Tag Archive: thời


Nancy Rica Schiff – một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp đã dành rất nhiều thời gian của mình để ghi lại hình ảnh của những ngành nghề mới lạ và độc đáo. Schiff đã từng xuất bản một cuốn sách ảnh về chân dung những người có công việc kì lạ vào năm 2002.

Đa số mọi người sẽ nghĩ rằng những người làm công việc kỳ lạ chắc hẳn sẽ có tính cách lập dị. Tuy nhiên, Schiff cho biết, điều này không đúng. Nhiếp ảnh gia mô tả nhân vật của mình là những người nhạy cảm, tinh tế và làm việc một cách vui vẻ.

Nhiều người trong số các “đối tượng” của Schiff đã liên lạc với nhiếp ảnh gia và kể lại về tác động mà những hình ảnh tạo nên với cuộc sống của họ. Họ chia sẻ rằng trước đây, bạn bè và hàng xóm biết nơi họ làm việc, nhưng không thực sự biết họ làm gì ở đó. Giờ đây, công việc của họ không những được biết đến nhiều hơn mà còn nhận được nhiều sự cảm thông và khích lệ.

Dưới đây là những nghề nghiệp “quái dị” đã được xuất bản trong cuốn sách:

 

1

Chuyên gia… kiểm tra mùi cơ thể.

2

Người nuôi đỉa.

3

Người sản xuất gà cao su.

4

Người thử nghiệm… thức ăn cho chó.

5

Nhân viên trị liệu… ruột già.

6

Người thiết kế… underwear cho nam giới.

7

Trợ lý cho… nghệ sỹ phi dao.

8

Trị liệu âm nhạc cho những người đang hấp hối.

9

Người làm sạch… xương khủng long.

10

Nhân viên… chữa vết nứt trên các vách đá.

11

Và cả người… thử nghiệm băng vệ sinh.

[sưu tầm]

Đây là 1 bài viết dài của mình về tổ chức khủng bố Việt Tân, chủ yếu từ các thông tin ngay tại Mỹ, ngay từ những bọn chống Cộng kiêm chống Việt Tân. Bài này nằm trong 1 dự án về tổ chức khủng bố VT mà mình đang hợp tác làm cùng Lê Dũng và 1 số bạn khác. Mấy ngày nay lướt web thấy có mấy đứa cò mồi của VT gào “nếu VT chống TQ thì tôi sẽ theo VT”. Báo chí và radio, TV Việt ngữ bên đây thì … nghe VT sủa điếc cả tai. Bực ko chịu nổi, VT chưa bao giờ chống TQ, chúng nó chỉ kêu gào bằng mồm và xúi con nít ăn cứt gà, xúi giục, kích động, khích tướng, rủ rê, dụ dỗ, lợi dụng người khác chứ bản thân chúng nó ko có chống gì TQ, chúng nó chỉ chống VN thôi. Thập niên 1980, trong lúc VN đang chống TQ công khai, thì chính bọn Việt Tân này đã vào VN khủng bố chứ ai vào đây. Bài này tính để dành post sau này, nhưng bực quá thôi post vào đây luôn cho các bạn tham khảo, đây cũng là thời điểm thích hợp để mọi người biết đc mặt thật, chân tướng, bản chất của tổ chức khủng bố này. Để ý thức đc bất cứ cái gì dính vào VT thì nên hết sức thận trọng.

——————————————————-

2- Tổ chức khủng bố Việt Tân

Sau khi cuộc chiến chống Mỹ của Việt Nam kết thúc, một số phần tử ngụy quân và ngụy quyền chạy theo sang Mỹ. Một bộ phận trong số này chẳng những không ăn năn hối cải, không cải tà quy chính, mà còn ngày càng lầm đường lạc lối, dấn thân vào tội ác, do thù hận, do ngu dốt không thức thời, vì lợi ích cá nhân, vì những đồng đô la nhơ nhuốc, chúng đã điên cuồng chống phá Việt Nam. Chúng lập rất nhiều tổ chức, đảng phái, hội đoàn, “cộng đồng” khác nhau để chống lại đất nước. Một trong những tổ chức khủng bố ấn tượng nhất, gây nhiều tội ác nhất, chính là tổ chức khủng bố Việt Tân.

Tổ chức khủng bố “Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng”, gọi ngắn gọn là “Việt Tân”, với lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng, là một tổ chức khủng bố xuyên quốc gia do cựu phó đề đốc ngụy Sài Gòn Hoàng Cơ Minh thành lập và huấn luyện, dưới sự tài trợ của chính phủ Hoa Kỳ trong thời Chiến tranh lạnh và trong thời gian Việt-Mỹ chưa bang giao. Sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ, Việt Tân vẫn được chính phủ Mỹ, chủ yếu những thành phần chính trị gia phản động, diều hâu, vẫn còn mang tư tưởng thực dân đế quốc, chống Việt Nam, chống XHCN, hoặc những chính trị gia cơ hội (muốn tranh thủ Việt Tân để lợi dụng chúng vận động kiếm phiếu trong cộng đồng người Việt hải ngoại) trong chính phủ Mỹ tài trợ qua nhiều quỹ khác nhau. Tổ chức khủng bố này hoạt động với chiêu bài “quang phục Việt Nam”, “phục quốc”, “đem lại tự do, dân chủ, nhân quyền, phú cường cho Việt Nam”. Chúng không dám thừa nhận bản chất khủng bố của mình, mà thường tự xưng, tự phong mình là những “nhà hoạt động nhân quyền”, “nhà dân chủ”, “người bất đồng chính kiến”, “người có quan điểm khác biệt”, “chiến sĩ tự do” (freedom fighter) v.v.

3- Những hoạt động của Việt Tân

Trong những năm 1980, dưới tên gọi “Mặt trận Quốc gia Thống nhất Giải phóng Việt Nam” hoặc còn được gọi là “Mặt trận Hoàng Cơ Minh”, tổ chức khủng bố Việt Tân đã nhiều lần đem các loại súng đạn, chất nổ, lựu đạn, mìn, tiền giả, ma túy vào Việt Nam để phá hoại xã hội, khủng bố người dân và khủng bố chính quyền.

Trong thập niên 1990, sau khi Mỹ chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam, đồng thời manh nha có ý tưởng “chống khủng bố” và sử dụng chiêu bài này để bành trướng quốc tế, xác định “kẻ thù chính của nước Mỹ chính là chủ nghĩa khủng bố”, thì Mặt trận Hoàng Cơ Minh cũng lập tức đổi tên thành “Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng” (Việt Tân) và tuyên bố cái gọi là “cương lĩnh mới” của chúng, hứa hẹn từ nay sẽ không còn đấu tranh bạo lực giết người nữa mà chuyển sang đấu tranh “bất bạo động”, bằng tuyên truyền chính trị, phù hợp với sự chuyển đổi sách lược từ chiến tranh bạo động sang Diễn Biến Hòa Bình của Hoa Kỳ và phương Tây. Tức quan thầy thay đổi sách lược thì đệ tử cũng thay đổi sách lược. Quan thầy tuyên bố “tôi đây chống khủng bố” và kêu gọi “chống khủng bố” thì đệ tử cũng vội vã thanh minh “tôi đây không phải là khủng bố”. Và cũng để quan thầy khỏi mang tiếng “tài trợ khủng bố”, nuôi dưỡng khủng bố.

Cũng trong những năm 1990, mặc dù bề ngoài đã tuyên bố thay đổi chiến lược từ bạo động sang “bất bạo động”. Nhưng thỉnh thoảng Việt Tân vẫn sai người vào VN đặt chất nổ, rải và dán truyền đơn, xách động, dụ dỗ, mua chuộc những thành phần bất mãn, những phần tử lưu manh, giang hồ, xã hội đen, tội phạm ở VN để hoạt động cho chúng. Hầu hết người của Việt Tân trong thời gian này khi bị bắt giữ ở VN đều tìm thấy vũ khí nguy hiểm trên mình chúng, như súng lục, lựu đạn, dao găm, lưỡi lê v.v.

Kể từ năm 2000, cuộc chiến “chống khủng bố” do Hoa Kỳ đứng đầu đã rất ác liệt. Mối quan hệ đối tác kinh tế Việt-Mỹ ngày càng tốt đẹp, thuận lợi. Thế giới văn minh hơn, yêu hòa bình hơn. Dân trí Việt-Mỹ ngày được nâng cao, tình thế đã khác xưa, thời thế thay đổi, nên Việt Tân ngày càng chuyển qua hình thức phá hoại chính trị, diễn biến hòa bình là chính, ít còn dùng bạo lực giết người cướp của như trước đây. Tuy nhiên, thỉnh thoảng chúng vẫn sai người về VN thực hiện các nhiệm vụ khủng bố để lấy tiếng. Nhằm thực hiện ý đồ vừa có thể khủng bố Việt Nam trong thời đại mới, vừa có thể tránh tiếng khủng bố, chúng đã tiến hành 2 bước:

1. Sai người về nước khủng bố. Trong thời gian điều tra, giam giữ phạm nhân thì Việt Tân ỡm ờ, không tuyên bố gì chính thức, và trả lời phỏng vấn kiểu nước đôi, ba phải, “văn chương huề vốn”, chung chung.
2. Sau khi tên khủng bố đã bị bắt, đã khai báo, đã tự viết bản nhận tội và ký tên và báo chí VN cho biết đây là thành viên của tổ chức khủng bố Việt Tân thì chúng mới tuyên bố chính thức và “minh định lập trường” rằng đây “không phải là người của chúng tôi”.

Hành động nước đôi, hai mặt này của Việt Tân xảo quyệt, hiểm độc ở chỗ nó vừa lấy tiếng được cho tổ chức này, rằng “chúng tôi vẫn có thực lực”, “chúng tôi có khả năng lật đổ chế độ VN”, “chúng tôi hoàn toàn có thể làm ra những việc lớn lao”, “chúng tôi có giá trị mặc cả”, “chúng tôi có đủ tư cách, đủ tiêu chuẩn để nhận tài trợ từ các quỹ của chính phủ Hoa Kỳ”, “chúng tôi có đủ tư cách để thu hút sự chú ý của chính phủ Mỹ và các chính phủ phương Tây khác”. Đồng thời cũng hé lộ, úp mở rằng ta đây có dây mơ rễ má với chính phủ Mỹ đấy nhé, nhằm ra oai với đồng bào hải ngoại. (Chứ 1 mình Việt Tân thì không dám làm những chuyện điên rồ như vậy nếu không có xếp Mỹ chống lưng) Mà cũng vừa tránh được tiếng khủng bố vì “chúng tôi đã tuyên bố chính thức rằng mình không phải khủng bố, và tên khủng bố này không liên quan với chúng tôi đấy nhé”. Như vậy, Việt Tân vừa lấy được tiếng, tăng cường “số má”, cường hóa “thương hiệu” của mình, và vừa tránh được tiếng khủng bố, tránh cho chủ Mỹ cái tiếng “nuôi khủng bố”, “tài trợ khủng bố”.

