Tag Archive: tranh


Mấy ngày gần đây dư luận lại xôn xao về đề xuất phương án đổi tên nước trở lại thành Việt Nam dân chủ cộng hòa thay cho tên hiện hành. Đề xuất này vốn không hề mới, nhưng nó nóng lên vì gắn với đợt tổng kết 3 tháng lấy ý kiến sửa đổi hiến pháp của ủy ban dự thảo sửa đổi hiến pháp. Tôi không rõ số liệu cụ thể mà Ủy ban tổng kết thế nào nhưng qua những gì báo chí thể hiện thì tôi rất lấy làm ngạc nhiên khi Ủy ban lại cho rằng đây là một đề xuất có tính nghiêm túc. Tôi dẫn nguồn như sau:

Báo Pháp luật TP.HCM: Thêm phương án về tên nước: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Điều 1 dự thảo tiếp thu, bên cạnh cách viết cũ (tên nước là CHXHCN Việt Nam), xuất hiện phương án mới, phản ánh chính xác hình thức chính thể và chủ quyền quốc gia về lãnh thổ: “(1) Nước VN là một nước dân chủ cộng hòa, độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời. (2) Tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH)”.
Phương án này thể hiện ý kiến nhiều tầng lớp nhân dân, cho rằng VNDCCH là tên gọi gắn liền với sự ra đời của chính thể cộng hòa đầu tiên ở nước ta, là thành quả của Cách mạng Tháng Tám, đã được long trọng tuyên bố với nhân dân và toàn thế giới qua bản tuyên ngôn độc lập do Hồ Chủ tịch tuyên đọc ngày 2-9-1945 lịch sử. Tên gọi ấy được khẳng định trong HP 1946, 1959 và chỉ chính thức được thay đổi bởi HP 1980.Tên nước ấy gắn với hai cuộc kháng chiến, hai cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc và Tây Nam và công cuộc xây dựng đất nướcVề mặt pháp lý, tính đến thời điểm này, tên gọi ấy được sử dụng nhiều hơn so với tên nước hiện nay.

Trở lại với VNDCCH tạo ra sức lôi cuốn, tập hợp đoàn kết dân tộc, tạo đồng thuận toàn xã hội, thuận lợi hơn trong quan hệ quốc tế, góp phần phát huy, tranh thủ các nguồn lực kiến thiết, phát triển đất nước, vượt qua tình trạng khó khăn hiện nay. Trở lại với tên gọi ấy không phải là phủ nhận định hướng XHCN. Định hướng ấy nằm trong nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước và cả ở những nội dung cần thiết trong HP mới.

Báo Dân trí: Đề xuất phương án mới về tên nước: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Tên gọi này cũng được cho là phản ánh đúng trình độ phát triển của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, phù hợp với tính chất của nền kinh tế định hướng XHCN. Tên gọi này có khả năng lôi cuốn, tập hợp đoàn kết toàn dân tộc, tạo sự đồng thuận chung trong xã hội, đồng thời thuận lợi hơn trong quan hệ hợp tác với các nước khác trên thế giới…

Việc lựa chọn tên nước theo phương án này, UB dự thảo nhận định, không làm ảnh hưởng đến việc tiếp tục phát triển đất nước theo định hướng XHCN bởi chủ trương, đường lối, pháp luật của nhà nước cũng như bản thân các quy định của Hiến pháp vẫn đang khẳng định mục tiêu nàyThực tế, trong giai đoạn từ 1954 đến 1976, với tên gọi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước vẫn khẳng định và thực hiện công cuộc xây dựng CNXH.

Từ những lập luận đó, UB Dự thảo thể hiện lại Điều 1 để làm rõ hơn hình thức chính thể và chủ quyền của Nhà nước, đồng thời đề xuất phương án quy định tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Trong những vấn đề mà tôi gạch chân ở trên, điều đầu tiên mà tôi đặt dấu hỏi là cụm từ “Phương án này thể hiện ý kiến nhiều tầng lớp nhân dân” của báo Pháp luật TPHCM. Không hiểu đây là nguyên văn thông báo kết quả của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp hay là của tác giả bài báo (Nghĩa Nhân) sáng tác ra? “Nhiều tầng lớp nhân dân” ở đây là những tầng lớp nào? mỗi tầng lớp có bao nhiêu “nhân dân”? Những “ný nuận” khác tôi gom lại như dưới đây:
1. Tên gọi gắn liền với Tuyên ngôn độc lập, với chính thể cộng hòa đầu tiên, do Bác Hồ đặt.
2. Tạo sức lôi cuốn, đoàn kết dân tộc, thuận lợi trong quan hệ quốc tế…
3. Phản ánh đúng trình độ phát triển của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Thứ nhất, tại sao tên gọi đầu tiên của nước ta là Việt Nam Dân chủ cộng hòa?

Chữ Cộng hòa trong tên nước thể hiện chế độ nghị viện (quốc hội) và có trong hầu hết tên các nước trên thế giới nên không bàn tới nữa. Chữ “dân chủ” vốn là một thuộc tính của các cuộc cách mạng tư sản chống lại sự thống trị của chế độ phong kiến, giai cấp quý tộc và đối lập với “quân chủ”. “Dân chủ” ở đây cũng không có nghĩa là toàn bộ nhân dân lao động được làm chủ đất nước mà chỉ dành cho giai cấp tư sản, chủ thể của cuộc cách mạng tư sản.

Cách mạng Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20 có 2 nhiệm vụ chính là: “phản đế, phản phong”, tức lật đổ chế độ phong kiến và ách thống trị của thực dân Pháp (“đế” là “đế quốc”, “phong” là “phong kiến”). Năm 1945, cách mạng tháng 8 thành công nhưng mới chỉ lật đổ được chế độ phong kiến chứ gốc rễ của thực dân vẫn bám chặt trên mảnh đất hình chữ S này (mục tiêu “dân chủ”). Mặt trận Việt Minh do Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập năm 1941 với mục đích Liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dân chúng yêu nước, đang cùng nhau đánh đuổi Nhật – Pháp, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, dựng lên một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Tức là  trong thời điểm bấy giờ, việc giành độc lập dân tộc là mục tiêu tối thượng, không phân biệt tầng lớp nhân dân, quan điểm chính trị, tôn giáo,… miễn là “người yêu nước”. Ngoài ra, để tránh việc trở thành quân cờ trong tình hình đối đầu ý thức hệ nóng bỏng của thế giới bấy giờ, cần thiết phải có một cái tên nước trung dung, không ngả nghiêng theo phe nào cả. Có được điều đó là nhờ con mắt tinh tường và kinh nghiệm của Bác Hồ sau bao năm lăn lộn ở chính trường quốc tế. Vì vậy tên gọi “Việt Nam dân chủ cộng hòa” bấy giờ là hoàn toàn hợp lý.

Bác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – 2/9/1945

Những năm gần đây, các vị “bất đồng chính kiến” rất hay lợi dụng những câu nói của Bác để làm bình phong cho ý đồ của mình, hòng “lòe” thiên hạ vốn tin yêu tuyệt đối vào Người. Nhưng khi lợi dụng hình ảnh Bác, họ đã không biết, không hiểu hoặc cố tình quên rằng những điều Bác nói, Bác làm (hay bất kỳ nhân vật lịch sử nào khác) là thuận theo hoàn cảnh lịch sử, điều kiện cụ thể bấy giờ chứ không nhất thiết là phải áp dụng cho muôn đời sau (trừ những thứ đã là chân lý). Các thế hệ sau phải biết kế thừa và phát huy những thành tựu, di sản của Bác và thế hệ đi trước lên những tầm vóc cao hơn chứ không phải chăm chăm đòi quay trở lại “xuất phát điểm” như thế. Đó là suy nghĩ của những kẻ bất tài hoặc những kẻ âm mưu phá hoại sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

Thứ hai, tại sao nước ta đổi tên thành Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam?

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ thống nhất đất nước (cách mạng dân tộc, dân chủ), nhân dân ta đã đạt được một cột mốc mới trong sự nghiệp cách mạng của mình. Để đánh dấu chặng đường này và vạch ra phương hướng cho chặng đường tiếp theo, Quốc hội khóa VI ngày 2/7/1976 đã quyết định đổi tên nước thành nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Những lý do chính khác của việc thay đổi này là:

  • Khẳng định với thế giới và nhân dân rằng nước Việt Nam chúng ta kiên định xây dựng đất nước tiến lên theo con đường CNXH.
  • Thực trạng bấy giờ là đất nước ta đang tồn tại 2 tên nước: Việt Nam dân chủ cộng hòa và Cộng hòa miền nam Việt Nam. Do đó, tất yếu phải có một cái tên chung vừa thể hiện được bản chất, mục tiêu của chế độ vừa“tạo sự đoàn kết dân tộc” (chắc chắn không thể lấy tên CHMNVN đặt tên nước còn dùng VNDCCH thì có vẻ “áp đặt” đối với những người dân miền Nam, nhất là những người trung dung hoặc có liên quan đến chế độ cũ).

Như vậy, ngay việc đổi tên nước năm 1976 đã bao hàm ý nghĩa “đoàn kết dân tộc”rồi. Vậy mà bây giờ lại có những kẻ cố tình lộn ngược cái ý nghĩa đó rồi rêu rao rằng nhằm mục đích bảo vệ cho điều ấy! Ngu xuẩn hay lố bịch?

Quốc hội khóa VI – 1976. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đang phát biểu.

Họ còn nặn ra những “lợi ích” mơ hồ như: tạo ra sự lôi cuốn (?), tạo đồng thuận toàn xã hội (?), thuận lợi hơn trong quan hệ quốc tế (?),…
Đây thực sự chỉ là những cái lý lẽ vu vơ của những kẻ mồm loe mép dãi, vung vít những từ ngữ sáo rỗng để lòe bịp thiên hạ mà chẳng có một cơ sở khoa học, thực tế nào cả.

  • “Tạo sự lôi cuốn”: phải chăng các vị này học tập mấy đứa trẻ chơi Facebook, kiếm cái nick thật kêu và cái avatar thật gợi để “lôi cuốn”người khác? Thế nào là cái tên nước “lôi cuốn”? Tên “Cu Ba”, “Hai ti”, “Séc”, “Ê-cu-anh-đó (Ecuador)” có lôi cuốn không nhỉ? Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng đã “lôi cuốn” hai đế quốc Pháp, Mỹ sống chết nhảy vào tranh giành đó. Quý vị muốn “lôi cuốn” kiểu đó nữa hay không? Khuyến mãi cho quý vị một cách giải thích mang “tầm quốc tế” về cái tên Việt Nam để quý vị xem nó có “hấp dẫn” không nhé: V.I.E.T.N.A.M = Viagra In Every Time. Night And Morning. 
  • “Tạo sự đồng thuận xã hội”: Ối giời, vậy ra bấy lâu nay xã hội Việt Nam đang rất chia rẽ về cái tên nước à? Thông tin này ở đâu ra? Số liệu thống kê thế nào? Ai đảm bảo rằng sau khi đổi tên thành VNDCCH thì toàn xã hội lại đồng thuận cả? Dân Việt Nam bấy lâu nay ngoài việc lo “cơm áo gạo tiền” lại còn thừa thời gian để đi tranh cãi đến mức chia rẽ về cái tên nước nữa cơ đấy!
  • “Thuận lợi hơn trong quan hệ quốc tế”: nhảm nhí! Cái tên CHXHCN Việt Nam gặp bất lợi gì khi gia nhập Liên Hợp Quốc (20/09/1977), ASEAN (28/07/1995), WTO (07/01/2007) à? Hay do cái tên CHXHCN Việt Nam sẽ gặp bất lợi nếu chịu cúi đầu làm chư hầu cho Mỹ, Nato? Hay do cái tên CHXHCNVN viết dài hơn, tốn nhiều mực in hơn VNDCCH? Chẳng biết thuận lợi hơn cái gì chứ trước mắt là cả đống bất lợi cho các nước, doanh nghiệp quốc tế có quan hệ với Việt Nam khi phải thay đổi chứng từ có liên quan.. Muốn thuận lợi, muốn kêu gọi người ta đến hợp tác làm ăn với mình thì cái cần thay đổi là cung cách làm việc, môi trường đầu tư, thủ tục hành chính,.. chứ nào phải thay đổi cái tên? Một chuyện giản đơn như thế mà các vị “lật pháp” há chăng không hiểu?

Chưa hết, bên cạnh đó còn có những lý lẽ thể hiện sự thiếu hiểu biết hoặc cố tình bóp méo lịch sử như: Tên nước ấy gắn với hai cuộc kháng chiến, hai cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc và Tây Nam và công cuộc xây dựng đất nước; Về mặt pháp lý, tính đến thời điểm này, tên gọi ấy được sử dụng nhiều hơn so với tên nước hiện nay; Tên gọi ấy được khẳng định trong HP 1946, 1959 và chỉ chính thức được thay đổi bởi HP 1980.

Tên nước CHXHCN Việt Nam đã được Quốc Hội thông qua từ ngày 2/7/1976, cùng với đó là Quốc kỳ, Quốc huy, Thủ đô, Quốc ca. Vậy thì các vị cho ý kiến này lấy tư cách gì mà nói rằng khoảng thời gian từ lúc đó đến khi hiến pháp 1980 ra đời thì tên nước CHXHCNVN là không có tính pháp lý? Không có pháp lý mà tên nướcCHXHCNVN được ghi nhận là thành viên thứ 149 của Liên Hiệp Quốc (1977) trong khi VNDCCH không có một giây phút nào là thành viên của tổ chức này? Không có pháp lý mà tên nước, quốc huy được sử dụng trong mọi văn bản pháp luật, công hàm quốc tế trong giai đoạn này à? Giả sử mà Quốc hội bấy giờ không cảm thấy cần thiết phải sửa đổi hiến pháp năm 1980 mà duy trì hiến pháp 1959 đến ngày nay thì 37 năm qua nước CHXHCNVN là không có tính pháp lý à?

Rồi từ cái lý luận củ chuối ấy mà họ cho rằng hai cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc và Tây Nam gắn với cái tên VNDCCH chứ không phải CHXHCNVN. Trên Đôi Mắt có tài liệu “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc 30 năm qua“, xuất bản tháng 10/1979, được coi là “Sách trắng” của Bộ ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam, mời quý vị tham khảo. Rồi “Về mặt pháp lý, tính đến thời điểm này, tên gọi ấy được sử dụng nhiều hơn so với tên nước hiện nay” (?!). Câu này không ngu ngơ thì cũng tối tăm vô cùng. Sử dụng nhiều hơn là thế nào? Có ai đã thống kê bao nhiêu văn bản pháp luật, công văn, chứng từ,.. sử dụng VNDCCH và CHXHCNVN để so sánh tên nào được dùng nhiều hơn chưa? Còn nếu tính theo năm thì VNDCCH được sử dụng 31 năm trong khi CHXHCNVN tính đến nay là 37 năm. Mà trẻ con tiểu học cũng biết rằng 37 lớn hơn 31 nhé! Thật ra thì việc so sánh ít – nhiều kiểu này chẳng khác gì trò trẻ con?!

Thứ ba, phải chăng tên gọi là phải phản ánh chính xác thực trạng đất nước?

Theo quan niệm của người Việt Nam, việc đặt tên cho con cái là một vấn đề hệ trọng, bởi nó thể hiện mong muốn, ước nguyện của bậc cha mẹ đối với tương lai của con cái. Cái tên cũng chính là lời nhắc nhở cho người con ghi nhớ điều mà cha mẹ mong đợi ở mình để từ đó cố gắng hoàn thành ước nguyện ấy. Như vậy, cái tên có trước khi nguyện ước của đấng sinh thành trở thành hiện thực. Ví dụ như một đứa bé mới sinh được đặt tên là Trung Hậu thì không có nghĩa rằng người ta thấy nó trung hậu ngay từ lúc lọt lòng mà đặt tên như vậy. Hay như ông Nguyễn Phước Tương cố mãi mà không được công nhận hàm giáo sư nên tự đổi tên mình thành Tương Lai với mong ước sẽ thành giáo sư trong tương lai. Có điều ông này cố mãi, cố quá đến giờ, ở cái tuổi có thể “quá cố” bất cứ lúc nào nhưng vẫn chẳng được ai công nhận hàm giáo sư nên đành cố đấm ăn xôi tự gọi mình là giáo sư Tương Lai.

