Tag Archive: tiêu


Lâu nay, cứ nói đến bộ đội Hải quân canh giữ đảo tiền tiêu Tổ quốc là người ta nghĩ ngay đến Quần đảo Trường Sa thuộc Vùng 4, mà ít người biết rằng: Còn rất nhiều các đảo, quần đảo khác nằm dọc theo hình chữ S, bao năm nay được trấn giữ bởi các đơn vị Hải quân Vùng 1, 2, 3 và Vùng 5.

Ở đây mình muốn nhắc đến một số đảo quan trọng trong cụm đảo Đông Bắc, nằm trong Vịnh Bắc Bộ do Vùng 1 Hải quân quản lý.

Bộ Tư lệnh Vùng 1 Hải quân (hoặc Bộ Tư lệnh vùng A) nằm bên này Cầu Bính, nhưng các đơn vị nằm ở khắp vùng biển từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh và các đảo trong Vịnh Bắc Bộ.

Trong số các đảo, quan trọng, hiểm yếu và gian khổ, vất vả nhất phải kể đến các đơn vị đóng quân ở đảo tiền tiêu Bạch Long Vĩ, Cát Bà (TP. Hải Phòng) và Đảo Trần (huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh), đảo Trà Bản (huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh).

Quan trọng nhất trong những đảo trấn giữ Vịnh Bắc Bộ là đảo Bạch Long Vĩ.

Đảo có tổng diện tích khoảng 2,5km2 đến 4km2 (tùy theo thủy triều), nằm trên 1 trong 8 ngư trường lớn của Vịnh Bắc Bộ, có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng của đất nước.

Nhân dân trên đảo phần lớn là những thanh niên xung phong từ các tỉnh duyên hải Bắc Bộ ra lập vùng kinh tế mới với số lượng khoảng hơn 1.000 người, chủ yếu làm nghề khai thác nuôi trồng thủy sản và dịch vụ hậu cần nghề cá.

Sát cánh với những người dân là bộ đội, đáng kể nhất là các lực lượng hợp thành thuộc Vùng 1 Hải quân làm nhiệm vụ canh giữ, bảo vệ đảo và ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ, toàn lính trẻ biền biệt xa nhà và mỗi năm may lắm mới được vào đất liền hay đón khách đất liền ra thăm 1-2 lần, khổ hơn cả lính Trường Sa.

Tiếp sau phải kể đến Đảo Trần thuộc huyện Cô Tô (Quảng Ninh). Trên đảo có Trạm Ra đa 480, thuộc Tiểu đoàn Ra đa đối hải 151, Vùng 1 Hải quân.

Tiếng là lính biển, nhưng bộ đội áo yếm đóng quân tít trên núi cao, phương tiện đi lại khó khăn (chủ yếu là đi bộ).

Nằm ở độ cao gần 200m so với mực nước biển, mỗi khi hành quân lên đài quan sát này, cán bộ, chiến sĩ của trạm phải đi bộ gần 1 tiếng, bởi đường đi khó khăn, trơn trượt do sương mù ẩm ướt.

Quãng đường này cũng là đường “thử sức” cho bộ đội mang lương thực tiếp tế cho nhau hàng tuần.

Thế nhưng, khó khăn này vẫn là “muỗi” so với việc: Để quan sát được mục tiêu, chiến sĩ luôn đối mặt khó khăn bởi thời tiết, hướng gió, đặc biệt là những khi sương mù, biển động…

Ấy thế nhưng, xứng đáng với danh hiệu “đôi mắt thần” ngày đêm canh giữ biển trời Tổ quốc vùng Đông Bắc, trong những năm qua, cán bộ chiến sĩ trên Trạm đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quan sát, quản lý vùng biển 24/24 giờ, không để Tổ quốc bị bất ngờ.