Một chiêu làm mãi cũng nhàm và bị chủ Mỹ chê là “one trick pony” (ngựa con chỉ biết diễn mỗi một trò), nên thỉnh thoảng Việt Tân cũng “mix it up” (thay đổi những cách đối phó khác nhau) bằng cách là trong nhiều trường hợp khác, thay vì làm bộ làm tịch tuyên bố “không phải người của chúng tôi” thì Việt Tân nói huỵch toẹt ra là “đây đúng là người của chúng tôi, nhưng họ không có khủng bố, công an CSVN đã vu oan giáo họa cho họ và viết giả các bài viết thú tội, giả mạo chữ ký của họ”, khi báo CAND đưa lên hình ảnh chữ viết, chữ ký, và những phạm nhân tự thú bằng chính lời nói của chúng trước máy ghi âm, máy quay, thì Việt Tân lại sửa giọng “quản giáo CSVN đánh đập tra tấn các tù nhân lương tâm của chúng tôi, hăm dọa họ, đe dọa gia đình họ, bắt ép họ phải nói, phải viết theo ý CSVN, theo kịch bản của CSVN v.v.” Mặc dù trong các video clips ai cũng thấy rõ những tên hèn nhát “chưa khảo đã khai” này tự thú rất ngoan ngoãn, trôi chảy, và không hề có dấu hiệu thương tích sứt mẻ hay bị đánh đập gì, hay bị sức ép tâm lý gì.

Nói chung, trong thập niên 1980, Việt Tân không hề che giấu bản chất khủng bố cố hữu của mình. Trong thập niên 1990 thì Việt Tân bề ngoài tuyên bố “bất bạo động” bằng mồm, nhưng bên trong thì vẫn có những đợt chống phá khủng bố thô bạo. Trong thập niên 2000 thì chúng hạ nhiệt khủng bố, tăng cường phá hoại bằng Diễn biến hòa bình. Tuy nhiên thỉnh thoảng làm vài cú để chứng tỏ với quan thầy rằng “chúng em vẫn còn xài được” và xù lông ra uy với đồng bào hải ngoại và các phe phái khác, các tổ chức khủng bố khác rằng “bọn tao vẫn còn số má lắm”. Nếu xưa kia đường lối của Mỹ đối với các nước XHCN và Việt Tân đối với VN thuần túy là bạo lực đẫm máu thì ngày nay đường lối và chủ trương của chúng là “Diễn biến hòa bình kết hợp bạo loạn lật đổ”, tức chúng dùng biện pháp hòa bình, ôn hòa, bất bạo động kết hợp với bạo động lật đổ. Mà biện pháp bất bạo động, cách mạng màu, cách mạng da cam, cách mạng nhung, cách mạng đường phố, dụ dỗ và kích động những người chống đối đổ xô ra đường để làm náo loạn đường phố, kinh động xã hội, rối loạn trật tự an ninh, là nhiệm vụ chủ yếu. Biện pháp bạo động, khủng bố ngày nay chỉ còn là những biện pháp phụ, có tính chất hỗ trợ.

Những nhân vật chóp bu lãnh đạo Việt Tân của thời khủng bố lộ liễu, trắng trợn vào thập niên 1980 (như Đỗ Hoàng Điềm, Hoàng Cơ Định em ruột Hoàng Cơ Minh, Lý Thái Hùng v.v…) cũng chính là những tên lãnh đạo tổ chức này trong thời khủng bố nhát gừng và diễn biến hòa bình hiện nay.

Địa bàn hoạt động của Việt Tân bao gồm khắp nơi trên đất Mỹ. Chúng luôn tìm cách khủng bố ở Việt Nam và cơ quan ngoại giao VN tại một số nước láng giềng, nhưng thường bị bắt trước khi thủ ác. An ninh VN đã và đang cài rất nhiều người trong hàng ngũ của chúng, mỗi khi chúng về nước là bị chặn bắt ngay từ phi trường, hoặc theo dõi ngay từ đầu tới cuối.

Tại Hoa Kỳ, bọn Việt Tân luôn thò cánh tay lông lá vào các cộng đồng người Việt, các thành phố có nhiều đồng hương, nhúng tay vào hầu hết các đảng phái, tổ chức, hội đoàn, báo chí, truyền thông, nhà xuất bản, trung tâm thương mại, cơ sở kinh doanh v.v. Trong nước thì chúng luôn tìm cách dùng điện thoại, Internet, e-mail, và cả Paltalk để móc nối, bắt liên lạc, để lấy tiếng với quan thầy. Ngoài nước thì chúng cũng không ngừng bành trướng thế lực, mở rộng địa bàn, cài cắm đồng bọn vào các tổ chức khác, tạo ra các tổ chức ngoại vi, các tổ chức đối lập cuội, mua chuộc, dụ dỗ, hăm dọa những người thuộc tổ chức khác. Chúng như một tổ chức băng đảng lưu manh quy mô lớn, không ngừng tìm cách mở rộng thế lực, bành trướng địa bàn, thôn tính các phe nhóm khác để độc quyền bá chủ, độc quyền chống Cộng, độc quyền làm trùm, độc quyền hưởng phân (fund) Mỹ. Hành động bành trướng, lũng đoạn, phá rối, quấy phá các phe đảng khác và có mưu đồ muốn xóa sổ họ của Việt Tân cũng đã bị các phe phái chống cộng khác chống trả quyết liệt, và phản pháo, lên án, vạch trần âm mưu thủ đoạn của chúng các đài báo chống cộng khác tại hải ngoại.

4- Những tội ác khủng bố, lừa đảo của Việt Tân đối với Việt kiều hải ngoại

Mặc dù luôn rêu rao và khoe chiêu bài “đấu tranh vì tự do ngôn luận tại Việt Nam” nhưng Việt Tân có một “thành tích” đáng sợ về khoản giết người bịt miệng, khủng bố Việt kiều hải ngoại, nhất là trong thời gian cuối thập niên 80, khi Việt Tân còn mang tên “Mặt trận Quốc gia Thống nhất Giải phóng Việt Nam” hay “Mặt trận Hoàng Cơ Minh” và thời gian sau khi Hoàng Cơ Minh bị quân dân Việt – Lào bắn chết trong chiến dịch khủng bố mang tên “Đông Tiến”. Để tiếp tục lừa tiền đồng hương và không muốn làm hụt hẫng không khí chống Việt Nam tại Mỹ, những tên chóp bu, đầu mục, đầu sỏ, cầm đầu băng đảng khủng bố Việt Tân đã bưng bít thông tin, giấu diếm ém nhẹm đi tin tức Hoàng giáo chủ đã “băng hà”. Hoàng Cơ Định trâng tráo cầm micro tuyên bố chắc như đinh đóng cột rằng “Chiến hữu Hoàng Cơ Minh, và cũng là anh trai tôi, vẫn còn sống và đang hoạt động chống Cộng sản quyết liệt trong các rừng già tại biên giới Việt – Lào”, Đỗ Hoàng Điềm thì phụ họa tuyên bố chắc nịch trên đài phát thanh rằng “Chủ tịch Hoàng Cơ Minh không hề tuẫn tiết gì cả, đó chỉ là thông tin tuyên truyền dối trá của VC, không thể nào tin được”. Trong khi hình xác chết của Hoàng Cơ Minh đăng rõ ràng trên mặt báo. Rất tiếc xưa nay báo chí VN không được phép lưu hành tại hải ngoại, hầu hết những siêu thị, nhà sách nào phát hành báo chí trong nước đều bị những kẻ luôn mồm “đấu tranh cho tự do báo chí”, “đấu tranh cho tự do thông tin” kéo bè kéo đảng đến biểu tình, ăn vạ, bắt phải dẹp bỏ, có lúc chúng cho lâu la tự tay đem đốt hoặc giục những tờ báo trong nước vào thùng rác. Do bị bưng bít thông tin, rất nhiều người không biết trùm khủng bố Hoàng Cơ Minh đã đền tội, vẫn quyên tiền cho Việt Tân để chống phá trong nước.

Để lừa đảo, gạt tiền quyên góp từ đồng hương. Không những Việt Tân giấu diếm, bưng bít thông tin về cái chết của Hoàng Cơ Minh, mà chúng còn giả mạo những lá thơ “do Hoàng Cơ Minh gởi về”. Đôi khi chúng còn viết trên các tờ báo của chúng, chúng tuyên bố trên các đài phát thanh của chúng rằng “Chủ tịch Hoàng Cơ Minh có điện thoại về”… Những người nào nêu nghi vấn hoặc tố cáo, vạch trần trò lừa gạt bịp bợm của chúng đều bị chúng thuê xã hội đen đánh đập, dằn mặt, thủ tiêu. Như trường hợp chúng thuê người bắn chết ký giả Lê Triết, khủng bố vợ con của ông này. Ám sát hụt giáo sư Cao Thế Dung. Vợ ký giả Lê Triết và ông Cao Thế Dung từng kiện Việt Tân ra tòa vì tội mưu sát, nhưng cũng như bao vụ khác, những tên cầm đầu Việt Tân đều được trắng án và tha bổng một cách vô lý, kỳ lạ, mờ ám, và có dấu hiệu tiêu cực. Cho thấy ai là kẻ thật sự đứng sau lưng Việt Tân. Có rất nhiều cựu thành viên Việt Tân, bao gồm cả những tên từng là lãnh đạo cấp cao, đã viết sách, viết báo tố cáo bản chất tội lỗi, tàn bạo, hung ác, man rợ của Việt Tân, và những chuyện nội bộ nhơ nhớp, dơ dáy, bẩn thỉu mà Việt Tân bưng bít, trong đó chủ yếu là những chuyện lừa gạt, gian lận tiền bạc, kết bè kết cánh, ăn chia không đồng đều, khủng bố thanh toán người khác v.v. có không ít những chuyện chúng chém giết thanh toán, loại bỏ, trừ khử lẫn nhau vì đồng tiền và quyền lực. Có những người đã thoát ly Việt Tân từ lâu nhưng vẫn thường xuyên bị quấy rối, dằn mặt, hăm dọa tính mạng, khi thì bị gọi điện thoại phá (prank call), lúc thì bị chọi trứng, cà chua, gạch đá vào cửa sổ xe, cửa nhà, cửa sổ nhà v.v. Chúng thường thuê các nhóm xã hội đen, trộm cướp, và nhất là các băng đảng (gang) vốn đầy rẫy ở các trường trung học Mỹ, những tên thiếu niên này cần tiền, có tiền thì việc gì chúng cũng làm và không cần biết người bỏ tiền cho chúng là ai. Vì vậy thuê bọn bất hợp pháp, bọn gangster, bọn vô gia cư (homeless) này thì thường rất dễ chạy tội. Chúng thường thuê bọn gang “hit-n-run” và “drive by shooting” (chạy ngang bắn rồi chạy luôn), thường chúng bắn vào nhà, vào cửa, vào cửa gara, vào xe, vào bánh xe v.v. để khủng bố tinh thần, khủng bố tâm lý những người bất đồng chính kiến. Nghiêm trọng hơn là chúng dò biết trước và đậu xe chờ đến khi chủ nhà vừa mở cửa ra ngoài là bị bắn gục ngay trước cửa nhà.