Quay trở lại tên gọi CHXHCNVN, như trên đã phân tích, đó là lời khẳng định nguyện vọng của nhân dân Việt Nam xây dựng đất nước tiến lên theo con đường XHCN. Bây giờ các vị ấy lại lấy lý do rằng ngày trước với tên VNDCCH, nước ta cũng đi theo con đường XHCN nên giờ có đổi tên cũng chẳng ảnh hưởng gì đến “con đường đã chọn”. Tên nào cũng chẳng thay đổi bản chất của vấn đề thì đổi để làm gì? Làm một cái việc vô nghĩa như thế với đủ loại tốn kém và phiền hà kèm theo, tưởng đâu chỉ là chuyện của những kẻ có vấn đề về thần kinh mới nghĩ ra.

Quốc huy nước VNDCCH và CHXHCNVN

Nhìn ra thế giới thì thế nào? Liên Xô ngay từ thời kỳ đầu thành lập đã mang tên làLiên bang CHXHCN Xô Viết mà như Lê Nin giải thích rằng “CHXHCN” có nghĩa là chính quyền Xô viết quyết tâm thực hiện bước chuyển lên chủ nghĩa xã hội chứ hoàn toàn không có nghĩa là đã thừa nhận chế độ kinh tế hiện nay là chế độ xã hội chủ nghĩa. Điều đó giống như nước ta hiện nay: tên nước phản ánh mục tiêu, nhiệm vụ và quyết tâm chính trị của giai cấp cầm quyền. Nếu hiểu một cách trụi lủi như các vị “lật pháp” rằng tên nước cần phải “thể hiện đúng trình độ phát triển hiện nay của đất nước” thì không lẽ vài năm sau trình độ của đất nước lên 1 mức mới thì lại phải đổi tên nước lần nữa và cứ thế cứ thế đổi? Các nước phát triển trên thế giới hiện nay danh xưng chỉ có chữ Cộng hòa và tên nước như: Cộng hòa Pháp, Cộng hòa liên bang Đức, Cộng hòa Ý, Liên bang Nga, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ,… chẳng nước nào có chữ Dân chủ cả. Vậy phải chăng ở những nước đó không có Dân chủ? Hay những nước như vậy đương nhiên là có dân chủ rồi nên không cần viết vào tên nước nữa? Nếu hiểu theo ý thứ hai này thì Việt Nam chẳng hề có dân chủ nên phải đặt tên là Việt Nam dân chủ cộng hòa? Rồi sau khi đổi tên nước thành VNDCCH được vài năm, các nhà “lật pháp” lại kiến nghị rằng nước ta hiện giờ đã thừa dân chủ rồi nên bỏ cái chữ dân chủ đi cho thành Việt Nam Cộng hòa? Ôi… tư duy các nhà “lật pháp”!!!!

Một vấn đề nhỏ nữa là trong cách hành văn tiếng Việt, danh xưng, tước hiệu, họ, chức vụ,.. đứng trước tên của đối tượng. Đầu thế kỷ 20, ảnh hưởng của Nho giáo Trung Quốc còn nặng nề nên cách gọi thường hơi hướng kiểu Tàu. Ví dụ: Tương Lai tiên sinh chứ không gọi tiên sinh Tương Lai… Theo cách đó, tên nước Việt Nam đã được đặt là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tương tự Trung Hoa Dân quốc, Đại Hàn dân quốc,… Ngày nay, tôn ti trật tự trong tiếng Việt đã ổn định, đi vào khuôn khổ, nề nếp nên danh xưng nước CHXHCN Việt Nam là “chuẩn men” chứ đổi lại thành VNDCCH thế nào cũng có bạn rận rành tiếng Việt lại lu loa lên rằng Nam Trung Hải đã thò tay vào sâu đến nỗi chỉnh sửa cả cái tên quốc gia!

Nói thêm chút về cấu trúc tiếng Việt ở đây:
Trong tiếng Việt thì danh từ đi trước và tính từ bổ nghĩa theo sau. Do đó một số ý kiến cho rằng đúng ngữ pháp thì phải là “Việt Nam Cộng hòa xã hội chủ nghĩa” (Việt Nam là danh từ, CHXHCN là tính từ theo sau) và do đó “Việt Nam dân chủ cộng hòa” là đúng ngữ pháp. Theo quan điểm của tôi, CHXHCN Việt Nam là đúng ngữ pháp vì: Cộng hòa là một danh từ (đầy đủ là “Nền cộng hòa”) còn XHCN là một tính từ bổ nghĩa cho danh từ “cộng hòa” trước nó. Hai từ này ghép lại là một cụm danh từ “CHXHCN”, nghĩa là “nền cộng hòa theo chủ nghĩa xã hội” và là danh xưng đứng trước danh từ Việt Nam. Tương tự vậy, “Việt Nam Dân chủ cộng hòa” đổi đúng theo ngữ pháp Việt Nam phải là “Cộng hòa dân chủ Việt Nam” (2 chữ “cộng hòa” và “dân chủ” đổi chỗ cho nhau). Nhìn sang tiếng Anh thì có thể thấy rõ hơn: Socialist Republic of Viet Nam, trong đó: Socialist (XHCN) là tính từ của Republic (Cộng hòa) of (của) nước Việt Nam.

Thứ tư, những hệ lụy trước mắt nếu đổi tên nước theo ý kiến của các nhà lật pháp

Trước bất kỳ sự thay đổi nào, một vấn đề luôn luôn được đặt ra là: làm điều đó chúng ta được gì và mất cái gì? Ví dụ khi bạn muốn đổi một cái điện thoại thì bạn phải trả lời được câu hỏi: mua nó bạn được trải nghiệm tính năng gì mới và khả năng tài chính của bạn có đáp ứng nổi điều đó một cách thoải mái không? Đôi khi chỉ vì “lỡ yêu rồi” nên cũng ráng “bóp mồm bóp miệng” để “rước được em nó về rinh”. Nhưng danh xưng một quốc gia thì đâu thể tùy hứng thế được! Đổi tên nước là một sự kiện trọng đại của quốc gia và chỉ xảy ra khi có những biến động chính trị to lớn và kéo theo nó là những thay đổi có hệ thống, phức tạp, phiền hà và tốn kém.

Chẳng phải quá thông minh để hình dung ra những phiền hà và tốn kém như sau:Thay đổi toàn bộ quốc huy, quốc danh trên các con dấu, biểu mẫu, tài khoản quốc tế, chứng từ quốc tế, sổ sách, ĐỔI TIỀN,.. Một con số khổng lồ, chưa kể đến khoảng thời gian mất cho những việc đó và những trục trặc, gián đoạn mà các công dân phải gánh chịu trong quá trình chuyển giao này. Tôi còn nhớ, sau khi “xứ Đoài” vinh dự được “nhập hộ khẩu Thủ đô” không bao lâu, tôi đi làm lại chứng minh nhân dân. Khi khai báo nguyên quán Hà Tây, cô nàng cán bộ lạnh lùng phán một câu: làm gì có tỉnh nào là tỉnh Hà Tây? Chợt rùng mình nghĩ giả sử các nhà “lật pháp” thành công, không biết bao nhiêu sương Sa Pa, Đà Lạt có đủ để bọc những câu tương tự: làm gì có nước nào là nước CHXHCN Việt Nam?

Mới chỉ là “kiến nghị” vu vơ mà đã có “hệ lụy” thế này đây!

Vậy đất nước này đánh đổi một khối lượng khổng lồ ngân sách, thời gian, sức lực cùng bao hệ lụy kèm theo để được cái gì? Chẳng được gì cả ngoài những cái “bánh vẽ” (đã chứng minh ở trên) và một cái tên nước “mới”, “tái chế” từ cái tên đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của chính mình, đồng thời chứng minh cho thiên hạ thấy rằng mình vừa dốt lịch sử, vừa dốt tiếng Việt lại thích … đi giật lùi! Chuyện này còn hài hước hơn việc ta có một cái áo đã sử dụng chán chê, vứt đâu đó và lãng quên đi, cho đến một ngày ta gặp nó trong một tiệm quần áo cũ, lúc này kiểu áo đó đang “mốt” lại và ta phải bỏ ra một khoản tiền kha khá để mua lại nó.

Thế thì kẻ nào thực sự được hưởng lợi từ câu chuyện hài hước trên nếu nó thành sự thật? Đương nhiên, dễ thấy nhất và cụ thể nhất là các nhà máy in, các cửa hàng khắc dấu, băng rôn cờ hiệu,…- những con kiến cặm cụi đi tha những mảnh vụn lợi ích rơi vãi từ cái mỏ của đàn kền kền quốc tế, của đám sâu đang đục khoét rường cột chế độ – và sự hí hửng, thỏa mãn của lũ rận khi chúng nhấm nháp chút hoa hồng của hợp đồng bán nước mà quan thầy ban cho. Và chắc chắn một điều, biên lai của “bữa tiệc mừng tên mới” này sẽ do nhân dân Việt Nam thanh toán!

Vậy thì… có ai quen biết với các vị trong Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp không nhỉ? Hãy nhắc họ rằng ngày cá tháng tư đã qua được nửa tháng rồi trừ phi họ muốn bán món cá ươn khi cho rằng đề xuất đổi tên nước này là một điều nghiêm túc!

CẬP NHẬT 1:
Vậy là không phải chuyện cá ươn tháng tư nữa rồi. Hôm nay vnexpress.net phỏng vấn nhà “lật pháp” Nguyễn Minh Thuyết tại đây. Tôi đọc qua thì chẳng thấy có điều gì mới mẻ ngoài ba cái luận điệu cũ rích, rẻ tiền mà tôi đã phân tích ở trên. Xin điểm qua vài vấn đề mà ông “Giáo xư” này đưa ra:
NMT: Theo tôi, chúng ta nên trở lại với tên đầu tiên đã đặt khi mới giành được độc lập. Tên gọi này thể hiện đúng bản chất của chế độ là Cộng hòa Dân chủ. Thể chế Xã hội chủ nghĩa cũng là một kiểu nhà nước dân chủ, tuy nhiên tên Cộng hòa Dân chủ khái quát và phổ biến hơn.
Đôi mắt: Về “tên gọi” và “bản chất chế độ” thì tôi đã phân tích ở trên. Nhưng nếu nói “thể chế Cộng hòa Dân chủ là khái quát hơn và phổ biến hơn” thì không hiểu ông này muốn nói cái gì? Nếu phổ biến hơn nữa thì bỏ chữ Dân chủ đi cho thành Việt Nam cộng hòa đi. Bản chất chế độ “Cộng hòa dân chủ” là bản chất như thế nào? Cộng hòa Pháp, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ,… không có chữ dân chủ thì bản chất nó như thế nào? Không hiểu ông GS này nói mà có hiểu những gì mình nói hay không?

NMT: Đối với đông đảo kiều bào nước ngoài, kể cả những người đã ra đi trước năm 1945 thì cái tên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn là một tên gọi quen thuộc, gần gũi. Nó cũng sẽ tạo điều kiện để nhiều kiều bào xích lại gần hơn với đất nước.
Đôi mắt: Ông này lấy cái gì chứng minh rằng tên gọi VNDCCH là “một tên gọi quen thuộc, gần gũi” với kiều bào hơn để “tạo điều kiện để nhiều kiều bào xích lại gần hơn với đất nước”? Kiều bào trước ra đi do sự kiện 30/04/1975 thì thấy tên gọi VNDCCH “quen thuộc” với “nỗi ám ảnh bị xâm lược”, nên đến tận bây giờ vẫn có những “kiều bào” kêu gọi “báo thù”, “quốc hận”,… Giáo với chẳng sư!

NMT: Cái tên cũng giống như bức tượng Phật trong nhà. Có tượng hay không có tượng, tượng gỗ hay tượng đồng thì thế gian vẫn có Phật. Cái tên không phải là chỉ dấu cho một sự đổi hướng nào. Lấy tên nào thì mục tiêu của chúng ta vẫn là xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Đương nhiên, đổi tên nước sẽ dẫn đến việc chi tiêu một khoản tiền nhất định để đổi con dấu, biển hiệu của cơ quan nhà nước, giấy tờ giao dịch… Tốn kém là có, nhưng cũng không lớn đến nỗi không nên làm. Nếu so sánh thì lợi ích đem lại lớn hơn nhiều. Và cũng phải cân nhắc, những gì không nhất thiết phải đổi như đồng tiền chẳng hạn thì không nên đổi.

Đôi mắt: ông này đúng là “miệng nam mô bụng một bồ dao găm”! Miệng thì leo lẻo có tượng hay không có tượng (có đổi tên hay không đổi tên) thì bản chất sự việc không đổi, vậy thì đòi đổi tên nước làm cái gì? Ông ta căn cứ vào đâu mà nói là “tốn kém không đến nỗi lớn”? “Ích lợi đem lại” là những cái bánh vẽ mà tôi đã phân tích trong bài. Cái ông giáo sư này có thấy trên thế giới này có nước nào mà tên nước trên đồng tiền khác với tên nước thực hay không?
Lạy trời cho đất nước này bớt đi cái đám “giáo sư” như vậy!

CẬP NHẬT 2:Liên quan đến bài viết này có một số bạn như Phạm Như Ý có ý kiến rằng: “Mỗi người một quan điểm, ai cũng có lý lẽ riêng và có quyền bày tỏ chính kiến của mình. Một số người ủng hộ có vị trí cao trong xã hội như nguyên Chủ nhiệm VPQH Vũ Mão”. Bên cạnh đó, tôi lên Facebook cũng có nhiều người ủng hộ tên “VNDCCH” nhưng sau khi “đấu lý” không được, họ vẫn bảo lưu quan điểm của họ nhưng với lý lẽ “dù sao thì tôi vẫn thích cái tên VNDCCH hơn”!Thưa các bạn đọc!Việc đòi đổi tên nước thật ra không phải là vấn đề mới mà đã âm ỉ hàng chục năm nay, giờ bất chợt “bùng lên” cùng sự kiện nhà nước lấy kiến nghị sửa đổi hiến pháp. Nếu chỉ là một quan điểm đơn thuần thì không nói làm gì, nhưng đây là một trong những mục tiêu của “diễn biến hòa bình”: đổi tên nước, rồi đòi bỏ quyền lãnh đạo của ĐCS, rồi trung lập quân đội,…Nhưng cho dù biết là thế, tôi cũng không phản đối nếu như lý do họ đưa ra là đúng, là thuyết phục và có lợi ích cho đất nước này. Vậy như tôi phân tích ở trên, các bạn xem họ đúng chỗ nào và dân lợi chỗ nào?Về đối tượng, tôi không lên án ai nếu chưa biết rõ về họ (thông qua các hành động phá hoại hoặc âm mưu phá hoại sự yên ổn của đất nước) mà “đánh” vào cái tư tưởng mà tôi cho rằng sai trái. Do vậy, tôi có thể hiểu và thông cảm cho từng CON NGƯỜI cụ thể chứ không chấp nhận thỏa hiệp với TƯ TƯỞNG sai trái.Về vấn đề tên nước này, tôi chia thành phần ủng hộ ra thành các loại sau:

  1. Thành phần cố tình cổ vũ cho việc này nhằm mục đích phá hoại sự ổn định chính trị của đất nước (rận chủ, lật pháp và đám giật dây sau lưng).
  2. Thành phần thích cái tên VNDCCH một cách tự nhiên, cảm tính, vì nhiều lý do như: tên đầu tiên của đất nước, tên Bác Hồ đặt, tên nghe hay,…
  3. Thành phần có vai vế trong XH mà tôi không chứng minh được nằm trong loại 1 (coi như họ theo loại 2), tích cực ủng hộ phương án đổi tên nước, phát biểu cổ vũ trên báo chí mà không đưa ra được một lý luận hợp lý nào, như ông Vũ Mão.