Bên cạnh đó, “mắt thần Hải quân” Đảo Trần còn phục vụ đắc lực việc quan sát các mục tiêu phục vụ công tác Biên phòng – Cảnh sát Biển, như bắt giữ phương tiện buôn lậu, đẩy đuổi tàu bè nước ngoài xâm lấn trái phép, hướng dẫn ngư dân tránh trú bão…

Cũng là “mắt thần Hải quân” vùng Đông Bắc, Trạm Rađa 485 (Tiểu đoàn Ra đa đối hải 151) trên đảo Trà Bản (huyện Vân Đồn, Quảng Ninh), có Đài Rađa đối hải cao nhất miền Bắc, nằm ở độ cao 484m so với mực nước biển.

Ở đây, sương mù quanh năm, đụng vào thứ gì cũng ẩm ướt, nên công tác bảo dưỡng, bảo quản khí tài rất vất vả.

Mỗi khi ngủ dậy, các chiến sĩ trên đài quan sát lại lấy túi nilon bọc chăn chiếu để tránh bị ướt và cũng như Trạm Rađa 480, nước ngọt là hàng hiếm, nên lính ta phải chắt chiu từng giọt.

Cung đường lên đài quan sát, dài hơn 7 km đường rừng núi, mất 2 – 3 tiếng mới lên tới nơi.

Kinh nghiệm chống khát và tiếp sức trên đường lên đài quan sát của bộ đội là nhấm nháp những chùm mây rừng mọc khá nhiều trên đường đi, y như lính Biên phòng.

Anh em kể: Trung bình mỗi phiên trực kéo dài một tuần, nhưng cũng có khi vì nhiệm vụ đột xuất, phải ở lại trên đài quan sát đến 2 tháng.

Tiểu đoàn radar đối hải 151 gồm 8 Trạm đóng quân phân tán từ đảo Trần (Quảng Ninh) đến Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh), có nhiệm vụ: Quan sát 24/24 giờ trong ngày, phát hiện và báo cáo kịp thời các mục tiêu trên biển về Sở Chỉ huy Bộ Tư lệnh Vùng, phục vụ trên xử lý có hiệu quả các tình huống xảy ra.

Là đảo giống Trường Sa, các đảo vùng Đông Bắc cũng thừa thãi nước mặn mà khan hiếm nước ngọt. Đến mùa khan hiếm nước, các chiến sĩ phải chia nhau từng thau nước sinh hoạt.

Là vùng biên đảo tiền tiêu giống Trường Sa, những người lính Hải quân trên các đảo Đông Bắc cũng đối mặt với bao âm mưu cướp đảo, lấn biển của bọn “lạ” nhưng không lạ. Cả đêm cũng như ngày, chế độ trực canh luôn duy trì gắt gao, chỉ cần 1 hồi kẻng báo động là đạn lên nòng, pháo giương cao, tàu khởi động máy, bộ đội gọn gàng mũ sắt, sẵn sàng đánh trả – đuổi dạt quân ăn cướp nhăm nhe.

Là bộ đội, đóng tít ngoài đảo xa, muốn nghỉ tranh thủ như đồng đội trong đất liền cũng khó, nên lính đảo Đông Bắc cũng như lính đảo Trường Sa đành nén nỗi nhớ đất liền – người thân vào trong ngực, thi thoảng mới nhè nhẹ hé mở cùng màn hình ti vi xem theo giờ quy định, cuộc điện thoại hiếm hoi và ao ước cháy bỏng con trai, lúc gặp tóc dài – lưng cong văn công ra đảo biểu diễn, thăm hỏi bộ đội, năm vài lần…

Và xa xôi, vất vả, gian lao, thiếu thốn lắm lắm…

Chả thế mà mỗi năm vài lần, giống như Trường Sa, đều đặn có những chuyến tàu xuất phát từ Hải Phòng hay Quảng Ninh, chở Văn công, khách từ đất liền ra thăm, động viên và tặng quà cho bộ đội.

Dĩ nhiên, không thể “tiếng tăm” như Trường Sa, dù nhiệm vụ – đặc thù và sự vất vả chả có gì khác nhau, nên cái sự quan tâm, cũng chỉ dừng lại ở những người thông hiểu và chế độ trang cấp của quân đội.

