Tag Archive: the


Mời bạn xem video bên dưới. Công nghệ tiên tiến làm nên những cảnh quay tuyệt đẹp.

Advertisements

Lợi dụng tự do ngôn luận để chống phá là không thể chấp nhận

(VOV) -Hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận để vi phạm pháp luật, không chỉ Việt Nam mà bất kỳ quốc gia nào cũng không thể chấp nhận.
Gần đây, một số cơ quan, tổ chức nước ngoài đua nhau lên án việc Việt Nam xét xử 3 blogger Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải và Tạ Phong Tần với luận điệu rằng bản án này “quá nặng” và “không nhất quán” với một số thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam tham gia.
Đây là những cáo buộc không chính xác khi mà quyền tự do ngôn luận được ba blogger này lợi dụng nhằm chống phá nhà nước Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Trước hết phải khẳng định rằng, quyền tự do ngôn luận được pháp luật Việt Nam công nhận và được ghi tại Điều 69 của Hiếp pháp.
Trên thực tế, quyền này được đảm bảo và thực thi ở Việt Nam. Nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế và nhân dân trên thế giới ghi nhận và đánh giá cao thành tựu của Việt Nam trong việc thực hiện quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí. Chính vì vậy, những cáo buộc về việc Việt Nam không đảm bảo quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, đặc biệt là trong vụ xét xử 3 blogger là không có căn cứ.
Điều 19 Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền khẳng định: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm… và bày tỏ qua mọi phương tiện truyền thông”.
Tuy nhiên, cũng trong chính văn bản này, tại Điều 29 cũng khẳng định rõ rằng “trong việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do, mọi người phải chịu những hạn chế do luật định… nhằm thỏa mãn… những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng và nền an sinh chung”.
Như vậy rõ ràng, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là bị giới hạn bởi các quy định của luật pháp.
Đối chiếu vào trường hợp ba blogger Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải và Tạ Phong Tần thì rõ ràng là ba đối tượng này đã lợi dụng quyền tự do ngôn luận, chính sách phát triển công nghệ thông tin và việc tạo điều kiện để người dân được bày tỏ quan điểm cũng như tiếp cận thông tin một cách đa dạng của nhà nước Việt Nam.
Ba blogger này còn thể hiện rõ sự thiếu thiện chí trước chính sách tích cực và cởi mở của Nhà nước.
Mới đây, phản ứng trước bộ phim của một người Mỹ nhạo báng Đạo Hồi, Tổng thư ký LHQ Ban Ki moon đã chỉ rõ rằng: Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí chỉ được bảo vệ khi nó được dùng vào các mục đích công lý và phục vụ cộng đồng. Còn các bằng chứng về hành vi của ba blogger này đã cho thấy họ đã xuyên tạc, châm biếm nhằm chống lại các cá nhân và cơ quan, tổ chức của Việt Nam. Do đó, các hành vi này đáng bị lên án.
Hàng trăm trang tài liệu có nội dung tuyên truyền chống nhà nước Việt Nam đã được ba đối tượng này phát tán trên mạng.
Hành vi này rõ ràng là đã vi phạm pháp luật của Việt Nam mà cụ thể là Điều 88 của Bộ Luật hình sự.
Trên cơ sở đó, việc đưa ba blogger này ra xét xử là hoàn toàn dựa trên căn cứ của pháp luật. Quá trình điều tra, xét xử ba blogger này cũng được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục của pháp luật Việt Nam. Vì thế việc cho rằng bản án “quá nặng” là cáo buộc không có cơ sở, không dựa trên căn cứ pháp luật.
Cũng giống nhiều quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam công nhận và đảm bảo việc thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Những hành vi lợi dụng các quyền này mà vi phạm pháp luật thì không chỉ Việt Nam mà bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều không thể chấp nhận.
Điều 18 Hiến pháp CHLB Đức ghi rõ: “Ai lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, đặc biệt là tự do báo chí, tự do tuyên truyền… làm công cụ chống lại trật tự của xã hội tự do dân chủ sẽ bị tước bỏ quyền công dân”.
Chính vì vậy, việc Việt Nam xét xử 3 blogger Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải và Tạ Phong Tần là hoàn toàn phù hợp với pháp luật Việt Nam, tập quán cũng như các quy định quốc tế.
Việc phản đối vụ xét xử này là sự cố tình can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, can thiệp vào quá trình tư pháp vốn dĩ cần phải được tôn trọng và tiến hành một cách độc lập. Vì thế, các hành động này không được hoan nghênh./.

Theo Việt Nga/VOV1/http://vov.vn/Binh-luan/Loi-dung-tu-do-ngon-luan-de-chong-pha-la-khong-the-chap-nhan/228536.vov

Cách nhìn nhận không thể chấp nhận

QĐND – Thủ tướng Chính phủ Việt Nam vừa chỉ đạo các cơ quan chức năng làm rõ, xử lý nghiêm minh một số trang thông tin điện tử đăng tải thông tin vu khống, bịa đặt, xuyên tạc nhằm bôi xấu bộ máy lãnh đạo của đất nước, kích động chống Đảng và Nhà nước Việt Nam, gây hoài nghi và tạo dư luận xấu trong xã hội. Bình luận về việc này, trên VOA Việt ngữ, bà Lucie Morillon – nhân vật thuộc tổ chức Phóng viên Không biên giới, đã phát biểu rằng: “…Chính phủ Việt Nam muốn siết chặt quản lý thông tin để củng cố quyền lực”.
Cần phải nói ngay rằng, cách nhìn nhận của bà Lucie Morillon thực chất là hành vi xuyên tạc, hậu thuẫn những đối tượng đang cố tình lợi dụng tự do dân chủ, tự do internet, tự do báo chí để xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam.
Tự do ngôn luận, tự do báo chí là quyền căn bản của con người. Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin… của công dân. Nhưng tự do báo chí ở Việt Nam không phải là thứ tự do vô chính phủ, tự do vô tổ chức. Để bảo đảm quyền được thông tin, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của mọi công dân được thực thi trong cuộc sống, Nhà nước, Chính phủ và các cơ quan chức năng của Việt Nam đã ban hành nhiều luật và văn bản dưới luật. Công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí… nhưng phải tuân thủ các quy định của pháp luật. Các cơ quan báo chí, người làm báo và mọi công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin… trên cơ sở phát huy đầy đủ trách nhiệm của mình đối với xã hội. Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí nhưng không được làm tổn hại đến quyền tự do của người khác, đến lợi ích chung của quốc gia, dân tộc.
Việt Nam khuyến khích tự do báo chí vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, bảo vệ lợi ích của Đảng, Nhà nước và lợi ích nhân dân, bảo vệ chế độ XHCN. Việt Nam không chấp nhận mọi hành vi lợi dụng tự do báo chí, tự do internet để gây mất ổn định, chống lại Tổ quốc và dân tộc, xuyên tạc chủ trương, chính sách; bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Những công dân cố tình lợi dụng tự do dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí để tung ra những thông tin bịa đặt, truyền bá những thông tin thiếu xác thực, chưa được kiểm chứng, thậm chí cả những ý kiến mạo danh các đồng chí lão đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội, Công an, cán bộ lão thành cách mạng, các đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước lên blog cá nhân, lên các trang thông tin điện tử nhằm phục vụ mưu đồ cá nhân, sẽ bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Thủ tướng Chính phủ Việt Nam chỉ đạo các cơ quan chức năng tiến hành các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn những hành vi lợi dụng tự do dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí để gây mất ổn định, đi ngược lại lợi ích của Tổ quốc và dân tộc, xuyên tạc chủ trương, chính sách; bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đó là việc làm cần thiết và bình thường. Trước thực tế trên, không chỉ có Chính phủ Việt Nam mà Chính phủ mọi quốc gia trên thế giới đều phải hành động như vậy.

http://www.yeutoquoc.org/threads/176/#post-1304

Ông Nguyễn Tấn Dũng bị nói xấu như thế nào?