Thành phần 1 thì đã nói trong bài. Thành phần 2 nếu là những người hiểu lý lẽ thì khi được “tư vấn” sẽ biết cân đối nặng nhẹ mà thay đổi ý kiến của mình. Nếu họ vẫn thích theo sở thích cá nhân, còn thiệt hại của đất nước thì “sống chết mặc bay”, tôi cũng tôn trọng ý kiến của họ (làm gì có cái gì hoàn hảo được đâu!). Riêng đối với loại thứ 3, một số bạn đưa ra làm “lá chắn” (ông ấy to thế, quan trọng thế mà còn ủng hộ,..), tôi lấy trường hợp ông Vũ Mão làm ví dụ để trình bày như sau:1. Với cá nhân ông Vũ Mão (và các ông bà tương tự), tôi tôn trọng và biết ơn ông về những gì đã làm cho đất nước. Tuy nhiên, thành tích trong quá khứ chỉ có giá trị tham khảo đối với những vấn đề hiện tại. Không thể lấy huy chương vàng mà 1 VĐV đoạt được năm ngoái ra làm cơ sở chắc chắn rằng anh ta sẽ đoạt HCV năm nay! Ông Hoàng Văn Hoan đã từng là một “cây đa cây đề” của cách mạng Việt Nam nhưng điều đó không đảm bảo rằng ông ta đã không sai lầm khi bắt tay với Trung Quốc để chống lại dân tộc mình. Đối với một vấn đề cần tranh luận, tôi tin vào lý lẽ chứ không thể tin vào “cái tên” được. Ví dụ bây giờ, ông Lê Đức Anh nói không thể đổi tên nước thì các bạn nghe ai hay chỉ cân đong đo đếm xem “tên tuổi” ông nào to hơn? Do đó, nếu ông Vũ Mão nhận định sai thì tôi có thể thông cảm cho cá nhân ông ấy chứ không thể “thông cảm” cho cái tư tưởng, cái lý lẽ sai được.2. Về những điều ông Vũ Mão phát biểu trên báo Dân trí, tôi thấy chẳng có gì khác mấy so với lý lẽ của ông Nguyễn Minh Thuyết mà tôi đã phân tích ở trên. Tôi lược qua vài lý luận hơi “tươi mới” của ông ấy cho mọi người cùng đánh giá:- “Cho rằng việc này thực sự hợp lòng dân”: câu này rất vô bổ, sáo rỗng. Đã ai thống kê bao nhiêu người đồng ý, bao nhiêu người không đồng ý mà ông ấy nói vậy? Đây là bệnh chung của các quan chức thì phải, cái gì cũng rất chung chung, khái quát, kiểu: “tham nhũng những năm gần đây đã giảm nhiều rồi” mà chẳng đưa ra được số liệu giảm thế nào, nhiều là bao nhiêu,..- “Đảng ta phát động phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Việc lấy lại tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một việc làm rất thiết thực. Tên nước là Việt Nam dân chủ cộng hoà được Bác Hồ đặt ra, được quy định trong Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959.”: Lý này thì chẳng hề mới, vẫn dựa vào cái bóng của Bác. Ngoài việc tôi phân tích lý do tên nước là VNDCCH ở phần trên, xin hỏi thêm một câu cho những người có cùng quan điểm với ông Vũ Mão: các vị lấy cơ sở gì để nói rằng nếu Bác còn ở lại với chúng ta và vẫn tham gia chính sự đến hết năm 1976 thì Bác lại không đồng ý đổi tên nước thành CHXHCN Việt Nam? hay thậm chí rất có thể Bác lại là người tiên phong trong việc đề nghị điều đó?- “Trong nhiều năm qua, tôi đã nhiều lần được gặp gỡ, “tiếp xúc với các cử tri Việt Kiều”. Tôi hiểu được nguyện vọng của bà con. Tôi tin rằng việc đổi lại tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ được bà con hoan nghênh. Như thế, càng có lợi cho sự nghiệp Đại đoàn kết toàn dân tộc.”: lại là con bài “đoàn kết dân tộc”, lại chủ quan khi cho rằng “tôi tin rằng việc đổi lại tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ được bà con hoan nghênh”. Như đã nói ở trên, tên VNDCCH gắn liền với chiến tranh, đặc biệt là cuộc kháng chiến chống Mỹ, dẫn đến nỗi “ám ảnh” ăn sâu trong đầu của không ít kiều bào là “VNDCCH xâm lược VNCH”. 1976 đổi tên nước cũng một phần là xóa bỏ cái nỗi “ám ảnh” đó. Còn muốn xem kiều bào “hoan nghênh” thế nào thì mời mọi người xem ý kiến của độc giả hải ngoại đối với bài viết của tôi trên KBCHN.- “Tôi nghĩ bạn bè quốc tế cũng rất vui đón nhận tên gọi nói trên”: Vâng, lại nghĩ giùm cho cả thế giới! Có thể họ “vui vẻ” đó nhưng các bạn có bao giờ không đặt dấu hỏi cho một công ty đang làm ăn với mình bỗng dưng đổi tên, đổi dấu không? Chí ít là phải cảnh giác thế này: chắc nó gặp khó khăn nên đổi tên cho hợp phong thủy chăng? Vậy có ai mà “vui vẻ” tiếp tục làm ăn với 1 công ty như vậy không? Đổi tên nước thì một thằng nước ngoài vô tư nhất cũng phải đặt dấu hỏi về tình hình chính trị của nước này: cái gì biến động? có ảnh hưởng gì đến “nồi cơm” của mình không? chuẩn bị “đảo chính” à?.v.v… Vậy họ có “ngãng ra” để nghe ngóng một thời gian không? Ở đó mà “vui vẻ đón nhận”, trừ những thằng đã “biết trước” điều này!- “Các nước cùng thể chế chính trị như nước ta thì hầu như không nước nào đổi tên để có cụm từ xã hội chủ nghĩa như nước ta. Trung Quốc từ năm 1949 đến nay vẫn giữ nguyên gọi là nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa”: Chẳng có nước nào trong các nước này trải qua cảnh bị chia đôi đất nước và chiến đấu sát nhập lại được như nước ta. Vậy thì họ đâu cần đổi tên nước làm gì vì một trong những lý do đổi tên nước là có 1 cái tên chung? Một chuyện nữa là nếu nói cùng thể chế chính trị, sao ông ấy không nói về các nước thuộc Liên bang Xô Viết ngày trước cũng đều là CHXHCN? Mà tại sao chúng ta cứ phải nhìn xem thế giới họ đặt tên thế nào thì mình bắt chước? Nước Cu Ba theo CNXH nhưng tên chỉ là Cộng hòa Cu Ba, giống như các nước đại tư bản vậy!- Nói về “tốn kém” thì lại giống như ông Nguyễn Minh Thuyết, ông Vũ Mão cũng ý rằng “không đáng bao nhiêu so với đại cuộc” dù cái “đại cuộc” được gì mất gì thì tôi đã phân tích ở trên (phải chăng phần lớn các ông “quan” đều có cái suy nghĩ tiêu tiền nhà nước như vậy?). Xin hỏi đã có ai hình dung (chưa cần thống kê) là sẽ tốn bao nhiêu tiền (chưa tính phiền toái) cho việc này chưa mà các ông ấy cứ nói nhẹ tênh vậy nhỉ? Một cây cầu, một con đường bị “ngắt nhéo” thì ít ra người dân còn có cầu, có đường mà đi nhưng tốn kém để đổi tên nước thì người dân được gì ngoài việc đọc tên nước nó hay, nó sướng? Những câu dạy thuộc dạng “chân lý” của Bác Hồ như về “tiết kiệm”, “chống lãng phí” thì ai cũng thuộc và đọc rất to nhưng cái việc mà các ông đang ủng hộ làm này là “lãng phí” hay “tiết kiệm”? Phải chăng các ông ấy chỉ thích “vận dụng” lời Bác theo ý của mình? 3. Mỗi cá nhân đương nhiên là sẽ có quan điểm riêng của mình. Nhưng khi đã là người gánh vách trọng trách của xã hội thì bắt buộc người ta phải biết cân nhắc, biết đắn đo lợi – hại đối với đất nước, với nhân dân trước khi đưa ra ý kiến của mình. Với vai trò như ông Vũ Mão, ông Nguyễn Minh Thuyết thì những phát biểu một cách tùy tiện như thế thậtvô trách nhiệm, bởi lẽ đến một dân đen như tôi còn hình dung ra những tiêu cực của việc mà các ông ấy đang ủng hộ, thì chẳng có lý gì các ông ấy lại không nghĩ đến được. Giả sử nước ta đổi tên thật, mất một đống tiền và công sức (trong thời buổi “thóc cao gạo kém” hiện nay), sau cơn hoan hỉ của những người thích cái tên VNDCCH, mà nước ta vẫn không thể “đi lên” như ước nguyện thì những ông như Vũ Mão, Nguyễn Minh Thuyết,.. cũng nào phải gánh vác trách nhiệm gì ngoài việc mang tiếng “dự sai”!? Không lẽ lúc đó lại quay về CHXHCN Việt Nam? Năm rồi nước ta cũng có khối cái luật, quy định được “đưa vào rồi lại đưa ra” đó thôi! Không lẽ đất nước này đã đến mức cần phải nghe theo lời của các “thầy phong thủy” đổi tên nước đặng mong đổi vận để phát triển?! Ôi cái sự đời!!!Nói tóm lại, mỗi người có một ý thích đối với cái tên nước nhưng nếu là một người có lòng với đất nước thì cần phải tỉnh táo nhìn nhận vấn đề một cách khoa học, cân nhắc thiệt hơn chứ đừng để mình ngã vào “đám đông”.

Nguồn: Đôi Mắt

Advertisements

Tranh chấp tại quần đảo Trường Sa và những bài học từ Philippines dành cho chúng ta

Ảnh chụp chiếc tàu RP Gregorio del Pilar (PF_15), tàu hiện đại nhất của Philippines

Chào các đồng chí.

Như chúng ta đã biết, Philippines vừa quyết định chi 1.8 tỉ USD cho việc hiện đại hóa quân đội, đặc biệt chú trọng tới hải quân. Đây là một bước tiến lớn cho một anh bạn bốn bề là biển mà chiếc tàu hiện đại nhất lại là một con tàu từ Thế chiến thứ 2, lại còn bị gỡ sạch vũ khí và radar, chỉ để lại một pháo 76mm dẫn bắn bằng radar. Tất nhiên, qua đây cũng rút ra được nhiều bài học dành cho chính chúng ta. Có thể kể tới như:

1. Trong vấn đề chủ quyền lãnh thổ lãnh hải, không thể nhờ vào sự trợ giúp của ai ngoài chính bản thân mình.
Với việc bị chiếm mất bãi cạn Scarborough và gần đây là bãi Cỏ Mây, Philippines có lẽ đã nhận ra được việc Mỹ sẽ không nhảy vào giúp trừ khi các hòn đảo chính bị xâm lược. Trước nay thì anh bạn Phil vẫn dựa oai của Mỹ để lớn tiếng “đấu tranh” với TQ và Đài Loan, nhưng thái độ im lặng của Mỹ trước các xung đột đã cho thấy rằng: Các nước lớn sẽ không dại gì mà gây xung đột với nhau khi lợi ích chưa bị xâm phạm, các nước đồng minh chỉ là ưu tiên thứ cấp. Chính vì quá dựa dẫm vào Mỹ mà tiềm lực quân sự, đặc biệt là không quân và hải quân của Philippines quá yếu kém. Từ đó, khi xảy ra tranh chấp mà không có sự hỗ trợ từ Mỹ thì Philiippines hoàn toàn không có khả năng chống đỡ, và kết quả thì ai cũng biết. Một bài học đắt giá mà Philippines được học với cái giá quá đắt là 2 bãi cạn và vô số những cái khác.
Nhìn về Việt Nam, chúng ta cũng có tranh chấp về chủ quyển lãnh hải với các nước như TQ, Đài Loan, Philippines. Nhưng chúng ta khác Philippines ở chỗ là chúng ta không có và cũng không muốn có ai để chống lưng, tất cả đều phải dựa vào nội lực của bản thân. Vì vậy, chúng ta có thể tự bảo vệ chủ quyền của mình mà chẳng cần ai trợ giúp hay gây khó khăn. Điều này được chứng minh bằng việc các đảo và cụm đảo tại Trường Sa vẫn luôn đứng vững, và chúng ta chưa mất một đảo nào kể từ sau sự kiện ngày 14/3/1988.

2. Muốn bảo vệ được chủ quyền, cần nhiều thứ hơn là những tuyên bố “cứng rắn” và “mạnh miệng”
Có thể thấy, trong những nước có tranh chấp tại biển Đông thì Philippines là nước thuộc dạng “to mồm” nhất, với những tuyên bố rất “mạnh mẽ” đối với TQ và Đài Loan. Không ít các bạn trẻ và các nhà hoạt động “rận chủ” đã tung hô các tuyên bố trên của Philippines, cho rằng nó tỏ vẻ không run sợ trước TQ. Nhưng thực tế là gì? Tuyên bố cứ tuyên bố, đảo vẫn mất, dân ra biển thì bị tàu TQ đuổi không làm ăn gì được, cho tàu hải quân ra rồi lại chạy về vì mỗi một tàu chả làm gì được.
Vấn đề của Philippines là gì? To mồm thì to mồm thật, nhưng cái quan trọng là tiềm lực quân sự thì lại không có. Cái này các cụ nhà ta đã có câu “Thùng rỗng kêu to” hay tệ hơn là “Chó sủa là chó không cắn”. Khi tiềm lực quân sự đã kém cỏi thì những tuyên bố vung trời cũng chỉ làm trò cười cho các nước khác, và chủ quyền vẫn bị xâm phạm.
Trái lại, nhà ta có hướng tiếp cận riêng trong vấn đề này. Chúng ta cũng tuyên bố liên tục, như các bạn trẻ hay nói là “nhai đi nhai lại” việc phản đối TQ xâm phạm chủ quyền lãnh hải của Việt Nam. Mục đích chính là để có bằng cớ để sau này còn có cái mà đấu tranh, tránh việc TQ sẽ lợi dụng việc ta im lặng để nói rằng “không phản đối tức là đồng ý với chủ quyền của TQ tại khu vực”, hay như các cụ vẫn nói là “để lâu cứt trâu hóa bùn”. Nhìn qua thì có vẻ ta cũng giống Philippines, thậm chí có phần kém hơn vì không mạnh miệng như anh bạn đó. Nhưng, xin được nhấn mạnh rằng, đằng sau những tuyên bố “nhai đi nhai lại” đó là một lực lượng hải quân và không quân hùng hậu đang được hiện đại hóa toàn diện. Chúng ta có lực lượng hải quân và cảnh sát biển đủ mạnh để luôn sẵn sàng đâm húc đẩy đuổi các tàu TQ xâm phạm lãnh hải. Phải như vậy thì các tuyên bố của chúng ta mới có trọng lượng.
Ở phần này, Ft xin được kết luận thế này: Người ta thường sợ cái thằng ít nói nhưng lúc nào cũng lộ ra mấy thanh đại đao treo trong nhà, chứ ai thèm sợ cái thằng chỉ có con dao cùn mà cứ thích to mồm, không cẩn thận lại ăn tát lật mặt ấy chứ. Chính vì vậy, gần đây anh bạn Phil mới bắt đầu rục rịch đầu tư mua sắm cho hải quân với ngân sách 1.8 tỉ USD. Tuy khá muộn, nhưng có vẻ anh bạn này cũng bắt đầu nhận ra những vấn đề cần phải giải quyết trong tranh chấp trên biển Đông. Hi vọng Phil sẽ không mất thêm bãi cạn và đảo nào trước khi kịp hiện đại hóa quân đội.

3. Phải biết kiềm chế và giữ cái đầu lạnh
Lại nói việc kiềm chế trong các vấn đề tại biển Đông. Chắc ai cũng biết việc tàu Philippines bắn chết một ngư dân Đài Loan, và sự kiện này được nhiều vị tung hô hết lời như là một ví dụ về sự “dũng cảm” và “cứng rắn” của Philippines trong tranh chấp biển đảo. Nhưng tới lúc họ phải xin lỗi phía Đài Loan và bị ra một loạt yêu sách nặng nề thì cấm có thấy mấy vị tung hô đâu. Xin lỗi đã đành, đây quì xuống xin lỗi mà chúng nó còn chẳng thèm nghe mới nhục. Một phần cũng là do tiềm lực quân sự yếu, bị o ép cũng chẳng làm gì được nên chỉ còn cách xin lỗi.
Nhìn lại Việt Nam ta thì nhiều bạn trẻ cứ thấy nói tới việc tàu TQ xâm phạm lãnh hãi ở khu vực Trường Sa và vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) là bật auto-chửi, cho rằng Nhà nước ta yếu hèn, không dám bắn bọn TQ xâm phạm. May mắn cho tất cả chúng ta là các bác ở trên không nóng đầu và suy nghĩ thiển cận như vậy. Trong các vấn đề tranh chấp thế này, thằng nào nổ sung trước chắc chắn sẽ gặp bất lợi rất lớn trên trường quốc tế. Việt Nam ta quá rõ điều này nên mặc kệ nó có khiêu khích thế nào thì ta cũng vẫn quyết không nổ sung, chỉ cho các tàu ra đâm húc và đuổi tàu nó ra khỏi lãnh hải của ta. Chính nhờ đó mà chủ quyền vẫn được giữ vững mà chúng nó cũng chẳng có cớ để làm gì được ta.

4. Kết luận
Trên đây chính là những bài học được rút ra từ các tranh chấp của Philippines trên biển Đông với TQ và Đài Loan, cũng là những bài học mà chúng ta cần phải nhớ kĩ khi nói về các vấn đề liên quan đến chủ quyền và ngoại giao với các nước khác. Cám ơn các đồng chí đã theo dõi.