Chả thế mà ra với đảo Đông Bắc mùa gần Tết biển động, cũng là tàu HQ đấy, nhưng cứ lồng lộn lên xuống, vật phải đổ trái, tiến ngược lùi xuôi chống chọi với biển động cấp 5-6, hết thảy khách và phân nửa thủy thủ nằm bê bệt, nôn hết mật xanh mật vàng, vượt biển gần cả ngày mới ra tới nơi, không còn sức để gật gù lời nhận xét của thuyền trưởng đã bao năm đi biển Trường Sa, bây giờ vẫn thi thoảng tăng cường vào Trường Sa: “Thời tiết biển trong đó êm hơn nhiều. Không lắm bất thường như ngoài này!”…

Chả thế mà ra với đảo Đông Bắc, cứ chạnh lòng nhìn những thứ phục vụ đời sống văn hóa – tinh thần của bộ đội, từ màn hình tivi, đầu thu, đài casette… cho đến bàn bóng, cọc lưới bóng chuyền, hoặc phủ bạt để trong góc, hoặc hoen rỉ vì nước biển, hơi nước sương mù, mà thèm có những chuyến hàng đầy đặn, tỷ thứ trên đời mà mọi người cứ “đều như vắt chanh”, gửi ra cho lính đảo Trường Sa.

Vẫn biết: Cùng đồng đội đảo xa, cùng sẻ chia gian lao vất vả, nên lính tráng chả bao giờ có ý nghĩa ấy.

Nhưng mình vẫn cứ ước: Mọi người biết nhiều thêm về lính đảo Đông Bắc, bởi ngoài này vẫn được ví như “Trường Sa thứ 2”, thì những người ra với đảo như mình, đỡ chạnh lòng biết bao nhiêu?..

Những ngày gần Tết này, những chuyến tàu chở hàng Tết ra với Trường Sa – DK bắt đầu rời Cam Ranh, Cát Lái, Vũng Tàu… hướng ra phía đông hừng sáng, lặc lè nghĩa tình của cả nước vì Trường Sa thân yêu.

Cũng những ngày này, những con tàu ra với các đảo Đông Bắc cũng bắt đầu chuẩn bị cho 1-2 tuần tới nhổ neo rời Hải Phòng, chuyển quà Tết nghĩa tình ra với đồng đội khơi xa.

Khác với Trường Sa đầy nắng và gió, đảo ngoài này rét buốt lắm, mặc áo bông dầm chân giữ đảo, lính áo yếm ai cũng run cầm cập, nhưng vẫn ngóng chờ những ngày gần Tết, tàu trong bờ chở đào, quất, thịt, gạo, bánh chưng, để ngoài đảo xa vời cũng đủ Tết quê hương…

Và mình lại mong: Chuyến tàu ra đảo Đông Bắc sắp tới, mọi người cùng chung tay đóng góp để có vài giàn âm thanh, mấy màn hình tivi, dăm chiếc đài cùng một số đồ phục vụ đời sống văn hóa – tinh thần cho bộ đội ngoài đảo, thì lính nhà mình sẽ vui biết mấy?..

Niềm vui này hẳn của sự nắm tay sẻ chia, tựa vai thông hiểu và cao hơn cả là nghĩa tình bờ bến – đảo xa, lòng nhớ thương của người thân xa cách và đáp đền từ nơi yên ấm hậu phương với những người ngoài tiền tuyến xa xôi, giữ biển trời cho sau lưng sáng đèn, vui nhạc, ấm áo, no cơm…

Nơi tiền tuyến đảo xa Đông Bắc, chúng mình gọi đó là: “Trường Sa thứ 2″…
*****

Vùng 1 Hải quân có nhiệm vụ làm nòng cốt trong quản lý, bảo vệ vùng biển, đảo phía Bắc của Tổ quốc.

Ở các đơn vị tàu, Đoàn viên thanh niên đã thể hiện được bản lĩnh của người chiến sĩ Hải quân khi vượt qua sóng gió để thực hiện nhiệm vụ quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Nhiều chuyến tàu của Vùng nhận lệnh ra khơi trong giông bão, trong các ngày lễ, tết để xua đuổi tàu nước ngoài xâm phạm chủ quyền vùng biển của ta; nhiều tàu nhận nhiệm vụ trực liên tục, dài ngày trên biển nhưng tinh thần, ý chí quyết tâm của bộ đội không giảm sút.