Nếu là một người dân Việt Nam chịu quan tâm tới các vấn đề nóng của đất nước và đặc biệt là tìm hiểu thông tin về vị thủ tướng đương nhiệm: ông Nguyễn Tấn Dũng thì có lẻ chúng ta sẽ được tiếp thu hầu như là các thông tin có thể nói là xấu, bội nhọ, không đúng so với những gì ông đã làm cho đất nước…. Các thông tin chính thống gần như không thể đấu lại với các thể loại tin này trên trang tìm kiếm Google.

Thời đại ngày nay quá dễ để đưa một thông tin nào đó lên Internet, đã qua rồi cái thời mà nhà nhà người người viết về các cảm xúc cá nhân, thay vào đó giờ đây họ đã đưa các chính kiến, các suy nghĩ về nhiều vấn đề của đất nước lên Internet, có thể là nhiều mục đích khác nhau, tốt thì là lo lắng cho đất nước xấu thì là xuyên tạc người khác (cấp độ thấp có thể là ca sĩ, diễn viên, cao hơn nữa là lãnh đạo quốc gia cụ thể ở bài viết này là thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng).

Tập Viết Báo chỉ đơn thuần là một tờ blog cập nhật các thông tin về tình hình đất nước bên cạnh đó cũng hay đưa các tin về lãnh đạo của chúng ta, qua quá trình thanh lọc tin tức TVB (từ đây xin viết tắt Tập Viết Báo thành TVB) phát hiện rất nhiều các tin tức, bài viết trên các blog cá nhân cố tình viết xấu về ông Nguyễn Tấn Dũng, TVB đứng ở vị thế trung lập không phán xét các bài viết đó chỉ biết rằng thông tin một khi không có kiểm chứng mà chỉ nói càn và cố tình bôi nhọ ai đó thì thông tin đó không đáng được tin tưởng và trân trọng. Nhưng với người đọc bình thường và lần đầu tiên tiếp cận các thông tin đó rất dễ cho đó là… đúng.

TVB xin lấy ví dụ về một loạt các bài viết cách đây khoảng 5 tháng về một từ khoá được tìm kiếm khá nhiều trên mạng: Lâu đài/Biệt thự Nguyễn Tấn Dũng <- xuất phát điểm của vấn đề này nếu người dùng chịu tìm hiểu kĩ thì đó là do 1 sự nhầm lẫn tại của 1 website lấy các hình của một lâu đài nước ngoài và gán cho ông Nguyễn Tấn Dũng [Chi tiết xin đọc ở đây: Sự thật về Biệt thự của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng,http://www.yeutoquoc.org/threads/97/ ], một ví dụ như trên thôi cũng đủ để 1 bộ phận đọc thông tin này cho rằng thủ tướng Dũng là người tham nhũng, tham ô, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh của một nguyên thủ quốc gia…. từ đó sẽ có ác cảm dẫn đến các tin tức xấu về sau tiếp cận sẽ tin hơn nữa, cứ thế.

Bạn đọc cứ để ý hễ đất nước Việt Nam có một cái gì đó xấu về kinh tế hay quốc phòng là cứ y như rằng trên Internet có ngay những bài viết xoi mói nói xấu thủ tướng Dũng (chưa nói là còn các các vị lãnh đạo khác).

Như đã nói ở bên trên một thông tin mà không có kiểm chứng mà lại đi nói xấu người khác thì không đáng tin tưởng. Tình thế hiện nay đất nước ta đang phải chống chọi với Trung Quốc về các vấn đề trên Biển Đông, mọi người cần phải là một khối đồng lòng mới có thể chống được các tư tưởng ngoại xâm đang lăm le bờ cõi vì thế hãy nhìn vào những gì mà ông Dũng đã làm tốt cho đất nước, đừng tin vào những bài viết xăm xoi đời tư của ông Dũng, xăm xoi đến cá gia đình và con cái của thủ tướng thì hết nói.

TVB rất ít khi thấy các blog “đó” viết các bài dạng như: kế sách để phát triển kinh tế, bày kế cho thủ tướng tăng GDP, tâm thư gửi thủ tướng về Trường Sa Hoàng Sa,…. đại loại là các bài viết chia sẽ kinh nghiệm, kế sách,… để đất nước cùng phát triển mà suốt ngày chỉ thấy toàn tin tào lao về các vấn đề không một chút nào có thể giúp cho đất nước VN này khá hơn được.

—> Những thành tựu mà TVB cho rằng website nguyentandung.org đưa ra ở đây rất đáng để người dân VN biết đến và để thấy sức làm việc của ông đáng nể đến nhường nào: Hoạt động của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng 6 tháng đầu năm 2012 (http://www.yeutoquoc.org/threads/97/ ) .

(Phần này kenminhthien.net tôn trọng nguồn nên giữ nguyên bài viết. Kenminhthien.net không khuyến khích việc truy cập vào các trang web có tên các vị lãnh đạo mà không có giấy phép cụ thể.)

Và cũng xin lưu ý là website này các bạn nên đọc thường xuyên để cập nhật các tin tức tổng hợp về tình hình đất nước cũng như các hoạt động, ý kiến của ông Nguyễn Tấn Dũng.

Bài từ TVB

Thế kỷ XXI – Karl Marx đã chết?

 

Cuối thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI, lịch sử nhân loại đã diễn ra với nhiều biến cố bất ngờ, từ sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu đến sự thoái trào của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Nhân đó, đã có nhiều công trình, bài viết tuyên bố về cái chết của triết học Marx , chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa cộng sản dựa trên các học thuyết của Marx . Song, thực tiễn lịch sử đã cho thấy, với bản chất cách mạng và khoa học, triết học Marx , chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa cộng sản dựa trên các học thuyết của K. Marx không những không chết, mà còn trường tồn với nhân loại ở thê kỷ XXI. Rằng, những di sản lý luận của K. Marxđã trở thành tài sản chung của cả nhân loại và sẽ mãi mãi là như vậy.

Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu, sự thoái trào của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã từng là đề tài của những cuốn sách, bài báo mà trong đó, các tác giả của chúng đều có một cái đích chung là “chứng minh” về cái chết của chủ nghĩa Marx , về cái chết của chủ nghĩa cộng sản dựa trên các học thuyết của K. Marx. Nổi bật trong số các cuốn sách loại đó phải nói đến cuốn Sự cáo chung của lịch sử và con người cuối cùng của Francis Fukuyama xuất bản tại New york năm 1992.