 

Đơn vị tác chiến điện tử ( Comrade Commissar )

Nhân quyền và “Cánh đồng chết” !

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

—Trích bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Hoa Kỳ

 

Còn biết bao nhiêu hành động ghê rợn như thế hoặc hơn thế vì thời gian mà dần dần bị chìm vào quên lãng. Nếu những sự kiện đó được liệt kê đầy đủ, hẳn “người Mỹ sẽ còn kinh sợ và xấu hổ hơn nhiều” – tờ Life nhận định.
45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai
Nhà báo Phranh Bran-mai-ơ vừa có bài trên tờ Earthtime viết về cuộc thảm sát Mỹ Lai của đế quốc Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ông cho rằng, mặc dù cuộc thảm sát Mỹ Lai đã qua 44 năm, nhưng thời gian vẫn không thể xóa nhòa được tội ác của kẻ đi xâm lược, nỗi hổ thẹn đó vẫn còn làm nhức nhối trong lòng nước Mỹ.
 
Ngày 16-3-1968, đây là ngày định mệnh của dân làng Mỹ Lai, khi mà những binh lính Lữ đoàn bộ binh số 11 của Mỹ từ bên kia bán cầu kéo đến. Theo lệnh chỉ huy, chúng bắn giết phụ nữ, trẻ em, người già và san phẳng Mỹ Lai trong vòng 3 tiếng đồng hồ. Những thi thể đẫm máu nằm ngổn ngang khắp làng. Từ xa, người ta đã nhìn thấy những đống lửa rừng rực bốc cao từ những ngôi nhà bị đốt cháy. Đau xót hơn, những dấu hiệu trên các thi thể phụ nữ cho thấy họ đã bị hiếp trước khi bị giết. Con số người chết trong vụ thảm sát này thật kinh khủng – 504 người, gần như toàn bộ cư dân trong làng.
45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai
 Họ là những thường dân vô tội, là nạn nhân của Đại đội Sác-li khát máu và sát nhân. Không một ai bị giết trong cuộc giao tranh thực sự. Họ bị dồn thành từng đám, không một thứ vũ khí trong tay, phụ nữ, trẻ em, người già… tất cả bị bắn bởi những loạt đạn lạnh lùng của lính Mỹ. Vụ sát hại thảm thương này không chỉ đơn thuần là những hành vi của nhóm lính côn đồ bất trị “coi người Việt Nam không phải là người” gây ra. Nó là một cuộc bắn giết được lên kế hoạch cẩn thận với mục tiêu giết càng nhiều càng tốt. Nhưng hơn một năm sau, công luận Mỹ mới biết được sự thật qua loạt bài phóng sự của nhà báo Xay-nơ Hớt-xơ, vì quân đội Mỹ đã che đậy bưng bít thông tin.
 45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai
Nhà báo Rôn Ha-béc-lơ, người đầu tiên công bố những tấm hình về vụ thảm sát Mỹ Lai trên tờ Life hơn một năm sau vụ thảm sát cho rằng, bọn chúng (lính Mỹ) như những con thú đói mồi, thèm được giết, được ăn một cách nghiến ngấu. Ha-béc-lơ kể: “Là phóng viên chiến trường, tôi được phép đi cùng lính Mỹ trong các vụ càn quét. Hôm đó, trên con đường mòn ở Mỹ Lai, chúng tôi gặp hai đứa trẻ. Một người lính bắn vào đứa trẻ bé. Đứa trẻ lớn hơn lao vào để che chở cho em nhưng đã bị ăn 6 phát đạn vào người. Một lúc sau, chúng tôi gặp người đàn ông và 2 đứa trẻ khác, một bé trai và một bé gái. Những tên lính Mỹ nổ súng và cắt họ ra làm đôi. Đứa bé trai bị thương vào cánh tay và cẳng chân. Thằng bé lao về phía chúng tôi trong sự thất đảm, kinh hoàng, người nó đầy máu. Tôi quỳ gối để chụp ảnh thằng bé và một người lính cũng quỳ gối cạnh tôi để bắn thằng bé. Phát súng đầu tiên nổ hất ngửa thằng bé ra phía sau, phát thứ 2 hất tung nó lên cao, đến phát thứ 3, thằng bé rơi xuống. Bắn xong, tên lính này bỏ đi dửng dưng. Không có một chút biểu hiện nào trên gương mặt của hắn ta, không có một chút thể hiện nào trên gương mặt của tất cả những người lính Mỹ. Họ đã phá hủy, giết hại với một vẻ hoàn toàn thản nhiên, với vẻ của một người đang làm công việc bình tâm. Thật kinh hoàng!”
45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai
Khi sự thật về vụ thảm sát Mỹ Lai được tiết lộ đã khiến sự phẫn nộ, bất bình của dư luận Mỹ và thế giới lên đến cực điểm (11-1969) và phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Vào mùa thu 1969, hàng triệu người biểu tình ở khắp nơi trên thế giới. Điển hình là cuộc biểu tình của 250.000 người tại Oa-sinh-tơn xuống đường phản đối chiến tranh ở Việt Nam, đây là cuộc biểu tình chống chiến tranh Việt Nam lớn nhất nước Mỹ.
Đối với một thế hệ những người Mỹ, người châu Âu và châu Á lúc đó, Mỹ Lai đồng nghĩa với hình ảnh đáng sợ của người Mỹ. Tờ Thời báo đã viết: “Nước Mỹ lúc bấy giờ và những người Mỹ đó phải đứng ở ghế bị cáo và phải tự vấn lương tâm về những tội lỗi gây ra tại Mỹ Lai. Họ sẽ không bao giờ có thể thoát được những tội lỗi của mình”.
Thế nhưng khi đó, “chiến thắng luôn nằm trong tay kẻ mạnh”, không một binh lính Mỹ nào phải chịu trách nhiệm về hành động giết người dã man của mình, ngoại trừ Trung úy Ca-lây giết 22 người dân vô tội ở Mỹ Lai (con số thực tế là 109 người). Phiên tòa xét xử Trung úy Ca-lây được coi như là phiên tòa “dài nhất, lớn nhất và đau đớn nhất trong lịch sử nước Mỹ” thế kỷ XX. Tuy nhiên, Ca-lây chỉ bị quản thúc tại gia hơn 3 năm. Một phán quyết thật bất công và phi lý của Tòa án Mỹ.
Trước khi xử Ca-lây, quân đội Mỹ đã có cuộc điều tra riêng về vụ thảm sát Mỹ Lai. Cuộc điều tra này được tiến hành từ tháng 12-1969 đến tháng 3-1970. Trong vòng 14 tuần, Tướng Uy-li-am Pia-xơ và Ủy ban điều tra đã ghi nhận lời khai của 403 nhân chứng, bao gồm các quân nhân, sĩ quan chỉ huy, tuyên úy, nhà báo Mỹ và của cả những người Việt. Kết quả cuộc điều tra đã khiến quân đội Mỹ “sốc” tới mức phải ỉm ngay nó đi. Gần 400 giờ thu âm các nhân chứng vào băng đã bị chuyển sang chế độ bảo mật cho tới bây giờ. 

Theo BBC4, những lời khai ghi trong băng khiến Lầu Năm Góc thực sự choáng váng. Một lính Mỹ kể: “Phát đạn đầu tiên trúng vào đầu một trẻ sơ sinh và tôi phải quay mặt đi để nôn mửa”. Một người khác cho biết: “Đa số đồng ngũ trong Đại đội của tôi không coi người Việt Nam là người… Một gã tóm ngay một cô gái và… sau đó, họ đã bắn chết cả nhóm con gái đó khi đã… xong…”.
Các cuốn băng trong cuộc điều tra chứng minh rằng, các binh lính Mỹ đã hiếp và giết hàng trăm dân thường không chỉ ở một làng mà cả trong 3 làng ngày hôm đó (16-3). Băng ghi âm cũng chứng minh rằng 3 đại đội, chứ không phải chỉ có Đại đội Sác-li gây ra tội ác man rợ ghê tởm này.
Nhưng phải đến 6 năm sau (tháng 4–1975) người Mỹ mới chịu rút khỏi Sài Gòn trong một cuộc tháo chạy trên trực thăng. Sức mạnh phi thường của một dân tộc nhỏ bé đã đánh bại và làm bẽ mặt một siêu cường hàng đầu thế giới về công nghệ giết người. Cuộc chiến tranh Việt Nam cũng đã gửi lại nước Mỹ “bộ sưu tập lính” mắc hội chứng chiến tranh với những vết thương tâm lý in hằn cùng quá khứ khủng khiếp. Hàng chục bộ phim, hàng trăm cuốn sách tiếp tục “cày xới” lên quá khứ. Mọi lính Mỹ tham chiến ở nước ngoài trong bản cam kết phục vụ đều có thêm cảnh báo: “Không có thêm Việt Nam”. Thượng nghị sĩ Ken-nơ-đi đã gọi I-rắc là “Việt Nam của G.Bu-sơ”.
45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai
Lời sám hối muộn màng: “Tôi luôn nghĩ rằng có ai đó sẽ bất ngờ chỉ một ngón tay vào tôi và nói rằng: Hắn là một trong số đó.”
Trong cuộc chiến tranh vùng vịnh đầu tiên 1990, một thông điệp rõ ràng mà các chỉ huy Mỹ gửi đến cho lính của họ khi đang thi hành mệnh lệnh là “Không được có Mỹ Lai nữa, hiểu chứ?” Nhưng trong cuộc chiến ở I-rắc, bắt đầu từ năm 2003, những nỗi sợ hãi về Mỹ Lai có vẻ đã bị lãng quên, khi lính Mỹ tra tấn dã man tù nhân ở nhà tù A-bu Gra-íp, hay câu chuyện về vụ thảm sát ở Ha-đi-tha, nơi mà lính Mỹ đã sắp hàng 24 người dân I-rắc rồi nổ súng, cũng như những vụ bạo hành và lạm dụng ở nhà tù Goan-ta-na-mô.
Tổ chức theo dõi nhân quyền thế giới có thể gọi đó là “Mỹ Lai ở I-rắc”. Dù I-rắc còn bất ổn, số lính Mỹ thiệt mạng ngày một tăng, sự so sánh là không thể tránh được, nhưng ở đây có một sự khác biệt rõ ràng so với hơn bốn mươi năm trước ở Việt Nam. Vào lúc đó, không một người lính Mỹ nào phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình. Duy nhất chỉ có Trung úy Ca-lây với 3 năm tù quản thúc tại gia. Trong khi ở Ha-đi-tha, nhiều quan chức phải khiển trách, nhiều người phải ra tòa vì bị cáo buộc là đồng phạm và không ngăn cản, trong khi nhân viên an ninh U-tơ-rích phải chịu đối mặt với cáo buộc giết 18 người dân. Công luận và các nhà sử học đã bị xúc phạm khi Tổng thống Bu-sơ so sánh Việt Nam với I-rắc. Ông ta đã từng nói rằng, những nguy hiểm của việc rút quân khỏi I-rắc sẽ gây nên những “cánh đồng chết” giống như Mỹ rút khỏi Việt Nam.
AMARI TX (TH)

Chùm ảnh: Phong cách ‘Madame Bình’ tại Hội nghị Paris

Với phong cách lịch lãm và duyên dáng trong các cuộc họp báo tại Hội nghị Paris, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình được truyền thông Pháp đặt biệt hiệu “Madamee Bình”.

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình và Trưởng đoàn đàm phán của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Xuân Thủy trong những ngày đầu của Hòa đàm Paris, 1968.

Bà Nguyễn Thị Bình và ông Xuân Thủy tại Paris năm 1970.

“Madame” Nguyễn Thị Bình tại Paris tháng 12/1970.

Nét mặt vui tươi của Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình được phóng viên ghi lại ngày 1/7/1971, sau vòng đàm phán thứ 119.

Sự thay đổi nét mặt của những người tham gia đàm phán từ năm 1969 (nửa bên trái bức ảnh) đến ngày 2/7/1971 (nửa bên phải bức ảnh), khi những tiến triển trong đàm phán được ghi nhận.

Những sắc thái khác nhau của bà Nguyễn Thị Bình khi trả lời báo chí tại vòng đàm phán thứ 123 vào ngày 29/7/1971.

Bà Nguyễn Thị Bình trong buổi trao đổi với phóng viên hãng thông tấn AP ngày 30/7/1971, khẳng định miền Bắc Việt Nam sẽ trao trả toàn bộ tù binh chiến tranh nếu Mỹ đưa ra được một thời hạn rút quân khỏi miền Nam Việt Nam.

Bà Nguyễn Thị Bình trả lời phỏng vấn tại phòng nghỉ của mình ở Paris ngày 24/10/1972.

Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Thị Bình trả lời phỏng vấn tại Paris ngày 31/3/1972.

Tại buổi đàm phá diễn ra ngày 17/8/1972, Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Thị Bình đã lên án Nixon “bỏ lỡ cơ hội quý giá nhất để kết thúc cuộc chiến tranh”.

Hai bức ảnh của “Madame Bình” năm 1969 và 1972 được lưu trữ tại thư viện của hãng thông tấn AP.

Thời khắc lịch sử: Ký kết Hiệp định Hòa bình ngày 27/1/1973.

Theo KIẾN THỨC

Với những thông tin chính thức theo biên bản tốc ký các cuộc trao đổi của Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng với các phái đoàn Hoa Kỳ, hẳn bạn đọc có thể hình dung tác hại của sự “tam sao thất bản”.

>> Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ III)

>> Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ II)

>> Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ I)

Đại sứ Michalak:

Chúng tôi đã bày tỏ thái độ rất rõ ràng, cần duy trì khu vực này ở trạng thái mở đối với các hoạt động thông thường và cần phải làm như vậy. Chúng tôi cũng muốn hỏi xem Việt Nam khả năng đi xa đến mức nào, nếu như tôi đưa tàu sân bay vào khu vực tranh chấp đó thì liệu ngài có đi cùng tôi ra tàu sân bay tham quan không?

 Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Nếu ngài đưa tàu sân bay vào đó để nhằm mục đích răn đe, hay cảnh giới thì đó sẽ là một sai lầm lớn. Chúng tôi phải mời tàu sân bay của các ngài ra khỏi khu vực tranh chấp ngay lập tức. Chúng tôi nói về phương diện khác, phương diện về thái độ. Và nếu như ta thực sự tin tưởng lẫn nhau thì quan điểm phải có cái gì đó giải tỏa, có cái gì đó phù hợp. Thí dụ gần đây, cơ quan tình báo hai nước thường đặt vấn đề trao đổi tin về chống khủng bố và một số việc khác. Muốn vậy, quan điểm hai bên phải phù hợp. Về chủ quyền của mình tại một số hòn đảo ở biển Đông, Việt Nam có những dấu ấn lịch sử tại đó để minh chứng.

Những người chống đối Nhà nước trước đây, chúng tôi vẫn cho phép họ gặp những nhân viên nước ngoài trong đó có các nhân viên ngoại giao Mỹ. Thế nhưng những người nước ngoài sau khi đã được gặp mặt những nhân vật chống đối này thường đưa ra những thông tin không chính xác. Tôi thấy, tất cả những đại sứ hay những người mới đều vào Huế để gặp các nhân vật chống đối hay xin gặp Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân. Ngài giải thích với tôi, đó là những nhân vật mà phía Mỹ quan tâm.


Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng kiểm tra công tác bảo vệ ở một đơn vị an ninh

 

Nên ngài phải rút kinh nghiệm rằng, sau này có đi địa phương, cứ đi vào các trại mồ côi, người ta nhìn vào các ngài sẽ khác. Liên quan đến TLSQ tại TP Hồ Chí Minh, theo luật pháp Việt Nam cũng như quốc tế thì cơ quan lãnh sự chỉ thực hiện chức năng về lãnh sự chứ không giải quyết các vấn đề chính trị xã hội. Những người chống đối Chính phủ Việt Nam sau các cuộc gặp với nhân viên ngoại giao Mỹ đều cho rằng họ được Mỹ hỗ trợ. Lãnh đạo các địa phương cũng đã kiến nghị với chúng tôi rằng, nếu các ngài có đi địa phương thì nên báo trước lịch làm việc, sẽ gặp ai, cần thông tin gì, thì họ sẽ bố trí và chủ động cung cấp thông tin. Chính vì lãnh đạo địa phương luôn nghĩ rằng, nhân viên ngoại giao Mỹ gặp tức là sẽ hỗ trợ cho các cá nhân chống đối Chính phủ nên họ sẽ không muốn cho các ngài gặp lần sau nữa. Tôi thì chưa từ chối cho phép các ngài tiếp xúc với bất cứ trường hợp nào.

