Tag Archive: Trên


(Chinhphu.vn) – Những ngày qua, dư luận bất bình trước việc một số trang mạng đã tường thuật trực tiếp lời bị cáo Nguyễn Đức Kiên (còn được gọi là bầu Kiên) trước tòa như một diễn giả nổi tiếng. Bình luận về điều này, luật sư Trần Văn Đức, Đoàn Luật sư Hà Nội cho rằng, những trang mạng như vậy đang gián tiếp ủng hộ cho các sai phạm của bầu Kiên, làm tù mù, lẫn lộn trắng đen trong dư luận.
Nếu không có hình ảnh các cảnh sát giữ trật tự phiên tòa, người ta tưởng bầu Kiên đang trên sân bóng

Báo Thanh tra, cơ quan của Thanh tra Chính phủ, có bài viết trên, khi vừa đăng lên, đã được nhiều báo dẫn lại. Theo nội dung bài báo, dù tòa chưa tuyên án nhưng diễn biến phiên tòa những ngày vừa qua được nhân dân theo dõi tường thuật trực tiếp như một trận bóng đá trên truyền hình và bầu Kiên là ngôi sao đang thỏa thích được diễn trên sân cỏ; có đôi lúc bị cáo Kiên được phát biểu như một chính trị gia được một số trang mạng tường thuật nguyên trạng bài phát biểu hoặc tường thuật thông qua clip ghi lời bị cáo Kiên phát biểu. Tiếp tục đọc

Advertisements
– Những hình thức như đổi tên không giới hạn, vẽ chibi miễn phí, hay là một hình thức quảng cáo nào đó tương tự,… đều là những trò lừa đảo hiện nay. Nếu bạn không cảnh giác, bạn sẽ gặp rất nhiều phiền toái nếu bị “sập bẫy” vào những trò này.

 

Bạn đang sử dụng facebook, bỗng nhiên bạn không hiểu từ đâu mà nhiều fanpage lạ hoắc, nhiều người lạ xuất hiện trên trang New Feed của bạn. Vậy đâu là nguyên nhân? Và giải quyết như thế nào?

Mấy anh em mình tuy “bô lão” cũ kỹ, nhưng cùng dàn hàng phi tàu Khựa (màu trắng), khiến chúng chả đi đâu được

Đi biển với lính Hải quân, ai mới lần đầu cũng lắc đầu quầy quậy, khi thấy phần lớn những tàu được gọi là “tàu chiến đấu” mang số hiệu HQ cũ kỹ, chậm chạp và trang bị đơn sơ đến thảm hại, với vài khẩu pháo phòng không 12ly7, cao hơn nữa là khẩu 14ly5 trùm bạt im ỉm trên mũi và đuôi tàu.

Thế nhưng, đi nhiều mới vỡ lẽ “tưởng vậy nhưng không phải vậy”: Những con tàu tưởng như sắp chuyển công tác lên… Gang thép Thái Nguyên ấy, thường xuyên được gia cố, nâng cấp mũi – vỏ rất chắc chắn và ngoài đảm đương nhiệm vụ vận chuyển, trực đảo – nhà giàn, còn phải làm nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, cần thiết là chiến đầu với những tàu hiện đại của Tàu khựa, cứ rình rình sơ hở là phi vào lãnh hải ta.

Dĩ nhiên, từ “chiến đấu” dùng trong trường hợp này, giai đoạn vừa qua – hiện nay, chỉ dừng ở việc vây ép, đâm va hoặc chắn đường, không cho chúng xâm phạm hải phận, bắt nạt những tàu dân sự khác…

Còn nếu xảy ra chiến đấu thực sự, những “bô lão” này khó có thể chống chọi với tên lửa, pháo hạm, ngư lôi của tàu địch, mà phải cần đến những “thanh niên mới lớn” Đinh Tiên Hoàng, Lý Thái Tổ…

Đấy là giả dụ thế thôi, chứ hiện tại thì những chuyện đâm va, vây ép giữa ta và địch, xảy ra như cơm bữa và chúng, hình như cũng… xót của, thấy ta hùng hục lao vào, phi bình bịch vào thân tàu cảnh quất trắng muốt, vỏ sắt nhẹ hều, lên chỉ vài cú đâm, là chán hẳn, chạy mất dép. Thế mới thấy “thô sơ thắng hiện đại” là thế nào.