Theo sự so sánh của Jacques Derida – nhà triết học người Pháp, một trong những nhà triết học phương Tây nổi tiếng thế giới ở thế kỷ XX, trong cuốn Những bóng ma của Marx (Spectres de Marx), thì lúc đó, ở phương Tây, “người ta mua cuốn sách này như một bà nội trợ xô vào mua đường và dầu, khi có những tin đồn đầu tiên về chiến tranh”. Bên cạnh nhiều đánh giá khác của Jacques Derida về cuốn sách trên của Francis Fukuyama, thì những đánh giá sau đây của ông quả thật rất đáng lưu ý: “Nếu một luận thuyết kiểu như luận thuyết của Fukuyama đóng một cách có hiệu quả vai trò gây mơ hồ và vai trò phủ nhận sầu thảm gấp đôi mà người ta chờ đợi ở nó, thì nó đã làm một trò lừa gạt một cách khôn khéo đối với một số người này và thô bạo đối với một số người khác”. Hoặc: “Phải thừa nhận là quyển sách này mang sắc thái tinh vi hơn, đôi khi để lửng, thậm chí đến mức mập mờ…”. Nói cách khác, người ta không thể không nghi ngờ về tính khách quan và tính khoa học của cuốn sách trên của Fukuyama. Không ai có thể phủ nhận một sự thật là Liên Xô và khối Đông Âu xã hội chủ nghĩa đã sụp đổ chủ nghĩa xã hội đã bị một tổn thất hết sức nặng nề. Nhưng từ sự sụp đổ đó mà rút ra kết luận rằng, học thuyết của K. Marxđã chết, triết họK. Marxđã chết, chủ nghĩa cộng sản đã chết thì thật là một sự vui mừng quá sớm, là một sai lầm, nếu không muốn nói là do những động cơ không trong sáng, hay nặng hơn, là do sự thù ghét cay độc đối với K. Marx và các học thuyết của ông. Hãy khoan nói đến ở đây những nguyên nhân gây ra sự sụp đổ đó của Liên Xô và các nước Đông Âu với tính cách một mô hình, một kiểu chủ nghĩa xã hội đã được người đời sau thiết kế theo sự hiểu biết, sự giả định, một sự mong muốn chủ quan của mình nhưng lại mệnh danh, hoặc tưởng rằng, đã làm theo đúng chỉ dẫn của K. Marx, là xuất phát từ K. Marx, là trung thành tuyệt đối với C Marx , bởi những nguyên nhân gây nên sự sụp đổ ấy thì có rất nhiều và cần phải được mổ xẻ trong một dịp khác.

Trong dịp Kỷ niệm 190 năm Ngày sinh K. Marx(05/05/1818 – 05/05/2008), chúng ta hãy chỉ đề cập một cách hết sức vắn tắt đến các học thuyết cơ bản của K. Marx, chẳng hạn như quan niệm duy vật về lịch sử hay học thuyết về giá trị thặng dư, chứ chưa nói đến rất nhiều những tư tưởng vượt thời đại khác của ông đã hợp thành chủ nghĩa mang tên ông, để có một cái nhìn thật sự khách quan, thật sự khoa học, thật sự tôn trọng K. Marx.

Trước hết, chúng ta hãy nhớ lại một luận điểm nổi tiếng mà người tiền bối vĩ đại của K. Marx đã đưa ra trong lĩnh vực triết học, người đã được K. Marx cải tạo theo lối duy vật, đã kế thừa và vượt qua. Đó chính là luận điểm được Hê-ghen trình bày trong Những bài giảng về lịch sử triết học của ông. Hê ghen viết: “Triết học hiện đại là kết quả của tất cả những nguyên lý có từ trước đó, như vậy, không có một hệ thống nào bị lật đổ, không phải nguyên lý của triết học đó bị lật đổ mà chỉ có sự giả định rằng, nguyên lý đó là định nghĩa tuyệt đối cuối cùng bị lật đổ mà thôi”.

Câu nói đó của Hê ghen hoàn toàn có thể vận dụng vào trường hợp của K. Marx. Điều đó có nghĩa là, một học thuyết, một hệ thống triết học hay một học thuyết xã hội nào đó, nếu là kết quả của sự tổng kết khoa học về lịch sử, là sự đúc rút từ các nguyên lý khoa học có từ trước đó mà không bị tuyệt đối hoá đến mức giáo điều, không bị làm cho khô cứng đi thì không bao giờ nó mất hết các giá trị, không bao giờ bị sụp đổ hoàn toàn. Điều đó cũng rất dễ hiểu. Không có một lý thuyết nào là tuyệt đối đúng cho mọi thời đại, trong mọi điều kiện lịch sử, bởi chân lý là một quá trình, chân lý nằm trong quá trình và việc đạt đến chân lý cũng là một quá trình. Các tư tưởng, các học thuyết của K. Marx về triết học, về xã hội, về kinh tế, về con người, về khoa học và kỹ thuật, v.v. vốn là kết quả của một sự nghiên cứu, phê phán, tiếp thu, vượt bỏ những thiên tài trước ông, tính từ thời Cổ đại cho đến tận L.Phoiơbắc, của sự khái quát lý luận và tổng kết thực tiễn cực kỳ sôi động thế giới lúc bấy giờ, và trên hết là sự sáng tạo tuyệt vời của một bộ óc thiên tài, của một trong những vĩ nhân vĩ đại nhất, có ảnh hưởng to lớn nhất trong mọi thời đại của nhân loại, như một cuộc thăm dò dư luận phương Tây cuối thế kỷ XX đã cho thấy. Những tiền đề xuất phát để K. Marxrút ra các kết luận lý luận “không phải là những tiền đề tuỳ tiện, không phải là giáo điều, đó là những tiền đề hiện thực mà người ta chỉ có thể bỏ qua trong trí tưởng tượng thôi… Những tiền đề ấy là có thể kiểm nghiệm được bằng con đường kinh nghiệm thuần tuý. Do vậy, những tư tưởng và những học thuyết của K. Marxhoàn toàn và tuyệt nhiên không phải là những “ảo tưởng chủ quan”, không phải là “duy ý chí” như những người phê phán K. Marx đã cố tình gán ghép.

Chúng ta đều biết rằng, do không thỏa mãn với các cách giải thích khác nhau của những người đi trước mình về lịch sử xã hội loài người, nên K. Marx đã kiên trì đi tìm và đã tìm ra “những điều bí ẩn của lịch sử”, “chủ thể của lịch sử và chìa khóa của lịch sử đích thực”. Với K. Marx, cái thúc đẩy sự vận động của lịch sử không phải là sức mạnh siêu tự nhiên, cũng không phải là những tư tưởng hay ý chí của con người, của các vĩ nhân, mà chính là sản xuất vật chất, là những lợi ích vật chất, còn chính quần chúng nhân dân mới là những người sáng tạo chân chính ra lịch sử của mình.

Quan điểm mang tính chất nền tảng đó có quan hệ chặt chẽ với quan niệm về sự phát triển của lực lượng sản xuất và vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với sự phát triển của mọi hình thái xã hội từ trước cho đến nay. Với C Marx , không những các hình thái kinh tế – xã hội khác nhau là một quá trình lịch sử – tự nhiên, mà sự thay thế các hình thái đó cũng là một quá trình lịch sử – tự nhiên. Điều đó có nghĩa rằng, khi đã là một quá trình lịch sử – tự nhiên thì con người hoàn toàn có thể khám phá được, có thể nhận thức được, có thể nắm được và vận dụng được các quy luật vận động của nó. Và, K. Marxđã chứng minh điều đó một cách tài tình, vừa khoa học, vừa hết sức thuyết phục trong nhiều công trình, đặc biệt là trong bộ Tư bản – một công trình của suốt cả cuộc đời C Marx , rằng hình thái kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa, sớm hay muộn, tất yếu sẽ bị thay thế bằng một phương thức sản xuất tiên tiến hơn, phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa, bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội sẽ đến một lúc không còn có thể chứa đựng trong các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa nữa. Đó là quy luật tất yếu của lịch sử.