Đại sứ Michalak:

– Cảm ơn ngài Thứ trưởng, ngài đã rất có nhã ý tạo điều kiện cho tôi gặp những người chúng tôi cần và tôi đánh giá cao sự giúp đỡ của ngài. Và tôi vẫn cần phải gặp những nhân vật đó nữa, nhất là những người đang ngồi tù, vì nếu tôi không làm thế, tôi sẽ chịu áp lực rất lớn từ phía Mỹ và có thể tôi sẽ phải quay về nước. Tôi tin rằng bản thân mình đã làm được rất nhiều cho mối quan hệ hữu nghị Việt Nam – Mỹ và vấn đề nhân quyền cũng chỉ là một phần trong mối quan hệ song phương thôi nhưng lại là một phần rất quan trọng và tôi mong muốn sẽ có thể làm được nhiều hơn. Tôi muốn rằng các ngài sẽ phải tinh tế hơn trong phương thức xử lý vấn đề.

Ngài có nhận ra một điều rằng, năm ngoái không có một công dân Mỹ nào bị bắt vì tội xâm phạm nhân quyền. Năm ngoái cũng có trường hợp Việt Nam bắt quay về nước ngay tại sân bay, không cho nhập cảnh. Chúng tôi đã nói với những người dân của mình rằng, nếu bạn thuộc một tổ chức nào đó thì rất có thể khi nhập cảnh Việt Nam bạn sẽ bị bắt quay trở lại và không được nhập cảnh. Chúng tôi cũng nói với họ rằng, chúng tôi không nhất trí với các quy định của pháp luật Việt Nam và hai bên sẽ thảo luận thêm về vấn đề này. Cũng có những trường hợp rằng có những người ở khách sạn một thời gian sau đó bị thẩm vấn bởi các cán bộ Công an Việt Nam. Ít nhất một trường hợp có 2 phụ nữ khi vào Việt Nam giải quyết các vấn đề nhân đạo thì lãnh đạo trong nước đã yêu cầu một người ở lại trong nước còn một người phải xuất cảnh.

Về trường hợp đó, chúng tôi không thể nói rằng Việt Nam đã có những tiến bộ về nhân quyền. Các ngài đã cho phép Thượng nghị sĩ James Webb đến thăm 2 chủng viện phía Bắc và phía Nam. Tất cả những điều này đã có tác động rất tích cực đối với quan hệ song phương Việt – Mỹ. Tuy nhiên như vậy là chưa đủ. Và những điều chúng ta đang nói đây là để cùng nhau tìm ra một phương thức phù hợp. Chúng tôi muốn bố trí một chuyến thăm nữa của Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế (UB TDTG QT). Tại chuyến thăm lần trước, UB TDTG QT đã làm không được tốt lắm và lần này tôi biết họ sẽ làm thế nào.

Và tôi cho rằng, việc tạo điều kiện cho họ làm việc tại Việt Nam sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy quan hệ hữu nghị 2 nước. Chúng tôi đi bất cứ đâu cùng họ, họ nói lại những điều họ cảm nhận, chúng tôi nói lại những điều chúng tôi cảm nhận và đại diện Bộ Ngoại giao Mỹ đã không nhất trí với những gì mà  UB TDTG QT báo cáo lại. Hãy cứ để cho họ đến những nơi mà họ muốn, nói những gì mà họ muốn, còn chúng tôi sẽ nêu lên ý kiến riêng của bản thân. Tôi muốn nói rằng, trước đây Việt Nam đã đạt được những tiến bộ về tự do tôn giáo, nhưng Mỹ vẫn muốn đưa Việt Nam vào danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo. Và đó là điều không đúng. UB TDTG QT khuyến nghị đưa Việt Nam vào danh sách CPC nhưng Bộ Ngoại giao Mỹ đã nói: “Không, không có lý do để làm như vậy”.

Gần đây có một tổ chức quốc tế mà tôi không nhớ tên chính xác (nếu các ngài muốn tôi sẽ gửi lại sau) đã nói rằng Việt Nam đang thoát dần khỏi vị trí các nước đứng đầu trong việc ngăn cản người dân thực hành quyền tự do tín ngưỡng. Do vậy, tôi nghĩ rằng Việt Nam nên để đoàn UB TDTG QT phát biểu những gì họ muốn để nếu khi họ trở về Mỹ họ có đưa ra những báo cáo tiêu cực về tình hình tôn giáo Việt Nam thì các bạn có thể dẫn chứng từ báo cáo của tổ chức quốc tế kia và báo cáo từ Bộ Ngoại giao Mỹ về sự khác biệt. Và nói về niềm tin lẫn nhau, khi Việt Nam nói đã cải thiện được tình hình tự do tôn giáo và chúng tôi nhận thấy điều đó nên chúng tôi sẽ tiếp tục tin và đưa ra những tuyên bố về sự cải thiện tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Tôi tin rằng, ngài có rất nhiều ý kiến về những điều tôi vừa nói.

 Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Chúng tôi cần nói rằng, chúng tôi chưa từng phản đối những phái đoàn như vậy khi vào Việt Nam, chúng tôi rất hoan nghênh đoàn UB TDTG QT.

Đại sứ Michalak:

– Quan điểm của Bộ Công an là đồng ý phải không?

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Tất cả nhân viên ngoại giao mới phải hiểu pháp luật Việt Nam. Những người đang trong quá trình điều tra thì không được gặp bất cứ ai, kể cả công dân Việt Nam. Còn những người đang thụ án trong trại giam, nếu các ngài có nhu cầu, chúng tôi sẽ tạo điều kiện. Nghiêm cấm các hoạt động gặp gỡ để xúi giục phạm tội. Như chúng tôi đã cho phép các ngài gặp Lê Thị Công Nhân vào dịp tết vừa qua, nhưng đối với ông Hùng, người đang trong quá trình điều tra thì không gặp được. Mai tòa tuyên án ông Hùng, các ông đến mà xem.

Đại sứ Michalak:

– Tình hình sức khỏe của ông Hùng tốt chứ?

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Sức khỏe tốt.

Đại sứ Michalak:

– Chúng tôi cũng thấy Nhân rất khỏe mạnh.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Tôi là bạn của ông, bạn thân nữa là khác. Tôi còn là bạn của lãnh đạo FBI. Ông có nghĩ là bản thân Mỹ nên nhìn lại mình trong các hoạt động quốc tế, những gì Mỹ làm đều chỉ làm hình ảnh của Mỹ xấu đi. Đó là vì các hoạt động của Mỹ ở Iraq, Afghanistan, CHDCND Triều Tiên. Nên tôi nghĩ, Mỹ nên điều chỉnh lại mình trước. Mặc dù chúng tôi biết Mỹ đã giúp đỡ rất nhiều cho các thành viên quốc tế nhưng hình ảnh Mỹ đang bị ảnh hưởng tiêu cực hơn rất nhiều. Trái lại, Trung Quốc lại có thể làm tốt hơn. Nếu các ngài cứ tiếp tục chính sách của mình như hiện nay, sẽ bị coi là can thiệp vào công việc nội bộ của các nước. Tôi thấy trong bài phát biểu nhậm chức của ông Obama có cái mới đó là Mỹ muốn thay đổi vị thế trên trường quốc tế. Mỹ muốn thay đổi quan hệ của các nước đối với Mỹ. Tôi chỉ khuyên ngài rằng, quan hệ hữu nghị Mỹ – Việt đang ở mức tốt nhất từ trước tới giờ, thế nhưng về lịch sử mà nói rằng, cái gì mà Mỹ mang lại cho Việt Nam vẫn còn rất nặng nề đối với đa số người dân Việt Nam. Để có thể thoát khỏi quá khứ, Mỹ nên thúc đẩy quan hệ hữu nghị với Việt Nam hơn nữa, không những thế còn cải thiện được trong nhận thức và tăng sự tin tưởng lẫn nhau. Việc Tổng thống Bush hỗ trợ phòng chống HIV, rà phá bom mìn, giải quyết chất độc da cam là những bước tiến để tạo sự tin tưởng lẫn nhau. Và ông Obama cũng nói Mỹ sẽ giúp đỡ quốc tế về các vấn đề phòng chống bệnh dịch, môi trường hơn là việc sử dụng sức mạnh quân sự đối với các nước khác. Chúng tôi rất hoan nghênh đoàn UB TDTG QT Mỹ tới Việt Nam và hoan nghênh cả những đoàn khác đến thăm và làm việc tại Việt Nam để tạo điều kiện cho mối quan hệ hữu nghị trở nên tốt hơn. Chúng tôi đảm bảo không có hoạt động khủng bố ở Việt Nam.

Đại sứ Michalak:

– Vấn đề là khủng bố theo định nghĩa của ai?

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Không để bất cứ công dân Mỹ nào chết ở Việt Nam do tội phạm khủng bố. Đó là điều hy vọng nhất của tôi. Còn phải phân biệt rõ đâu là luật pháp. Chúng tôi có quyền cho hoặc không cho nhập cảnh Việt Nam dù việc đó không đảm bảo nhân quyền con người đó. Còn chúng tôi không cho phép ai, chúng tôi sẽ thông báo cho các ngài lý do cụ thể. Hôm nay chúng ta chấm dứt ở đây thôi.

Đại sứ Michalak:

– Lần tới tôi sẽ mời ngài tới nhà tôi và ăn một số món ăn Việt Nam.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Hiện nay, tình hình kinh tế đang trong giai đoạn khó khăn. Trong lãnh thổ Việt Nam có rất nhiều tội phạm từ các nước đến nên Việt Nam sẽ phải kiểm soát rất chặt về xuất nhập cảnh và sẽ xử lý rất kiên quyết. Tôi học được phương pháp này từ người Mỹ đấy. Tôi sẽ cho kiểm tra từ giày lên đầu.

Đại sứ Michalak:

– Tôi thấy, khi chúng ta chưa gặp nhau thì các chủ đề cuối buổi thường hay nhất cho nên lần sau cần bắt đầu từ các vấn đề còn bỏ dở ở các buổi trước đó. Nhưng những điều chúng ta thảo luận với nhau đều là không chính thức, nằm ngoài văn bản.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

-Vì chính thức hay không thì ông vẫn là Đại sứ, còn tôi vẫn là Thứ trưởng Bộ Công an.

Đại sứ Michalak:

– Tôi cũng mừng là ngài đã đề cập đến ông Obama cũng như ông đã nói Mỹ nên nhìn lại bản thân mình và đó cũng là những điều mà nhân dân chúng tôi nhìn lại trong toàn bộ quá trình tổng tuyển cử.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Để một dịp khác chúng tôi sẽ nói với ngài những gì chúng tôi nhìn nhận về Mỹ. Nếu chúng tôi áp dụng đường lối kinh tế như Mỹ, chúng tôi sẽ thất bại. Nếu chúng tôi có các hoạt động như của Mỹ đối với Lào, Campuchia, hình ảnh Việt Nam sẽ xấu đi rất nhiều. Tôi nói với ngài rất tâm huyết, như giúp người bạn thân nhìn lại mình.

Đại sứ Michalak:

–  Vậy cách nhìn của Việt Nam về Lào và Campuchia như thế nào?

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

–  Vậy xin hỏi quan điểm của các ngài?

Đại sứ Michalak:

– Theo tôi được biết thì quan hệ của Việt Nam với Lào và Campuchia là quan hệ anh em.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Lịch sử của chúng tôi có những giai đoạn gắn với nhau, để bảo vệ đất nước, chống lại kẻ thù chung. Tôi mong muốn họ có quan hệ quốc tế tốt, chỉ tiếc rằng Việt Nam quá nghèo không thể giúp nhiều cho họ. Mỹ chỉ cần bớt đi số tiền sản xuất vài quả tên lửa và đem giúp Lào thì Lào sẽ trở nên khá hơn. Chúng tôi coi Lào, Campuchia như anh em, thậm chí chúng tôi còn coi họ là anh.

Đại sứ Michalak:

– Ngài có biết hai nước này nhận được viện trợ ODA nhiều hơn Việt Nam không?

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

–  Tôi không biết nhưng chỉ biết rằng Trung Quốc giúp đỡ nhiều hơn Mỹ.

Đại sứ Michalak (cười):

– Nếu tôi nhập ngũ thì có lẽ giờ tôi cũng là tướng rồi và vẫn có thể gặp ông để nói hết những điều tôi muốn. Theo quy tắc lễ tân, vị trí của tôi ngang với vị trí của tướng 3 sao, thậm chí 4 sao.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

–  Đấy là ngài ước thế thôi. Ngài nên nhớ rằng, khi ngài nghỉ hưu ngài không được gọi là tướng nữa, nhưng chúng tôi vẫn được.

Đại sứ Michalak:

– Nhưng khi tôi nghỉ hưu vẫn được gọi là Đại sứ và Đại sứ quán vẫn nhớ đến tôi.

***

Cùng bạn đọc

Với những thông tin chính thức theo biên bản tốc ký các cuộc trao đổi của Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng với các phái đoàn Hoa Kỳ, hẳn bạn đọc có thể hình dung tác hại của sự “tam sao thất bản”. Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội, báo cáo mật đã không phản ánh  thật trung thực đúng như nội dung cuộc trao đổi với Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng là một việc cần phê phán. Nhưng với  BBC, một cơ quan truyền thông Anh quốc thường tự nhận là khách quan, trung thực thì qua sự việc này càng lộ rõ thái độ của họ đối với Việt Nam là như thế nào. Cũng phải nói thêm rằng, bấy lâu nay, BBC thường xuyên có tin bài xuyên tạc về tình hình Việt Nam, và rất “chịu khó” đăng tải ý kiến của những người luôn có hành động, việc làm đi ngược lại lợi ích của dân tộc, của đa số người Việt.

BBC cần xin lỗi bạn đọc Việt ngữ 

Ngày 23/4, ông Đinh Kim Phúc, nghiên cứu viên của khoa Đông Nam Á học, Trường đại học Mở TP HCM, đã có thư ngỏ gửi Tổng giám đốc BBC Mark John Thompson. Trong thư, ông Phúc khẳng định việc BBC tiếng Việt ngày 17/4/2010 đăng tải bài “Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc” của bà Đỗ Ngọc Bích đã xúc phạm đầy ác ý đến lịch sử Việt Nam. Vì vậy, ông Phúc đề nghị Tổng giám đốc Mark John Thompson có biện pháp thích đáng đối với người có trách nhiệm trong việc đưa bài viết này và BBC phải chính thức xin lỗi công khai đến tất cả bạn đọc và người Việt Nam về sai lầm nghiêm trọng này.

(Theo Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh ngày 24/4/2010)

Nguyễn Như Phong (thực hiện Petrotimes)

Chưa là Quốc bảo, cụ Rùa đã lại ‘nổi lên’

 

Sự thiếu tự tin trong lĩnh vực văn hóa còn là hệ quả của những đứt gãy văn hóa, mà sự đổ vỡ hôm nay là một phần của hành vi chối bỏ quá khứ. Thật trớ trêu, thay vì sửa chữa và làm thăng hoa nó ở lĩnh vực văn hóa, tâm linh, thì người ta lại dùng lý luận hiện thực để phủ bác ngay cả những huyền thoại ít nhiều gắn bó với lịch sử dân tộc.

Mấy ngày nay cụ Rùa Hồ Gươm” lại được “nổi lên” trên sóng dư luận khi Phó GS.TS Hà Đình Đức và GS Vũ Đức Vượng đề nghị cụ trở thành “bảo vật quốc gia”.

Mâu thuẫn và thiếu thuyết phụcThế nào thì được gọi là “bảo vật quốc gia”?

Tiêu chí đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa ra, nhưng cũng không phải đã hết tranh cãi. Bởi nếu áp dụng tiêu chí ấy, thì Việt Nam chả có mấy thứ được gọi là “bảo vật quốc gia”, dù Thủ tướng Chính phủ vừa ký quyết định công nhận đợt một cả thảy 30 “bảo vật quốc gia” từ cổ đến kim.

Cụ thể những báu vật có niên đại gần đây nhất là “Pháo cao xạ 37mm M1939”, “Máy bay MiG-21F96, số hiệu 5121”, “Sổ trực ban Chiến dịch Hồ Chí Minh”, “Xe tăng T-54B, số hiệu 843”, “Xe tăng T-59, số hiệu 390”.

Việc cụ Rùa Hồ Gươm có được công nhận là “bảo vật quốc gia” hay không, chẳng thuộc thẩm quyền của những người đề nghị. Song người viết chỉ thấy cách mà một số người phản đối đưa cụ lên tầm “quốc bảo” là khá mâu thuẫn và thiếu thuyết phục.