Tất cả những cơ sở kinh doanh, thương mại, của Việt Tân cũng như của người khác, bất kỳ lĩnh vực gì, từ siêu thị cho tới nhà sách, tiệm video, văn phòng dịch vụ, địa ốc, bảo hiểm v.v. miễn sao người Việt là chúng kéo đến đặt thùng tiền “yểm trợ kháng chiến” hoặc “yểm trợ quốc nội” hoặc “yểm trợ phục quốc”. Chỉ có người Mỹ là chúng không dám đụng tới. Chúng chẳng khác gì bọn giang hồ chuyên kéo lâu la tới đòi tiền bảo kê, dĩ nhiên chẳng ai dám chống lại. Gọi cảnh sát địa phương thì cũng vô dụng, vì chúng sẽ giải thích là “chúng tôi chỉ đặt thùng tiền quyên góp mà thôi” và sau đó chủ thương mại sẽ phải dọn đi nơi khác vì không chịu nổi đòn trả thù tàn bạo và dai dẳng của chúng. Có khi chỉ là những trò biểu tình nhân danh “tự do ngôn luận”, “tự do biểu tình” của chúng để phá chuyện làm ăn của người ta, chiếm chỗ đậu xe của khách hàng, đưa kẻ bị hại đến tình trạng nhẹ thì lỗ lã, nặng thì phá sản, chúng sẽ tận dụng các báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình Việt ngữ của chúng để “đập” và “dìm hàng” đối tượng tơi tả, bịa đặt, xuyên tạc, vu khống, ngậm máu phun người, thậm chí chụp mũ họ là Việt Cộng, bịa đặt chuyện đời tư dơ bẩn v.v. để người ta thân bại danh liệt, phải bỏ sang tiểu bang khác. Nghiêm trọng hơn là chúng trả thù trực diện, cho người dán những tấm hình có biểu tượng đe dọa tính mạng vào cửa nhà, hay chỉ là đem vài con dao, vài khẩu súng đặt trước cửa nhà người ta để “nhắn nhủ”, “đánh tiếng”, hăm dọa, khủng bố tâm lý và tinh thần của nạn nhân. Có nhiều người đã phải dọn đi, vì không chịu nổi đòn thù, trò dày vò tinh thần, tra tấn tâm lý nạn nhân của chúng.

5- Hệ thống kinh tài và các tổ chức ngoại vi của Việt Tân

Có thể nói tổ chức khủng bố Việt Tân là tổ chức giàu có nhất trong tất cả các tổ chức khủng bố, đảng phái chống Cộng tại hải ngoại. Nhờ chúng tận dụng thời điểm cuối thập niên 1980 khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chúng tuyên truyền lên rằng CSVN sắp sụp đổ tới nơi, và “chúng tôi” sẽ về nước lập chính quyền mới, hứa hẹn phong cho ông A bà X chức này tước nọ, chúng tranh thủ tuyệt đối sự ủng hộ của những kẻ chống Cộng và những chính trị gia sa lông, cơ hội ở hải ngoại, quyên tiền quyết liệt. Những đồng tiền đó chúng dùng để mở hệ thống Phở Hòa với hàng ngàn chi nhánh có trên khắp California và nước Mỹ. Dĩ nhiên, mỗi tiệm phở đều có thùng “quyên góp kháng chiến”. Điều này làm chúng bị bà con hải ngoại chế giễu và gọi là “đảng Phở Bò” hay “Mặt trận Phở Bò” hoặc “kháng chiến Tái Nạm Béo”.

Tiền quyên góp, lừa gạt được của đồng hương cùng với tiền tài trợ từ các quỹ N.E.D., quỹ S.I.D.A., quỹ “nhân quyền”, quỹ “dân chủ”, quỹ xuất cảng đa đảng đa nguyên của Hoa Kỳ, chúng dùng để mở hệ thống Phở Hòa, mua / thuê các tàu cá, ăn bám vào thị trường hải sản Hoa Kỳ, rất nhiều nhóm đánh cá, đánh cá thuê ở Mỹ, nhất là vùng New Orleans là do Việt Tân làm chủ. Những số tiền kiếm được, không phải đồng tiền nào chúng cũng dùng cho việc chống phá VN, mà chúng còn dùng để mua xe, mua nhà, mua đất, đầu tư bất động sản, đầu tư kinh doanh, chúng có bonds, cổ phần, cổ phiếu (stock) trong nhiều cơ sở kinh doanh cổ phần hóa ở Mỹ. Chúng có hàng ngàn tài khoản chính, tài khoản phụ trong nhiều ngân hàng lớn. Những tên đầu sỏ đều đi xe Mỹ đời mới nhất, chúng thay xe như thay áo. Tên nào tên nấy sở hữu hàng chục tiệm làm móng tay, viện thẩm mỹ, siêu thị, nhà hàng, khách sạn v.v. Chúng vừa là một tổ chức khủng bố nguy hiểm, vừa là một tập đoàn tài phiệt tư bản Mafia giàu mạnh, là một tổ chức tội ác, tội phạm trá hình, mang tính chất xã hội đen quy mô lớn.

Chính phủ trung ương Mỹ và CIA thì nuôi chúng để cắn VN, tài trợ cho chúng xuất cảng “dân chủ Mỹ” và “chuyển lửa về quê hương”. Cảnh sát địa phương hoặc nhân viên công lực cấp tiểu bang, cấp thành phố thì không làm gì được chúng vì không có bằng chứng gì có thể chứng minh rõ ràng là chúng vi phạm luật pháp. Ông Hoàng Duy Hùng, chủ tịch cộng đồng thành phố Houston, TX, một người từng ngồi tù tại VN vì hoạt động lật đổ nhà nước và sau đó được đặc xá vì tỏ ra ăn năn hối cải, ông ta là một người chống Việt Tân nhưng cũng phải nhìn nhận “So với Hội Tam Hoàng của Tàu và Mafia của Ý thì Việt Tân cũng không thua kém bao nhiêu”.

Ngoài ra, Việt Tân còn thành lập rất nhiều tổ chức ngoại vi, các cơ quan truyền thông, báo chí, trong đó có những cái loa rất ấn tượng tại hải ngoại như Asia, SBTN v.v. Chúng còn dùng những thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh để tấn công các chương trình ca nhạc khác của đồng hương. Ví dụ khi trung tâm Thúy Nga sản xuất video ca nhạc với chủ đề Mẹ năm 1999, chúng viện cớ video có những cảnh lính Mỹ từ trực thăng xả súng vào dân lành chạy loạn do đạo diễn dựng lại từ phim tài liệu, video có nhạc cảnh Ca Dao Mẹ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn do Don Hồ trình diễn, nhạc phim có cảnh bông lúa màu đỏ do kỹ thuật video, và cuối phim MC Nguyễn Ngọc Ngạn có nói về “đàn chim xa xứ bay về tố ấm”, có vẻ trùng lặp với chủ trương Đại đoàn kết dân tộc của chính phủ Việt Nam, nên Asia đã mượn cớ đó cho tay sai tấn công, chửi bới chương trình ca nhạc Paris By Night. Chúng thuê người gọi vào các đài radio để mắng chửi Thúy Nga không tiếc lời. Chúng dàn dựng, kêu gọi, kích động những cuộc biểu tình một thời gian dài sau đó trong các chương trình Paris By Night sau này. Về sau Thúy Nga phải làm một số chương trình theo quỹ đạo chính trị của chúng để xoa dịu lũ côn đồ, rồi sau đó chúng mới để yên.

Trung tâm Asia đầu tiên do nhạc sĩ Anh Bằng sáng lập, sau khi Trúc Hồ, 1 thành viên Việt Tân mua lại trung tâm này thì nó đã biến chất, biến dạng thành một cái loa chống cộng rẻ tiền, chuyên tung hô, ca tụng ngụy quyền, ngụy quân, bóp méo lịch sử, bịa đặt thông tin, phỏng vấn cuội, tự phỏng vấn lẫn nhau, và đào bới hận thù, hòng dựng lại thây ma. Nếu Asia là một trung tâm ca nhạc thiên về tâm lý chiến, thì đài SBTN do Trúc Hồ và Việt Dzũng đứng tên làm chủ (Nguyệt Ánh cũng có cổ phần) lại là một đài truyền hình lá cải ở California, chuyên đưa tin giật gân để câu khách, câu quảng cáo, và phục vụ cho mục tiêu chống VN của Việt Tân.

SBTN từng đưa những “tin tức” làm nhiều người vừa buồn cười vừa phải lắc đầu vì mức độ hoang tưởng của chúng như: Đảo chánh ở Hà Nội, phe cộng sản miền Bắc và cộng sản miền Nam dàn trận đánh nhau, phe Nông Đức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng dàn trận đánh nhau, Võ Văn Kiệt bị đầu độc chết, CSVN họp bí mật với Trung Cộng xin được như Tây Tạng, quân đội tiếp quản Sài Gòn năm 1975 là quân đội… Trung Cộng v.v. và còn nhiều thông tin lá cải khác. Nhiều bà con Việt kiều nói vui rằng bọn SBTN này muốn cạnh tranh với Vân Sơn về khoản hài hước chắc. Ngoài ra Việt Tân còn thành lập và nuôi nhóm “Thanh Niên Cờ Vàng”, “Đoàn Thanh Niên Phan Bội Châu”, và “Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên Đường”, chúng lập ra vô số các trang web trên mạng, nhiều trang web chúng cho thiết kế toàn màu đen ra vẻ thần bí, rồi tự xưng “chúng tôi là tuổi trẻ Việt Nam ở ngay trong nước, trụ sở ở ngay Hà Nội” v.v. Ngoài các tổ chức ngoại vi, Việt Tân còn tổ chức nhiều trại hè, nhiều trung tâm hướng đạo, để nhồi sọ thiếu niên Mỹ gốc Việt, khiến họ mất gốc, vong bản, biến chất thành những con thiêu thân chống phá đất nước, căm thù dân tộc. Chúng bắt các em phải chào cờ ba que, cờ Mỹ, hát quốc ca Mỹ và cái gọi là “quốc ca VNCH” (bài hát mà cha anh bọn chúng ăn cắp của nhạc sĩ cộng sản Lưu Hữu Phước rồi tự ý thay tựa đề, chỉnh sửa lời hát) tẩy não, nhồi nhét vào đầu các em những thông tin bịa đặt về lịch sử nước nhà, gieo rắc những tư tưởng độc hại, thù hận vào đầu các em, chúng dạy các em cái gọi là “lịch sử” do chúng tự tưởng tượng ra. Việt Tân cũng mở những lớp võ thuật rồi nhồi sọ võ sinh rằng “học võ để sau này về quang phục quê hương”. Tổ chức “Đảng Dân tộc” của Nguyễn Hữu Chánh cũng học theo “chiêu” này.