Tuy nhiên, khi khẳng định như vậy, K. Marxkhông hề xác định thời điểm cụ thể về sự thay thế đó hay về thời điểm diệt vong của chủ nghĩa tư bản. Đáng tiếc là những người lãnh đạo và các nhà lý luận đi sau K. Marx, do quá say sưa với thắng lợi và sự lớn mạnh một thời của chủ nghĩa xã hội trên quy mô thế giới, dường như muốn thúc đẩy nhanh “cái chết” đó của chủ nghĩa tư bản nên đã không đủ tỉnh táo để thấy rằng chính K. Marx, ngay trong Lời tựa viết cho lần xuất bản đầu tiên tập I bộ Tư bản, đã nhận ra rằng, xã hội tư bản “hoàn toàn không phải là một khối kết tinh vững chắc, mà là một cơ thể có khả năng biến đổi và luôn luôn ở trong quá trình biến đổi”. Rõ ràng, một xã hội, cũng như một cơ thể sống, khi còn có khả năng biến đổi và đang trong quá trình biến đổi thì có nghĩa là cơ thể đó còn có khả năng thích nghi, nó chưa thể chết ngay. Về điều này, K. Marx cũng đã từng nói rằng, “không một hình thái xã hội nào diệt vong trước khi tất cả những lực lượng sản xuất mà hình thái xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ cho phát triển, vẫn chưa phát triển, và những quan hệ sản xuất mới, cao hơn, cũng không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa chín muồi trong lòng bản thân xã hội cũ. Cho nên, nhân loại bao giờ cũng chỉ đặt ra cho mình những nhiệm vụ mà nó có thể giải quyết được vì khi xét kỹ hơn, bao giờ người ta cũng thấy rằng bản thân nhiệm vụ ấy chỉ nảy sinh khi những điều kiện vật chất để giải quyết nhiệm vụ đó đã có rồi, hay ít ra cũng đang ở trong quá trình hình thành”.

Lịch sử nhân loại thế kỷ XX và hiện nay đã hoàn toàn xác nhận những chỉ dẫn hết sức tinh tường đó của K. Marx. Hệ thống tư bản chủ nghĩa hiện đại vẫn đang còn sức sống, đang thể hiện sức mạnh thực sự của nó ở những mặt nhất định và đang chi phối khá mạnh nền chính trị và kinh tế thế giới, chứ chưa phải đã đến lúc lịch sử của nó kết thúc. Hệ thống đó vẫn đang có khả năng thích nghi, tự điều chỉnh và tiếp tục phát triển. Không thể không thấy điều đó. Vậy, liệu có thể từ đó mà rút ra kết luận rằng, chủ nghĩa tư bản là vĩnh hằng, là bất tử, là tương lai duy nhất của nhân loại hay không? Không. Hoàn toàn không thể! Mọi sự biện hộ theo kiểu đó đều không có cơ sở. Chủ nghĩa tư bản toàn cầu hoá hiện nay mà K. Marx đã từng dự báo về sự ra đời của nó, với sức mạnh của nó và với cả những mâu thuẫn nội tại mà tự thân nó không thể nào giải quyết được, là bước chuẩn bị cho sự thay thế nó trong tương lai, tức là các điều kiện chuẩn bị cho sự thay thế đó đang trong quá trình hình thành ở ngay trong chính bản thân nó. Lịch sử không bao giờ ngừng lại, không bao giờ ngưng đọng. Biện chứng của lịch sử chính là như vậy và sẽ mãi mãi là như vậy. Những bí mật làm giàu của các nhà tư bản và sự bần cùng của người lao động cũng đã từng là một bí mật của lịch sử đã được chính K. Marx khám phá ra nhờ học thuyết về giá trị thặng dư. Việc phát hiện ra học thuyết này là “công lao lịch sử vĩ đại nhất lao động của Marx . Nó chiếu sáng rực rỡ lên những lĩnh vực kinh tế mà trước kia những nhà xã hội chủ nghĩa cũng mò mẫm trong bóng tôi không kém gì những nhà kinh tế học tư sản. Chủ nghĩa xã hội khoa học bắt đầu từ ngày có giải đáp đó, và nó là điểm trung tâm của chủ nghĩa xã hội khoa học”.

Ngày nay, nhân loại đang từng bước tiến vào kinh tế tri thức, tri thức đang chuyển hoá “thành lực lượng sản xuất trực tiếp như K. Marx đã từng tiên đoán. Sự kiện nhân loại bước vào kinh tế tri thức này lại cũng là lý do để cho một số người, cả ở nước ta lẫn nước ngoài, ngộ nhận rằng, kinh tế tư bản và các nhà tư bản đã thay đổi về bản chất, không còn bóc lột người lao động, không tìm kiếm giá trị thặng dư như khi K. Marx viết bộ Tư bản nữa. Theo họ, sức lao động của con người ngày nay chủ yếu đã được chuyển sang cho các máy móc cực kỳ tinh vi với hiệu suất rất cao. Tỷ lệ giá trị của lao động sống không thể so với giá trị do máy móc làm ra, do đó, theo họ, máy móc hiện đại mới là cái sản xuất ra giá trị thặng dư, nghĩa là nhà tư bản bây giờ chỉ còn bóc lột máy móc chứ không phải bóc lột công nhân!

Thật ra, như K. Marx đã từng nói: “… Những máy móc có một sức mạnh kỳ diệu trong việc giảm bớt lao động của con người và làm cho lao động của con người có kết quả hơn, thì lại đem nạn đói và tình trạng kiệt quệ đến cho con người. Những nguồn của cải mới, từ xưa tới nay chưa ai biết, dường như do một sức mạnh thần kỳ nào đó lại đang biến thành nguồn gốc của sự nghèo khổ. Nhận xét đó của K. Marx vẫn rất đúng trong điều kiện hiện nay. Máy móc, dù có hiện đại đến đâu chăng nữa, cũng vẫn không thể thiếu được sức lao động của con người. Hơn thế nữa, máy móc càng hiện đại, càng tạo ra nhiều sản phẩm hơn, các sản phẩm càng có hàm lượng từ thức nhiều hơn thì lại càng đòi hỏi chất lượng lao động cao hơn, tri thức nhiều hơn, do đó, càng không thể thiếu được công nhân tri thức. Nghĩa là, sản xuất, dù hiện đại đến đâu, cũng không thể thiếu được sức lao động của con người, của người công nhân, của kỹ sư, của nhà khoa học, tức là không thể thiếu được lao động sống. Vậy, nhà tư bản lấy lợi nhuận ở đâu, có chiếm đoạt giá trị thặng dư ở đây không? Chắc chắn không khó để trả lời. Chính K. Marx đã chỉ rõ rằng, sự sản xuất ra giá trị thặng dư là quy luật tuyệt đối của sản xuất tư bản chủ nghĩa, không có lợi nhuận thì không một nhà tư bản nào chịu bỏ vốn để sản xuất, kinh doanh, mà nhuận chỉ là hình thái thứ sinh, phái sinh và được biến đổi của giá trị thặng dư, là hình thái tư sản trong đó đã xoá hết những nguồn gốc của nó”. Dường như có người đã không biết, hoặc đã cố tình quên đi sự luận chứng rất quan trọng và khoa học này của K. Marx về mối quan hệ giữa lợi nhuận và giá trị thặng dư. Rõ ràng là, trong thời đại hiện nay, hình thức bóc lột có thay đổi, đã trở nên khó nhận biết hơn, tinh vi hơn và khác hơn so với thời của K. Marx, nhưng bản chất bóc lột của tư bản thì không khác. Đó chính là nguồn gốc, là nguyên nhân dẫn đến hố ngăn cách giữa người giàu và người nghèo, giữa những nước giàu và những nước nghèo hiện nay trên thế giới, kể cả ở các nước tư bản phát triển nhất, đang ngày một doãng ra với tốc độ ngày càng nhanh hơn.