Ông Dương Trung Quốc nói: “Tôi đồng ý Rùa Hồ Gươm mang giá trị đặc biệt về văn hóa, tâm linh, khoa học. Nhưng nếu đưa nó trở thành bảo vật quốc gia thì chắc là chưa cần thiết…“.

Thử hỏi, ở Việt Nam có bao nhiêu con người, con vật, đồ vật được mang giá trị đặc biệt về văn hóa, tâm linh, khoa học như ông Dương Trung Quốc nói? Vậy đến bao giờ thì “cần thiết” để đưa những giá trị đặc biệt như vậy vào danh mục “bảo vật quốc gia”?

GS Ngô Đức Thịnh, Ủy viên Hội đồng Di sản quốc gia nói: Làm gì có chuyện vua Lê Lợi đi trên hồ Hoàn Kiếm. Đấy chỉ là huyền thoại. Đồng nhất huyền thoại với lịch sử là sai. Tất nhiên huyền thoại mượn một số tình tiết trong lịch sử nhưng nó vẫn không phải lịch sử.

Xin hỏi, truyền thuyết Hồng Bàng, Lạc Long Quân, liên quan đến chuyện tiên rồng phối ngẫu đẻ ra trăm trứng, để bây giờ người Việt tự hào xưng mình là con Lạc, cháu Hồng, với ngót nghét 4.000 lịch sử, thì có gì không phải lịch sử như ông Ngô Đức Thịnh nói hay không? Chẳng lẽ cùng là những giá trị tinh túy, sống động của truyền thuyết dân gian như nhau, nhưng cũng có phân biệt đối xử?

GS Trần Lâm Biền thì cho rằng: Cũng phải nhìn lại nguồn gốc văn hóa của rùa. Rùa hay con giải và rắn là thủy quái gây lũ lụt…Có một truyền thuyết ở vùng Chèm, Hà Nội. Theo đó, người giữ đê trên đó đã phải đi bắt con giải – vốn thường xuyên phá đê. Cụ thò tay xuống khuấy nước rồi sau đó chặt nó làm ba. Dấu tích của ba phần con giải đó giờ là ba cái gò xung quanh. Tích truyện về con rùa – con giải là như thế.

Rồi GS Trần Lâm Biền còn tiện thể “sáng tác” luôn cả truyền thuyết: Rùa (giải) và rắn gây lũ lụt. Cho nên cụ Lê Lợi mới dùng kiếm – biểu tượng của sấm chớp ném xuống, chém xuống. Như thế có nghĩa là để chống lầy chống lụt. Từ ý nghĩa đó nên mới có tích truyện trả kiếm cho rùa….

Xin hỏi các nhà khoa học, rùa và rắn có phải là loài thủy quái gây ra lũ lụt không? Tại sao GS Biền lại “ngây thơ” đến mức dùng một truyền thuyết để phủ nhận một truyền thuyết. Tiếc thay, từ phát biểu này của GS Trần Lâm Biền, cũng như qua câu ca dao “Tiếc thay thân phận con rùa/ Lên đình cõng hạc xuống chùa đội bia” mà một số người nghiễm nhiên… kết tội rùa là một con vật biểu trưng cho sự phá hoại, lũ lụt, phải lên chùa đội bia để chuộc lấy tội lỗi…

Rùa Hồ Gươm, Quốc Bảo, Hồ Gươm, Hà Đình Đức , du lịch VN
Cụ Rùa Hồ Gươm. Ảnh: VNE

Rùa là loài vật thiêng nằm trong hệ thống tứ linh (long, lân, quy, phụng). Cũng chẳng khó khăn gì để tìm hiểu giá trị văn hóa và tâm linh của loài rùa ở một số quốc gia châu Á. Rùa biểu tượng cho sự hài hòa, trường cửu, bụng rùa vuông phẳng tượng trưng cho đất, mai rùa tròn cong tượng trưng cho trời. Bản thân rùa cũng là loài có tuổi thọ cao vào bậc nhất trong các loài động vật, và chẳng phải ngẫu nhiên mà người Việt lại có thói quen gọi Rùa Hồ Gươm bằng “cụ”.

Tại sao người ta không đặt ra câu hỏi, vì sao dân gian (kể cả các vị mưu thần) thời xưa không bịa ra truyền thuyết “thần Kim Quy” hay “truyền thuyết Hồ Gươm” bằng những con vật thiêng khác mà cứ phải gắn với con rùa? Trong tâm thức dân gian, sự xuất hiện của rùa ít nhiều có tính “điềm báo”, và cho đến tận hôm nay, vẫn có người liên hệ đến các sự kiện rùa nổi để tiên đoán những điều lành dữ…

Do đó, cần phải nhìn cụ Rùa Hồ Gươm dưới góc độ văn hóa, tín ngưỡng tâm linh dân gian, để tìm ra những mô-típ chung quanh những sự kiện lịch sử của nó. Như vậy mới hiểu vì sao những “mưu thần” xưa phải tranh thủ hình ảnh Rùa Hồ Gươm, thêu dệt những câu chuyện ly kỳ để tạo hiệu ứng dư luận.

Nếu chọn một loài vật khác, tác dụng của dư luận sẽ như thế nào? Chắc chắn, những người giỏi về thuật thế “tung tin đồn” (dù được xem là “yếm trá” trong binh gia), cũng không dại gì đi chọn một con vật không có uy linh gì trong dân gian để mà thổi lên thành câu chuyện đậm chất huyền thoại như vậy.

Bụt chùa nhà không thiêng?

Bây giờ thì sao, ngay cả một nhân vật hư cấu trong tiểu thuyết như ông già Noel còn được không ít người biến thành biểu tượng trong mỗi dịp Giáng sinh, vậy mà ít ai quan tâm đến cái ảo nghiễm nhiên được “hóa thật” ấy. Trong khi đó, Rùa Hồ Gươm gắn với những truyền thuyết tốt đẹp, thì chúng ta lại máy móc đòi hỏi phải là “hiện thực” cân, đong, đo, đếm được. Tại sao chúng ta cứ phải thực dụng với cái đẹp, cái thiêng như thế? Tại sao chuyện gì cũng đổ hết cho vài từ “mê tín dị đoan” là coi như xong chuyện?

Những cách nhìn chưa toàn diện về văn hóa, đặc biệt là văn hóa dân gian, đang chỉ ra một sự thiếu tự tin trong lĩnh vực văn hóa, nên một số người Việt hiện nay sợ dư luận, sợ tất cả những thứ liên quan đến bình chọn “bảo vật”, hay “quốc hồn quốc túy” cho đất nước mình. Vì thế, có những giá trị văn hóa ít nhiều mang tính chất nội sinh thì bị phủi đi, trong khi vay mượn đủ trò từ bên ngoài, thì lại chẳng ý thức hết được về nó. Chẳng phải Bụt chùa nhà không thiêng đang là một nghịch lý trong đời sống ứng xử văn hóa hiện nay?

Tuy nhiên, sự thiếu tự tin trong lĩnh vực văn hóa còn là hệ quả của những đứt gãy văn hóa, mà sự đổ vỡ hôm nay là một phần của hành vi chối bỏ quá khứ. Thật trớ trêu, thay vì sửa chữa và làm thăng hoa nó ở lĩnh vực văn hóa, tâm linh, thì người ta lại dùng lý luận hiện thực để phủ bác ngay cả những huyền thoại ít nhiều gắn bó với lịch sử dân tộc.

Mỗi lần cụ Rùa Hồ Gươm nổi lên, cụ muốn “đòi lại” chúng ta điều gì? Có người bảo chẳng gắn với một điềm gì cả, chỉ là do môi trường nước bị ô nhiễm mà thôi. Ô hay, một cái hồ trong vắt thiêng liêng, gắn với biết bao tình cảm của người Việt, mà còn để cho ô nhiễm đến mức cụ Rùa không thể thở nổi, thì những thứ cha chung không ai khóc, những thứ thuộc về thiên nhiên kia, người ta không thẳng tay tàn phá, không gây ô nhiễm mới là lạ.

Chính bởi cứ nhìn “một mặt vấn đề” như thế, nên dễ hiểu vì sao nhiều giá trị văn hóa, tâm linh khó có thể cất cánh bay bổng được. Trong khi huyền thoại truyền thuyết vốn là một phần sống động thể hiện ước mơ và khát vọng của con người. Ước gì, mỗi khi động đất, mưa đá, lũ lụt, hạn hán, rùa nổi…, được hiểu như “điềm trời”, những người quản trị quốc gia lại thức tỉnh sửa mình, nghĩ nhiều hơn đến những việc hệ trọng của dân của nước, giảm bớt luật hình, cắt giảm thuế khóa, gìn giữ biên cương…

Người viết cho rằng quan niệm thế nào là “bảo vật quốc gia” cũng có tính lịch sử, bởi rõ ràng những đồ vật, con con vật ngày xưa mà chúng ta phải tiến cống cho phương Bắc đều là những thứ quý hiếm thuộc vào hàng quốc bảo, mà bản thân những kẻ xâm lược đó cũng đã “ngửi” ra để yêu sách, những vật càng gắn với huyền thoại càng gây hứng thú.

Quan niệm về vật báu quốc gia cũng dần thay đổi theo thời gian, nhưng đối với những loài vật khoác áo huyền thoại như rùa, dù chúng ta không bày ra cái chuyện tôn vinh là “bảo vật”, thì nghiễm nhiên cụ Rùa vẫn là một trong những loài vật linh thiêng trong văn hóa, tín ngưỡng truyền thống. Bây giờ chúng ta có tôn vinh cụ Rùa là bảo vật quốc gia, thì cũng chỉ là tái lập sự khẳng định đó trong tâm thức của người Việt từ nghìn đời nay mà thôi.

Hơn nữa, truyền thuyết rùa Hồ Gươm dâng kiếm cho Lê Lợi đánh tan giặc Minh xâm lược, đằng sau tên gọi Hoàn Kiếm còn là chuyện đề cao chữ tín, mượn thì phải trả. Hay ý nghĩa thời bình dùng văn, thời loạn dụng võ. Đó là chưa kể đến những ẩn ý khác, khi rùa phải ngoi lên nhắc chuyện trả gươm, thì phải biết gươm ấy chỉ nên dùng để đánh giặc ngoại xâm, chứ không nên dùng để thanh trừng nhau. Có gươm thiêng trong tay mà dùng sai mục đích, thì cũng đáng đòi lại lắm.

Bài thơ mà Đinh Liệt, một vị công thần nhà Lê viết ra cũng nói rõ cái ý ấy:Trong thuở hàn vi bừng sáng nghĩa/Hoà bình hạnh phúc dễ mờ nhân?/Cầm cân mà để cân sai lệch/Nát đạo cha con tối nghĩa thần.

Mỗi lần cụ Rùa Hồ Gươm nổi lên, cụ muốn “đòi lại” chúng ta điều gì? Có người bảo chẳng gắn với một điềm gì cả, chỉ là do môi trường nước bị ô nhiễm mà thôi. Ô hay, một cái hồ trong vắt thiêng liêng, gắn với biết bao tình cảm của người Việt, mà còn để cho ô nhiễm đến mức cụ Rùa không thể thở nổi, thì những thứ cha chung không ai khóc, những thứ thuộc về thiên nhiên kia, người ta không thẳng tay tàn phá, không gây ô nhiễm mới là lạ.

Đó chẳng phải là “điềm báo” rằng môi trường mà rùa thần có tuổi thọ lâu dài như thế còn bức bối không chịu nổi, thì con người biết phải sống ra sao với đủ thứ ô nhiễm môi trường và ô nhiễm lương tâm khác?

Thông điệp của cụ Rùa Hồ Gươm, từ quá khứ lịch sử cho đến nay vẫn bàng bạc khắp chốn, khắp nơi, nhưng người hiểu nó để sửa mình, tiếc thay lại ngày càng ít và hiếm!

Thái Nam Thắng
Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/116984/chua-la-quoc-bao–cu-rua-da-lai–noi-len-.html

15/04/2013 02:00 GMT+7

 

Hôm qua, ĐBQH Hoàng Hữu Phước cho biết đã gỡ bỏ bài viết xúc phạm đến ĐBQH Dương Trung Quốc. Xung quanh câu chuyện gây ầm ĩ này có nhiều vấn đề đáng bàn về văn hóa tranh luận

Các bài viết liên quan trên kenminhthien.net

[Tham Khảo] Chuyện về Đại biểu Hoàng Hữu Phước và Đại biểu Dương Trung Quốc
Nhà sử học Dương Trung Quốc nói về bài viết “Dương Trung Quốc – Bốn điều sai năm cũ”:
ĐB Hoàng Hữu Phước xin lỗi ĐB Dương Trung Quốc

Trên blog của ông Hoàng Hữu Phước, đại biểu Quốc hội, có đăng bài “Dương Trung Quốc và bốn điều sai năm cũ (tứ đại ngu)”. Bài viết có những lời lẽ xúc phạm nặng nề ông Dương Trung Quốc, cũng là đại biểu Quốc hội. Chúng tôi xin giới thiệu ý kiến người trong cuộc, những người có trách nhiệm về vấn đề này.

Sau khi gặp và chào hỏi vài lời với phóng viên báo Tuổi Trẻ chiều 18-2, đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước tiếp tục hẹn gặp làm việc với phóng viên vào thời gian khác – Ảnh: T.T.D.

Đại biểu HOÀNG HỮU PHƯỚC:

Đã gỡ bỏ bài viết

Trong bài viết trên, ông Hoàng Hữu Phước đã công kích, thậm chí có lời lẽ thóa mạ tới ông Dương Trung Quốc. Cuối bài viết được ký tên: “Nhất Thạc Bàn Cờ, Lăng Tần Hoàng Hữu Phước, Nhà VN Cộng Hòa Học, Nhà Biểu Tình Pờ-rô-tét Đì-mông-sờ-tra-sân Học, Nhà Đa Đảng Học, Nhà Lưỡng Đảng Học, Nhà Độc Đảng Học, Nhà Tiếng Anh Học, Nhà Thánh Kinh Học, Nhà Đủ Thứ Học Học”.

Mục đích của bài viết được người viết đề cập: “Lăng Tần tôi đây theo sách thánh nhân xin góp một đường chổi quét, vừa thử nêu bật phân tích Dương Trung Quốc như một tấm gương cho giới trẻ xem qua điều dở, nghiệm lấy điều ghê, vừa thử xem đối tượng được phân tích này có nhờ vậy học được đôi điều để cải hóa mà bớt xấu đi chăng”.

Bài viết khá dài, bình luận những nội dung ông Dương Trung Quốc phát biểu tại Quốc hội, với lối hành văn và sử dụng ngôn ngữ rất nặng nề, như: “Trong bối cảnh tình hình phức tạp ở biển Đông và đất nước còn bao nỗi lo toan khác thì những phát biểu về “đĩ-biểu tình-đa đảng-văn hóa từ chức” của “nhà sử học” Dương Trung Quốc tại nghị trường lại càng trở thành một mớ hỗn độn và hỗn loạn. Lẽ ra Dương Trung Quốc nên ngậm miệng lại để các đại biểu khác có thời gian hiến kế làm đất nước hùng cường, quân đội hùng mạnh, dân tộc hùng anh, quốc gia thái bình thịnh vượng, dân chúng lạc nghiệp an cư, mới đúng là “quốc thái dân an” đẳng cấp thánh nhân chứ không phải “an dân” kiểu hàm hồ của Dương Trung Quốc”.

* Sau nhiều ngày liên hệ, mãi đến chiều 18-2 chúng tôi mới gặp được đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước. Sau vài lời chào hỏi, ông này nói lời xin lỗi vì không thể dành thời gian trao đổi với Tuổi Trẻ như lịch đã hẹn. Lý do được nêu ra là trùng lịch làm việc một cơ quan ngoại giao nước ngoài nên không thể chậm trễ, đồng thời hẹn sẽ gặp Tuổi Trẻ vào thời gian khác.

Tuy nhiên, ông Phước có xác nhận “đã gỡ bỏ bài viết khỏi blog của mình vào ngày hôm qua, tức 17-2”.

Theo thông tin chúng tôi nắm được, sáng 18-2 ông Hoàng Hữu Phước đã đến trụ sở Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM để họp khẩn ngay trong buổi làm việc đầu tiên sau thời gian nghỉ tết với tập thể thường trực Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Tất cả nội dung của cuộc họp đều liên quan đến bài viết “bốn điều sai năm cũ (tứ đại ngu)”.

