa là phải xây dựng đạo đức con người ngay từ khi còn nhỏ, khi cắp sách đến trường. Chúng ta có thành công hay không trong việc thực hiện những mục tiêu xây dựng và bảo vệ đất nước, khâu cốt yếu tùy thuộc ở yếu tố cán bộ và dựa trên tinh thần kỷ luật, kỷ cương. Có kỷ luật, kỷ cương thì bộ máy mới tốt và vận hành thông suốt. Bộ máy càng lớn, kỷ luật càng trở nên cấp thiết, nếu không sẽ xuất hiện tình trạng vô tổ chức. Vì thế, hơn lúc nào hết, luật pháp và kỷ luật cần phải được tôn trọng triệt để.

Chúng ta phải làm mọi điều có thể để trong ngắn hạn phải ổn định kinh tế vĩ mô, lấy lại sự hưng phấn trong phát triển kinh tế cũng như niềm tin của nhân dân và doanh nghiệp. Không có niềm tin thì người dân, doanh nghiệp, cả nhà đầu tư nước ngoài, không ai dại gì đầu tư, kinh doanh để phải chấp nhận rủi ro. Bài học trong suốt 67 năm qua là, khi nào có niềm tin của nhân dân, thì dù có khó khăn đến đâu, chúng ta cũng nhất định vượt qua và vươn tới.

Đã đến lúc chúng ta phải hành động quyết liệt, phải tháo bỏ các rào cản phục vụ cho tăng trưởng, điều hòa các lợi ích xã hội; phải đổi mới và cương quyết thực hiện bằng được những mục tiêu về chính trị – kinh tế – xã hội đã đề ra.

Nhân đây, tôi cũng đánh giá cao vai trò của các cơ quan truyền thông, báo chí và cả các trang mạng thông tin có trách nhiệm đối với đời sống xã hội, các bạn hãy thực sự là người “chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng”, bên cạnh việc đấu tranh mạnh mẽ với cái xấu, hãy cổ vũ và làm nảy sinh những điều tốt đẹp vì nước, vì dân của các cơ quan, tổ chức và cá nhân, góp phần tăng cường niềm tin vào tương lai tốt đẹp của đất nước nhất định sẽ thành hiện thực; và rằng: Hiện tại không có con đường nào khác ngoài con đường xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, xây dựng và bảo vệ đất nước mình. Tôi tin rằng, nhân dân ta cũng rất muốn nghe các bạn kể những câu chuyện tốt đẹp có thật trong cuộc sống, khả dĩ có thể nhân rộng, lấn át đi những cái xấu, có tác dụng làm sáng trong và tươi đẹp tâm hồn.

Chắc chắn các bạn sẽ làm tốt điều đó!

Tôi ý thức một cách rõ ràng rằng, để thực hiện hữu hiệu các mục tiêu bảo vệ và xây dựng Tổ quốc không chỉ bằng những lời hô hào, kêu gọi. Lúc này, rất cần lòng nhiệt huyết, niềm tin và sự chung tay, góp sức của toàn dân tộc. Quân đội và các lực lượng vũ trang ta, càng không phải ngoại lệ, không chỉ với những vấn đề thuần túy quốc phòng-an ninh, mà cả với các vấn đề quốc kế dân sinh.

Hội nghị Quân ủy Trung ương họp phiên cuối năm hôm 13-12-2012
Hội nghị Quân ủy Trung ương họp phiên cuối năm hôm 13-12-2012. Ảnh: Cổng TTĐT Bộ Quốc phòng

Sức mạnh của dân tộc chúng ta

Thực hiện hiệu quả những công việc nói trên cũng là góp phần thiết thực nâng cao năng lực quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Xét cho cùng, cái gốc của bảo vệ Tổ quốc cũng chính là lòng dân. Lòng dân chính là sức mạnh không có giới hạn. Chúng ta đã nói nhiều đến “thế trận lòng dân”, “nền quốc phòng toàn dân”, nghệ thuật quân sự độc đáo của chúng ta chính là “nghệ thuật chiến tranh nhân dân”. Đó cũng là đặc trưng của Quân đội nhân dân Việt Nam, có truyền thống từ ngàn xưa. Dân là gốc. Đã là người sĩ quan, chiến sĩ Quân đội nhân dân thì phải luôn đề cao tính chính trị, tuyệt đối trung thành với Nước, với Dân, với Đảng, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Xây dựng và bảo vệ đất nước là hai nhiệm vụ chiến lược quyện chặt vào nhau. Thời bình Quân đội phải giúp dân, cùng với Đảng, chính quyền và dân chăm lo phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, hướng vào những vùng sâu, vùng xa có nhiều khó khăn; biên giới và hải đảo mà có dân cũng là cách bảo vệ biên giới và hải đảo tốt nhất…

Theo nhiều nhà phân tích chiến lược, thế giới và khu vực đang bước vào một cuộc chạy đua vũ trang mới. Chúng ta chưa bao giờ là người khởi xướng những cuộc chạy đua như vậy. Đó cũng không phải là sự lựa chọn phù hợp với chủ trương và khả năng của chúng ta.

Sách trắng quốc phòng của Việt Nam ghi rõ, “sức mạnh quốc phòng được xây dựng bằng nguồn lực mọi mặt của đất nước và con người Việt Nam, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đồng thời tranh thủ sự hợp tác, giúp đỡ của các nước bè bạn có chung mục đích đấu tranh cho hòa bình, độc lập và phát triển của khu vực và thế giới. Việt Nam không tham gia bất kỳ hoạt động nào sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực với các nước khác, nhưng sẵn sàng tự vệ chống lại mọi hành động xâm phạm lãnh thổ trên bộ, vùng trời, vùng biển và lợi ích quốc gia chính đáng của Việt Nam; không chạy đua vũ trang nhưng chúng ta luôn củng cố sức mạnh quốc phòng đủ để tự vệ”.

Tôi cho rằng, bản chất và động lực phát triển của chúng ta không dựa trên những nhân tố bạo lực, mà đòi hỏi ở Đảng và Nhà nước ta một sự lãnh đạo sáng suốt, mềm dẻo, khai thác hợp lý những nhân tố phi bạo lực, những cơ hội trong bối cảnh hiện tại để tìm cách phát triển. Đồng thời đối với chúng ta, đầu tư cho quân sự, cho quốc phòng là nhằm mục đích tự vệ, bảo vệ Tổ quốc, không gây lo ngại về an ninh cho các nước khác. Trên thực tế, dù chúng ta có dồn hết mọi nỗ lực của đất nước vào lĩnh vực quốc phòng thì cũng chưa đủ, bởi do nguồn lực hạn hẹp nên chi phí quốc phòng của chúng ta thấp hơn nhiều so với các nước phát triển hoặc các nước lớn. Chúng ta xây dựng quân đội trong khả năng có thể, bao gồm cả tiềm lực chính trị, kinh tế, khoa học – công nghệ và quân sự.

Sức mạnh của chúng ta phải là ở sức mạnh của chính nghĩa, được thế giới ủng hộ. Việt Nam phải là “lương tri của thời đại” như thế giới từng tôn vinh.

Sức mạnh của chúng ta phải là sức mạnh của lòng dân, của tinh thần đoàn kết, nhất trí toàn dân tộc. Đất nước sẽ không thể đứng vững bởi sự chia rẽ. Sự chia rẽ dân tộc chính là cơ hội cho những kẻ xâm lược.

Sức mạnh của chúng ta là ở truyền thống quật cường đã được hình thành từ hàng ngàn năm lịch sử, từng là nguyên nhân để chúng ta chiến thắng mọi kẻ thù hung bạo; sức mạnh của chúng ta còn là sức mạnh của cách đánh, khả năng tác chiến và cách thắng…

Nhân dân Việt Nam yêu hòa bình; hữu nghị, hòa hiếu vốn là truyền thống văn hiến của dân tộc ta. Chúng ta làm tất cả để hòa bình luôn được hiện diện. Sinh lực của cộng đồng dân tộc chúng ta đã từng được huy động tối đa vào các cuộc kháng chiến giành độc lập đầy hy sinh, giờ đây, những sinh lực ấy phải là của báu để bảo vệ và phát triển đất nước.

Độc lập và phát triển đất nước luôn là mục tiêu và động lực chính yếu của dân tộc chúng ta.

Khi có kẻ thù nào xâm lược nước ta, thì như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Chúng ta sẽ huy động tất cả mọi sức mạnh để tự vệ và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.

Đôi lời cảm xúc

Nhân Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22-12, cho phép tôi với tư cách đồng đội, xin chia sẻ niềm vui với toàn thể các vị tướng lĩnh, sĩ quan, cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng, các đồng chí cựu chiến binh, các gia đình liệt sĩ, các đồng chí thương binh, bệnh binh trên cả nước.

Vào những ngày này, âm hưởng của những bài thơ, bài ca cách mạng, những bài hát ca ngợi người chiến sĩ từng làm xúc động bao trái tim Việt Nam, đang đầy ắp trong xúc cảm và hồi ức của chúng ta.