Từ hai vấn đề quan trọng trên, có thể nói rằng, những học thuyết quan trọng của K. Marxkhông hề lỗi thời, nếu chúng không bị tuyệt đối hoá, nếu như nghiên cứu và vận dụng chúng theo tinh thần biện chứng chứ không phải một cách giáo điều, xơ cứng. Điều này không chỉ chúng ta nói và tin, mà ngay cả nhiều nhà triết học phương Tây nổi tiếng cũng tin như vậy. Và, chắc lòng tin đó của họ không thể coi là xuất phát từ hệ tư tưởng, mà chính là từ những sự trải nghiệm, sự phân tích thực tiễn và sự tổng kết lý luận của chính họ. Jacques Derida, trong Những bóng ma của Marx đã dẫn ra ở trên, khi thừa nhận rằng, “tất cả mọi người trên toàn trái đất này, dù họ muốn, họ biết hay là không, đều là những người kế thừa của Marx và chủ nghĩa Marx với một mức độ nhất định”, đã khẳng định: “Luôn luôn sẽ là một sai lầm, nếu không đọc đi đọc lại và tranh luận những tác phẩm của Marx … Đó sẽ càng ngày càng là một sai lầm, một sự thiếu trách nhiệm về mặt lý luận, triết học và chính trị… Sẽ không có tương lai khi không có trách nhiệm đó. Không có nếu không có K. Marx không có tương lai mà lại không có Marx . Nếu không có ký ức về Marx và không có di sản của Marx “.

Chủ nghĩa Marx không chết, chủ nghĩa cộng sản được xây dựng dựa trên các học thuyết chân chính của K. Marx không chết như một số người từng tuyên bố. K. Marx vẫn sống với nhân loại không chỉ ở thế kỷ XXI, bởi những di sản của K. Marx đã trở thành tài sản chung của cả nhân loại và sẽ mãi mãi là như vậy, bởi như Michel Vadée – nhà triết học, thành viên của Trung tâm nghiên cứu và tư liệu về Hê ghen và Marx thuộc Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp, đã nhận định rằng, “tư tưởng của Marx đã “được biết đến nhiều: nó đã cắm sâu vào thế giới”.

S.T [http://reds.vn/index.php/chinh-tri/cnxh-cntb/2236-the-ky-xxi-karl-marx-da-chet]

9 CÁI NGU MÀ CÁC NHÀ DÂN CHỦ CUỘI (RẬN CHỦ) KHÔNG THỂ THIẾU

1. Bác Hồ một đời hi sinh cho Dân Tộc, Bác được cả dân tộc kính ngưỡng, nhưng các nhà dân chủ cuội lại dày công xuyên tạc bội nhọ Bác, thậm chí còn sử dụng ngôn từ và biếm họa rất bênh hoạn. Đây là cái ngu kinh điển nhất.

2. Bom mìn thuốc nổ mà Mỹ tống vào một mình cái thành cổ Quảng Trị thôi đã bằng 6 lần đương lượng nổ của quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima, rồi thì ném bom Hà Nội, rải dioxin, băn giết người VN, thế nhưng các nhà dân chủ cuội luôn gân cổ lên mà rằng :”Mỹ không hề xâm lược Việt Nam”. Đây là cái ngu kinh tởm nhất.

3. Việt Nam Cộng Hòa là tay sai của Mỹ, do Mỹ dựng lên, đã khước từ nguyện vọng thống nhất của nhân dân, đã lê máy chém đi khắp miền Nam, đã đàn áp giết hại bao nhiêu đồng bào, nhưng các nhà dân chủ cuội luôn cho rằng đó là 1 nhà nước “đầy ắp dân chủ, căng tràn tự do”. Đây là cái ngu đáng phỉ nhổ nhất.

4. Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam, đã đặt nền móng đầu tiên cho thể chế dân chủ, lần đầu tiên ở Việt Nam, nam nữ được bình quyền, mọi công dân đều bình quyền, được hưởng các quyền tự do.

ĐCSVN đã lãnh đạo nhân dân, đuổi Pháp, đánh Mỹ, ngăn Ponpot, đạp tan âm mưu bành trướng của Trung Quốc, cùng nhân dân xây dựng đất nước. Dẫu họ có sai lầm, dẫu còn nhiều bất cập nhưng không thể không ghi nhân công lao của họ được.

Vậy mà các nhà dân chủ cuội phủ nhận sạch trơn. Đây là cái ngu tệ hại nhất.

5. Bất cập thậm chí là bất công ở Việt Nam là có, và không hề ít. Nhưng thay vì phản ánh những sự thật đó thì các nhà dân chủ cuội lại chọn cách bịa đặt và xuyên tạc. Còn nhớ năm nào đó, bộ đội ta đi giúp dân tránh lũ, các vị ấy xây dựng nên 1 clip gọi là “đảo chính ở Việt Nam”. Đây là cái ngu đáng kinh ngạc nhất.

6. Muốn được lòng dân, thì phải đủ tài lẫn đức, nhưng các nhà dân chủ cuội không cần điều đó, chỉ cần có ai đó chửi đảng, chửi nhà nước một câu thì suy tôn ngay thành anh hùng, thành nữ hào kiệt, thành người con của sông núi, thành nhân sỹ bất kể đó là thành phần bênh hoạn như Lý Tống hay giang hồ như Bùi Hằng. Đây là cái ngu phi phàm nhất.

7. “Ỉa chảy hay táo bón đều là tại Đảng và Nhà Nước” đó là lý lẽ của các nhà dân chủ cuội, bất kể là việc con trâu nó có sừng hay việc con voi nó có vòi thì họ đều quy cho trách nhiệm thuộc về đảng và nhà nước. Đây là cái ngu bệnh hoạn nhất.

8. Miệng nói dân chủ, nhưng thực tế chẳng hiểu dân chủ là gì, hỏi dân chủ là gì thì câu tra lời dâu có 1 vài câu hay dài dằng dặc thì chung quy cũng là “giống như Mỹ ấy”. Chẳng khác gì hỏi fan cuồng Kpop rằng nghệ thuật là gì thì nhận được câu trả lời “giống Kpop ấy”. Đây là cái ngu đáng cười vào mặt nhất.

9. Biểu tình phản đối VN gia nhập WTO, dâng thỉnh nguyện thư kiến nghị Hoa Kỳ cấm vận VN, kích động chiến tranh Việt – Trung và nhiều trò phản quốc tương tự. Đây là cái ngu đáng nguyền rủa nhất.

———

Vì sao ngu đến vậy ? Đơn giản thôi, vì họ không phải là những nhà dân chủ thực sự họ là những nhà dân chủ cuội (nhà dân chủ thực sự phải như Bác Hô, phải như Bác Võ Văn Kiệt hay như đại biểu Dương Trung Quốc ấy).

Mục đích của họ không phải là dân chủ, mục đích của họ là chống cộng, nên cái gì có thể chống cộng họ đều làm, bất chấp.