Tất cả ý kiến trong cuộc làm việc đều không đồng tình cách làm, cách ứng xử của đại biểu Phước qua bài viết nói trên, đồng thời đề nghị đại biểu này có cách xử lý, khắc phục những hậu quả đã phát sinh.

Tại cuộc làm việc, ông Hoàng Hữu Phước đã trao đổi lại, kể cả giải thích một vài lý do xuất phát từ đâu mà ông viết những nội dung như vậy. Đồng thời có thông tin cho biết đại biểu Phước nói sẽ có lời xin lỗi về những gì mình đã viết về đại biểu Dương Trung Quốc qua bài viết vừa nêu. Tuy nhiên đến chiều 18-2, ông Phước vẫn chưa liên lạc để xin lỗi ông Quốc.

Ông Hoàng Hữu Phước (sinh năm 1957) được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc VN TP.HCM giới thiệu ra ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIII, đơn vị bầu cử số 1: quận 1, 3, 4. Ông đã trúng cử trong kỳ bầu cử này.

Một trong hai cam kết thực hiện chương trình hành động sau khi trúng cử của ông Phước là “luôn giữ gìn danh dự quốc gia, danh dự Quốc hội và tư cách người đại biểu Quốc hội; trau dồi tu dưỡng để đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn nêu tại điều 3, chương I, Luật bầu cử Quốc hội; tận tụy phục vụ cử tri và nhân dân”.

Đại biểu Dương Trung Quốc – Ảnh: Việt Dũng

Đại biểu DƯƠNG TRUNG QUỐC:

“Tôi thấy cũng bình thường thôi”

Trao đổi với Tuổi Trẻ qua điện thoại chiều 18-2, đại biểu DƯƠNG TRUNG QUỐC nói:

– Việc gỡ bỏ khỏi blog cá nhân (của đại biểu Hoàng Hữu Phước) toàn bộ nội dung bài viết “bốn điều sai năm cũ (tứ đại ngu)” cũng bình thường thôi. Anh ấy đưa lên hay gỡ bỏ là quyền của anh ấy, việc ứng xử, hành xử của anh ấy thôi. Hơn nữa sự việc đã xảy ra rồi, nếu anh ấy thấy rút đi là phải thì tôi cũng thấy bình thường.

* Thưa ông, ông có cho rằng việc gỡ bỏ nội dung bài viết nhằm vào ông với những ngôn từ nặng nề là một sự nhìn nhận sai lầm của người viết?

– Lẽ ra câu hỏi này phải hỏi anh Phước. Còn tôi thì quan điểm trước sau như một. Những vấn đề mà anh ấy nêu lên, nếu đưa ra đúng diễn đàn để trao đổi một cách đàng hoàng thì hay hơn. Còn đưa ra như thế (chuyển tải trên mạng, blog cá nhân) thì hiệu ứng thế nào, anh Phước sẽ là người hiểu hơn tôi. Đương nhiên trong lòng chả ai thích thú gì chuyện này cả. Tôi cũng hơi buồn một chút là Quốc hội đang trên tiến trình phát triển, nhân dân tin cậy, trong khi bây giờ xảy ra chuyện như vậy thì nhân dân sẽ nghĩ thế nào về Quốc hội?

Với cá nhân tôi là không có chuyện thắng thua gì ở đây cả.

* Ông có thấy những ngôn từ dùng trong bài viết xúc phạm đến cá nhân của một đại biểu Quốc hội như ông không?

– Tôi thấy không cần thiết nói vào lúc này, lúc mà mọi cái cần để nó qua đi. Mỗi người rút ra một bài học để làm tốt hơn trong quan hệ. Nghị trường là nơi vừa bảo đảm cho đại biểu thể hiện thẳng thắn quan điểm của mình, đồng thời cũng thể hiện sự tôn trọng lẫn nhau. Chúng ta đều đang phấn đấu cho những giá trị dân chủ và giá trị quan trọng nhất là biết tôn trọng ý kiến của nhau, kể cả ý kiến khác biệt. Còn việc đấu tranh để bảo vệ quan điểm của mình hay làm quan điểm của mình được mọi người công nhận thì đấy là một nỗ lực, một nghệ thuật của chính bản thân mỗi đại biểu.

* Từ hôm xảy ra sự việc đến nay, đến lúc bài viết được gỡ khỏi blog, đại biểu Hoàng Hữu Phước có gọi điện thoại, email hay gặp gỡ để trao đổi điều gì với ông không?

– Tôi chưa nhận được thông tin gì cả ngoài thông tin Văn phòng Quốc hội rất lưu ý việc này, đang tìm hiểu. Còn quan điểm của tôi đã phát biểu rất rõ ràng rồi và tôi thấy chỉ cần như thế là đủ.

* Ông nghĩ sao nếu có lời xin lỗi từ đại biểu Hoàng Hữu Phước?

– Nếu thấy đã làm một việc cần thiết phải xin lỗi và xin lỗi thì tôi cho là điều tốt. Đấy là một cách ứng xử tốt.

QUỐC THANH thực hiện  

Ông LÊ NHƯ TIẾN (phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội):Quốc hội nên có ý kiến về đề nghị bãi nhiệm đại biểu Hoàng Hữu Phước

Tôi cho rằng việc các đại biểu Quốc hội tranh luận, trao đổi với nhau là chuyện bình thường, sẽ làm tăng sức hấp dẫn và tính dân chủ trong sinh hoạt nghị trường. Tuy nhiên, việc dùng blog cá nhân để đánh giá, nhận xét đại biểu khác bằng những lời lẽ thóa mạ, thiếu tôn trọng như dùng từ “ngu”, “ngậm miệng lại”… thì không thể chấp nhận được. Đây là việc chưa có tiền lệ trong sinh hoạt nghị trường ở VN. Là người theo dõi lĩnh vực văn hóa, tôi cho rằng sẽ có nhiều người không đồng tình với cách làm của đại biểu Hoàng Hữu Phước. Cách làm này không thể chấp nhận đối với một người bình thường chứ chưa nói anh Phước là một đại biểu Quốc hội.

Tôi có đọc trên các diễn đàn mạng thì có những ý kiến đề nghị bãi nhiệm đại biểu Hoàng Hữu Phước. Tôi nghĩ các cơ quan có trách nhiệm của Quốc hội nên có ý kiến về vấn đề này.

LÊ KIÊN ghi

Luật sư NGUYỄN VĂN HẬU (phó chủ tịch Hội Luật gia TP.HCM):

Hành vi vi phạm pháp luật dân sự

Theo quy định tại điều 1 của quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội ban hành kèm theo nghị quyết số 08/2002/QH11 của Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ hai thì đại biểu Quốc hội không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước. Chính vì vậy đại biểu Quốc hội phải cẩn trọng hơn trong hành vi, ngôn ngữ của mình. Điều này càng được khẳng định hơn tại điều 3 của quy chế là đại biểu Quốc hội phải gương mẫu trong việc chấp hành Hiến pháp, pháp luật, sống lành mạnh và tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân, có nhiệm vụ tham gia tuyên truyền, phổ biến pháp luật, động viên nhân dân và người thân trong gia đình chấp hành pháp luật, tham gia quản lý nhà nước. Nếu đại biểu Quốc hội vi phạm pháp luật, không tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng cũng tức là xúc phạm danh dự, uy tín của nhân dân, của Nhà nước.

Việc đại biểu Quốc hội xúc phạm một đại biểu Quốc hội khác trên một trang cá nhân và để chế độ công cộng cho mọi người cùng xem, theo tôi, là hành vi vi phạm pháp luật dân sự mà cụ thể là vi phạm vào điều 37 của Bộ luật dân sự 2005 về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của công dân. Theo đó, mỗi cá nhân đều có nghĩa vụ tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của các cá nhân khác và pháp luật sẽ bảo vệ quyền này. Một công dân nói xấu một công dân khác tại nơi công cộng thì đó chỉ là sự vi phạm pháp luật dân sự, nhưng nếu là một đại biểu Quốc hội nói xấu một đại biểu Quốc hội khác thì rõ ràng bên cạnh việc vi phạm pháp luật, quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội, vị đại biểu đó còn xúc phạm đến một hình tượng đại diện cho nhân dân khác, cũng như làm ảnh hưởng đến hình ảnh của Quốc hội.

Nguồn:  LÊ KIÊN – QUỐC THANH

Mới đây, tổ chức “Nhà tự do” đã công bố cái gọi là phúc trình về tự do thế giới 2013, trong đó đưa ra một số đánh giá thiếu khách quan về tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Vậy tổ chức “Nhà tự do” là gì, tại sao họ lại có hành xử thiếu thiện chí như vậy?  

“Nhà tự do” (Freedom House – FH) là tổ chức phi chính phủ, thành lập tháng 10-1941, trụ sở đặt ở Hoa Kỳ. Tổ chức này tự gán cho mình sứ mệnh “theo dõi tiến trình dân chủ hóa toàn cầu, khảo sát và nghiên cứu tình hình thực thi các quyền tự do chính trị và dân sự tại các quốc gia trên thế giới”; hơn thế nữa, FH còn tự nhận là “một tiếng nói minh bạch cho dân chủ và tự do trên thế giới”! Ðể thể hiện sứ mệnh, hằng năm FH đều công bố các văn bản gọi là phúc trình về tự do trên thế giới, báo cáo thường niên về tự do báo chí, tự do in-tơ-nét. Các văn bản này chỉ tập trung vào một số nước như CHDCND Triều Tiên, Lào, Trung Quốc, Việt Nam, Cu-ba,… hoặc các quốc gia vốn đang nằm trong “tầm ngắm” của một số thế lực thiếu thiện chí ở phương Tây. Các thế lực này luôn luôn lợi dụng vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để chống phá, hoặc làm mất uy tín của các chính phủ mà họ “không ưa” trước cộng đồng thế giới. Trong phúc trình của FH về “tự do thế giới 2013″, FH tiếp tục coi Việt Nam là quốc gia “không tự do” trong thực thi quyền tự do chính trị và dân sự. Tới ngày 18-1, trả lời phỏng vấn của VOA tiếng Việt, Sarah Cook – người được giới thiệu là chuyên gia phân tích cao cấp về tự do in-tơ-nét và Ðông Á của FH, còn trắng trợn cho rằng Việt Nam đang có xu hướng gia tăng đàn áp các quyền cơ bản của công dân, xử “nặng tay” với những blogger chỉ trích nhà nước kiểm duyệt in-tơ-nét và tiếp tục đàn áp tự do tôn giáo!

Từ khi mới ra đời, FH đã là “cỗ máy tuyên truyền” do cố Tổng thống Roosevelt lập ra để chuẩn bị tâm lý cho công chúng Mỹ đối với việc nước Mỹ tham chiến trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Tuy nhiên, sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, FH không bị giải thể mà tiếp tục được sử dụng để tiến hành các chiến dịch tuyên truyền, vận động cho Kế hoạch Marshall và tổ chức NATO, đồng thời tuyên truyền chống Chủ nghĩa cộng sản. Bên cạnh đó, FH cũng tích cực cổ súy truyền bá giá trị của Hoa Kỳ với khẩu hiệu “Hoa Kỳ: quốc gia của tự do”. Trong những năm 90 của thế kỷ trước, FH phát động chương trình đào tạo về nhân quyền cho các phần tử chống đối ở Ðông và Trung Âu; khuyến khích công đoàn và người lao động tham gia các hoạt động bí mật, qua đó can thiệp vào công việc nội bộ của một số nước ở Ðông và Trung Âu. Trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21, cựu Tổng thống George W. Bush từng yêu cầu FH soạn thảo báo cáo hằng năm về quyền chính trị, dân sự trên toàn thế giới để chính quyền tham khảo trước khi quyết định cung cấp viện trợ phát triển trong khuôn khổ hợp tác đối phó với các thách thức thiên niên kỷ cho các nước…

Có một sự thật là cho đến nay, hầu hết kinh phí hoạt động của FH do Chính phủ Hoa Kỳ tài trợ, phần lớn thành viên ban lãnh đạo của tổ chức này đều là cựu thành viên của các cơ quan chính quyền Hoa Kỳ (như: Chủ tịch đương nhiệm của FH là William H. Taft – người từng giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng thời Tổng thống Ronald Reagan, quyền Bộ trưởng Quốc phòng dưới thời Tổng thống Bush cha, Cố vấn luật pháp của Bộ Ngoại giao dưới thời Tổng thống Bush con; các thành viên khác trong ban lãnh đạo của FH, như Kenneth Adelman từng là thành viên Ban cố vấn chính sách Quốc phòng của Lầu Năm góc, Mark Palmer là cựu Ðại sứ Hoa Kỳ tại Hungary…). FH còn có quan hệ chặt chẽ với Quỹ dân chủ quốc gia (NED), Liên đoàn chống cộng thế giới, Ðài châu Âu tự do,… Ðã lệ thuộc tài chính vào chính quyền Mỹ, lại bị điều khiển bởi các nhân vật từng tham gia chính quyền, cho nên không có gì khó hiểu khi FH trở thành một công cụ của những người đã chi tiền để FH có thể tồn tại dưới vỏ bọc nghiên cứu, theo dõi, cổ súy cho tự do, dân chủ, nhân quyền!

Câu hỏi đặt ra là tổ chức này dựa trên cơ sở nào để “chấm điểm” mức độ tự do về quyền chính trị và dân sự tại các quốc gia, và liệu cơ sở ấy có thật sự khách quan, đáng tin cậy? Sarah Cook cho rằng phúc trình của FH “đánh giá rõ ràng, khách quan mức độ tự do về quyền chính trị và dân sự của công dân tại tất cả các quốc gia trên thế giới”, nhưng khi được hỏi về căn cứ đưa ra bản phúc trình hằng năm đối với Việt Nam, nhân vật này thản nhiên trả lời: “Chúng tôi có một chuyên gia chính phụ trách từng quốc gia, chuyên phân tích tình hình của quốc gia đó. Họ theo dõi tin tức và thông tin về tình hình quốc gia ấy, tham vấn những người liên quan tại nước đó hay những người thường xuyên lui tới nước đó, nói chuyện với các tổ chức kể cả các nhóm hoạt động bên ngoài nước đó”. Câu trả lời cho thấy, FH đánh giá vấn đề theo lối hồ đồ vô căn cứ và tin tức mà chuyên gia của FH theo dõi không phải từ các nguồn chính thống, khách quan, mà chủ yếu khai thác từ các website, blog, các cơ quan truyền thông vốn có thái độ thù địch hoặc thiếu thiện chí với Việt Nam; từ một số cá nhân, nhóm hoạt động thực chất là các thế lực chống phá Việt Nam ở nước ngoài, một số phần tử vi phạm pháp luật ở trong nước. Từ các thông tin FH công bố, có thể khẳng định tổ chức này không hề có bất cứ hoạt động khảo sát thực tế nào, họ chỉ dựa trên các thông tin sai lệch, vu cáo và bịa đặt để nhận xét, rồi chấm điểm. Vậy xin hỏi bà Sarah Cook, đâu là tính khách quan trong phúc trình của FH?

Trong lĩnh vực in-tơ-nét và báo chí, mọi người đều biết việc Nhà nước Việt Nam đã quan tâm, tạo điều kiện để phát triển in-tơ-nét và báo chí như thế nào, chỉ có FH và Sarah Cook là không biết mà thôi. Cho nên, một người Việt đang sống tại Hoa Kỳ, sau khi đọc bản phúc trình của FH và ý kiến của Sarah Cook trên VOA đã phải lên tiếng như sau: “Sự thật tự do báo chí ở Việt Nam đã chứng minh, phản bác hành động sai trái của Freedom House, tôi xin trích dẫn số liệu sau: Theo thống kê của tổ chức Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) năm 2010, Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ người dân sử dụng in-tơ-nét cao nhất trong khu vực Ðông – Nam Á, chiếm 31,06% dân số, chỉ đứng sau ba nước là Xin-ga-po (70%), Ma-lai-xi-a (55,3%), Bru-nây (50%);… đồng thời vượt khá xa tỷ lệ trung bình của khu vực Ðông – Nam Á (17,86%), khu vực châu Á (17,27%) và thế giới (21,88%). Nhân đây, cần nhắc lại rằng, sự thật về tình hình báo chí ở Việt Nam là trái ngược hẳn với những gì Freedom House vu cáo. Thật vậy, tính đến tháng 3-2012, ở Việt Nam có gần 17 nghìn nhà báo, hơn 19 nghìn hội viên nhà báo, hàng nghìn phóng viên hoạt động ở 786 cơ quan báo in, với 1.016 ấn phẩm, 67 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và cấp tỉnh, 47 đơn vị hoạt động truyền hình cáp, chín đơn vị truyền dẫn tín hiệu truyền hình cáp… Các con số nêu ra trên đây dù chưa được đầy đủ nhưng là một minh chứng cho nhiều sắc màu về tự do truyền thông”. Ý kiến của tác giả này cùng thực tế sinh động của sự phát triển in-tơ-nét và báo chí ở Việt Nam trong các năm qua là cơ sở chứng minh điều FH và Sarah Cook kết luận là sự bịa đặt, xuyên tạc trắng trợn.