Hôm nay không phải lần đầu tiên tôi cảm thấy vô cùng tự hào về Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, tự hào về hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” – một biểu tượng không chỉ đẹp về thể chất mà còn ở những nét đẹp của tinh thần đoàn kết, nỗ lực vượt qua khó khăn, gian khổ, trên hết là tình yêu Tổ quốc, yêu nhân dân nồng nàn, sâu lắng và có những nét nổi trội khó có thể thấy được ở những đội quân nào khác… Trong niềm xúc động, tự hào đó, tôi xin dừng bài viết này bằng việc dẫn câu thơ của Nhà thơ Vũ Cao, như một lời nhắn nhủ:

“Anh đi bộ đội sao trên mũ

Mãi mãi là sao sáng dẫn đường…”.

(*) Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam

http://www.tienphong.vn/hanh-trang-nguoi-linh/604942/Chu-tich-nuoc-Truong-Tan-Sang-Mai-mai-la-sao-sang-dan-duong-tpol.html

Toàn văn Báo cáo giải trình và trả lời chất vấn Quốc hội trực tiếp của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng

(Chinhphu.vn) – Tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIII vừa qua, sau khi đọc Báo cáo giải trình (xem toàn văn Báo cáo tại đây), Thủ tướng Chính phủ đã tiếp tục trả lời các câu hỏi chất vấn của đại biểu Quốc hội tại hội trường. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ xin trân trọng giới thiệu toàn văn trả lời trực tiếp của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

 

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng báo cáo, giải trình trước Quốc hội
Ảnh VGP/Nhật Bắc

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Tôi rất cám ơn và xin trình bày về ý kiến chất vấn của các vị đại biểu Quốc hội.

– Về ý kiến chất vấn của đại biểu Đàng Thị Mỹ Hương:

1. Ý kiến chất vấn của đại biểu về những giải pháp cơ bản giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ (đại biểu Thích Thanh Quyết cũng chất vấn về nội dung này). Tôi xin trình bày như sau:

Khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu tác động rất nặng nề, tiêu cực đến nền kinh tế nước ta. Trước tình hình có nhiều khó khăn thách thức, Chính phủ luôn theo sát, thấu hiểu, hết sức lo lắng và rất chia sẻ với cộng đồng doanh nghiệp. Chính phủ luôn trăn trở tìm mọi giải pháp tháo gỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp vượt qua khó khăn, duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh. Đây không chỉ là lợi ích của doanh nghiệp mà còn là lợi ích của cả nền kinh tế – của cả đất nước.

Chính phủ đã đề ra nhiều cơ chế chính sách, nhiệm vụ giải pháp đang được triển khai thực hiện và đã có những kết quả nhất định. Nhưng như đại biểu vừa nêu, cộng đồng doanh nghiệp chúng ta, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn đang đứng trước rất nhiều khó khăn cần phải chung sức để khắc phục, vượt qua.

Trong Báo cáo trước Quốc hội tại phiên khai mạc và Báo cáo giải trình vừa trình bày, thay mặt Chính phủ tôi đã đề cập những giải pháp có ý nghĩa vừa trực tiếp trước mắt, vừa cơ bản lâu dài để giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn thách thức duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh. Tôi xin trình bày khái quát lại mấy nhóm giải pháp cơ bản sau đây:

Nhóm giải pháp thứ nhất là phải tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô. Kinh tế vĩ mô có nhiều nội dung nhưng đặc biệt là phải kiềm chế cho được lạm phát, không để lạm phát cao. Nếu lạm phát cao thì lãi suất cao, đồng tiền Việt Nam mất giá, tỷ giá biến động… chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ tăng cao. Lạm phát cao thì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ rất khó khăn, rất khó duy trì, phát triển sản xuất kinh doanh.

Đồng thời phải duy trì tăng trưởng hợp lý. Không duy trì được tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế thì sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng sẽ hết sức khó khăn. Muốn duy trì được tăng trưởng của nền kinh tế phải tăng tổng cầu và tăng sức mua, bao gồm cả tăng dư nợ tín dụng, tăng đầu tư công và đầu tư toàn xã hội phù hợp.

Phải tìm mọi biện pháp thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài và mở rộng thị trường xuất khẩu, khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu và đẩy mạnh xuất khẩu để vừa bảo đảm được hợp lý cán cân thanh toán của nền kinh tế, vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp duy trì phát triển sản xuất kinh doanh và góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.

Nhóm giải pháp cơ bản thứ hai là thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, gắn với thực hiện đồng bộ, hiệu quả 3 đột phá chiến lược, tạo thuận lợi trước mắt và cơ bản lâu dài cho doanh nghiệp. Vừa qua chúng ta đã tập trung triển khai tái cơ cấu đầu tư công; tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trong đó trọng tâm là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước; tái cơ cấu hệ thống tài chính, trọng tâm là các ngân hàng thương mại. Đồng thời triển khai thực hiện 3 đột phá chiến lược là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường; đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao và đẩy mạnh đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội.

Nhóm giải pháp cơ bản thứ ba là khẩn trương giải quyết hàng tồn kho, xử lý nợ xấu, tháo gỡ đóng băng của thị trường bất động sản, đây cũng là những giải pháp vừa bức xúc trước mắt, vừa cơ bản lâu dài để giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn, duy trì và phát triển kinh doanh. Chính phủ coi đây là một nhiệm vụ trọng tâm và phải được xử lý khẩn trương, đồng bộ.

Nhóm giải pháp thứ tư là cải cách hành chính. Chính phủ đã và đang làm nhưng cần phải thực hiện tốt hơn, thiết thực hơn. Cải cách hành chính bao gồm cả cải cách thể chế và thủ tục hành chính để có một nền kinh tế thị trường đầy đủ, bình đẳng, minh bạch, tạo điều kiện cơ bản cho doanh nghiệp hoạt động thuận lợi, hiệu quả. Chúng tôi hết sức quan tâm đến cải cách những thể chế liên quan trực tiếp đến doanh nghiệp như thể chế về thuế, về phí, về tiếp cận nguồn vốn, về tiếp cận đất đai và các thủ tục liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp như đăng ký kinh doanh, điều kiện thành lập doanh nghiệp, phá sản doanh nghiệp… mà hiện nay đang còn nhiều vướng mắc.

Tóm lại, để tạo điều kiện cho doanh nghiệp vượt qua khó khăn thách thức, duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh thì phải thực hiện đồng bộ các giải pháp mà Đảng, Nhà nước ta đã đề ra. Trong đó tập trung vào các nhóm giải pháp nêu trên, các nhóm giải pháp này phải được thực hiện đồng thời, nhưng phải có trọng tâm, trọng điểm trong từng lĩnh vực, trong từng thời gian để đem lại kết quả, hiệu quả thiết thực.

Nhưng thưa Đại biểu, chỉ có Chính phủ hành động thì chưa đủ. Rất mong cộng đồng doanh nghiệp, cũng như từng doanh nghiệp phải nỗ lực, sáng tạo vươn lên cơ cấu lại sản xuất kinh doanh, cơ cấu lại quản trị điều hành, nâng cao năng suất hiệu quả sức cạnh tranh để doanh nghiệp vượt qua khó khăn bằng chính nội lực và khả năng của mình. Chính phủ sẽ luôn đề cao trách nhiệm, đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp để cùng nhau vượt qua khó khăn thách thức, duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh thực hiện bằng được mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, duy trì tăng trưởng hợp lý, bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội cho mọi người dân.

2. Về nội dung đại biểu chất vấn Thủ tướng đã nhận trách nhiệm, nhận lỗi trước Quốc hội, trước toàn Đảng, toàn dân. Thủ tướng có giải pháp gì để khắc phục những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm của Chính phủ (đại biểu Nguyễn Bá Thuyền cũng chất vấn về nội dung này). Tôi xin trình bày mấy ý kiến như sau:

Thưa đại biểu. Như tôi đã báo cáo tại phiên khai mạc kỳ họp Quốc hội, với trọng trách được Đảng, Nhà nước và nhân dân tin cậy giao phó, là Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ, tôi nghiêm túc nhận trách nhiệm chính trị lớn của Người đứng đầu Chính phủ và xin thành thật nhận lỗi trước Quốc hội, trước toàn Đảng, toàn dân về tất cả những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm của Chính phủ trong lãnh đạo, quản lý, điều hành trên tất cả các lĩnh vực, nhất là hạn chế, yếu kém, khuyết điểm trong giám sát, kiểm tra hoạt động của các Tập đoàn kinh tế, của các Tổng công ty nhà nước. Đồng thời, thay mặt Chính phủ, tôi cũng đã khẳng định là Chính phủ sẽ nỗ lực làm hết sức mình để khắc phục những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm phấn đấu hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ, trọng trách mà Đảng, Nhà nước và nhân dân tin cậy giao phó.