Thời kỳ Mỹ chưa phát động cuộc chiến “chống khủng bố” thì chúng đánh thẳng vào trong nước. Thời kỳ Mỹ đã phát động thì chúng móc nối với lũ Việt gian trong nước. Chúng luôn rình rập, tìm cách bắt liên lạc, móc nối, dụ dỗ, mua chuộc, kích động những thành phần bất mãn trong nước để biến họ thành những kẻ phản quốc, và trả lương cho những tên này qua hình thức “tài trợ”, “giúp đỡ tài chánh”, “yểm trợ quốc nội”, “bảo trợ” v.v. Chúng trích ra số tiền Mỹ tài trợ cho chúng rồi tài trợ cho đám “quốc nội”. Nhiều tên khi bị bắt đã khai báo huỵch toẹt trước máy quay rằng chúng bị Việt Tân móc nối, dụ dỗ, mê hoặc, có liên hệ với Việt Tân ra làm sao, được Việt Tân tài trợ ra nước ngoài huấn luyện ra sao v.v. như đám “Chị Hai”, “Chị Ba”, “Chị Tư” Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Định, “thầy bói kiêm nhà nghiên cứu Chấn” Trần Huy Duy Thức, Lê Thăng Long v.v., những video công khai tự thú, nhận tội, và xin xỏ khoan hồng của bọn mạo xưng “dân chủ” này đều được cư dân mạng tải lên trang web Youtube.

6- Tại sao tổ chức khủng bố này vẫn nhởn nhơ trên đất Mỹ?

Đơn giản là vì chúng không có khủng bố nước Mỹ và cũng chưa phải là một tổ chức khủng bố quốc tế như Al Qaeda. Chúng chỉ có khủng bố Việt Nam, một nước XHCN, có ý thức hệ và những lợi ích đối lập với Hoa Kỳ, nghịch với chính sách toàn cầu, chiến lược bành trướng toàn cầu, bá chủ thiên hạ của họ. Xưa nay Mỹ vẫn áp dụng một chính sách nước đôi, hai mặt, mà chính những nhà chính trị Hoa Kỳ vẫn hay gọi là “tiêu chuẩn kép” (double standard) về vấn đề chống khủng bố. Nghĩa là nếu có khủng bố nước Mỹ hoặc là khủng bố quốc tế từng khủng bố các đồng minh của Mỹ, hoạt động khủng bố trên các địa bàn của đồng minh Mỹ, có sự ảnh hưởng của quân đội Mỹ khắp thế giới, thì Mỹ mới liệt vào danh sách khủng bố. Còn những tổ chức khủng bố do các nước khác, đặc biệt là các nước không phải đồng minh của Mỹ, không cùng lợi ích chính trị, quân sự với Mỹ, khác ý thức hệ với Mỹ v.v. đưa vào danh sách khủng bố thì Mỹ sẽ không liệt vào danh sách khủng bố của họ, không coi đó là khủng bố, thậm chí còn bênh vực, biện minh, bao biện, bảo vệ, nuôi nấng, bảo trợ cho tổ chức đó. Như tổ chức Việt Tân mà chính phủ VN đã liệt vào danh sách khủng bố. Như tổ chức Tresnia mà Nga đã liệt vào danh sách khủng bố. Như một vài nhóm Pháp Luân Công và tổ chức vũ lực bạo động ở Tân Cương của Trung Quốc. Hay như các nhóm vũ trang đối lập ở Libya đã từng bắn giết, thảm sát người dân, làm sập nhà dân chúng v.v. và đã bị chính phủ Libya liệt vào danh sách khủng bố, nhưng Mỹ và phương Tây đã hỗ trợ, viện trợ, đỡ đầu cho họ. Trước đây, khi 2 công dân Đức du lịch Libya đã bị giết chết, chính phủ Libya điều tra xác định là Al Qaeda làm và đã phát lệnh truy nã toàn cầu gởi tới Interpol, tầm nã Bin Laden và các tay cầm đầu Al Qaeda nhưng lại bị Mỹ và Anh ngăn lại.

Ngoài ra, Mỹ còn viện trợ, tài trợ, giúp đỡ các chính phủ và quân đội đồng minh khủng bố người dân, như trường hợp họ tài trợ cho Israel khủng bố, thảm sát dân Palestine nhiều năm nay. Trong quá khứ, Mỹ từng ngầm hỗ trợ và bênh vực, biện hộ cho chế độ khủng bố, diệt chủng Khmer Đỏ. Từng dựng lên và nuôi dưỡng ngụy quyền Ngô Đình Diệm và dung túng cho chúng khủng bố trắng, lê máy chém khắp miền Nam Việt Nam. Ngay cả trùm khủng bố Bin Laden mới bị Mỹ vắt chanh bỏ vỏ gần đây và chính phủ độc tài Taliban cũng từng được Mỹ tài trợ để chống lại Liên Xô, trước khi được Mỹ bảo kê, Taliban và Al Qaeda chưa là gì cả, nhưng sau khi được Mỹ cung ứng tiền bạc, vũ khí, họ mạnh lên và trở thành một lực lượng đáng kể, có thể nói chính Mỹ đã dựng lên khủng bố, tài trợ cho khủng bố, để rồi phải đem quân đi diệt khủng bố, và dùng đó làm chiêu bài để công nhiên điều quân viễn chinh đi ra đi vô các nước như chốn không người, bành trướng thế lực ra khắp hoàn cầu. Tổng thống Mỹ Nixon đã từng “thân ái” ngồi chung với các lãnh tụ Taliban và Al Qaeda và nói “Những người đàn ông này tượng trưng cho các giá trị đạo đức của cha anh chúng ta”, “These gentlemen are the moral equivalents of America’s founding fathers” (Reagan nói vào năm 1985). Căn cứ trên lịch sử và bản chất của chính sách ngoại giao thực dụng Hoa Kỳ, thì có thể dễ hiểu vì sao Việt Tân là một tổ chức khủng bố Việt Nam, cùng với các tổ chức khủng bố khác vẫn có thể sống nhăn trên xứ Mỹ.

7- Tình hình Việt Tân hiện nay

Sau khi vụ bưng bít bị phanh phui. Cái chết của trùm khủng bố Hoàng Cơ Minh không còn có thể che giấu lấp liếm được nữa. Trong thập niên 1990, các tay trùm Việt Tân đành phải họp báo thú nhận tất cả, nước mắt cá sấu, giọt vắn giọt dài trước các ống kính video rằng chủ tịch Hoàng Cơ Minh đã bị CSVN giết rồi, đã “tuẫn quốc”, đã “vị quốc vong thân”, đã “hy sinh vô cùng oanh liệt” v.v. Việc này đã gây chấn động trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại, mọi người rốt cuộc đều biết hóa ra Việt Tân lâu nay giấu nhẹm cái chết của Hoàng Cơ Minh, bưng bít thông tin, che giấu sự thật, lừa đảo, gạt tiền đồng bào ra sao. Những vụ làm ăn nhập nhèm, nhơ nhớp, mờ ám, dùng tiền “kháng chiến” để mở tiệm phở bò, để cho gái, để ăn chơi sa đọa, để mua tàu ra biển đánh cá, để mua nhà, mua đất, mua xe, mua tiệm làm móng tay, mua siêu thị, mua các cơ sở kinh doanh thương mại v.v. đều được chính những người trong cuộc tiết lộ ra, nhiều người do bất mãn, do không được ăn chia đầy đủ, bị mất phần, hoặc chính những người do Tổng Cục 2 của an ninh Việt Nam cài vào biết được và nhà nước VN, báo chí VN tiết lộ ra, tất cả những yếu tố đó kết hợp lại gây lên một làn sóng căm phẫn dữ dội trong cộng đồng hải ngoại, tất cả các phe phái hải ngoại, từ những Việt kiều yêu nước, thân Cộng cho tới Việt kiều chống Cộng, đều quay sang chống Việt Tân, mạt sát, miệt thị Việt Tân không tiếc lời. Việt Tân được rất nhiều tiền, trở thành những triệu phú Mỹ gốc Việt, trở thành những ông trùm mà người Mỹ gọi là “Vietnamese Mafia”, nhưng mất đi lòng tin và sự ủng hộ của giới chống Cộng, bị giới này ghen tỵ, ganh ghét, ghen ăn tức ở, căm ghét, thù hận. Ngoài thì bị chửi, bị “ném đá” túi bụi, trong thì chia rẽ, xào xáo, nội bộ đấu đá lẫn nhau. Theo một số hồi ký, tự truyện của người trong cuộc kể lại thì lúc đó trong trụ sở không ngày nào không cãi nhau, dùng những từ ngữ hạ cấp nhất để lăng mạ, “tổng sỉ vả” lẫn nhau. Có những vụ liên quan như vụ năm 1999 khi 1 tay Việt Tân và 1 tay Việt Quốc hợp tác với nhau quyên tiền tổ chức lễ tưởng niệm ngày “Quốc Hận”, tay Việt Tân đông bầy đàn hơn nên liền sai đàn em bê nguyên cái thùng tiền về nhà, sau khi tổ chức xong tay này vì trước đó đánh bạc ở Las Vegas và cá độ football (bóng bầu dục, bóng đá Mỹ) cháy túi nên ăn cắp hết số tiền còn lại sang Hawaii, đã không chia lãi lại cho tên kia mà còn lấy sạch số vốn của hắn. Tay Việt Quốc và đồng bọn, cùng bọn Đại Việt (Đảng Dân Tộc của trùm lừa đảo Nguyễn Hữu Chánh cũng ăn theo chửi hùa vào Việt Tân) uất ức quá liền la lối, ăn vạ thì Việt Tân tỉnh bơ bảo đó là chuyện riêng giữa quý vị, ông kia hành xử với tư cách cá nhân, không liên quan gì tới Việt Tân bọn tôi.