Bên cạnh đó, lực lượng cán bộ, Đoàn viên thanh niên các đơn vị còn tích cực, chủ động trong tham gia cứu hộ, cứu nạn, giúp đỡ nhân dân khắc phục thiên tai, bão lụt. Hình ảnh những con tàu HQ-634, HQ-635, HQ-951… vượt lên sóng dữ ra khơi tìm kiếm, cấp cứu ngư dân các địa phương trong bão tố đã thể hiện tình cảm, trách nhiệm của những người lính biển đối với nhân dân. Tiêu biểu cho hoạt động cứu hộ, cứu nạn là Đoàn viên, thanh niên Hải đội 4, Biên đội tàu K62 (Lữ đoàn 170), Hải đội 137…
[M.T.Hải]

Khởi công trường tiểu học thị trấn Trường Sa

TTO – Sáng 20-10, tại thị trấn Trường Sa (đảo Trường Sa Lớn thuộc huyện đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa), lễ khởi công xây dựng trường tiểu học mang tên “Vì học sinh Trường Sa thân yêu” đã được tổ chức.

Ban chỉ huy đảo, đông đảo người dân và chư tăng trụ trì chùa Trường Sa Lớn cùng tham dự buổi lễ.

Hình ảnh lễ khởi công – Ảnh do đại đức Thích Ngộ Thành cung cấp từ Trường Sa

Công trình do UBND huyện đảo Trường Sa làm chủ đầu tư, gồm 6 phòng học (từ mầm non đến lớp 5), thư viện, sân chơi, nhà công vụ cho giáo viên, khu vệ sinh, bể chứa nước ngọt…

Được biết, cuối tháng 7-2012, Quỹ học bổng Vừ A Dính thuộc Trung ương Đoàn TNCS TP.HCM, UBND tỉnh Khánh Hòa, UBND huyện đảo Trường Sa và Bộ tư lệnh Vùng 4 hải quân thống nhất chương trình xây dựng các trường học tại các đảo Trường Sa Lớn, Song Tử Tây và Sinh Tồn.

Ngày 14-8, Quỹ Vừ A Dính và báo Pháp Luật TP.HCM chính thức phát động bạn đọc và người dân chung tay đóng góp kinh phí xây trường học ở Trường Sa. Ngay lễ phát động, nhiều cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp trong và ngoài nước đã ủng hộ được gần 5 tỉ đồng và 20.000 USD.

Ngày 29-9-2012, Quỹ Vừ A Dính và báo Pháp Luật TP.HCM đã trao 5 tỉ đồng (đợt 1) cho UBND huyện đảo Trường Sa để thực hiện chương trình trên.

VÕ VĂN TẠO

[Tuổi Trẻ Online]

Các cao thủ thời xưa hành tẩu giang hồ với bốt, thắt lưng da và… điện thoại di động!

Mới đây, mối tình đầu của Lệnh Hồ Xung – Nhạc Linh San (Dương Dung) – đã chính thức “trình làng”. Dù ngất ngây với nhan sắc của Linh San, song một số khán giả tinh mắt đã phát hiện ra… chiếc điện thoại di động được nàng giắt ở thắt lưng. Họ bình luận hài hước rằng: “Thời đại số nên khi hành tẩu giang hồ cũng phải “găm” điện thoại theo. Đến lúc quẫn bách còn gọi… tổ dân phố ra giải quyết”.


Nhạc Linh San không chỉ “găm” điện thoại…

Đây được xem là một hạt sạn không thể tin nổi và khá là tức cười của đoàn làm phim Tiếu ngạo giang hồ. Tuy nhiên, nhiều khả năng đây mới chỉ là ảnh “tạo dáng” của Dương Dung. Và chiếc điện thoại này rất có thể sẽ không được cùng người đẹp “hành tẩu giang hồ” khi lên phim. Song, những sai sót sơ đẳng thế này thì tốt hơn hết nên tuyệt đối tránh, nhất là khi khán giả đang ngày càng “tinh tế” như hiện nay.