Với tinh thần đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã và đang triển khai thực hiện nhiều nhiệm vụ giải pháp đồng bộ để khẩn trương khắc phục những hạn chế yếu kém khuyết điểm, nâng cao năng lực lãnh đạo quản lý điều hành, trong đó tập trung vào các nhóm nhiệm vụ giải pháp sau:

Thứ nhất, nâng cao năng lực, chất lượng xây dựng, hoàn thiện thể chế, cơ chế, luật pháp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong thực thi thể chế, cơ chế, luật pháp. Đây là lĩnh vực còn nhiều hạn chế, yếu kém, khuyết điểm. Nhiều cơ chế, thể chế, luật pháp do Chính phủ xây dựng trình Quốc hội ban hành hay do chính Chính phủ ban hành còn không ít những nội  dung chưa phù hợp, không sát cuộc sống, phải sửa đổi, bổ sung ngay sau khi vừa có hiệu lực thực hiện. Hay những thể chế, cơ chế, luật pháp đã ban hành rồi, nhưng chờ nghị định, thông tư hướng dẫn nên chậm đi vào cuộc sống, thậm chí có trường hợp khi hướng dẫn lại không phù hợp với tinh thần thể chế, luật pháp đã ban hành. Hoặc thể chế, luật pháp đã có hiệu lực nhưng tổ chức thực thi kém hiệu quả. Có những nội dung ban hành trước đây là đúng nhưng thực tiễn cuộc sống đã vượt qua, không còn phù hợp, nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung. Hay thực tế cuộc sống đòi hỏi phải có thể chế, cơ chế, luật pháp để quản lý, để thúc đẩy phát triển hoặc ngăn chặn những tiêu cực, nhưng muốn xây dựng được một thể chế, cơ chế để quản lý thì rất chậm chạp, khó khăn.

Thứ hai, Nâng cao năng lực dự báo, phân tích đánh giá tình hình để đưa ra cơ chế chính sách – phản ứng chính sách – một cách kịp thời, phù hợp, hiệu quả trong điều kiện kinh tế thị trường rất năng động và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhiều bất trắc khó lường.

Thứ ba, Tập trung nâng cao năng lực xây dựng và hiệu lực, hiệu quả quản lý thực hiện quy hoạch, chiến lược, kế hoạch phát triển. Đây là lĩnh vực còn nhiều hạn chế yếu kém. Nhà nước quản lý bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, nhưng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển lại không sát với thực tế, không phù hợp, kém chất lượng thì sẽ dẫn đến tình trạng lãng phí đầu tư, cản trở tiến trình phát triển của đất nước, cản trở tiến trình cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Thứ tư, Để nâng cao năng lực lãnh đạo quản lý, khắc phục những hạn chế yếu kém, phải tăng cường kỷ luật kỷ cương, tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra và xử lý nghiêm, kịp thời các hành vi vi phạm. Không làm tốt việc này thì hiệu lực, hiệu quả trong lãnh đạo quản lý điều hành của Chính phủ sẽ không đáp ứng được. Đây cũng là một khuyết điểm lớn mà chúng tôi đang ra sức khắc phục, trước hết là giám sát, kiểm tra hoạt động của các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty nhà nước.

Thứ năm, Tập trung chỉ đạo hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy của Chính phủ và bộ máy hành chính các cấp với tinh thần tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Làm rõ chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức. Không để một lĩnh vực nào mà không có cơ quan quản lý nhà nước chịu trách nhiệm quản lý chính. Ví dụ hôm qua tôi nhận được chất vấn của Đại biểu về việc  Thủ tướng đã giao cho cơ quan nào chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Tôi đã kiểm tra và thấy rằng Chính phủ đã giao cho Viện Khoa học xã hội Việt Nam chăm lo việc này và đã lập Viện ngôn ngữ học để chuyên làm nhiệm vụ bảo vệ, giữ gìn, phát huy sự trong sáng của tiếng Việt. Tuy trực thuộc Chính phủ, nhưng Viện là tổ chức sự nghiệp, không có chức năng quản lý nhà nước. Do đó, cần phải có cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực này.

Tôi muốn trình bày là phải hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy của Chính phủ, của chính quyền các cấp, bảo đảm quản lý thống nhất trên tất cả các lĩnh vực như Hiến pháp đã quy định. Không để một lĩnh vực nào đó không có cơ quan chịu trách nhiệm quản lý hay trùng dẫm một việc mà hai, ba cơ quan cùng có trách nhiệm nhưng không rõ ai chịu trách nhiệm chính. Đồng thời phải rà soát, hoàn thiện lại việc phân công, phân cấp, giao quyền cho phù hợp để vừa đề cao được trách nhiệm, vừa phát huy được sự năng động sáng tạo của cấp dưới, đồng thời phải bảo đảm lãnh đạo quản lý tập trung thống nhất của cấp trên. Việc này đã làm nhưng còn nhiều khiếm khuyết. Chúng tôi sẽ tiếp tục thực hiện tốt hơn.

Thứ sáu, Chính phủ đang chỉ đạo thực hiện các giải pháp để đề cao trách nhiệm, nâng cao đạo đức phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ công chức, nhất là người đứng đầu các cấp, các cơ quan, các đơn vị trong thực thi công vụ, thực thi chức trách nhiệm vụ được giao và phải thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Đảng gắn với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh để bộ máy hành chính của chúng ta có đội ngũ cán bộ công chức có đạo đức phẩm chất, năng lực và trách nhiệm cao, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân.

Thứ bảy, Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy tốt nhất trách nhiệm của tập thể, đồng thời đề cao đầy đủ trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu trong thực thi chức trách nhiệm vụ. Nghiêm túc lắng nghe, nâng cao năng lực tiếp thu ý kiến của nhân dân, của cán bộ đảng viên, của chuyên gia trong hoạch định chính sách và trong tổ chức thực thi quản lý. Trong đó, hết sức chú ý phát huy dân chủ, tăng cường công khai minh bạch, chủ động cung cấp thông tin và nâng cao năng lực giải đáp, giải trình của người lãnh đạo các cấp, qua đó chịu sự giám sát của nhân dân.

Với tinh thần nêu trên, Chính phủ sẽ tập trung khắc phục những hạn chế yếu kém khuyết điểm, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý, kiểm tra giám sát hoạt động của các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty nhà nước. Đồng thời với việc cơ cấu lại để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty nhà nước như Kết luận chỉ đạo của Hội nghị Trung ương 6 khóa XI.

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Bên cạnh những việc làm được làm tốt đóng góp tích cực vào thành tựu chung, Chính phủ cũng còn nhiều hạn chế yếu kém khuyết điểm. Để khắc phục hạn chế yếu kém khuyết điểm, nâng cao năng lực hiệu lực hiệu quả lãnh đạo quản lý điều hành đáp ứng yêu cầu, thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, nhân dân tin cậy giao phó, Chính phủ sẽ làm hết sức mình, thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ giải pháp, trong đó tập trung vào các nhóm nhiệm vụ giải pháp nêu trên. Nhưng khó có thể hoàn thiện ngay trong một thời gian ngắn. Rất mong được các vị đại biểu Quốc hội giám sát, ủng hộ, giúp đỡ. Chính phủ sẽ phấn đấu cao nhất để cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thực hiện tốt nhiệm vụ còn lại của năm 2012, nhiệm vụ năm 2013 và kế hoạch 5 năm 2011 – 2015 mà Đại hội XI của Đảng và Quốc hội đã đề ra.

3. Về nội dung chất vấn giải pháp nào là quyết định nhất, cơ bản nhất và động lực nào là động lực bao trùm nhất, cơ bản nhất để tái cơ cấu nền kinh tế, để chuyển đổi mô hình tăng trưởng, để công nghiệp hóa hiện đại hóa, để đổi mới toàn diện đất nước thành công. Chất vấn này rất rộng. Tôi xin trình bày mấy ý kiến sau đây:

Thưa Đại biểu, theo tôi không có cách nào khác là phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, quán triệt và thực hiện đầy đủ các chủ trương nghị quyết của Đảng, của Nhà nước ta. Trong đó đặc biệt là quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả các quan điểm, mục tiêu, chỉ tiêu, định hướng phát triển, các nhiệm vụ giải pháp, nhất là 3 đột phá chiến lược để phát triển nhanh, bền vững mà Đại hội XI của Đảng đã đề ra.

Trong tổng thể và phải thực hiện đồng bộ, đồng thời đó thì giải pháp và động lực cơ bản, bao trùm, có ý nghĩa quyết định nhất chính là thực hành dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và chăm lo lợi ích chính đáng của nhân dân, là lòng dân, là sự đồng thuận của nhân dân. Như Bác Hồ và Đảng ta đã khẳng định là mọi quyền hành, mọi lực lượng, mọi lợi ích là ở dân, là vì dân và dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Đây là giải pháp và là động lực cơ bản, bao trùm, có ý nghĩa quyết định nhất để chúng ta thực hiện thành công sự nghiệp cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và đổi mới toàn diện đất nước.

Không có dân chủ thực sự trong hoạt động kinh tế, không có bình đẳng, công khai minh bạch trong hoạt động kinh tế thì không thể có kinh tế thị trường đầy đủ, không huy động và sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng, mọi nguồn lực của dân tộc ta, của đất nước ta – kể cả vật chất và con người, không thể nâng cao được hiệu quả sức cạnh tranh của nền kinh tế, không thể hội nhập có kết quả với kinh tế quốc tế và cũng không thể tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng thành công.