Sau nhiều thảm họa dư luận đó, Việt Tân đành phải bỏ sào huyệt ở chốn phồn hoa đô hội nhiều người Việt sinh sống tại Cali mà dọn tới hang ổ mới là thành phố Seattle, tiểu bang Washington, tiểu bang nằm ở vùng cực Bắc Hoa Kỳ quanh năm đầy mưa và tuyết, và là thành phố có rất ít người Việt, và có tỷ lệ tự sát cao nhất nước Mỹ và 1 trong những thành phố có tỷ lệ tự sát cao nhất thế giới.

8- Cuộc chiến giành phân (fund) Mỹ

Nhằm mục đích xâm nhập, lũng đoạn, xâm lược bành trướng “sức mạnh mềm” vào các quốc gia khác. Mỹ đã mở rất nhiều quỹ, thành lập nhiều tổ chức tại Hoa Kỳ và các “tổ chức quốc tế” để phục vụ cho sách lược Diễn biến hòa bình của họ, bành trướng lan tỏa chính trị, thế lực ra khắp thế giới. Những tổ chức này có những quỹ tài trợ, hỗ trợ khác nhau, hướng tới những tổ chức bản xứ, những tổ chức lưu vong, để dùng chúng xuất cảng “dân chủ” kiểu Mỹ, đa đảng đa nguyên, các giá trị kiểu Mỹ, các chuẩn mực kiểu Mỹ, hệ thống chính trị kiểu Mỹ vào nước của chúng, tạo điều kiện để Mỹ thò cánh tay lông lá vào nước sở tại, xây dựng, nuôi dưỡng, hỗ trợ các lực lượng đối lập, hứa phong cho chúng chức này tước nọ sau khi Mỹ “giải phóng” nước họ xong. Đây là thủ đoạn chia rẽ, chia đất nước, dân tộc khác ra làm nhiều phe, ủng hộ thế lực thân mình, nếu cần thì dựng lên các chính phủ của mình, lật đổ các chế độ đối lập với lợi ích Hoa Kỳ. Và xây dựng, ủng hộ, yểm trợ các lực lượng, các tổ chức, các chính phủ chấp nhận thần phục Mỹ và có lợi cho kinh tế, chính trị, quân sự Hoa Kỳ, có lợi cho chính sách bá quyền và chiến lược quốc tế của chính phủ Mỹ. Đây là một biểu hiện của chủ nghĩa đế quốc, bành trướng quốc tế, tư bản bá quyền.

Nhờ đó, Việt Tân cũng nhận “tiền tài trợ” định kỳ từ nhiều quỹ khác nhau. Quỹ từ chính phủ, quỹ của các tổ chức trực thuộc chính phủ, quỹ từ các tổ chức tư bản phi chính phủ do các tập đoàn tài phiệt tư bản Mỹ, tư bản phương Tây, tư bản quốc tế làm chủ, và các tổ chức trá hình phi chính phủ trực thuộc CIA và chính phủ Mỹ, hoạt động dưới danh nghĩa “phi chính phủ”, “từ thiện”. Để có đủ điều kiện, đủ tư cách, đủ tiêu chuẩn, tiêu chí để nhận fund thì các tổ chức phản quốc ở hải ngoại phải chứng minh cho quan thầy thấy “bản lĩnh” và “khả năng” của mình. Rằng mình có thể làm được cái gì, mình có thực lực gì không, để xứng đáng nhận được những số tiền tài trợ, đài thọ định kỳ đó.

Chính vì vậy, tổ chức khủng bố Việt Tân và tập đoàn lừa đảo Đảng Dân tộc của Nguyễn Hữu Chánh không ngừng gởi người vào VN để lấy tiếng. Thậm chí đối với một bọn nghiên về lừa đảo kinh tế hơn là khủng bố chính trị quân sự như “Đảng Dân tộc” của “chú phỉnh” Nguyễn Hữu Chánh thì chúng không cần thành công, chúng chỉ cần dụ được ai là chúng “thí” về VN cho bị công an bắt để lấy tiếng cho tổ chức. Cũng với “chiêu thức” cũ, đó là vừa ỡm ờ, nói xa nói gần cho cả thiên hạ hiểu mình là thủ phạm để lấy tiếng, nhưng khi tuyên bố chính thức thì chối phăng đi mỗi khi công an VN có được bằng chứng và đồng bọn chúng nhận tội. Như khi Nguyễn Hữu Chánh sai Võ Văn Đức về nước khủng bố, sau khi Đức ở tù, tưởng đại ca sẽ can thiệp cho đàn em thoát được, không ngờ chú Chánh trở mặt không nhận thằng em, khiến cho Đức uất ức vô cùng, những hình ảnh Đức trên mặt báo trong thời gian đó cho thấy 1 người đang rất phẫn uất, tức tưởi vì bị chơi xấu, vì bị đàn anh bỏ rơi, bị đem quăng ra giữa chợ, chịu tội thế cho đàn anh v.v. Trong khi cả hải ngoại đều biết Võ Văn Đức là đàn em loại “ruột” của Nguyễn Hữu Chánh. Sau khi mãn hạn tù, trở sang Mỹ thì Võ Văn Đức lập tức rời xa Đảng Dân tộc nhưng không dám có ý nghĩ trả thù hay đụng chạm gì tới đại ca, vì biết đại ca có hàng trăm lâu la đàn em, và trong người bao giờ cũng có súng. Cũng như Đảng Dân tộc, Việt Tân cũng gởi người đem chất nổ vào VN để lấy tiếng, ngoài ra chúng còn mở rộng địa bàn hoạt động ra ngoài phạm vi trong nước VN, ra các tòa đại sứ, tòa lãnh sự, và các cơ quan ngoại giao của VN ở các nước láng giềng, nhất là ở các nước an ninh khá lỏng lẻo như Thái Lan, Indonesia, Philipines v.v. Thậm chí, sau vụ nổ pháo hoa ở Mỹ Đình trong sự kiện 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, cả Việt Tân và Đảng Dân tộc đều nói xa nói gần để người ta tưởng người ra tay là thuộc tổ chức của mình. Chỉ sau khi báo chí Việt Nam và công an VN ra thông báo chính thức rằng đây chỉ là một tai nạn nghề nghiệp thì chúng mới ngừng bốc phét.

Nói chung, các tổ chức phản quốc và sẵn sàng bán nước ở hải ngoại đều tìm cách khuếch trương thanh thế, tiếng tăm, “số má” của mình ra cao nhất để giành lòng chủ Mỹ, mong được chính phủ Mỹ ân sủng, cưng chìu, và ban ơn mưa móc. Tất cả đều vì những số tiền “tài trợ” hàng năm của các quỹ “dân chủ”, “nhân quyền”, “vě tự do” của Mỹ vŕ phương Tây. Và xưa cho tới nay, Việt Tân đều giành vị trí đầu bảng, thứ hai là Đảng Dân tộc của Nguyễn Hữu Chánh, vì vậy không lạ khi 2 tổ chức này bị các tổ chức “rận chủ”, thế lực Vichoco, các hội đoàn chống cộng khác, các “cộng đồng” khác, các “nhân sĩ” khác chửi bới te tua. Và bản thân 2 tổ chức đó cũng thường chửi nhau tay đôi trên báo chí, truyền thanh và truyền hình. Chẳng qua là vì ghen ăn tức ở lẫn nhau. Kẻ thắng người thua trong cuộc chiến giành “phân” Mỹ. Cùng là chống Cộng nhưng người được ưu ái, được nuôi béo, kẻ thì trơ mõm hoặc chỉ nhận được ít “xu lẻ” theo kiểu bố thí ăn mày. Kẻ giàu người nghèo. Kẻ thì làm chủ tiệm làm móng tay, kẻ thì phải làm thợ giũa móng tay, rửa bát cắt cỏ, xin welfare, medicaid, foodstamp, ăn xin trợ cấp Mỹ và ăn bám xã hội Mỹ nhưng nó vẫn không cho (nhất là từ khi Bush lên thay Clinton, an sinh xã hội Mỹ bị bóp nghẹt, thắt chặt). Làm các chiến sĩ “dâng chủ” phải nai lưng ra làm culi, khuân vác, làm assembly cho các đại gia trùm tư bản, đi cày như trâu, bị bóc lột, bị kỳ thị, phân biệt chủng tộc mà vẫn mở mồm ra chửi XHCN, chửi chủ nghĩa Marx Lenin. Những kẻ đó đương nhiên cũng sẽ chửi Việt Tân và Đảng Dân tộc vì 1 lẽ duy nhất: Tại sao “tụi tao” cũng chống cộng mà “cực bỏ mẹ”, làm việc như trâu bò vẫn “trơ mõm chó” trong khi “chúng mày” lại giàu sang và ăn chơi đàng điếm thế? Tại sao tụi tao cày overtime (thêm giờ), cày cả những ngày nghỉ cuối tuần, cày cả những ngày nghỉ lễ, cày hai ba “jobs” vẫn không đủ trả bills, trong khi chúng mày suốt ngày đi du lịch, đi Las Vegas, đi đánh bài, cá độ football thế? Chung quy cũng chỉ là ganh ghét, ghen ăn tức ở lẫn nhau. Đó là nguyên nhân vì sao cùng là chống cộng, phản quốc, phản động như nhau mà tay này ghét tay kia, nhóm này ghét nhóm kia, tổ chức này chửi tổ chức kia, và đặc biệt là Việt Tân bị chửi nặng nhất, bị chửi nhiều nhất xưa nay. Bọn chống Cộng hải ngoại, nhất là tại Mỹ, chửi Việt Tân còn nhiều hơn cả chửi cộng sản.