…cô còn mang cả bốt

Nhân chuyện điện thoại “hành tẩu giang hồ”, nhiều khán giả cũng nhắc lại việc đoàn phim Tiếu ngạo giang hồ sử dụng phụ kiện một cách bừa bãi. Những chiếc thắt lưng được sử dụng trong phim đều là hàng “mốt” và cực kỳ hiện đại. Thậm chí, cách thắt cũng rất hợp thời. “Nhạc Linh San” Dương Dung cũng bị “đào xới” lại chuyện… đi bốt trong tạo hình cổ trang.


Bộ sưu tập thắt lưng “hợp mốt” của các cao thủ

Che Guevara

Che, tên thật là Ernesto Guevara de la Serna, sinh ngày 14 tháng 6 năm 1928 tại Rosario, một trong những thành phố quan trọng nhất Ác-hen-ti-na, là con cả trong năm người con của một gia đình trung lưu người Ai Len gốc Tây Ban Nha.

Cha của ông, Ernesto Guevara Lynch, là một kỹ sư; mẹ ông, bà Celia de la Serna, là một phụ nữ có tư tưởng cấp tiến. Năm lên hai tuổi, Che bị viêm phổi và sau đó phát triển thành bệnh suyễn, căn bệnh này đã theo ông trong suốt cuộc đời.

 

Năm lên 9 tuổi, lần đầu tiên Che quan tâm đến chính trị khi ông theo dõi cuộc nội chiến Tây Ban Nha và đánh dấu các bước tiến triển quân sự trên bản đồ.

 

Năm 1943

Ernesto học xong trung học phổ thông ở Cordaba và bắt đầu làm bạn với anh em nhà Granado và anh em nhà Ferrer.

 

Năm 1948, Ernesto đăng ký học khoa Y thuộc Đại học Buenos Aires.

 

Năm 1950

Ngày 1 tháng 1. Ernesto đi hơn 4.500km băng qua phía bắc Achentina bằng xe đạp gắn động cơ. Ông sống ở khu người mắc bệnh phong Chanar một thời gian và làm việc trong đội xây dựng xa lộ quốc gia và đội thương thuyền của Achentina.

 

Tháng 1 năm 1952, Che cùng người bạn thân, Alberto Granado, một nhà hóa sinh, thực hiện cuộc hành trình xuyên châu Mỹ La Tinh trên chiếc mô tô Norton 500 phân khối. Trong chuyến đi này, Che đã qua nhiều nước Nam Mỹ, học rất nhiều điều từ cuộc sống và chứng kiến nhiều cảnh đời trái ngược nhau: sự giàu có thừa mứa của những tên tư sản người bản xứ và các ông chủ người Mỹ; đối nghịch lại là tình cảnh khốn khổ bị chà đạp của những người nông dân nghèo khó và thổ dân da đỏ.

 

Ngày 31 tháng 8 năm 1952, Che trở về Buenos Aires để hoàn thành việc học.

 

Sau khi tốt nghiệp đại học năm 1953, Che quyết định thực hiện một cuộc viễn du đi châu Mỹ La tinh lần hai. Trong chuyến đi này, Che đã chứng kiến sự cấu kết giữa chính quyền Panama với Mỹ và sự thống trị của công ty United Fruit ở Costa Rica cũng như sự bất lực của chính quyền dân chủ Jacobo Arbenz không được vũ trang ở Guatemala khi đối phó với cuộc đảo chính do Mỹ giật dây.

 

Ngày 23 tháng 12. Ông gặp Hilda Gadea, một người Peru lưu vong.

Ngày 26 tháng 12. Gadea giới thiệu ông với những người Cuba lưu vong trong phong trào 26 tháng 7 . Trong số đó có Nico Lopez, người mà sau đó đã đặt cho ông biệt danh “CHE”. Ông làm việc tại một bệnh viện.

 

Năm 1955, Che đến Mexico và ông đã gặp anh em Castro tại đây. Fidel Castro mời ông tham gia cuộc chiến lật đổ chính quyền độc tài Batista, ông đồng ý.