Không có dân chủ đầy đủ, thực sự thì không thể bảo đảm và phát huy quyền tự do chính đáng của người dân mà Hiến pháp, luật pháp đã quy định và cũng không thể tạo được sự đồng thuận xã hội, không thể tạo được sức mạnh tổng hợp của toàn dân, không thể tạo được sức mạnh làm nên lịch sử của nhân dân và không thể có đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết và thành công, thành công, đại thành công trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Không có dân chủ, công bằng, công khai, minh bạch thì không thể xây dựng được Đảng, Nhà nước ta, hệ thống chính trị của chúng ta trong sạch, vững mạnh và cũng không thể đấu tranh ngăn chặn được các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, lãng phí. Không có dân chủ thực sự cũng không thể lựa chọn được những cán bộ tốt, có đủ năng lực, phẩm chất để gánh vác việc dân, việc nước. Không có dân chủ cũng khó hoạch định được đường lối, chủ trương, chính sách một cách phù hợp, sát thực tế, sát cuộc sống.

Nhưng dân chủ của chúng ta là dân chủ xã hội chủ nghĩa. Dân chủ phải đi liền với kỷ luật, kỷ cương, pháp luật. Không thể lợi dụng dân chủ, tự do mà làm phương hại đến lợi ích của đất nước, cũng như lợi ích chính đáng của người khác.

– Về chất vấn của đại biểu Dương Trung Quốc:

4. Nội dung chất vấn của Đại biểu nêu khá dài, tôi đã cố gắng lắng nghe, không biết có chính xác không, nhưng tôi hiểu ý kiến của đại biểu là Thủ tướng Chính phủ nên từ chức… Về chất vấn này tôi xin trình bày như sau:

Đối với tôi, hôm nay còn 3 ngày nữa là tròn 51 năm tôi theo Đảng hoạt động cách mạng dưới sự lãnh đạo quản lý trực tiếp của Đảng. Trong suốt 51 năm qua, tôi không xin với Đảng cho tôi làm, cho tôi đảm nhiệm chức vụ này hay chức vụ khác. Mặt khác, tôi cũng không từ chối, không thoái thác bất cứ nhiệm vụ gì mà Đảng phân công, giao phó cho tôi.

Là một cán bộ đảng viên của Đảng, tôi đã luôn báo cáo với Đảng, với  Bộ Chính trị, với Ban Chấp hành Trung ương một cách nghiêm túc, đầy đủ, trung thực về bản thân mình. Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng đã hiểu rất rõ về tôi, cả về ưu điểm khuyết điểm, cả về phẩm chất đạo đức, cả về năng lực khả năng, cả về sức khỏe thương tật, cả về tâm tư nguyện vọng của tôi.

Đảng ta – Đảng cộng sản Việt Nam – là Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội, Đảng lãnh đạo quản lý trực tiếp tôi, Đảng hiểu rất rõ về tôi. Đảng đã quyết định phân công tôi ứng cử tiếp tục làm nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ và Quốc hội đã bỏ phiếu bầu tôi tiếp tục làm nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ. Tôi sẵn sàng chấp hành nghiêm túc mọi quyết định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và của Quốc hội – cơ quan quyền lực cao nhất – đối với tôi.

Tóm lại gần cả cuộc đời theo Đảng, hết lòng công tác chiến đấu vì nước vì dân, dưới sự lãnh đạo quản lý trực tiếp của Đảng. Tôi không có chạy, cũng không có xin và tôi cũng không thoái thác, từ chối bất cứ nhiệm vụ gì mà Đảng và Nhà nước quyết định phân công, giao phó cho tôi. Tôi xin khẳng định là sẽ tiếp tục thực hiện như tôi đã nghiêm túc thực hiện trong suốt 51 năm qua.

– Về chất vấn của đại biểu Nguyễn Bá Thuyền:

5. Về nội dung chất vấn những khó khăn, vướng mắc nhất trong thời gian qua trong công tác phòng chống tham nhũng là những vấn đề gì và Thủ tướng có đề xuất giải pháp gì để phòng chống tham nhũng có hiệu quả hơn trong thời gian tới. Tôi xin trình bày như sau:

Đấu tranh phòng chống tham nhũng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của cấp ủy Đảng và người đứng đầu các cấp, dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 của Đảng, công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng đã đạt được những kết quả nhất định nhưng chưa đạt yêu cầu là ngăn chặn, đẩy lùi. Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết của Trung ương 3 và Luật phòng chống tham nhũng. Ban cán sự Đảng Chính phủ đã báo cáo Bộ Chính trị, báo cáo Ban Chấp hành Trung ương. Tại Hội nghị lần thứ 5 (khóa XI) Ban Chấp hành Trung ương đã có Kết luận chỉ đạo về công tác phòng chống tham nhũng. Trong đó đã chỉ rõ những kết quả đạt được, những hạn chế yếu kém, nguyên nhân, bài học và mục tiêu nhiệm vụ giải pháp phải tiếp tục triển khai thực hiện để đấu tranh phòng chống tham nhũng trong thời gian tới. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã có Báo cáo với Quốc hội tại Kỳ họp này và đã trình Quốc hội xem xét sửa đổi bổ sung một số điều cần thiết trong Luật phòng chống tham nhũng.

Tôi xin không trình bày lại.

– Về chất vấn của đại biểu Thích Thanh Quyết:

6. Về nội dung chất vấn Chính phủ có những giải pháp cơ bản nào để khắc phục những khiếm khuyết bất cập của thủy điện đang gây bức xúc trong nhân dân.

Thưa đại biểu, trong kỳ họp Quốc hội lần này, Chính phủ đã có Báo cáo  về việc đầu tư phát triển thủy điện. Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng cũng đã có giải trình. Tôi xin trình bày thêm mấy ý kiến sau:

Thủy điện là nguồn năng lượng tái tạo, là tiềm năng lớn của đất nước. Chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là khai thác, sử dụng, phát huy tiềm năng lợi thế này để đáp ứng cho yêu cầu sản xuất, đời sống của nhân dân và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chúng ta đã đạt được kết quả rất quan trọng. Thủy điện đã đóng góp cho tổng sản lượng điện của cả nước là 41% và công suất phát điện của thủy điện đã chiếm 47% trong tổng công suất phát điện của cả nước. Những năm qua chúng ta đáp ứng đủ điện cho nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân trong đó có phần đóng góp rất quan trọng của thủy điện. Nhưng ở một số dự án thủy điện đã nảy sinh những khiếm khuyết, bất cập gây bức xúc trong nhân dân như đại biểu nêu.

Chính phủ đã đề ra các yêu cầu chủ yếu khi xây dựng các dự án thủy điện như sau:

Thứ nhất là phải đảm bảo an toàn, an toàn về hồ đập, an toàn về tính mạng của nhân dân, đây là yêu cầu cao nhất, dù hiệu quả tới đâu mà không đáp ứng được yêu cầu này thì không được làm. Thứ hai là khi xây dựng thủy điện phải đảm bảo cho được chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là di dân tái định cư đến nơi ở mới phải có điều kiện để người dân từng bước có cuộc sống tốt hơn. Thứ ba là phải đặc biệt chú trọng đến môi trường, xây dựng thủy điện nhưng không làm tác động lớn, tác động xấu đến môi trường sống. Thứ tư là phải bảo đảm hiệu quả tổng hợp của dự án thủy điện cả về hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường. Thứ năm là phải nghiêm túc thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong việc lập, thẩm định dự án, thi công xây dựng và vận hành công trình.

Để thực hiện tốt các yêu cầu nêu trên và sớm khắc phục các bất cập, khiếm khuyết của một số dự án thủy điện, Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ giải pháp cụ thể như sau:

(1) Khẩn trương rà soát lại toàn bộ quy hoạch thủy điện trong cả nước.  Căn cứ vào các yêu cầu nêu trên và các quy định hiện hành, qua 2 lần rà soát đã đưa ra khỏi quy hoạch 107 dự án (hôm qua đồng chí Bộ trưởng Bộ Công Thương đã trình bày với Quốc hội). Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu tiếp tục rà soát để điều chỉnh bổ sung hoàn thiện quy hoạch thủy điện trong cả nước trong năm 2013.

(2) Quản lý chặt chẽ việc xây dựng mới các dự án thủy điện. Các dự án thủy điện đã có trong quy hoạch nhưng trước khi quyết định đầu tư phải được thẩm định một cách chặt chẽ. Dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A có công suất phát điện khá lớn, đã được đưa vào quy hoạch nhưng phải được tiến hành thẩm định một cách nghiêm túc, đúng theo các quy định của pháp luật, nếu không đạt các yêu cầu nêu trên thì không được quyết định đầu tư xây dựng (hiện nay Bộ Tài nguyên và Môi trường đang tiến hành thẩm định đánh giá về tác động môi trường). Các cơ quan có chức năng thẩm định phải chịu trách nhiệm về kết quả thẩm định của mình. Cơ quan có thẩm quyền quyết định cho phép đầu tư xây dựng phải đảm bảo đúng các quy định của pháp luật và các yêu cầu mà Chính phủ đề ra và phải chịu trách nhiệm về việc quyết định cho phép của mình.