Ngày tận thế trong quan điểm một số tôn giáo lớn

Thuyết Tận thế của các tôn giáo lớn có một mẫu số chung là ngày tận thế thường được báo trước bằng một thời kỳ suy sụp đạo đức kéo dài. Thế cân bằng giữa trời, đất và con người bị phá hoại bởi những hành vi phi đạo đức của con người. Sự vận hành của trời, đất bị rối loạn, thiên tai liên tiếp xảy ra với tầm cỡ phá hoại ngày càng lớn…

1. Ba Tư giáo và ngày tận thế:

Zoroastre, cũng gọi là Zarathoustra, là vị tiên tri người Ba Tư, sống vào khoảng năm 1300 trước Tây lịch, lập ra Ba Tư giáo, cũng gọi là Hỏa giáo, cũng là người đầu tiên đề xướng thuyết tận thế sau này có ảnh hưởng đến Do Thái giáo và Thiên chúa giáo. Giáo sư James Russell, thuộc Trường Đại Học Mỹ Harvard, viết rằng, theo tín đồ ba Tư giáo thì “thế giới có điểm khởi đầu và điểm tận cùng, và là một chiến trường lớn giữa cái Thiện và Ác, tức là giữa Ahura Mazda, vị thần đại biểu cho sự minh triết và cái thiện và Ahriman, là quỷ Satan đại biểu cho cái ác”.

Tiên tri Zoroastre tuy tuyên bố là ngày tận thế sẽ xảy ra vào một ngày của năm thứ 1200, kể từ ngày sáng thế ; nhưng đáng tiếc là Zoroastre lại không tuyên bố ngày sáng thế cụ thể là ngày nào, cho nên người ta cũng không thể tính ra được cụ thể ngày tận thế là ngày nào. Zoroastre chỉ nói là ngày tận thế trùng với ngày xuất hiện của Đấng Cứu Thế, và cũng là ngày phán xử cuối cùng, sau đó những người thiện được lên Thiên đàng, còn bọn ác thì bị đọa xuống địa ngục.

2. Do Thái giáo và Thiên chúa giáo với thuyết tận thế:

Văn chương về chủ đề ngày tận thế (Apocalypse) rất là phổ biến trong các giới Do Thái giáo và Thiên chúa giáo vào những thế kỷ đầu Tây lịch, mô tả cảnh tượng hãi hùng của ngày tận thế, như có thể thấy trong các bài tập văn của các bậc tiên tri Do thái Ezechiel, Zarachie, Daniel. Cuốn sách cuối cùng của kinh Tân Ước cũng mang đầu đề Apocalypse (tận thế) theo truyền thuyết là một tác phẩm của thánh Jean, có thể được viết vào khoảng năm 94-95 của Triều đại Hoàng đế La Mã Domitien, và có nói tới các cuộc khủng bố của Hoàng đế Néron đối với tín đồ Thiên chúa giáo. Nội dung cuốn sách Tận thế trong kinh Tân Ước nhất là đoạn báo trước sự hủy diệt của thành Roma, bị tố cáo là thành phố đẫm máu và là “con đĩ” của toàn cầu, rõ rằng là nhằm an ủi những thế hệ các tín đồ Thiên chúa giáo từng bị các hoàng đế La Mã khủng bố, đặc biệt là hoàng đế Néron.

Văn chương tận thế của đạo Do Thái và Thiên chúa đã có ảnh hưởng rất sâu sắc đến quần chúng tín đồ của hai tôn giáo này, chứng cớ là một mô típ phổ biến của nghệ thuật điêu khắc và hội họa của Thiên chúa giáo là những cảnh hãi hùng của ngày tận thế. Chủ đề ngày tận thế cũng được đề cập trong tác phẩm văn chương nổi tiếng như cuốn “Hài kịch thiêng liêng của Dante, nhiều đoạn trong cuốn “Huyền thoại thế kỷ” (Legende des sieclès) của đại văn hào Pháp Victor Hugo…

3. Hồi giáo và ngày tận thế :

Đạo Hồi cũng cho rằng ngày tận thế trùng với ngày phục sinh của Jésus được xem như là một bậc tiên tri, như Mahomết vậy. Kinh Coran viết : “Đó là ngày tiếng kèn đồng vang lên và bọn ác xanh mắt lên vì kinh hoàng”. Tuy nhiên, hình như đạo Hồi không quan tâm mấy đến ngày tận thế . Vì theo họ, chỉ có Thượng Đế Allah mới biết được cụ thể là ngày nào. Họ chỉ nói ngày tận thế sẽ được báo trước bởi một thời kỳ suy sụp của mọi giá trị đạo đức. Hai con quỷ Gog và Magog sẽ băng qua con sông nước đồng chảy của địa ngục, và cùng với ác thần Dajjal, sẽ đem lại tang thương, chết chóc và khổ đau trên thế gian này. Thế nhưng tiên tri Jésus sẽ phục sinh và giết chết ác thần Dajjal, mở cửa vườn Thiên đàng cho những tín đồ sống thiện lành và xua hết bọn ác xuống địa ngục.

4. Bài học đạo đức của thuyết Tận thế các tôn giáo lớn:

Ít nhất, thuyết Tận thế của các tôn giáo lớn có một mẫu số chung là ngày tận thế thường được báo trước bằng một thời kỳ suy sụp đạo đức kéo dài. Thế cân bằng giữa trời, đất và con người bị phá hoại bởi những hành vi phi đạo đức của con người ; sự vận hành của trời, đất bị rối loạn, thiên tai liên tiếp xảy ra với tầm cỡ phá hoại ngày càng lớn. Theo tôi, những biện pháp bảo vệ môi trường thôi cấp thiết và cần thiết, nhưng vẫn là tạm bợ. Chiến lược gốc là khôi phục lại thế cân bằng giữa ba yếu tố trời, đất và con người, nhờ khắc phục ba ngọn lửa tham, sân, si đang thiêu cháy không những thế giới mà cả bản thân con người nữa. Quan hệ giữa con người với nhau phải là quan hệ thắm đượm tình người, phải là quan hệ được điều phối bởi lý trí, chứ không phải bởi quyền lực và đồng tiền. Các tôn giáo lớn sẽ không chỉ làm công việc rửa tội bằng thánh lễ hay bằng lễ cầu an, mà chủ yếu bằng một nếp sống đạo đức đích thực, nhân bản đích thực.

Theo Nguyệt san GIÁC NGỘ

Yêu nước là gì? Yêu nước như thế nào?

 

Đối với em, yêu nước xuất phát từ tình yêu gia đình, dòng tộc, yêu cha mẹ và những năm tháng tuổi thơ sống trong yên bình dưới mái nhà nơi làng quê, yêu xóm giềng, yêu cả những khuôn mặt người quen nơi đồng đất quê nhà. Đi tha phương cả bốn phương trời, kết giao với đủ bạn bè, bằng hữu, tham gia đủ mọi mỗi quan hệ giản đơn cũng như phức tạp để biết rằng sẽ không ai yêu thương ta, hi sinh vì ta vô điều kiện và sẵn sàng như cha mẹ, anh chị em. Gia đình là tình yêu thiêng liêng đầu đời, cũng là cái nôi đầu tiên giúp ta nuôi dưỡng lý tưởng. Nếu một ngày có phải chiến đấu, phải hi sinh cho tổ quốc, cũng sẵn lòng vì tổ quốc phải đâu là khái niệm quá xa vời, tổ quốc chính là nơi có mẹ cha, có gia đình, dòng tộc, những bạn bè, những người quen thân, tổ quốc là một phần máu thịt.