Ngày 18 tháng 8. Ernesto kết hôn với Hilda Gadea, lúc đó đang mang thai. Ông kiếm sống bằng nghề chụp ảnh dạo, và có một thời gian ngắn ông làm phóng viên ở Liên Châu Mỹ Vận Hội cho tờ báo Agencia Latina.

 

Ngày 25 tháng 10 năm 1955, Che cùng 81 người lên con tàu Granma rời Mexico thực hiện cuộc đổ bộ vào Cuba.

 

Suốt hơn 3 năm chiến đấu, Che đã chứng tỏ tài năng quân sự kiệt xuất của mình. Ông nhanh chóng chiếm được lòng tin của Fidel Castro. Che là người đầu tiên được phong tư lệnh và đạt ngôi sao vàng trên mũ vào tháng 12 năm 1957, trước cả Raul Castro và Camilo Cienfuegos. Ngày 27 tháng 12, Che quyết định tiến vào thành phố Santa Clara, thủ phủ của tỉnh Las Villas và giành thắng lợi vang dội. Đây là một trong những trận đánh quan trọng nhất của quân du kích.

 

Tháng 1 năm 1959, cách mạng Cuba thành công và những người lính tiến vào thành phố La Habana được chào đón như những anh hùng.

 

Sau cách mạng, Che đã kinh qua những chức vụ quan trọng của chính quyền non trẻ, ban đầu là Thống đốc Ngân hàng quốc gia và sau đó là Bộ trưởng Bộ Công nghiệp. Che cũng thường xuyên thực hiện các chuyến công du tìm kiếm sự ủng hộ cách mạng Cuba  từ Liên Xô, các quốc gia châu Á, châu Phi và Đông Âu. Với tư cách là đại diện chính thức của nhà nước Cuba, Che tham gia nhiều cuộc họp  tại Liên Hiệp Quốc cũng như các hội nghị của nhiều diễn đàn khác nhau để nói lên tiếng nói không chỉ của người dân Cuba mà còn của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới.

 

Ngày 21 tháng 1 năm 1959. Hilda Gadea cùng con gái là Hildita Guevara đến Cuba. Họ đồng ý ly hôn.

 

Ngày 2 tháng 6 năm 1959. Ông kết hôn với Aleida March.

 

Tháng 4 năm 1965, Che bí mật rời Cuba đi Công-gô. Trước đó, Che đã viết cho Castro một lá thư từ biệt nổi tiếng.

 

Từ 1965 đến 1967, Che thực hiện sứ mạng quốc tế của mình ở Công-gô và Bô-li-vi-a, Ông tổ chức các đội quân du kích chống lại chính quyền tay sai của Mỹ ở các quốc gia này.

 

Ngày 8 tháng 10 năm 1967, Che cùng hai đồng đội của mình bị quân đội Bô-li-vi-a dưới sự huấn luyện của CIA bắt giữ tại làng La Higuera.

 

13 giờ 10 phút ngày 9 tháng 10 năm 1967, Che bị hành quyết tại một ngôi trường dưới sự giám sát của nhân viên CIA, Felix Rodriguez. Nơi chôn thi thể của ông được giữ kín trong suốt 30 năm sau đó.

 

Năm 1997, di hài Che được tìm thấy tại đường băng gần làng Vallegrande và được đưa về Cuba vào ngày 17 tháng 10 năm 1997.

Lâm Nghi & conan1412v

 Nguồn: Báo Thanh Niên Online

Không được đụng tới Việt Nam (kỳ 6) Trận : đầu tiêu diệt xe tăng giặc

Lệnh lên đường truyền đi toàn đại đội 10. Lê Văn Thời bật người dậy, đeo balô trên người và ôm khẩu B41 lao đi. Toàn đại đội có mặt đông đủ. Mọi người khẩn trương lên xe. Chiếc ôtô rú ga chuyển bánh, vượt qua cầu sông Bằng, đi vào thị xã Cao Bằng rồi chạy thẳng lên hướng Hoà An. Sương đêm dăng màn trên đỉnh núi, thấm vào vai áo từng người ướt đẫm. Cái lạnh của vùng cao không thể làm dịu bớt sự nóng lòng của mỗi chiến sĩ chờ phút giáp mặt quân thù.