(3) Phải rà soát lại tất cả các dự án thủy điện hiện có. Tập trung rà soát các nội dung cụ thể sau: Một là hồ đập có an toàn không, phải sửa chữa gia cố ngay các sơ sót khiếm khuyết, nếu không an toàn là không được vận hành. Hai là phải rà soát lại việc tái định cư, xem người dân sống thực tế thế nào, nếu chưa đạt yêu cầu mà Đảng và Nhà nước đề ra thì phải đề xuất cơ chế chính sách, kể cả chính sách đặc thù để đồng bào ta có điều kiện sống tốt hơn. Ba là rà soát yêu cầu các chủ đầu tư trồng lại rừng như đã quy định, đã cam kết, kể cả việc thu tiền để trồng lại diện tích rừng đã mất ở nơi khác. Bốn là rà soát lại các quy trình vận hành hồ chứa của các hồ thủy điện. Nếu trên một dòng sông mà có nhiều đập thủy điện thì phải có quy trình vận hành liên hồ chứa. Phải bảo đảm được tiêu chí đề ra, nhất là các yêu cầu về góp phần chống lũ, ngăn mặn, điều tiết nước cho sản xuất và đời sống nhân dân… Quy trình vận hành hồ chứa nào chưa tốt thì phải bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp, hiệu quả.

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Tại kỳ họp này Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cũng đã thực hiện giám sát đối với công trình thủy điện Sông Tranh II và đã có báo cáo gửi đến các vị đại biểu Quốc hội. Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải và Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng, Bộ trưởng Trịnh Đình Dũng cũng đã giải trình về những chất vấn của đại biểu Quốc hội.

Đến hôm nay các chuyên gia chuyên ngành có trách nhiệm trong nước và công ty tư vấn hàng đầu của Nhật, Thụy Sỹ cũng báo cáo là đập thủy điện Sông Tranh II bảo đảm an toàn. Các Bộ và cơ quan chức năng như Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng, Bộ Khoa học và Công nghệ, Hội đồng nghiệm thu nhà nước, Viện Vật lý địa cầu thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam đều báo cáo đập thủy điện Sông Tranh II là an toàn. Tôi nhận được báo cáo của các cơ quan chức năng là như vậy. Nhưng để chắc chắn hơn, với mục tiêu an toàn cao nhất cho tính mạng của nhân dân, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu phải làm tiếp những việc sau:

Thứ nhất là chưa được tích nước phát điện để tiếp tục nghiên cứu đánh giá kỹ thêm về động đất. Vấn đề này đã được chấp hành nghiêm túc. Thứ hai là giao Hội đồng nghiệm thu nhà nước và các Bộ liên quan lập tổ công tác thường xuyên túc trực tại thủy điện Sông Tranh II để theo dõi tất cả các diễn biến của động đất để kịp thời tính toán phương án ứng phó với mục tiêu an toàn là cao nhất. Thứ ba là đồng thời cùng với các chuyên gia của chúng ta, phải thuê chuyên gia tư vấn hàng đầu của quốc tế như Nga, Nhật, Ấn Độ (một số chuyên gia này đã có mặt tại hiện trường) để khảo sát, đánh giá về động đất kích thích liên quan tới an toàn của đập. Thứ tư là công bố công khai đầy đủ thông tin cho nhân dân và hướng dẫn nhân dân ứng phó với động đất kích thích. Thứ năm là yêu cầu rà soát, bổ sung việc chi trả đền bù hỗ trợ đối với hộ dân có nhà bị hư hỏng do động đất (còn chính sách gì thêm nữa mà đại biểu của Quảng Nam đề nghị sẽ tiếp tục nghiên cứu cho phù hợp). Thứ sáu là giao Hội đồng nghiệm thu nhà nước chủ trì cùng với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công Thương, Viện Vật lý địa cầu… tiếp tục tiến hành hội thảo để tranh thủ trí tuệ, lắng nghe ý kiến của các chuyên gia chuyên ngành với tinh thần xây dựng, trách nhiệm cao và tất cả vì an toàn của nhân dân, vì lợi ích của đất nước.

Chính phủ sẽ làm tất cả những gì có thể để đạt được các mục tiêu yêu cầu như đã nêu trên. Rất mong các vị đại biểu Quốc hội theo dõi, giám sát.

Thưa Quốc hội, đến giờ này, thời gian trả lời chất vấn dành cho tôi đã hết. Tôi xin kết thúc phần báo cáo giải trình và trả lời chất vấn tại đây. Hai chất vấn còn lại của đại biểu Thích Thanh Quyết tôi sẽ trả lời đến Đại biểu và đăng trên website của Chính phủ. Các chất vấn khác của các vị Đại biểu tôi sẽ trả lời bằng văn bản. Thay mặt các thành viên của Chính phủ, tôi xin cám ơn các vị đại biểu Quốc hội, đồng bào cử tri cả nước đã theo dõi giám sát chất vấn đối với các hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các thành viên của Chính phủ. Chúng tôi rất mong tiếp tục nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ, giám sát của các vị đại biểu Quốc hội và đồng bào cả nước. Xin chúc các vị đại biểu Quốc hội, đồng chí đồng bào sức khỏe, hạnh phúc, thành đạt. Xin cám ơn Quốc hội.

*
*       *
Như đã hứa trước Quốc hội. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trả lời bằng văn bản về 2 nội dung chất vấn còn lại của đại biểu Thích Thanh Quyết. Cổng thông tin điện tử Chính phủ xin đăng toàn văn trả lời của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng:

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

– Tôi xin trình bày về 2 chất vấn còn lại của Đại biểu Thích Thanh Quyết:

7. Về nội dung chất vấn Chính phủ có những giải pháp gì để ngăn chặn, khắc phục tình trạng nhiều mạng Internet đã đăng tải những thông tin không đúng sự thật, truyền bá văn hóa đồi trụy, độc hại, trái với thuần phong mỹ tục tốt đẹp của dân tộc ta, đưa những thông tin bịa đặt, xuyên tạc, gây dư luận xấu, hoài nghi đối với lãnh đạo Đảng, Nhà nước và biện pháp xử lý đối với những người đưa thông tin không đúng sự thật trên mạng Internet.

Tôi xin trình bày như sau:

Công nghệ thông tin nói chung và Internet nói riêng đã mang lại sự đổi thay lớn trên thế giới. Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là phát triển mạnh mẽ Công nghệ thông tin, Internet phục vụ hiệu quả cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cho tiến trình đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cho nhu cầu đa dạng phong phú trong sản xuất và đời sống của nhân dân. Những năm qua Việt Nam chúng ta đã đạt được bước tiến quan trọng trên lĩnh vực này, đóng góp thiết thực vào thành tựu chung của đất nước.

Đặc điểm của thông tin từ mạng Internet là không biên giới, ảnh hưởng tức thì. Bên cạnh những mặt tích cực là chủ yếu thì Internet cũng bị kẻ xấu lợi dụng để truyền bá văn hóa đồi trụy độc hại trái với thuần phong mỹ tục tốt đẹp của dân tộc ta và đưa những thông tin bịa đặt, xuyên tạc, không đúng sự thật, gây dư luận xấu, gây hoài nghi đối với lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta như Đại biểu đã nêu.

Chính phủ đang tập trung chỉ đạo tăng cường hiệu lực hiệu quả quản lý trên lĩnh vực này. Một mặt là tiếp tục hoàn thiện thể chế, luật pháp, rà soát bổ sung chiến lược, quy hoạch để tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Thông tin Truyền thông và Internet phát triển mạnh mẽ hơn, phục vụ hiệu quả hơn cho phát triển kinh tế – xã hội, đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng, thiết thực trong sản xuất kinh doanh, trong đời sống của người dân; đồng thời hạn chế, ngăn chặn có hiệu quả những mặt tiêu cực, bất lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mặt khác là tăng cường thực hiện các giải pháp đồng bộ để đáp ứng nhu cầu thông tin lành mạnh, đặc biệt là chủ động cung cấp thông tin chính thức, kịp thời cho nhân dân.

Vừa qua, thực hiện tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI) về xây dựng Đảng. Có một số ý kiến góp ý phản ánh về những dư luận tiêu cực đối với lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta, trong đó có nhiều thông tin bịa đặt, xuyên tạc, vu khống lấy từ mạng Internet. Các đồng chí Lãnh đạo nhận được ý kiến góp ý phản ánh này đã nghiêm túc báo cáo giải trình cụ thể về từng thông tin liên quan tới bản thân và gia đình mình. Bộ Chính trị đã giao cơ quan chức năng tiến hành thẩm tra, xác minh, kết luận về từng vụ việc và đã báo cáo với Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Qua thẩm tra, xác minh đã kết luận những thông tin đó đều không đúng sự thật.