9- Tương lai của Việt Tân

Khủng bố và phản quốc thì sẽ không thể có kết quả tốt. Việt Tân đã làm quá nhiều chuyện ác nhân thất đức, bị thất nhân tâm ở ngay cả địa bàn của chúng. Chúng bị bà con Việt kiều, trong đó bao gồm những kẻ chống Cộng tẩy chay, xa lánh, phỉ nhổ. Những kẻ từng trong nội bộ của chúng cũng quay sang viết hồi ký, viết sách, viết tự truyện, viết báo chửi chúng, vạch mặt chúng. Mà ngày nay chúng cũng không còn dễ dàng thuê sát thủ giết người diệt khẩu, lạm sát bừa bãi như những năm 1980, những năm công nghệ thông tin còn lạc hậu, chưa có điện thoại di động có thể chụp hình, quay phim, chưa có Internet v.v. Trước sức mạnh của công luận, chúng đã phải rời bỏ hang ổ cũ và lê thân tới nơi ít đồng hương, khí hậu lạnh lẽo ở bang Washington, và 1 thành phố u buồn như Seattle. Hầu như chúng vác mặt đi gặp ai cũng bị chửi. Chúng còn bị những phe phái chống cộng khác gọi chúng là VC nằm vùng, nghi ngờ hay chụp mũ chúng là do CSVN tạo ra. Chúng cũng dùng các phương tiện truyền thông cáo buộc, kết tội, quy chụp, phản pháo lại bọn kia là CS nằm vùng. Xét cho cùng, cái trò chụp mũ VC nằm vùng lẫn nhau, quăng nón cối tứ tung là một trò đã rất xưa như trái đất, đã có từ thời chống Pháp và chống Mỹ trong vùng địch. Đối với chúng, chỉ có tiền và lợi, và nếu mày có mâu thuẫn quyền lợi với tao thì đích thị mày là 1 “thằng Việt Cộng nằm vùng”.

Về quan hệ với chủ Mỹ, kể từ khi quan hệ kinh tế, làm ăn, kinh doanh giữa Việt – Mỹ càng thắt chặt thì Mỹ lại tỏ ra lạnh nhạt hơn với con chó săn của mình. Khi chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết chính thức sang thăm Mỹ, trước đó 3 ngày Bush đã gọi 3 tên Hoàng Cơ Định, Đỗ Hoàng Điềm và một tên nữa đến Nhà Trắng và răn đe, chỉ thị rằng “không được quậy”, “không được lộn xộn”. Và Việt Tân thời gian sau đó đúng là rất “ngoan”, án binh bất động không gây ra vụ gì cả.

Tới lúc Mỹ không cần xài nữa thì Mỹ cũng sẽ vắt chanh bỏ vỏ như với Al Qaeda mà thôi? Cùng là khủng bố như nhau có lẽ chúng sẽ rất sợ bị làm thịt như Bin Laden. Nhưng đó là 2 trường hợp khác, Bin Laden và Al Qaeda dám cắn ngược lại Mỹ và họ có thực lực nhất định, còn Việt Tân ư, Mỹ mà buông ra một cái thì Việt Tân chỉ còn lại những nhà triệu phú đô la rủng rỉnh nhưng không quyền không lực, không còn chút thực lực, sức mạnh nào. Việt Tân cũng là một con chó săn trung thành thật sự chứ không là loại dám lợi dụng Mỹ tức thời như bọn Taliban, Al Qaeda, và dám cắn lại Mỹ. Việt Tân thì lệ thuộc chính phủ Mỹ 100% và không bao giờ dám có ý nghĩ phạm thượng với quan thầy chứ đừng nói là dám cắn ngược lại ông chủ. Vì vậy Mỹ cùng lắm sẽ bỏ rơi chúng, “quăng con giữa chợ”, chứ sẽ không vắt chanh bỏ vỏ, giết chúng như đã giết Bin Laden.

Tác giả: thieulongtexas (được sự cho phép của tác giả, tôi đăng bài viết này để chúng ta hiểu rõ bản chất lưu manh, côn đồ & phản động của Việt Tân. Kẻ xách động những cuộc biểu tình, tuần hành gây rối vừa qua. Cảm ơn Thiếu Longtexas & sự quan tâm của quý vị. Trân trọng! – Tựa do Lê Vũ đặt)

Suốt trên hai nghìn năm chúng ta hầu như chỉ học cho biết rằng Việt Cổ là một đất nước vô văn hóa, man di, được nhờ Tàu Mông Cổ khai hóa, dầu rằng Tàu gốc Mông Cổ không chứng minh được nguồn gốc văn hóa của họ. Như thế đủ thấy ảnh hưởng của việc bị đô hộ Tàu, kể cả Tây sau nầy, là nguy hiểm như thế nào!.

Chính vì vậy mà LM Triết Gia Kim Định đã gia công nghiên cứu một triết lý An Việt và nói đến “… một nền văn hóa Việt Nam cổ mồ côi..” . Nhưng văn hóa tiền sử Việt Nam đã bị che dấu và cướp đoạt vì sức mạnh, chứ nhất thiết không hẳn là một văn hóa mồ côi văn hóa Việt cổ có mẹ đẻ từ các nền văn hóa tiền sử Việt Nam, và đã sinh đứa con khổng lồ là nền văn hóa ?~siêu việt?T Trung Quốc.

Chính văn hóa Trung Quốc lúc không nhận là con đẻ của văn hóa Bách Việt, là một văn hóa mồ côi lúc Tưởng Giới Thạch ra lệnh nghiên cứu về văn hóa Trung Hoa từ ngày nay trở về trước.

Nhưng khi lên đến nhà Hán và thời Khổng Tử, các nghiên cứu gia Trung Hoa Dân Quốc đành bỏ dở vì vấp phải nguồn gốc văn hóa Bách Việt!. Với thực dân Pháp, trong vòng 80 năm đô hộ Việt Nam, chúng đã lấy biết bao tài sản của đất nước ta đem về cất giữ và xây dựng đất nước họ, làm giàu Viện Bảo Tàng của họ (ví dụ đàn đá báu vật hiếm quí, nào 4 quyển sách trước tác của cụ Nguyễn Du, v.v. và v.v… Pháp cướp về nước tất).

——–

——-

Quế Dương là đất Việt, bị nhà Hán chiếm và chia cắt, nhiều lần thay đổi, sát nhập cốt để người đời sau lần tìm về cội nguồn không biết đâu mà căn cứ.Thái Luân là người Việt, sinh ra trên đất Việt, làm quan trong triều của nhà Hán. Và công trình phát minh ra giấy của ông bị người Tầu nhận là do người Tầu làm ra!
Nhà Hán chiếm đất Việt bao gồm toàn vùng châu thổ sông Dương Tử (Trường Giang), chia cắt, thay đổi địa danh, vẽ lại bản đồ… cốt để xóa hết dấu vết của dân tộc bị chiếm.Trong tập bản đồ lịch sử ấn hành năm 1991, tạp National Geographic cung cấp đầy đủ các chi tiết lịch sử Trung Hoa từ thời sơ khai hơn 5.000 về trước.

[IMG]

Tài liệu giá trị này ghi rõ địa bàn gốc của dân tộc Tầu là vùng châu thổ sông Hoàng Hà ở về phía bắc.Trong khi tổ tiên của dân tộc Tầu còn sống đời du mục trên lưng ngựa rày đây mai đó thì tổ tiên của người Việt đã định cư ở châu thổ sông Trường Giang (Dương Tử) ở phương Nam.Ðiều này Khổng Tử đã viết rành mạch trong sách Trung Dung “Ðộ lượng bao dung, ôn hòa giáo hóa, không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của phương Nam. Người quân tử ở đấy. Mặc giáp cưỡi ngựa, xông pha giáo mác, đến chết không chán, đó là sức mạnh của phương Bắc. Kẻ cường bạo ở đấy.” (Ðây là lời giảng về sức mạnh của Khổng Tử cho đệ tử tên Tử Lộ).Cũng Khổng Tử, trong Kinh Thi, đã trân trọng ghi lại ca dao Việt (trong cả hai thiên Chu Nam và Thiệu Nam) phản ảnh nền văn hiến rực rỡ của giống Việt, biết coi trọng luân thường đạo lý, trong khi người du mục hung bạo phương Bắc, sống đời lang chạ.Kinh Thi, xếp Nhị Nam là Chu Nam và Thiệu Nam làm “Chính Phong” để ứng dụng những ca dao ấy vào gia đình, làng xóm và nhà nước mà giáo hóa cả thiên hạ.Chu Nam là các nước ở phương Nam của Việt tộc bị nhà Chu chiếm, cai trị và đồng hóa. Còn Thiệu Nam là lãnh thổ phương Nam của Việt tộc bị nhà Chu chiếm được, cắt phong cho Thiệu Công Thích để làm thái ấp (đất hưởng lộc).
Từ sử liệu của National Geographic Magazine (Mỹ) và các nhận định rải rác của Khổng Tử, Tư Mã Thiên và nhiều sử gia khác trong Minh sử, Thanh sử… những người nghiên cứu về dân tộc Việt ngày càng có thêm chứng cứ để làm sáng tỏ những gì đã bị khuất lấp, đã bị thực dân văn hóa Tầu xuyên tạc, bóp méo.Tống sử còn lưu dấu vết nhà Tống học cách tổ chức quân đội của nhà Lý Việt Nam: “Thái Duyên Khánh, là tri châu ở đất Hoạt, thường học được phép tổ chức quân đội của An Nam, xin bắt chước theo quy chế chia ra từng bộ phận. Chia chính binh, cung tiễn phủ, nhân mã đoàn làm 9 phủ. Hợp 100 đội, chia ra làm tả, hữu, tiền, hậu bốn bộ. Mỗi đội có trú chiến (đóng quân để đánh), thác chiến (đi đánh), khác nhau. Tướng nào cũng có lịnh bộ, quân kỷ, khí giới; chỉ lấy nhân, mã phiên binh mà phân biệt. Tất cả đều tùy chỗ đóng mà chia. Số chư tướng không bằng nửa số chính binh. Còn về sự kiềm chế, thì cho quân già yếu ở thành trại, tùy xa gần mà chia giữ, không cho binh Phiên và binh Hán ở lẫn với nhau, cho khỏi sinh biến. Vua Thần tông nhà Tống khen mãi.”Minh sử còn ghi hai sự kiện: Thứ nhất, mỗi khi tế thần súng, người Tầu phải tế Lê Trừng (tức Hồ Nguyên Trừng, người mang bí quyết làm súng đại bác (thần sang) của nhà Trần sang nộp cho nhà Minh và được nhà Minh phong cho làm bộ trưởng 2 bộ quốc phòng và xây dựng); thứ hai, công trình kiến trúc, xây dựng thành Bắc Kinh vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay là do “công trình sư trưởng” (như là kiến trúc sư trưởng ngày nay) Nguyễn An, một thái giám người Việt, đảm trách. Bộ Minh sử này đã được dịch sang Anh ngữ: “The Cambridge History of China”, xếp vào quyển thứ VII, ghi rõ “Công trình xây dựng thành đô Bắc Kinh đòi hỏi sự động viên một lực lượng đông đảo thợ giỏi về thủ công và lao động, thường được lấy từ những đơn vị quân binh hoặc những tội phạm khó trị bị kết án khổ sai, cũng như việc trưng dụng vật liệu xây cất từ khắp nơi trong nước, kể cả những nơi xa xôi như An Nam vừa mới được sát nhập.Số lượng nhân công không biết đích xác, nhưng ước lượng phải lên tới hàng trăm nghìn người. Kiến trúc sư trưởng là một thái giám người An Nam tên Nguyễn An (mất năm 1453), ông này cũng còn đóng vai trò quan trọng trong công trình tái thiết Bắc Kinh sau đó dưới thời vua Anh Tông.”Trong tất cả sách vở do người Hoa biên soạn, lúc nào họ cũng “tự hào” về nước Trung Hoa rộng lớn nhất thế giới, người Hoa tài giỏi và có nhiều đóng góp quan trọng cho nền văn minh của nhân loại.