 

Yêu nước là yêu quê hương. Quê em nghèo, chênh vênh trên những mảnh đồi bát úp hướng ra sông Lục Nam. Mỗi tháng 7 nước lên, đồng quê lại mênh mông thành biển nước, con sông nhỏ như dòng kênh vào mùa xuân giờ cuộn cuộn sóng liếm lên tận cổng nhà. Càng khôn lớn, càng đi xa để hiểu nhiều, biết nhiều em càng khao khát được về chạy giữa cánh đồng quê, được nằm vóng mắc trước sân nhà ngửa mặt lên trời nhìn trăng sao vằng vặc. Quê hương thành mảnh đất thiêng liêng, thành nỗi nhớ thiết tha cho mỗi đứa con tha phương. Còn quê hương là còn một chốn để trở về sau hết thảy những rốt ráo bộn bề vinh nhục. Quê hương như mẹ, không bao giờ chối bỏ những đứa con.

 

Yêu nước là yêu dân tộc Việt, dòng máu Việt. Yêu nước là biết đau thương, xót xa và chia sẻ với đồng bào mình. Yêu nước là biết đau lòng vì Miền Trung mỗi mùa lũ lụt lại có mất mát, lại có đói khát thảm thương. Yêu nước là xót xa khi thấy đồng bào mình cơm đói áo lạnh trên những rẻo cao mùa đông khắc nghiệt. Yêu nước là biết buồn cho những phận người ĐBSCL trồng lúa nhiều nhất cả nước mà vẫn đói nghèo, vẫn thất học vì từng bữa chạy ăn. Đối với em, yêu nước là yêu dân tộc.

 

Yêu nước cũng là biết sống có trách nhiệm hơn, cả trong suy nghĩ và trong hành động. Mọi tình yêu cuồng dại và mù quáng đều dẫn đến bi kịch, yêu nước cũng thế. Ai yêu nước thì hãy cố gắng hiểu nhiều hơn về nước mình để biết lợi biết hại, biết giữ cho trái tim nóng mà cái đầu thì nguội bớt những suy nghĩ ngông cuồng. Yêu nước không phải là mù quáng xả thân mình cho những phiêu lưu nguy hiểm và viển vông hay chỉ biết kêu gào yêu nước bằng máu xương của người khác. Trong suy nghĩ của em, yêu nước giản đơn là làm tốt công việc của mình, sống tốt bổn phận của mình và sẵn sàng đáp lời khi tổ quốc thật sự cần. Cuộc sống đã phân công sẵn cho mỗi con người những việc phải làm, những vị trí phải đảm nhận, khi hòa bình, làm tốt trách nhiệm ấy cũng đã là yêu nước, khi tranh đấu, đâu đâu cũng là mặt trận, hãy cố gắng cống hiến thật nhiều dù đang ngoài tuyến lửa hay đang ở hậu phương.

 

Yêu nước là biết trân trọng lịch sử, biết tự hào rằng mảnh mình sống hôm nay đã đổi bằng máu xương của biết bao thế hệ cha anh, bằng mất mát của cả một dân tộc suốt những tháng năm trường kỳ kháng chiến. Yêu nước là khắc cốt ghi tâm rằng một tấc đất non sông, một ngày tháng hòa bình, độc lập và tự chủ mà chúng ta đang hưởng là thành quả, là nỗ lực phi thường của cả một dân tộc, là sự đánh đổi bằng sự hi sinh của cả triệu thanh niên mang dòng máu Lạc Hồng đã nằm lại với chiến trường. Việt Nam là dân tộc yêu chuộng hòa bình, lịch sử dân tộc mình là lịch sử dựng nước và giữ nước, sức mạnh phi thường của dân tộc đến từ lòng yêu nước, tinh thần chính nghĩa và tình đoàn kết đồng bào máu mủ ruột già. Nếu yêu nước, xin hãy giữ bài học lịch sử ấy làm lòng.

 

Yêu nước xin hãy biết gạt bỏ những định kiến cá nhân để đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Hãy nhớ rằng có giữ được nước mới có cơ sở để mà xây dựng được một đất “đàng hoàng hơn” “to đẹp hơn”, công bằng hơn, tốt đẹp hơn như các bạn vẫn thường mong. Yêu nước là biết quan tâm đúng mực đến vận mệnh của dân tộc, là biết trân trọng hòa bình, gìn giữ hòa bình nhưng cũng sẵn sàng đứng lên để bảo vệ hòa bình cho tổ quốc thân yêu.

 

Em đang sống những tháng năm lãng mạn nhất của một đời người: Tuổi đôi mươi. Bao nhiêu những người trẻ như em cũng đang sống với nhiệt huyết, với tham vọng, vơi bao nhiêu dự định còn đang toan tính dở dang. Chúng ta nuôi những giấc mộng khác nhau, sống với lý tưởng khác nhau và quan điểm cũng khác nhau rất nhiều, nhưng chắc chăn lòng yêu nước và quyết tâm bảo vệ tổ quốc trong mỗi chúng ta là điều không hề khác.

 

 

sưu tầm facebook. [https://www.facebook.com/bmmua]

10 môn thể thao lạ lùng nhất tại Olympic

Được xem là đại hội thể thao chất lượng và nghiêm túc nhất thế giới, nhưng đã từng có một thời gian những môn kỳ dị như bắn bồ câu, bơi vượt rào, bắn súng tay đôi… xuất hiện tại Olympic

 

1. Bắn bồ câu

Môn thể thao giống như 1 thú đi săn này được xuất hiện lần đầu tại Olympic Paris năm 1900. Khi đó, có khoảng 300 con bồ câu trở thành mục tiêu cho các VĐV bắn hạ. Nhà vô địch Olympic năm 1900 trong môn này là Leon de Lunden người Bỉ khi ông bắn được 21 con bồ câu, nhiều hơn 1 con so với Maurice Faure của Pháp. Donald MacIntosh của Australia đứng thứ 3 nhờ “hạ sát” 18 con bồ câu. Chính vì tính chất tàn bạo của môn thể thao này mà chỉ sau một thời gian nó đã bị dẹp bỏ dù tại Olympic 1904, bồ câu nhựa đã được đưa vào thay thế.

Bắn bồ câu được xem là một trong những môn thể thao lạ lùng nhất được đưa vào thi đấu tại Olympic

2. Kéo co

Môn thể thao đậm chất dân dã này một thời gian là môn thi đấu chính thức tại các kỳ Olympic 1904, 1908, 1912 và 1920. Khi đó, Anh là quốc gia thường vô địch. Năm 1908, thậm chí một đơn vị cảnh sát của Anh đã giành tấm HCV.

Tại SEA Games 27 tổ chức tại Myanmar năm 2013, môn kéo co cũng được đề xuất đưa vào thi đấu.

3. Jeu de Paume (đánh bóng bằng bàn tay)

Từ này có nghĩa là “trò chơi của lòng bàn tay”. Có thể coi đây là tiền thân của môn tennis. Người chơi đánh bóng bằng bàn tay hoặc miếng gỗ nhỏ thay vì vợt như bây giờ. Năm 1900, Jeu de Paume chỉ được đưa ra công chúng giới thiệu và thi đấu liên tiếp tại 2 kỳ Olympic 1904 và 1908. Tới năm 1924, Jeu de Paume một lần nữa được đưa vào chương trình thi đấu chính thức và sau đó thì hoàn toàn biến mất.