Chúng ta phải ứng xử thật khách quan, bình tĩnh, thận trọng và phải hết sức cảnh giác trước những thông tin xấu trên mạng Internet, trước những dư luận tiêu cực đối với mỗi con người, đối với mỗi đồng chí chúng ta. Nếu chỉ căn cứ vào dư luận, căn cứ vào thông tin trên mạng Internet mà suy diễn, mà quy kết là không khách quan. Đó cũng là điều mà những người tung tin xấu, tạo dư luận tiêu cực mong muốn. Khi xử lý đối với những thông tin này phải  thực hiện theo đúng quy định của Đảng và pháp luật nhà nước. Chúng ta có cả hệ thống cơ quan chức năng để giám sát, kiểm tra, thanh tra, thậm chí là điều tra để làm rõ các dấu hiệu, các thông tin tiêu cực và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm.

Mặt khác, những hành vi truyền bá văn hóa đồi trụy độc hại và đưa những thông tin không đúng sự thật, xuyên tạc, bịa đặt, vu khống… phải được xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

8. Về nội dung chất vấn Kết quả hoạt động an ninh quốc phòng năm 2012 và định hướng chính sách đối ngoại của Nhà nước ta, đặc biệt là đối với các nước lớn và các nước lân cận trong thời gian sắp tới. Tôi xin trình bày như sau:

Năm 2012, thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân tiếp tục được tăng cường. Lực lượng vũ trang nhân dân được tiếp tục xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại (một số lĩnh vực đi nhanh vào hiện đại). Tiềm lực quốc phòng và công nghiệp quốc phòng được nâng lên. Gắn kết chặt chẽ hơn phát triển kinh tế – xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh. Công tác đối ngoại đạt được nhiều kết quả tích cực. Bằng sức mạnh tổng hợp chúng ta đã bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, độc lập chủ quyền quốc gia, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội và cải thiện đời sống nhân dân. Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta phải làm tốt nhiệm vụ này trong năm 2013.

Trong thời gian tới chúng ta tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn là đối tác tin cậy, bình đẳng cùng có lợi và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, vì lợi ích đất nước, vì chủ quyền quốc gia, vì một nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa – dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và vì hòa bình hữu nghị, hợp tác phát triển trong khu vực và trên thế giới.

Tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác tốt đẹp với các nước láng giềng. Thúc đẩy giải quyết bằng biện pháp hòa bình các vấn đề còn tồn tại về biên giới, lãnh thổ, ranh giới biển và thềm lục địa với các nước liên quan trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển năm 1982 và các quy tắc ứng xử, các thỏa thuận của khu vực đã đạt được. Xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển.

Chủ động đóng góp tích cực và có trách nhiệm vào việc xây dựng Cộng đồng ASEAN. Đưa quan hệ với các đối tác đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả hơn. Chủ động tham gia tích cực và đóng góp hiệu quả tại các diễn đàn đa phương, khu vực và quốc tế góp phần vào hòa bình, ổn định, hợp tác phát triển của khu vực và trên toàn thế giới.

Xin cám ơn các vị đại biểu Quốc hội./.

http://thutuong.chinhphu.vn/Home/Toan-van-Bao-cao-giai-trinh-va-tra-loi-chat-van-Quoc-hoi-truc-tiep-cua-Thu-tuong-Nguyen-Tan-Dung/201212/17381.vgp

Một luận điệu thường gặp của các phần tử phản động là cộng sản Việt Nam dâng Ải Nam Quan và thác Bản Giốc cho TQ. Luận điệu này đã lừa phỉnh được khối người nhẹ dạ cả tin và lười tìm hiểu. Sau đây, HNNGBPĐ xin cung cấp đến các mem những thông tin để phản bác điều đó.

Thác Bản Giốc

1/ Ải Nam quan và thác Bản Giốc là 2 trở ngại cuối cùng trong việc đàm phán với TQ

Trả lời câu hỏi của phóng viên báo Vnexpress, nguyên thứ trưởng ngoại giao Vũ Dũng đã nói:

Trong cuộc đàm phán cuối cùng (28-31/12), vấn đề mấu chốt còn lại giữa hai bên là gì?Trong những ngày đàm phán cuối cùng, hai bên tập trung bàn thảo hai khu vực còn tồn tại, đó là khu vực thác Bản Giốc (Cao Bằng) và cửa sông Bắc Luân (Quảng Ninh). Đây là hai khu vực nhạy cảm, chưa được phân định rõ ràng.Trong những ngày đàm phán cuối cùng, hai bên tập trung bàn thảo hai khu vực còn tồn tại, đó là khu vực thác Bản Giốc (Cao Bằng) và cửa sông Bắc Luân (Quảng Ninh). Đây là hai khu vực nhạy cảm, chưa được phân định rõ ràng.
Khi ký hiệp ước năm 1999, các khu vực khác đều vẽ được đường biên giới chung, riêng hai khu vực này chỉ vẽ được đường chủ trương của hai bên, có nghĩa có hai đường chủ trương của Việt Nam và Trung Quốc. Do đó, đây là hai khu vực khó khăn nhất và được giải quyết vào phiên cuối cùng giữa hai Trưởng đoàn đàm phán.

http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2009/01/3ba0a080/
Ngoài ra còn có ý kiến của nguyên thứ trưởng ngoại giao Lê Công Phụng

Hai khu vực này thuộc các khu vực phức tạp, nhạy cảm nhất trong quan hệ biên giới giữa hai nước. Trên thực tế, tại hai khu vực này đã từng xẩy ra tranh chấp phức tạp và kéo dài trong nhiều năm. Các văn bản pháp lý về hoạch định và phân giới cắm mốc giữa chính quyền Pháp và Nhà Thanh cũng có những điểm quy định không rõ ràng. Đường biên giới được vẽ trên bản đồ tỷ lệ lớn (1/100.000), địa hình ở khu vực Hữu Nghị Quan được vẽ tổng hợp, không phù hợp với địa hình tự nhiên trên thực địa, nên rất khó xác định hướng đi của đường biên giới. Những hạn chế về cơ sở pháp lý và điều kiện tự nhiên đó đã dẫn đến hai bên có nhận thức khác nhau về hướng đi của đường biên giới ở hai khu vực này.

2./ Vấn đề Thác Bản Giốc được giải quyết theo tập quán quốc tế
Khu vực thác Bản Giốc là một trong số các khu vực đường biên giới đi theo sông, suối. Do đó, cũng như ở các khu vực sông, suối khác đường biên giới ở khu vực này được giải quyết theo tập quán quốc tế là theo trung tuyến dòng chảy chính; việc xác định trung tuyến dòng chảy chính ở thác Bản Giốc sẽ do hai bên cùng đo đạc xác định trong quá trình phân giới, cắm mốc và dòng chảy chính vẫn ở trên thác. Như vậy, hòan toàn không có việc ta mất thác Bản Giốc mà chỉ là việc xác định hu’ớng đi của đường biên giới phù hợp với nguyên tắc xác định hu’ớng đi của đu’ờng biên giới trên sông, suối đã được hai bên thỏa thuận, phù hợp với tập quán quốc tế.

Tuyệt tác của thiên nhiên – Việt Nam

Tại thác Bản Giốc, hai bên đã thống nhất đường biên giới đi từ mốc 53 cũ (do Pháp – Thanh xây dựng). Thác Bản Giốc có hai phần, phần hoàn toàn về phía Việt Nam gọi là thác cao. Thác cao nhưng lại là thác phụ vì lượng nước không lớn. Thác thấp là thác chính sẽ chia đôi, mỗi bên được một nửa. Đương nhiên chỗ đó không cắm mốc, chỉ để nhận biết và quản lý.
Thỏa thuận thứ hai đạt được ở thác Bản Giốc là hai bên không xây dựng các công trình nhân tạo trong phạm vi hẹp khu vực thác để giữ nguyên cảnh quan, vì đây là một thác đẹp thác có thể khai thác du lịch.
Thỏa thuận thứ ba là hai bên sẽ cùng nhau nghiên cứu và hợp tác phát triển du lịch khu vực thác Bản Giốc. Nếu chúng ta hợp tác, phát triển khu du lịch có thể thu hút khách nội địa, khách Trung Quốc và các nước khác.
Hai bên còn hai cột mốc nữa ở thác Bản Giốc chưa cắm, đó là cột mốc trên thượng lưu ở mốc 53 mà tôi vừa đề cập và cột mốc ở ngay dưới chân thác. Hy vọng ngày 2/1 sẽ cắm cột mốc này.
Về vấn đề cửa sông Bắc Luân, hai bên đã đạt được thỏa thuận tạo được đường biên giới từ thượng lưu cho đến hạ lưu và đi ra điểm đầu của đường phân định Vịnh Bắc bộ.

Thác Bản Giốc – Việt Nam

3. Ải Nam Quan ở phía Nam đường biên giới theo công ước Pháp – Thanh

Nói Ải Nam Quan phải nhắc tới Pháp – Thanh.