[IMG]
Hình Âm Dương của Lạc Việt

Sách của người Hoa và người Hoa chẳng bao giờ dám giải thích minh bạch về sự bành trướng từ 1 bộ lạc du mục ở lưu vực sông Hoàng Hà, xua quân xâm lăng mở rộng biên cương, tiêu diệt nhiều dân tộc để có được 1 bản đồ mênh mông như ngày nay. Thế nhưng tạp chí National Geographic đã làm việc đó, đã ghi nhận đủ các chi tiết cần thiết sau khi tra cứu công phu.Tìm trong kho tàng lưu giữ các loại sách lớn nhất của người Hoa, cuối cùng do nhà Thanh bổ túc, sắp xếp, là bộ “Tứ Khố Toàn Thư”, một số sử liệu được phát giác, làm sáng tỏ nhân thân của các công trình đóng góp quan trọng vào văn minh, văn hóa Trung Hoa. Phần lớn những đóng góp này đến từ gốc tộc Việt.

ÐÓNG GÓP QUAN TRỌNGTrong tác phẩm “Bách Việt Tiên Hiền Chí – Lĩnh Nam Di Thư” của sử gia Âu Ðại Nhậm (đời nhà Minh bên Tầu) được giáo sư Trần Lam Giang dịch và chú thích, dịch giả đã nhận định bên dưới truyện Thái Luân, phần phụ chú:“Nhân tài người Việt rèn kiếm quý, làm khí giới, làm giấy viết, hiệu đính kinh truyện cho nhà Hán. Ðiều này chứng tỏ Việt vượt trên Hán về văn minh kim loại và văn học.Việt đem văn minh khai hóa cho người Hoa, trong khi người Hoa đem bạo lực đàn áp người Việt. Chung cuộc, Việt Nam vẫn đòi lại quyền tự chủ, sống với văn minh nhân bản. Người Hoa thực dân bị quét ra khỏi nước, tự chuốc lấy ô danh bạo ngược, xâm lược.Thuật làm giấy do tiên hiền Bách Việt Thái Luân sáng chế, được truyền sang Ấn Ðộ và từ đấy lan rộng sang khắp vùng Trung Á. Vào năm 751, xảy ra cuộc chiến giữa nhà Ðường (Trung Hoa) và các Vương Quốc Ả Rập. Trong trận chiến này, do tướng Cao Tiên Tri thống lãnh, Tầu thua. Trong số tù binh bị Ả Rập (người Tầu gọi là Ðại Thực Quốc) bắt, có thợ làm giấy. Năm 793 Iraq có xưởng làm giấy và từ đó lan ra khắp các nước láng giềng. Năm 900 đến Ai Cập. Sang năm 1100 truyền đến Marocco và các xứ Phi Châu. Vào năm 1150, người Ả Rập vượt biển qua Tây Ban Nha và xây xưởng làm giấy đầu tiên trên lục địa Âu châu.Ðến năm 1189, xưởng làm giấy đầu tiên được dựng lên tại Pháp và từ cửa ngõ này, kỹ thuật làm giấy bở rộ khắp các châu lục.”Không chỉ Thái Luân truyện mà trong 105 tiên hiền Việt tộc khác, dịch giả Trần Lam Giang đã tra cứu và chú thích rành rẽ, dẫn chứng sử sách, truy nguyên chữ cổ, điển tích để làm sáng tỏ thêm những gì mà người yêu lịch sử và văn hóa Việt muốn “nói có sách, mách có chứng”.Sau bộ Cổ Tích Việt Nam dày 1,100 trang, Trung Tâm Nghiên Cứu Văn Hóa Việt Nam và Thư Viện Việt Nam đã đóng góp thêm một công trình giá trị khác nữa. Ðó là bộ Bách Việt Tiên Hiền Chí – Lĩnh Nam Di Thư.Ðây là một kỳ công của các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa Việt tộc ở hải ngoại, làm giàu thêm kho tàng tài liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam.
Người viết trân trọng giới thiệu các công trình ý nghĩa này đến với độc giả bốn phương.
LÊ THANH HOATÀI LIỆU THAM KHẢO:- Bách Việt Tiên Hiền Chí – Lĩnh Nam Di Thư, nguyên tác Âu Ðại Nhậm, bản dịch và chú thích của giáo sư Trần Lam Giang, Thư Viện Việt Nam ấn hành tháng 8 năm 2006, tại Hoa Kỳ.- National Geographic Magazine, July 1991, Washington D.C., USA.- “The Cambridge History of China”, Volume 7, Cambridge University Press, Feb. 1988.- Kinh Thi.- Thi Kinh Tập Truyện,1969.- Vân Ðài Loại Ngữ, Lê Quý Ðôn, Phạm Vũ và Lê Hiền dịch và chú giải.- Sự Hình Thành và Phát Triển Nền Văn Hóa Trung Hoa, nhà xuất bản Nhân Dân Sơn Ðông 1993

Tại sao Mỹ vẫn lưỡng lự UNCLOS ? – Kỳ 2: Chờ đủ thiên thời, địa lợi, nhân hòa

Dù thiên thời và địa lợi đã có, nhưng Mỹ cần phải đạt được “nhân hòa” trong nội bộ nước này thì mới có thể tham gia UNCLOS.

>> Tại sao Mỹ vẫn lưỡng lự UNCLOS ?

Sau hai lần bị phủ quyết trước quốc hội vào năm 1994 và 1997, việc gia nhập Công ước LHQ về luật Biển (UNCLOS) 1982 chưa bao giờ được nhiều thành phần tại Mỹ ủng hộ như hiện nay. Ngoại trưởng Hillary Clinton, Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta cùng một số công ty lớn tại Mỹ đều đã lên tiếng hậu thuẫn. Đặc biệt, các công ty năng lượng Mỹ nhiệt tình ủng hộ Washington gia nhập UNCLOS. Tuy nhiên, nếu đặt góc nhìn về biển Đông, việc vượt sự ngăn cản của phe bảo thủ cần đảm bảo các yếu tố thiên thời, địa lợi và nhân hòa.

Sợ sức mạnh

Xét tổng thể, bất cứ nước nào liên can đến lợi ích trên biển Đông – dù trực tiếp hay gián tiếp – đều xoay vòng giữa hai xu thế: sức mạnh và từ chối sức mạnh. Thông thường, các cường quốc có xu hướng ỷ vào sức mạnh. Ngược lại, các nước nhỏ ưu tiên viện dẫn nguyên tắc pháp lý quốc tế. Bất đối xứng về sức mạnh dẫn đến bất đối xứng về hành vi. Tuy vậy, những gì diễn ra trên biển Đông lại không hoàn toàn tuân theo nguyên tắc trên. Trỗi dậy nhưng chưa phải vô địch, Trung Quốc đã trải qua nhiều năm theo đuổi chính sách “ẩn mình chờ thời” do nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình đề ra.

Chờ đủ thiên thời, địa lợi, nhân hòa
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta muốn nước này sớm tham gia UNCLOS – Ảnh: Reuters

Trong khi đó, mặc dù là cường quốc mạnh nhất nhì thế giới nhưng hiện tại đã qua thời Chiến tranh lạnh nên Mỹ cũng lựa chọn chính sách duy trì. Nhất là khi quyền lợi trực tiếp của Washington tại biển Đông không tập trung vào tranh chấp chủ quyền. Washington san sẻ quyền lợi tự do hàng hải, giữ trách nhiệm bảo vệ đồng minh nhằm tái khẳng định “trật tự Mỹ” tại châu Á – Thái Bình Dương, vốn được hình thành sau Thế chiến 2. Sự dính líu của Mỹ vào biển Đông vừa là định mệnh mà cũng vừa là lựa chọn bắt buộc.

Như vậy, cả hai đều mạnh nhưng cũng đều sợ sức mạnh. Trung Quốc có thời kỳ “trỗi dậy hòa bình” ngoạn mục trong hơn 1 thập niên qua kể từ năm 1997, nước này chấp nhận giới hạn sức mạnh và theo đuổi con đường “thể chế”. Biển Đông có thời gian tạm ổn định khi vòng đàm phán về Bộ quy tắc ứng xử (COC) bắt đầu và kết thúc bằng Tuyên bố về cách ứng xử giữa các bên ở biển Đông (DOC) năm 2002.

Tàu Philippines, Trung Quốc rút khỏi Scarborough

Ngày 5.6, Đài ABS-CBN News dẫn lời phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Philippines Raul Hernandez thông báo nước này và Trung Quốc vừa rút một số tàu khỏi bãi cạn Scarborough, nơi hai bên đang tranh chấp căng thẳng kể từ đầu tháng 4. Theo đó, 2 tàu tuần tra của Trung Quốc và 1 tàu thuộc Cục Thủy sản Philippines đều đã rời khỏi khu vực này, theo Đài ABS-CBN News. Tuy nhiên, phát ngôn viên Hernandez không nói rõ hai bên còn lại bao nhiêu tàu tại đây.

Văn Khoa

Mỹ được công nhận là siêu cường lãnh đạo, không phải do sự vượt trội về số lượng khí tài trên biển mà còn nhờ vào nỗ lực xây dựng trật tự thế giới theo một khung hành động theo pháp lý. Thế nhưng, trong cuộc chiến Iraq, Mỹ đơn phương từ chối các thể chế do chính nước này đề ra. Vì vậy, phong trào phản kháng Mỹ dưới trào Tổng thống George W.Bush trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Tương tự, Trung Quốc bị khủng hoảng về vị trí và hình ảnh “phát triển hài hòa” vì Bắc Kinh có những động thái hung hãn trên biển Đông. Theo đó, Mỹ lẫn Trung Quốc đều gặp chung một tình trạng: sự tràn thừa xu hướng sức mạnh.