Ðây không phải lần đầu FH dựng chuyện và nhận xét nhảm nhí về việc thực thi quyền tự do chính trị và dân sự ở Việt Nam. Và không chỉ có thế, nhiều năm qua, FH còn mở một số chiến dịch cổ súy cho cái gọi là “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí”, rồi kích động, hậu thuẫn cho một số kẻ cơ hội, phần tử vi phạm pháp luật ở Việt Nam. Rồi mỗi khi cơ quan tư pháp của Việt Nam tiến hành điều tra, bắt giam, xét xử một số công dân vi phạm pháp luật là FH vội vàng vận động một số chính khách phương Tây vu cáo Việt Nam đàn áp “nhà đấu tranh dân chủ”, “người bất đồng chính kiến”, và… đòi “trả tự do ngay lập tức”! Xâu chuỗi các hành động, việc làm của FH trong nhiều năm qua, có thể nhận diện ý đồ thâm độc của tổ chức này đối với Việt Nam là vừa vu khống Ðảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam, vừa tiếp tay cho các thế lực thù địch và một số người có hành vi vi phạm pháp luật để FH dựa vào đó thực hiện âm mưu của mình.

Như vậy có thể nói sự quan tâm của FH đối với Việt Nam không phải nhằm khuyến khích tự do, dân chủ, nhân quyền. Qua những gì FH thể hiện, tổ chức này chỉ chuyên tâm cổ súy các hoạt động gây bất ổn định chính trị – xã hội ở Việt Nam. Nếu thật sự quan tâm đến tự do, dân chủ, nhân quyền, FH nên tự vấn để trả lời câu hỏi tại sao Báo cáo của Ngân hàng Thế giới mới công bố ngày 24-1 lại đánh giá trong 20 năm qua, tỷ lệ nghèo đói ở Việt Nam đã giảm từ 60% xuống 20,7%, tức là 30 triệu người dân đã thoát khỏi đói nghèo; lĩnh vực giáo dục cũng có nhiều cải thiện, tỷ lệ đăng ký đi học trường tiểu học và trung học ở bộ phận người nghèo tăng lần lượt hơn 90% và 70%,…? Phải chăng đó không phải là thành tựu đáng khích lệ về tự do, dân chủ, nhân quyền? Nếu thật sự quan tâm đến tự do, dân chủ, nhân quyền, FH hãy tỏ ra là có liêm sỉ để góp phần vào việc mà mới đây, Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc – UNICEF, kêu gọi tìm nguồn kinh phí 1,4 tỷ USD trong năm 2013 để đáp ứng các nhu cầu giúp đỡ hàng chục triệu trẻ em bị ảnh hưởng vì chiến tranh, thiên tai và các trường hợp khẩn cấp tại 45 quốc gia, vùng lãnh thổ. Và nếu thật sự quan tâm đến tự do, dân chủ, nhân quyền, FH không nên khoác lên mình “bộ cánh đã lỗi mốt” để trở thành “con rối” trong tay người khác.

BÁ SỸ
Theo Nhandan.com.vn

Các bài viết liên quan trên kenminhthien.net

[Tham Khảo] Chuyện về Đại biểu Hoàng Hữu Phước và Đại biểu Dương Trung Quốc
Nhà sử học Dương Trung Quốc nói về bài viết “Dương Trung Quốc – Bốn điều sai năm cũ”:
Đại biểu quốc hội xúc phạm nhau: Luật chưa đề cập

 – Trả lời VietNamNet chiều 18/2, đại biểu QH TP.HCM Hoàng Hữu Phước có lời xin lỗi ông Dương Trung Quốc và thừa nhận việc tranh luận trên blog đã đi quá xa.

‘Không ngờ bị phản ứng’

Mấy ngày qua, dư luận rất quan tâm thông tin ông viết trên trang mạng Emotion phê phán “Dương Trung Quốc và bốn điều sai năm cũ” (tứ đại ngu). Lý do ông viết bài này là gì?

Thực ra, trang Emotion là một trang mạng diễn đàn của giới kinh doanh. Chủ trang này là một doanh nghiệp, người này đề nghị tôi viết vài bài. Lúc đầu chỉ tham gia thử, sau 4 năm, tôi viết đều, đến bây giờ chắc cũng được 700-800 bài rồi.

Trước đây, nói về luật Biểu tình, ông Dương Trung Quốc phát biểu tại hội trường: “Việt Nam đừng có làm cho mình trở thành một ốc đảo dị thường”. Báo chí sau đó lấy ra để đặt thành tít; khi đó tôi có viết một bài đưa lên trang Emotion.

Đại biểu QH Hoàng Hữu Phước: Thực sự tôi không lường được phản ứng của cộng đồng mạng. Ảnh: Thiện Lâm

Như vậy ngay từ năm 11/2011, tôi đã có bài “chỉnh lời” ông Dương Trung Quốc, tuy nhiên khi đấy tôi không nêu thẳng tên ông Quốc. Tôi đặt vấn đề thế nào là ốc đảo. Tại vì ông nói Việt Nam không có luật Biểu tình thì sẽ là một cái ốc đảo dị thường.

Trong bài viết, tôi nói câu này đã bị hiểu sai từ. Ý người đó muốn nói là hoang đảo chứ không phải ốc đảo. Cái ốc đảo là đẹp lắm. Ốc đảo là sự sống cả một vùng hoang mạc mà.

Sau này, ông Quốc có những phát biểu này phát biểu nọ, tôi cũng có những cái chỉnh nhưng chỉnh ở một góc độ nói trống không vậy đó. Những bài viết blog như vậy, gọi là “thuần nước đá”. Mình ví von blog như cuốn nhật ký, giống như để thùng nước đá do mình pha chế ngoài đường có đậy nắp, ai đi ngang khát nước dừng lại uống một chút.

Từ suy nghĩ đó tôi viết một bài hết sức vô tư, đăng trên trang mạng quen thuộc, không ngờ lại bị phản ứng như vậy.

Về từ ngữ tôi dẫn câu của Khổng Tử, ngày xưa ông Khổng Tử ông nói đại ngu; ngu ở đây được hiểu là cái sai nghiêm trọng thôi. Cho nên phải hiểu đây là những cái sai nghiêm trọng trong năm qua của ông Quốc. Lưu ý là tôi đã mở ngoặc Tứ Đại ngu và dẫn lời của ông Khổng Tử. Tuy nhiên với chữ Hán Việt, bây giờ người Việt Nam mình rất nhạy cảm, nghe thấy chữ “ngu” là dựng đứng lên rồi.

Phản ứng của đoàn ĐBQH TP.HCM như thế nào khi một thành viên đoàn lên mạng công kích một ĐBQH khác, thưa ông?

Sáng 18/2, thường trực đoàn ĐBQH TP.HCM cũng có gặp tôi tìm hiểu xem vì sao mình viết cái đó, có những bức xúc gì. Tôi cũng đã trả lời thẳng thắn như vừa trình bày với các bạn. Đó là với những cái thói quen viết một cách rất là trực ngôn.

Tôi suy nghĩ blog là một nhật ký mở, mình nói trong lúc nhà nước đang có quá nhiều cái để đương đầu, vậy mà ông Dương Trung Quốc liên tục nói về mại dâm, biểu tình, văn hóa từ chức… hãy để tập trung vào cái lớn.

Trong tình hình đất nước hiện nay, những kẻ xấu, các thế lực không thân thiện đang nhìn vào đất nước thì cái chuyện mình có trực ngôn, mình nêu lên, cũng như là cung cấp cho họ một cơ hội bằng vàng để họ có thể xúc xiểm QH, đại biểu QH Việt Nam. Rồi họ suy diễn tư cách của đại biểu như thế nào, môi trường QH như thế nào mà các đại biểu lại có những bức xúc không dám tranh luận ở trong nghị trường mà viết blog như thế.

Như vậy là mình tạo thời cơ cho những kẻ không có thiện cảm với Nhà nước mình. Họ có cái cớ tấn công cá nhân mình, tấn công tập thể mình đang sinh hoạt.

Còn về mặt chính kiến, tôi và ông Quốc vẫn bất đồng, và sẽ còn tranh luận nhưng phương pháp tranh luận sẽ phải khác đi.

Tôi thừa nhận là phương pháp tranh luận của mình sai khi đưa lên blog. Chính vì phương pháp sai này tôi có lời xin lỗi cá nhân ông Dương Trung Quốc.

Lẽ ra với những chỉ trích như vậy, tôi có thể viết một bức thư gửi Thường vụ QH, hay viết bài không ghi tên ông mà chỉ nêu quan điểm, theo dạng blog thì chắc là không có chuyện gì.

Tôi cũng xin khẳng định điều tôi viết là do tính bộc trực, không có ai giật dây gì cả.

Ông có lường được phản ứng dữ dội của cộng đồng mạng không?

Thực sự tôi không lường được như vậy. Hồi nãy tôi nói đó, viết rất vô tư… Kỳ này tôi lại nêu tên và cái đó là cái sai. Bởi vì, mình là đại biểu QH, ông Quốc cũng là đại biểu, trên mình còn có tập thể QH. Do vậy những căng thẳng hay bất đồng có thể trình bày trước QH thay vì blog hay diễn đàn. Đây là điều tôi phải rút kinh nghiệm.

Tôi sẽ trao đổi thẳng thắn, tranh luận trước diễn đàn QH chứ không viết blog như vừa rồi. Không chỉ trên diễn đàn QH mà ngay khi viết blog thì cũng phải để ý lời ăn tiếng nói.

Tôi xin lỗi

Nhiều cử tri TP.HCM đã tỏ ra bất bình. Họ tỏ thái độ thất vọng, thậm chí mất niềm tin vào người mà họ bỏ lá phiếu lại có những ứng xử như thế. Ông có thể nói gì với họ?

Tôi tin những điều giãi bày hôm nay, cử tri đọc sẽ hiểu thêm về tôi trước khi tôi có dịp tiếp cận để nói chuyện với cử tri. Thông qua báo VietNamNet, cử tri sẽ hiểu về tôi.

Lời bộc bạch của tôi hôm nay dứt khoát phải đi kèm theo những việc làm cụ thể trong thời gian tới. Chỉ còn hơn 2 năm làm đại biểu QH nữa thôi, mình phải làm những việc cụ thể để xứng đáng với niềm tin của cử tri.

Ông có muốn nói điều gì với ông Dương Trung Quốc không?

Thông qua VietNamNet, tôi gửi lời xin lỗi ông Dương Trung Quốc vì tôi đã sai khi sử dụng phương pháp trình bày các ý kiến qua blog. Lẽ ra tôi chỉ nên gửi thư trực tiếp, gửi thư cho lãnh đạo nơi ông Quốc và tôi cùng sinh hoạt.

Thái Thiện – Tá Lâm

Các bài viết liên quan trên kenminhthien.net

[Tham Khảo] Chuyện về Đại biểu Hoàng Hữu Phước và Đại biểu Dương Trung Quốc
ĐB Hoàng Hữu Phước xin lỗi ĐB Dương Trung Quốc
Đại biểu quốc hội xúc phạm nhau: Luật chưa đề cập

Nhà sử học Dương Trung Quốc nói về bài viết “Dương Trung Quốc – Bốn điều sai năm cũ”:

Đây là cái gì chứ không phải phản biện !

16/02/2013 2:33

Dư luận hiện đang quan tâm đến bài viết nói về “tứ đại ngu” của nhà sử học, đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Dương Trung Quốc. PV Thanh Niên đã gặp ông Dương Trung Quốc để tìm hiểu quan điểm của ông về bài viết này.

Thưa ông, ông đã đọc trọn vẹn bài viết Dương Trung Quốc – Bốn điều sai năm cũ của người ký tên là Hoàng Hữu Phước chưa? Cảm xúc khi đọc bài viết đó của ông như thế nào?

Đây là một bài lấy từ blog cá nhân nên thực lòng tôi cũng không muốn bình luận làm gì. Tuy nhiên giữa ngày tết vui như thế này đọc thấy mất vui đi một tí.

Tinh thần là không có gì đáng để bình luận. Đây là vì Báo Thanh Niên hỏi nên tôi trả lời thôi.

Trước đây, ông và ĐBQH Hoàng Hữu Phước đã bao giờ trao đổi trực tiếp về những quan điểm khác nhau mà ông Phước nêu trong bài chưa?

Cũng chỉ có một lần trao đổi liên quan đến thảo luận về luật Biểu tình thôi. Còn những việc anh ấy nêu lên, kể ra, đưa ra QH thảo luận thì cũng hay. Nhưng cũng chưa lần nào thấy anh Phước nêu ra cả.

Góc nhìn lịch sử là cách chủ đạo ông dùng để tiếp cận các vấn đề. Từ góc nhìn này, ông đánh giá ra sao về bài viết của ông Hoàng Hữu Phước? Kiến thức lịch sử liệu đã chuẩn xác. Cách đặt vấn đề liệu đã khách quan, khoa học.

Tôi cũng không đánh giá làm gì cả. Tôi thấy không cần thiết phải đánh giá làm gì cả. Vì ngôn ngữ hình như khác nhau nên không thể trao đổi được.

Đây là cái gì chứ không phải phản biện !
Bài viết Dương Trung Quốc – Bốn điều sai năm cũ đăng trên blog được cho là của ĐBQH Hoàng Hữu Phước

Hồi kỳ họp thứ 2, QH khóa 13, tháng 10.2011, ĐB Hoàng Hữu Phước từng khiến dư luận “nổi sóng” vì quan điểm về luật Biểu tình (không nên bàn luật Biểu tình trong chương trình nghị sự), nay trong bài viết bàn về “tứ đại ngu” của ông, ĐB Phước lại một lần nữa nhắc lại chuyện này. Thực chất việc này là thế nào?

Quy định về biểu tình đã có sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh cuối năm 1945 rồi.  Nó đã được thể hiện trong Hiến pháp đầu tiên rồi trong khái niệm tự do hội họp. Đặc biệt, Hiến pháp năm 1959 có hẳn một điều luật về biểu tình rồi. Và như chúng ta đã biết, ngay tại cuối kỳ họp năm 2011 đó thì Thủ tướng cũng tán thành nên có luật Biểu tình. Nên tôi thấy chẳng có gì phải bình luận về cách đặt vấn đề của ĐB Phước.

Ở một diễn đàn bình đẳng như QH thì việc các ĐB có quan điểm, chính kiến khác nhau phải được xem là rất bình thường. Ông nhận xét gì về cách “phản biện” như của ĐB Phước?

Tôi nghĩ đây chẳng thể gọi là phản biện. Đây là cái gì chứ không phải phản biện. Dẫu sao thì anh Phước cũng đang là ĐBQH của TP.HCM, một thành phố có nhiều trí thức lớn. Nên tôi thấy chuyện này để bà con cử tri phát biểu ý kiến bình luận thì hay hơn. Cứ để đồng bào TP.HCM suy nghĩ về người ĐB của mình thôi.

Cấm các ĐBQH xúc phạm, thóa mạ lẫn nhauTrao đổi với Thanh Niên chiều 15.2, Phó chủ tịch QH Uông Chu Lưu cho biết ông chưa có điều kiện tìm hiểu rõ thực hư sự việc ĐBQH Hoàng Hữu Phước viết trên blog cá nhân về ĐB Dương Trung Quốc, song theo quan điểm của ông Lưu, việc ĐBQH trao đổi mà lại có tính chất mạt sát nhau, xúc phạm nhau là hoàn toàn không nên. “Anh có thể phát biểu chính kiến quan điểm của anh với những lập luận, lý lẽ thuyết phục, có văn hóa, xây dựng nhưng không thể thóa mạ, xúc phạm nhau”, Phó chủ tịch QH nói.Ông đồng thời cho biết, trong các nội quy của kỳ họp của QH, quy chế về hoạt động của ĐBQH cũng đều cấm các ĐBQH xúc phạm, thóa mạ lẫn nhau, không chỉ trong kỳ họp mà cả hoạt động của ĐB giữa hai kỳ họp. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có quy định chế tài xử lý hành vi này.Bảo Cầm

Trinh Nguyễn
(thực hiện)