Khu vực Hữu Nghị Quan có liên quan đến đoạn biên giới đi qua đ¬ờng bộ nối liền hai n¬u’ớc và đi qua tuyến đ¬ờng sắt. Đối với đoạn đ¬ờng bộ thì Biên bản hoạch định Pháp – Thanh năm 1886 quy định rằng đ¬u’ờng biên giới “nằm ở phía Nam ải Nam Quan, trên con đ¬ờng từ Nam Quan đến làng Đồng Đăng”. Khi phân giới, hai bên đã cắm mốc số 18 để xác định
đường biên giới và vị trí của mốc này cũng được mô tả là nằm trên đường từ Nam Quan đến Đồng Đăng (mốc này đã bị mất); còn trên bản đồ cắm mốc Pháp – Thanh năm 1894 thì địa danh Nam Quan nằm ở phía Bắc đường biên giới. Như’ vậy, đư’ờng biên giới luôn luôn ở phía Nam của Nam Quan, chứ không phải đi qua địa danh đó. Đối với đoạn đường sắt, phía Trung Quốc cho rằng đường biên giới đi qua điểm nối ray, nhưng qua đàm phán hai bên đã đi đến giải pháp là đường biên giới nằm ở phía Bắc điểm nối ray 148m, chứ không phải ở điểm nối ray như ý kiến của Trung Quốc.

4. Tại sao lại chọn công ước Pháp – Thanh 1887 và 1895 lại được chọn như là một tiêu chuẩn để giải quyết các tranh chấp
Trong số các nguyên tắc giữa 2 bên thì nguyên tắc số 1 là
Một là, hai bên lấy các Công ước Pháp – Thanh năm 1887, 1895 cùng các văn kiện, bản đồ hoạch định và cắm mốc biên giới kèm theo, cũng như các mốc giới cắm theo quy định để xác định lại đu’ờng biên giới trên đất liền. Đây là nguyên tắc cơ bản và quan trọng.

Tại sao vậy ?
Theo hòa ước Giáp Thân 1884 được kí kết giữa triều đình nhà Nguyễn và Pháp , có điều khoản nhà Nguyễn công nhận sự bảo hộ của Pháp ở Việt Nam. Tháng 9/1884 tới tháng 6/1885, Pháp và Thanh đánh nhau để tranh giành ảnh hưởng đối với VN.
Năm 1887, Công ước Pháp-Thanh được kí kết nhằm phân chia lại đường biên giới giữa Bắc Kỳ và Trung Quốc.
Rõ ràng nếu như Ải Nam Quan có từng thuộc về Việt Nam thì nhà Nguyễn phải chịu trách nhiệm đã làm mất nó vì đã nhu nhược , bán nước cho Pháp, chấp nhận sống dưới trướng bảo hộ, để Pháp và TQ thỏa thuận về chủ quyền dân tộc.

5/ Ý nghĩa của việc giải quyết cắm mốc biên giới trên đất liền với TQ.
Cắm mốc biên giới để xác định chủ quyền trên đất liền là một vấn đề quan trọng đối với bất cứ quốc gia nào. Nói một cách dễ hiểu, cũng tương tự như việc xây một cái hàng rào để xác định khuôn viên của một hộ dân cư được qui định trong số đỏ.
Trong số các nước láng giềng TQ, có những nước vẫn chưa hoàn thành xong cắm mốc hoặc là hoàn thành trễ và đã trở thành nạn nhân để TQ lấn chiếm đất như Ấn Độ, Nga, Kazakhstan và Triều Tiên.

Việc hoàn thành cắm mốc biên giới giữa VN và TQ là một thành tựu quan trọng, cho thấy sự khôn khéo của Việt Nam trong vấn đề chủ quyền.
Nguồn
http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2009/01/3ba0a080/
http://viet.vietnamembassy.us/tintuc/story.php?d=20020916234331

Title do kenminhthien.net đặt lại. Title gốc: ĐẬP TAN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ ẢI NAM QUAN – THÁC BẢN GIỐC.

Sự thật về Biệt thự của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng

Hiện nay trên mạng internet, các trang web, blog phản động như “Dân Làm báo”, “baohoasen”, “tintuchangngay”, “webdoithoai”, “boxitvn” … đang thi nhau đăng tải và thêm mắm, thêm muối bài viết với tiêu đề “Ngắm Biệt Thự Mới Xây Của Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng”.

Trích đoạn: “Căn biệt thự mà thủ tướng Việt Nam đang sở hửu – được xây dựng từ năm 2000 mang đậm phong cách cổ điển châu Âu với đầy đủ những cơ sở vật chất cho một cuộc sống xa hoa như bể bơi, sân vườn, spa..và đặc biệt mặt tiền của ngôi nhà quay ra hướng vịnh với khung cảnh biển thoáng đạt.”

Tôi thấy Bài viết trên đang làm cho người dân hiểu lầm nghiêm trọng. Vì hầu hết người dân thường rất tò mò với các thông tin riêng tư của Lãnh đạo đất nước hoặc những người nổi tiếng. Đặc biệt các bạn sinh viên, học sinh rất dễ tin và bất mãn với chế độ và Lãnh đạo đất nước khi tiếp nhận các thông tin kiểu này.

Để tìm làm rõ sự thật hư vấn đề này, Tôi quyết định tìm hiểu:
Những gì đang diễn ra?
Các bạn có thể search trên google với từ khóa “Ngắm Biệt Thự Mới Xây Của Thủ Tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng” . Ngay lập tức Google sẽ liệt kê hàng chục đường dẫn của các trang web, blog phản động đăng bải bài viết này.

[IMG]
Hàng chục đường dẫn của các trang web, blog phản động đăng bải bài viết này.

Qua tìm hiểu, tôi thấy bài viết trên được phát tán trên mạng vào ngày 10/3/2012, đang được các trang web, blog phản động thi nhau đăng lại bài viết trên.

Đặc biệt, tôi còn thấy có cả Video mô tả cụ thể Lâu đài này và xuyên tạc là của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng do tài khoản Vnh20 đăng tải tại  được upload ngày 7/8/2011 (trước thời điểm bài viết trên được phát tán 10-3-2012 so với ngày 7/8/2012 là hơn 7 tháng) với dung xuyên tạc trắng trợn và nhảm nhí.

[IMG]
Hình được chụp từ video đã lắp ghép thô thiển bằng mắt thường ai cũng có thể nhận biết.

Ngoài ra, Bài viết “Nguyễn Tấn Dũng Bán Nước Mua Lâu Đài” được đăng bởi “nguoithathoc1959″ từ tháng 8/2011 đưa tin ông Nguyễn Tấn Dũng là chủ sở hữu một tòa lâu đài ở Ả Rập với những hình ảnh như trên .

Toàn bài viết “Nguyễn Tấn Dũng Bán Nước Mua Lâu Đài” với lời lẽ lắp ghép, bôi nhọ Lãnh đạo, xuyên tạc đến mức nhảm nhí. Thể hiện bản chất phản động của các trang web trên.

Đâu là sự thật?

Theo tôi tìm hiểu, Lâu đài này thuộc về bà Benazir Bhutto của Pakistan hoặc là của Pvldarhayy, một người ở Iran
Thứ nhất, Toà lâu đài này thuộc về một người Iran là Pvldarhayy sống tại Teheran, Căn biệt thự này được BBC so sánh là to và đẹp ngang với Nhà Trắng của Mỹ. Tham khảo tại
http://umic.ir/index.php?option=com_content&task=view&id=889&Itemid=318

[IMG]
Hình ảnh mô tả Lâu đài này của một người ở Iran

Thứ hai, Tòa lâu đài này được cho là thuộc về Bà Benazir Bhutto (Bà Benazir Bhutto, hai lần làm thủ tướng Pakistan (1988–1990; 1993–1996) và sau đó là lãnh đạo của đảng đối lập Đảng Nhân dân Pakistan, đã bị ám sát ngày 27 tháng 12 năm 2007).

Các bạn hãy tìm kiếm (search) trên google với từ khóa “Benazir Bhutto Palace Dubai”. Ngay lập tức Google liệt kê hàng chục đường dẫn tới Tòa lâu đài này. Các bạn hãy so sánh các hình ảnh và video để biết sự thật mà các tổ chức và cá nhân phản động đang xuyên tạc nhảm nhí đến mức nào:

Sau đây là các địa chỉ mô tả về Lâu đài của Bà Benazir Bhutto mà các bạn có thể tham khảo:
http://sweet-wallpapers.weebly.com/benazirs-palace-in-dubai.html
http://www.paklinks.com/gs/images-central/284704-late-benazir-bhuttos-house-in-dubai.html
http://khangeee.blogspot.com/2010/12/benazir-bhutto-palace-dubai-exclusive.html
http://sweet-wallpapers.weebly.com/benazirs-palace-in-dubai.html
(Benazir Palace In Dubai)  được u2ubex upload vào ngày 4/2/2009

[IMG]
video mô tả Lâu đài này của bà Benazir Bhutto

(Benazir Palace In Dubai)  được 07Bilawal upload 16/3/2010
Tôi đã đăng lại tại đây để bạn đọc tham khảo:
– (Benazir Bhutto’s Palace in Dubai) 
– (The Bhutto’s Palace family’s cribs, Let’s see what’s inside) 

Tôi thấy các tổ chức, cá nhân phản động đang ra sức phát tán thông tin này và rất nhiều thông tin khác để bôi nhọ Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đánh lừa nhân dân. Nhưng hành động này càng làm cho họ nhảm nhỉ và nực cười.
Cứ đà này không biết mai mốt họ có nói White House, hay điện Kremli là của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không nữa

 

Nguồn: http://www.yeutoquoc.org/threads/97/

Ông Nguyễn Tấn Dũng bị nói xấu như thế nào?