Kiềng 3 chân

Sợ sức mạnh thì “thể chế” là giải pháp. Các cường quốc sẽ đạt được 3 điểm có lợi khi tự giới hạn hành động vào khuôn phép. Một là vẫn giữ được vị trí ưu tiên trong thể chế giúp đảm bảo quyền lợi tối thiểu trong trường hợp sức mạnh bị suy giảm. Hai là việc lạm dụng sức mạnh kéo theo nhiều tốn kém. Cuối cùng, đó là nguyên tắc bất di bất dịch bao đời nay: “Danh có chính thì ngôn mới thuận”. Luật và thể chế giúp các nước lớn theo đuổi quyền lợi của mình bằng con đường chính danh thông qua những cam kết đồng thuận giữa các bên.

Đối với Washington, thời của “thể chế” trên biển Đông bắt đầu bằng việc định nghĩa lại lợi ích của Mỹ trên đại dương, cụ thể nhất qua việc phê chuẩn UNCLOS. Trong bối cảnh cắt giảm chi phí quân sự và tái bố trí lực lượng, công ước trên sẽ giúp Mỹ tạo nền tảng pháp lý vững chắc để thực thi chính sách “chuyển dịch trọng tâm chiến lược” sang châu Á – Thái Bình Dương. Hiện tại, sự vượt trội về lực lượng quân sự và đồng minh của Mỹ tại khu vực này đều có xu hướng thay đổi khi Trung Quốc trỗi dậy. Vì thế, “liên minh pháp lý” đóng vai trò bàn đạp thứ ba của Mỹ tại châu Á – Thái Bình Dương. Điều này giúp Mỹ tham gia trực tiếp hơn tại biển Đông và không bị định kiến lạm dụng sức mạnh. Nói như ông Panetta thì: “Mạnh vì chơi theo luật chứ không phải chống lại luật”. Nhờ đó, Mỹ có thể hiện diện và khẳng định vai trò một cách chính danh hơn, khác với hình ảnh một cường quốc đang trỗi dậy nhưng thiếu sự công nhận từ cộng đồng quốc tế.

Tuy nhiên, yếu tố cốt lõi ảnh hưởng đến việc Mỹ tham gia UNCLOS lại phụ thuộc vào nội bộ nước này. Đặc biệt, đây là giai đoạn khá nhạy cảm khi cuộc bầu cử tổng thống diễn ra vào cuối năm nay. Hiện tại, những xu hướng chính trị cực tả hay cực hữu không thể nào vận động được hết đa số nên các ứng viên tổng thống Mỹ sẽ tìm cách dung hòa để mở rộng lực lượng ủng hộ. Giữa bối cảnh như thế, các đề tài gây tranh cãi như UNCLOS nhiều khả năng bị đem ra “đổi chác” trong quốc nội. Theo đó, rất khó để đoán định việc Mỹ có tham gia UNCLOS trong lần này hay không. Kết quả còn chờ vào yếu tố nhân hòa dù thiên thời và địa lợi đã có đủ.

Nguyễn Chính Tâm [Thanh niên]

Những ‘siêu xe’ của thời các đại gia mũ cối

Bây giờ nhắc lại, không ít người trẻ tuổi sẽ phì cười về “đẳng cấp ăn chơi” của các đại gia mũ cối (thời bao cấp, người có tiền mới đội mũ cối).

Nhưng, những chiếc “siêu xe” thời ấy lại là sự ghi dấu cả một giai đoạn lịch sử của đất nước.

Cùng điểm qua một vài “siêu xe” tiêu biểu:

Xe Favorite

Ở cái thời mà xe đạp còn là cả một gia tài thì xe Favorite (một loại xe của Tiệp Khắc cũ) xứng đáng đứng ở vị trí đầu bảng trong hệ thống các “vũ khí” của dân chơi thời bao cấp. Những người già kể lại: đi xe đạp ở miền Bắc thời kỳ ấy phải có biển số, xe đạp được kiểm soát bằng giấy chứng nhận sở hữu của cơ quan chức năng. Người nào có xe đạp đi ngoài đường thì không thể gọi là nghèo.

Một nhà báo người Pháp trong một lần tác nghiệp tại Việt Nam vào tháng 6/1964 đã thốt lên trong phóng sự của mình rằng: “Hà Nội, ngã tư đường Paul Bert và đường Petit Lac (cũ) vào giờ tan tầm, không một chiếc ô tô nhưng có rất nhiều xe đạp di chuyển chậm rãi”.

Đúng là so với những chiếc xe máy bình thường thời nay, “siêu xe” Favorite không thể so sánh về tốc độ và sự sang trọng

Và trên đường phố của những chiếc xe đạp ấy, Favorite giữ vị trí top đầu về sự sang trọng với câu truyền miệng nổi tiếng:

“Làm trai cho đáng nên trai

Có Pha vơ rít, có đài dắt lưng”

Xe Peugeot

Là “thứ dữ” trong đế chế xe đạp nhưng so với xe máy Peugeot , đẳng cấp của Favorite còn kém một bậc. Nếu nói về mức độ “nguy hiểm” của các dân chơi thời kỳ trước khi “tấn công” các thiếu nữ thì xe Peugeot xứng đáng đứng vào hàng “vũ khí hạng nặng”. Xe Peugeot còn gọi là xe Lơ đã đi vào dân gian một cách rất hóm hỉnh nhưng cũng đầy thực tế.

“Đẹp trai đi bộ không bằng mặt rỗ đi Lơ”

Hoặc

“Một yêu anh có Sen kô

Hai yêu anh có Pơ giô cá vàng”

“Sen kô” là đồng hồ Seiko, còn “Pơ giô” là cách phiên âm của xe Peugeot. May mắn cho loại xe gắn máy này, là hiện nay, nó vẫn được nhiều người sử dụng như một thú chơi ở Hà Nội với giá một chiếc Peugeot cổ có thể lên tới hàng ngàn USD/chiếc.

Có người yêu đi chiếc “siêu xe” này từng là mơ ước một thời của các cô gái mới lớn

Xe Babetta

Có lẽ ngay cả những nhà sản xuất người Tiệp Khắc (cũ) nếu không có dịp chứng kiến cũng sẽ không thể tưởng tượng được Babetta  vẫn còn được sử dụng ở Việt Nam cho đến ngày nay. Theo nhiều người, vào những năm 80 ở thế kỷ trước, chỉ có những gia đình được liệt vào hàng danh giá mới được sở hữu chiếc xe này. Hiện nay, loại xe tay ga này đã bị cấm lưu thông nhưng vẫn còn có người sử dụng chủ yếu trong tình trạng quá cũ nát.

Thời trước những năm 1980, chỉ có các đại gia mới sở hữu được “siêu xe” Babetta này.

Có một điều đáng buồn là sau khi kết thúc thời hoàng kim của mình, Babetta được gán người sử dụng “tặng” thêm biệt danh “Ba-bét-nhè” vì sự dở chứng do tuổi tác.

Honda 67

Honda 67 gắn với chiến công của đội săn bắt cướp SBC của sĩ quan công an Lý Đại Bàng sau năm 1975. Honda 67 cũng xứng đáng là niềm tự hào của Honda tại Việt Nam. Xe được chế tạo năm 1962 khi nước Nhật còn đang khủng hoảng, để thay thế việc đi lại bằng ô tô. Honda 67 được sử dụng chủ yếu ở miền Nam thời chế độ cũ.

Sở hữu “siêu xe” Honda 67 từng là niềm ao ước của nhiều thanh niên

Dù chỉ là niềm mơ ước của lứa thanh niên cách đây đã nửa thế kỷ nhưng hiện nay, có rất nhiều người trẻ vẫn sử dụng loại xe này.

Xe Simpson

Là một loại xe của Đông Đức cũ, niềm mơ ước của các “tay chơi mũ cối”, Simpson (hay còn có tên gọi khác là Mô kích) có giá khoảng hơn 1 cây vàng, với 4 màu cơ bản là: đỏ, xanh đu đủ, xanh nõn chuối, và trắng. Có điều, thời ấy, xe Simpson được gắn một loại khóa điện không an toàn, một khóa xe Simpson có thể mở được rất nhiều xe Simpson khác. Do đó, dân chơi xe Simpson lại phải mua khóa dây để cho chắc ăn.

Nếu so về giá tính bằng vàng, Simpson có giá như một chiếc xe máy hạng sang hiện nay

Xe Minsk

Một “siêu xe” khác không thể kể đến về sự ‘làm mưa làm gió” ở thời kỳ ấy là Minsk. Giai đoạn thập niên 70, các chuyên gia Liên Xô mang loại xe này sang nước ta để sử dụng trong địa hình đồi núi và nó trở nên phổ biến vào thập niên 80, trở thành niềm mơ ước của các thanh niên nông thôn, miền núi.

Xe Minsk xứng đáng được gọi là “siêu xe hạng nặng” khi uống xăng như …uống bia hơi, bù lại, xe có thể vượt được hầu hết các loại địa hình đồi núi trong khi cõng trên mình khối lượng lên đến 200-300kg.

“Siêu xe hạng nặng” Minsk

Xe Honda Cub

Là một “huyền thoại” của Honda, xe Cub nổi tiếng đến mức ngày nay nhiều người Việt vẫn gọi xe gắn máy bằng cái tên “xe Honda”. Mẫu xe Cub đầu tiên xuất hiện vào năm 1958, và khi đến Việt Nam, nó đã tạo nên một “lịch sử oai hùng” khi “thống trị” đường phố Việt Nam gần nửa thế kỷ.

Đến tận những năm 1990, gia đình nào có một chiếc Cub trong nhà là cả một gia tài lớn. Chiếc xe Cub đi vào đời sống người Việt ở vai trò “siêu xe” phổ biến đến nỗi trong dân gian truyền miệng câu nói nổi tiếng: “Trăm lời anh nói không bằng làn khói Honda”. Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cũng phải thốt lên:

“Bây giờ yêu nghĩa là vèo xe Cub

Xe đạp anh xịt lốp cả tư mùa.”

Xe Cub 82 “kim vàng giọt lệ” là thứ “vũ khí” mang tính “sát thương hàng loạt” đối với các cô gái mới lớn.

 Đã trải qua thời kỳ hoàng kim, “cựu siêu xe” Honda Cub vẫn còn để lại dư âm khó phai

Thậm chí, đã qua thời kỳ đỉnh cao, người ta vẫn không dễ gì mà quên được Honda Cub. Gần đây, Honda đã cho sản xuất chiếc Super Cub 110 cho thị trường nội địa với kiểu dáng gần như những chiếc Cub “huyền thoại”. Mỗi năm, chỉ có khoảng 1.000 chiếc Super Cub 110 ra đời và khi nhập về Việt Nam có giá lên đến hơn 120 triệu đồng.

Ở mức giá đó, với một chiếc xe gắn máy bình thường, thì cũng vẫn có thể gọi là một “siêu xe”.

LĂNG NHU

Theo Infonet