Cả đại đội triển khai theo các tuyến công sự có sẵn. Tiểu đội B41 của Thời dàn đội hình trên đoạn hào đầu tiên. Đi về phía sau là những lối mòn dẫn qua sườn đồi, có thể cơ động rất thuận lợi. Nhận xong vị trí, Thời lắp đạn vào súng, tính cự ly bắn ở nhiều tình huống khác nhau để khi xe tăng địch tới là có thể nổ súng được ngay. Dọc tuyến chiến đấu, đại đội cũng đã làm xong công tác chuẩn bị và sẵn sàng nổ súng khi có lệnh tiến công.

Từ hướng Hoà An có tiếng xe tăng vọng tới mỗi lúc một gần. 2 chiếc xe tăng đi đầu đã vào trận địa. Trên tháp pháo, chúng sơn hình cờ đỏ sao vàng để đánh lừa sự chú ý của ta. 2 khẩu pháo trên nóc 2 chiếc xe tăng hướng về phía trước. Nhìn chúng đi nghênh ngang trên đường nhựa, Thời căm giận sôi lên. Anh đã thò ngón tay trỏ vào cò súng định diệt luôn. Nhưng rồi Thời kịp nhớ ra : phải đợi toàn bộ đội hình của chúng lọt vào trận địa mới được nổ súng.

Khi 2 chiếc xe đến gần cuối đội hình của đại đội, vẫn chưa thấy toán sau đi tới. Nếu không diệt ngay, chúng sẽ tiến sâu vào Cao Bằng. Đại đội trưởng Hồng kịp thời lệnh cho 2 tay súng B41 bắn. Tiếng súng nổ. 1 chiếc xe tăng đã bốc cháy ngay tại chỗ. Chiếc thứ 2 hốt hoảng xoay ngang định vòng trở lại. Nhưng muộn rồi, Nguyễn Quang Anh, người bạn đồng hương của Thời đã vọt khỏi công sự, nã quả B41 vào ngang thân nó. Chiếc xe tăng địch bị trúng đạn khựng lại. Ngay lúc đó, 1 bác nông dân người Nùng từ trong nhà chạy ra. Bác đến cạnh Thời, nói nhỏ :

– Bộ đội ơi ! Xe tăng hỏng mà thằng địch còn sống đó. Nó đang mở nắp xe ra kìa.

Thời vội đeo khẩu AK và vác súng B41 lên vai chạy theo bác nông dân dẫn đường. Khi đến nơi, anh thấy thằng giặc đã nhảy khỏi xe. Nó đang tìm đường chạy trốn. Nhanh như cắt, Thời điểm xạ luôn 1 viên AK thật chính xác. Tên giặc trúng đạn, rống lên rồi ngã vật bên xác chiếc xe tăng. Thời nhảy lên nóc xe chiếu đèn pin vào kiểm tra. Tất cả chúng nó đã bị tiêu diệt. Thời nhanh chóng trở về vị trí của mình.

Ngay sau đó, 1 đoàn xe tăng địch ầm ầm lao tới. Thời đếm rõ từng chiếc một. Chúng cứ tưởng 2 chiếc đi đầu đã làm được nhiệm vụ mở đường nên cứ ngạo mạn tiến. Chiếc đi đầu đã lọt đúng vào tầm bắn.

Một tiếng nổ dữ dội. Quả đạn B41 từ công sự của Thời đã lao đi. Chiếc xe tăng đi đầu trúng đạn, bốc khói đen xịt. Cả tốp xe tăng địch ùn lại xoay ngang, hạ nòng súng bắn quét 2 bên đường. Nhưng không có tác dụng. Tầm đạn của chúng quá cao trên tầm công sự bám sát mép đường của bộ đội ta.

– Đồng chí Thời, luồn về phía sau, diệt bằng được chiếc xe tăng cuối cùng.