Nếu là một người dân Việt Nam chịu quan tâm tới các vấn đề nóng của đất nước và đặc biệt là tìm hiểu thông tin về vị thủ tướng đương nhiệm: ông Nguyễn Tấn Dũng thì có lẻ chúng ta sẽ được tiếp thu hầu như là các thông tin có thể nói là xấu, bội nhọ, không đúng so với những gì ông đã làm cho đất nước…. Các thông tin chính thống gần như không thể đấu lại với các thể loại tin này trên trang tìm kiếm Google.

Thời đại ngày nay quá dễ để đưa một thông tin nào đó lên Internet, đã qua rồi cái thời mà nhà nhà người người viết về các cảm xúc cá nhân, thay vào đó giờ đây họ đã đưa các chính kiến, các suy nghĩ về nhiều vấn đề của đất nước lên Internet, có thể là nhiều mục đích khác nhau, tốt thì là lo lắng cho đất nước xấu thì là xuyên tạc người khác (cấp độ thấp có thể là ca sĩ, diễn viên, cao hơn nữa là lãnh đạo quốc gia cụ thể ở bài viết này là thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng).

Tập Viết Báo chỉ đơn thuần là một tờ blog cập nhật các thông tin về tình hình đất nước bên cạnh đó cũng hay đưa các tin về lãnh đạo của chúng ta, qua quá trình thanh lọc tin tức TVB (từ đây xin viết tắt Tập Viết Báo thành TVB) phát hiện rất nhiều các tin tức, bài viết trên các blog cá nhân cố tình viết xấu về ông Nguyễn Tấn Dũng, TVB đứng ở vị thế trung lập không phán xét các bài viết đó chỉ biết rằng thông tin một khi không có kiểm chứng mà chỉ nói càn và cố tình bôi nhọ ai đó thì thông tin đó không đáng được tin tưởng và trân trọng. Nhưng với người đọc bình thường và lần đầu tiên tiếp cận các thông tin đó rất dễ cho đó là… đúng.

TVB xin lấy ví dụ về một loạt các bài viết cách đây khoảng 5 tháng về một từ khoá được tìm kiếm khá nhiều trên mạng: Lâu đài/Biệt thự Nguyễn Tấn Dũng <- xuất phát điểm của vấn đề này nếu người dùng chịu tìm hiểu kĩ thì đó là do 1 sự nhầm lẫn tại của 1 website lấy các hình của một lâu đài nước ngoài và gán cho ông Nguyễn Tấn Dũng [Chi tiết xin đọc ở đây: Sự thật về Biệt thự của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng,http://www.yeutoquoc.org/threads/97/ ], một ví dụ như trên thôi cũng đủ để 1 bộ phận đọc thông tin này cho rằng thủ tướng Dũng là người tham nhũng, tham ô, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh của một nguyên thủ quốc gia…. từ đó sẽ có ác cảm dẫn đến các tin tức xấu về sau tiếp cận sẽ tin hơn nữa, cứ thế.

Bạn đọc cứ để ý hễ đất nước Việt Nam có một cái gì đó xấu về kinh tế hay quốc phòng là cứ y như rằng trên Internet có ngay những bài viết xoi mói nói xấu thủ tướng Dũng (chưa nói là còn các các vị lãnh đạo khác).

Như đã nói ở bên trên một thông tin mà không có kiểm chứng mà lại đi nói xấu người khác thì không đáng tin tưởng. Tình thế hiện nay đất nước ta đang phải chống chọi với Trung Quốc về các vấn đề trên Biển Đông, mọi người cần phải là một khối đồng lòng mới có thể chống được các tư tưởng ngoại xâm đang lăm le bờ cõi vì thế hãy nhìn vào những gì mà ông Dũng đã làm tốt cho đất nước, đừng tin vào những bài viết xăm xoi đời tư của ông Dũng, xăm xoi đến cá gia đình và con cái của thủ tướng thì hết nói.

TVB rất ít khi thấy các blog “đó” viết các bài dạng như: kế sách để phát triển kinh tế, bày kế cho thủ tướng tăng GDP, tâm thư gửi thủ tướng về Trường Sa Hoàng Sa,…. đại loại là các bài viết chia sẽ kinh nghiệm, kế sách,… để đất nước cùng phát triển mà suốt ngày chỉ thấy toàn tin tào lao về các vấn đề không một chút nào có thể giúp cho đất nước VN này khá hơn được.

—> Những thành tựu mà TVB cho rằng website nguyentandung.org đưa ra ở đây rất đáng để người dân VN biết đến và để thấy sức làm việc của ông đáng nể đến nhường nào: Hoạt động của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng 6 tháng đầu năm 2012 (http://www.yeutoquoc.org/threads/97/ ) .

(Phần này kenminhthien.net tôn trọng nguồn nên giữ nguyên bài viết. Kenminhthien.net không khuyến khích việc truy cập vào các trang web có tên các vị lãnh đạo mà không có giấy phép cụ thể.)

Và cũng xin lưu ý là website này các bạn nên đọc thường xuyên để cập nhật các tin tức tổng hợp về tình hình đất nước cũng như các hoạt động, ý kiến của ông Nguyễn Tấn Dũng.

Bài từ TVB

Điều bất ngờ về con cái của ông Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang

Góc nhìn đa chiều

Trong cuộc sống có câu “những con số biết nói”.Thật vậy, có khi chỉ thông qua một con số mà người đời biết được nhiều điều hay, dở. Tương tự, thông qua một cử chỉ, việc làm người ta hiểu được đâu là phải, trái.

Cho đến thời điểm hiện tại, có lẽ trừ Ban Tổ chức Trung ương Đảng,Văn phòng Chủ tịch nước, Quốc hội và những người thân trong gia đình biết tường tận con cái của TBT Nguyễn Phú Trọng và CT nước Trương Tấn Sang quí danh là gì, bao nhiêu tuổi, đang làm gì ở đâu? Còn thì không mấy ai biết và trả lời chính xác được câu hỏi đặt ra ở trên.

Ai cũng biết ông Nguyễn Phú Trọng trước khi trở thành TBT từng là Bí thư Thành ủy Hà Nội, Chủ tịch Quốc hội; còn ông Trương Tấn Sang trước khi được Quốc hội bầu là CT nước từng là Bí thư Thành phố Hồ Chí Minh, Trưởng ban Kinh tế Trung ương, Thường trực Ban Bí thư.

Ở những vị thế kinh qua như vậy, nếu ông Trọng, ông Sang ra tay tạo dựng cho con cái vào các chức danh Phó giám đốc rồi Giám đốc các ban, ngành (ở địa phương) để rồi tạo đà thăng tiến dần…hay Phó vụ trưởng, Vụ trưởng, Tổng Giám đốc một doanh nghiệp, thậm chí Thứ trưởng (các Bộ ngành ở Trung ương) chỉ là chuyện nhỏ như con thỏ. Thực tế thì có khá nhiều VIP đã, đang làm như vậy rồi!

Nhưng TBT Nguyễn Phú Trọng, CT nước Trương Tấn Sang đã không làm thế. Nếu con cái hai ông có những chức danh như đã điểm thì cả địa phương biết, cả ngành cả nước biết, thậm chí cả thế giới cũng tỏ.

Người viết bài này được biết con cái của TBT Nguyễn Phú Trọng, CT Trương Tấn Sang hiện đang là những công chức, doanh nghiệp bình thường. Cũng như chức danh rất khiêm tốn ấy, lại cũng nghe nói, con cái của hai ông sống rất từ tốn chứ không ngồi đâu, với ai cũng huếnh hoáng lên “bố tớ là ông nọ ông kia”, thậm chí làm nhiều điều tai tiếng như con cái của nhiều vị ủy viên Trung ương hay Bộ trưởng nọ Bộ trưởng kia…

Riêng về góc độ con cái, như vậy thật đáng khen và nể phục, chắc chắn họ là những người được học hành, giáo dục nề nếp, biết ứng xử với xã hội như thế nào…

Khác hẳn với TBT Nguyễn Phú Trọng và CT nước Trương Tấn Sang, một số vị lãnh đạo khác có mấy người con, họ tên đầy đủ, hiện đang làm gì, ở đâu thì ai cũng biết cả rồi…

…Có thể nói rằng TBT Nguyễn Phú Trọng, CT nước Trương Tấn Sang đang là những nhà lãnh đạo có tư chất và nhân cách riêng thuộc diện “xưa nay hiếm” ở Việt Nam. Đúng như tên riêng – Các ông SANG TRỌNG đúng nghĩa!
Như thế, chắc chắn tại Hội nghị Trung ương VI diễn ra tới đây,175 Ủy viên BCH Trung ương sẽ lấy đó là một trong những căn cứ sinh động, quan trọng để thể hiện chính kiến thông qua lá phiếu của mình trước vận mệnh của đất nước và của Đảng.

Trích đăng bài viết của NGƯỜI QUAN SÁT (BLOGSPOT)

Lấy bài viết từ REDS.VN