4. Roque (bóng vồ)

Là môn xuất xứ từ Pháp với tên gốc là croquet, người Mỹ gọi nó là môn bóng vồ, được thi đấu lần đầu tiên năm 1904 tại Olympic St. Louis (Mỹ). Khác với croquet, sân roque được rải cát và quây thành hình bát giác. Viền sân được đắp cao hơn để khi bóng lăn tới đây sẽ bật ngược lại (như trò billiard). Sân có các lỗ và người chơi phải đánh được bóng vào đây. Ngoài người Mỹ thì không một quốc gia nào biết chơi môn này nên sau đón, roque bị loại khỏi các chương trình thi đấu vì người ta cho rằng người Mỹ đưa nó vào chỉ để câu thêm huy chương.

 
 Sân chơi Roque

5. Nhảy cao tại chỗ 3 lần

Điền kinh xuất hiện trong chương trình thi đấu của Olympic từ rất sớm nhưng chưa hoàn thiện như bây giờ. Thế nên ở kỷ nguyên đầu của các kỳ Olympic hiện đại đã xuất hiện môn nhảy cao tại chỗ 3 lần. Môn thể thao lạ lùng và rất tốn sức này chỉ tồn tại được trong 4 kỳ Thế vận hội, từ 1900 đến 1912.

6.  Leo dây thừng

Đây từng là một trong những môn “đinh” của thể dục dụng cụ, xuất hiện xen kẽ tại Olympic từ 1896 tới 1932. Tới năm 1904, môn leo dây thừng thu hút sự chú ý của toàn thể mọi người, khi người thắng cuộc là George Eyser bị cụt một chân. Sau này, vận động viên người Mỹ còn sưu tập được thêm 5 tấm huy chương nữa, trong đó có 2 HCV.

7.  Đấu súng tay đôi

Nhiều người tự hỏi đây có phải một môn đòi hỏi sự dũng cảm tuyệt đối và sẵn sàng chấp nhận cái chết? Không đến mức rùng rợn như vậy, bởi đối thủ của vận động viên là ma-nơ-canh. Lần đầu tiên ra mắt vào năm 1906, người thi phải bắn vào một ma-nơ-canh mặc quần áo kỳ dị từ khoảng cách 20 tới 30m. Đến năm 1912, đấu súng tay đôi được đưa vào chương trình thi đấu ở Olympic Stockholm, Thụy Điển nhưng các VĐV chỉ dùng đạn giả và thắng cuộc khi bắn trúng…cổ họng đối phương.

8.  Bơi nghệ thuật 1 người

Ngày nay, khán giả không còn lạ gì với những màn ba-lê dưới nước đẹp như mơ của hai người hay một nhóm vận động viên. Nhưng trong các năm 1984, 1988 và 1992, các nữ thí sinh có thể một mình độc diễn trong bể bơi để tranh huy chương. Vì quá tẻ nhạt, môn này đã bị dẹp bỏ.

9. Bơi vượt chướng ngại vật

Đây là một môn lạ lùng và buồn cười nhất trong lịch sử Olympic. Các vận động viên phải bơi tới một cây cột, leo lên trên đỉnh rồi xuống bơi tiếp, trèo qua 2 chiếc thuyền, lặn dưới đáy 2 thuyền khác, và cuối cùng là về đích. Tổng chiều dài bơi là 200m. Môn thi này chỉ được tổ chức đúng một lần vào kỳ Thế vận hội năm 1900, và vận động viên người Úc Frederick Lane trở thành quán quân duy nhất của môn này.

Frederick Lane trên đường đua năm 1900

10. Nhảy cắm và im lặng

Đây được coi là môn thi đấu hài hước nhất và chỉ xuất hiện đúng 1 lần tại Olympic 1904. Các thí sinh phải nhảy xuống bể bơi và giữ nguyên tư thế lúc nhảy xuống trong vòng 60 giây, hay cho tới khi đầu họ nổi lên khỏi mặt nước. Sau đó ban tổ chức đo khoảng cách từ mép bể bơi tới đầu là bao xa. William Dickey, người Mỹ là quán quân duy nhất từ trước đến nay ở môn này.

Ngoài những môn thi đấu kỳ dị này thì cricker, golf hay bóng bầu dục là những môn có đông đảo người chơi nhưng ít được đưa vào chương trình thi đấu chính thức của các kỳ Olympic. Cricket chỉ xuất hiện đúng 1 lần tại Olympic 1900. Golf xuất hiện tại Olympic 1900 và 1904. Bóng bầu dục được tổ chức tại Olympic 1900, 1908, 1920 và 1924 (sẽ xuất hiện tại Olympic 2016 ở Rio de Janeiro).

Các VĐV từ hơn 200 quốc gia sẽ dự tranh 302 bộ huy chương tại Olympic 2012 kéo dài từ 27/7 đến 12/8

Tại Olympic 2012 năm nay các VĐV sẽ tranh tài ở 26 môn gồm: Thể thao dưới nước (nhảy cầu, bơi, bơi nghệ thuật, bóng nước), bắn cung, điền kinh, cầu lông, bóng rổ, quyền anh, canoe/kayak, xe đạp, đua ngựa, đấu kiếm, thể dục, judo, 5 môn phối hợp hiện đại, rowing, thuyền buồm, bắn súng, bóng bàn, bóng đá, bóng ném, khúc côn cầu, bóng chuyền, taekwondo, quần vợt, 3 môn phối hợp, cử tạ và vật.

26 môn này có tổng cộng 302 bộ huy chương. Điền kinh và thể thao dưới nước có số bộ huy chương nhiều nhất lần lượt là 47 và 34 bộ huy chương.

NGUYỄN ĐĂNG

Theo Infonet.vn

Các cao thủ thời xưa hành tẩu giang hồ với bốt, thắt lưng da và… điện thoại di động!

Mới đây, mối tình đầu của Lệnh Hồ Xung – Nhạc Linh San (Dương Dung) – đã chính thức “trình làng”. Dù ngất ngây với nhan sắc của Linh San, song một số khán giả tinh mắt đã phát hiện ra… chiếc điện thoại di động được nàng giắt ở thắt lưng. Họ bình luận hài hước rằng: “Thời đại số nên khi hành tẩu giang hồ cũng phải “găm” điện thoại theo. Đến lúc quẫn bách còn gọi… tổ dân phố ra giải quyết”.


Nhạc Linh San không chỉ “găm” điện thoại…

Đây được xem là một hạt sạn không thể tin nổi và khá là tức cười của đoàn làm phim Tiếu ngạo giang hồ. Tuy nhiên, nhiều khả năng đây mới chỉ là ảnh “tạo dáng” của Dương Dung. Và chiếc điện thoại này rất có thể sẽ không được cùng người đẹp “hành tẩu giang hồ” khi lên phim. Song, những sai sót sơ đẳng thế này thì tốt hơn hết nên tuyệt đối tránh, nhất là khi khán giả đang ngày càng “tinh tế” như hiện nay.


…cô còn mang cả bốt

Nhân chuyện điện thoại “hành tẩu giang hồ”, nhiều khán giả cũng nhắc lại việc đoàn phim Tiếu ngạo giang hồ sử dụng phụ kiện một cách bừa bãi. Những chiếc thắt lưng được sử dụng trong phim đều là hàng “mốt” và cực kỳ hiện đại. Thậm chí, cách thắt cũng rất hợp thời. “Nhạc Linh San” Dương Dung cũng bị “đào xới” lại chuyện… đi bốt trong tạo hình cổ trang.


Bộ sưu tập thắt lưng “hợp mốt” của các cao thủ