Đại đội trưởng Hồng ra lệnh. Thời xách khẩu B41 vòng vệ con đường mòn sau bản để tiếp cận gần xe tăng địch. 5 phút sau anh đã bám sát chiếc xe sau cùng. Địa hình ở đó hơi trống trải. Chỉ có vài cây cối lưa thưa. Địch rất dễ phát hiện. Đứng ở trong sân nhà, lợi dụng bức tường bắn ra chăng ? Không được, cự li quá xa, rất dex trật mục tiêu. Bắn không trúng chiếc xe này thì quân địch dễ tháo chạy trở lại thị trấn Hoà An, thời cơ diệt gọn cả đoàn xe địch sẽ không còn. Suy nghĩ giây lát, Thời quyết định một cách đánh táo bạo hơn. Anh đã vọt ra khỏi bức tường và bám sau xe tăng để bắn.

Mải bắn phía trước, bọn địch không biết rằng chúng đang hở 1 khoảng trống ở phía sau nên Thời đã tiếp cận xe tăng địch được thuận lợi. Khi cách xe tăng khoảng 10m, Thời đưa súng lên vai ngắm mục tiêu rất nhanh, bóp cò. Quả đạn từ phía Thời bắn đi đã lao chúng vào phần cuối xe tăng địch. Một luồng lửa màu da cam loé lên, rồi một luồng khói xám xịt toả ra trùm lấy thân hình bất động của nó. Biết chắc hiệu quả của viên đạn bắn đi, Thời lui về phía sau bức tường quan sát. Không thấy tên địch nào sống sót nhảy ra, anh mới yên tâm chạy về vị trí cũ để tiếp tục diệt những chiếc xe còn lại. Trên đường về, Thời gặp Màu, 1 chiến sĩ giữ AK. Màu bảo Thời :

– Phía trước, xe tăng địch bị diệt gần hết rồi. Đại đội trưởng bảo anh đón sẵn ở đó, đề phòng còn có xe địch tới.

Nghe Màu truyền lệnh của đại đội, Thời xách súng quay lại ngay. 2 người đi được một đoạn, thấy tiếng súng bắn xối xả về phía trung đội 2.

– Tiếng súng ở đâu đó ?

– Có lẽ trên xe tăng địch.

– Không phải, tầm đạn rất gần mặt đất Màu à. Có thể bọn địch trong xe còn sống đã xách súng xuống nấp ở nơi nào đó bắn chăng.

– Cũng có thể thế lắm.

2 người im lặng quan sát một lúc thì phát hiện ra mấy tên địch đang giấu mình trong bụi tre, bắn đại liên về phía trước. Thời lấy khẩu Ak của Màu nhưng Màu đã ngăn lại và nói :

– Bụi tre vướng lắm, 3 thằng địch lại nấp kín ở gốc cây, bắn AK khó trúng. Có thể nó sẽ lủi mất. ANh dùng B41 bắn để diệt luôn cả khẩu đại liên. Tụi này nguy hiểm lắm.

– Ờ, thế cũng hay đó !

Thời quyết định bắn B41.”Một quả B41 đổi 3 tên địch và 1 khẩu đại liên là được rồi”. Nghĩ vậy, Thời vội đi vòng ra phía sau lưng địch, đứng nép vào gốc cây, đưa khẩu B41 lên vai, lấy đường ngắm. Một tiếng nổ lớn, khẩu đại liên văng ra cùng với xác 3 tên giặc.

Vừa về đến chỗ Màu, Thời thấy 1 chiếc xe tăng địch đang ẩn mình dưới một thửa ruộng trũng ven đường, quay nòng pháo bắn vào trong bản. Thời bò lết theo bờ mương, vận động theo hướng xe tăng để diệt. Đang bò, bỗng Thời nghe thấy 1 tiếng nổ lớn. 1 chiến sĩ khác trong đại đội đã kịp thời nổ súng, tiêu diệt chiếc xe tăng cuối cùng của địch trong trận đánh.

Trận địa đã thưa dần tiếng súng. Đoàn xe tăng của địch có 13 chiếc, đã bị đại đội 10, tiểu đoàn 9, đoàn B46 tiêu diệt toàn bộ, nằm phơi xác trên đoạn đường thuộc xã Nam Tuấn, huyện Hoà An (Cao Bằng).