Anh em Hải quân công tác trên những tàu “bô lão” này đã quá quen thuộc với những chiến thuật vây ép. Đơn cử như húc tàu. Chiến thuật này được dùng khi tàu đối phương lớn hơn tàu mình, vị trí húc thì thường ở 1/3 thân tàu về phía mũi, nếu muốn ép tàu đối phương chuyển hướng.

Biện pháp đâm ngang thân là cách húc quyết liệt nhất, ít dùng.

Một chiến thuật khác là chèn mạn và chỉ áp dụng khi công suất máy tàu ta mạnh hơn, phải biết chọn góc tiếp cận để ép tàu đối phương bẻ lái theo hướng ta muốn. Nếu dùng biên đội tàu thì thường là ép cả lái và mũi.

Đặc biệt, trên các tàu thường xuyên đâm, húc thì ở các vị trí phải làm việc trên mặt boong, đều có dây an toàn, đệm vải bạt để chiến sĩ đeo, tránh rơi xuống biển, hoặc bị ngã ra khỏi vị trí công tác quá xa…

Nghe chuyện và chứng kiến cùng anh em Hải quân, mới thấm thía: Việc bảo vệ chủ quyền trên biển, có những chuyện không thể ngờ được, ngặt 1 nỗi cả ta và đối phương đều tiết chế, không làm rùm beng.

Thế nhưng, có điều phải khẳng định là những hình ảnh, video clip mà cư dân mạng mới được chứng kiến vừa rồi, không phải là cái gọi là “sắp xếp, dàn dựng, diễn trò” như nhiều người lầm tưởng. Đừng nói vậy mà anh em bộ đội Hải quân làm nhiệm vụ trên các tàu “bô lão” buồn, tủi.

Chả ở đâu vất vả, khó khăn, thiếu thốn như sống trên những con tàu ấy.

Chả ở đâu, những người lính lại dũng cảm, can trường và chấp nhận hy sinh, như sống – làm nhiệm vụ trên những con tàu ấy. Đụng độ trên biển, không hẳn là nổ súng bắn nhau, mà còn là những biện pháp – chiến thuật mềm dẻo, cương quyết nhưng cũng rất gan góc, nguy hiểm để ngăn chặn đối phương có sức mạnh quân sự hiện đại, đủ đầy hơn ta nhiều lần.

Và từ đó mới càng thấm thía lời dạy của Ông Cụ từ những năm xa tít tắp: “Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm. Nếu không có súng – gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc…”.

Đầu tuần, mình kể lại 1 cuộc đụng độ trên biển Đông giữa tàu của Hải quân ta và tàu Ngư chính của Trung Quốc. Hình ảnh do phía Trung Quốc ghi lại, từ trên tàu và trực thăng, của chính họ.

Cuộc đụng độ này, diễn ra tại tọa độ XYZ nào đấy. Tại thời điểm ABC nào đấy, mà bạn nào thắc mắc, hỏi hộ mình với. Đơn giản là mình chả biết tiếng Tàu, lại chả có vinh dự công tác trên những con tàu tuy “bô lão”, nhưng rất can trường, dũng cảm ấy và dĩ nhiên, mình cũng rất… tò mò muốn biết: Sự thể ra răng?. Hi! Hi!..

Mai Thanh Hải [link]

971281_451630561592023_2071654550_n

2 "bô lão" cùng ép lòi rom tàu Khựa

2 “bô lão” cùng ép lòi rom tàu Khựa

983825_451630598258686_1306296577_n

Tàu ta (nâu sẫm) tuy 1 nhưng dũng cảm chọi với 2 thằng tàu Khựa (màu trắng)

Tàu ta (nâu sẫm) tuy 1 nhưng dũng cảm chọi với 2 thằng tàu Khựa (màu trắng)

Chắn ngay trước mũi, khiến Khựa không nhúc nhích nổi (hình do trực thăng Khựa ghi lại, từ trên cao)

Chắn ngay trước mũi, khiến Khựa không nhúc nhích nổi (hình do trực thăng Khựa ghi lại, từ trên cao)

270507_451630618258684_1742592281_n 943163_451630624925350_574207815_n

Tàu ta (Đông Nam 29, Quân chủng Hải quân) chắn trước mũi, không cho tàu Khựa xâm phạm sâu vào lãnh hải

Tàu ta (Đông Nam 29, Quân chủng Hải quân) chắn trước mũi, không cho tàu Khựa xâm phạm sâu vào lãnh hải

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979

Đúng vào ngày này 34 năm trước (17.2.1979), Trung Quốc bất ngờ tung hơn 60 vạn quân nổ súng xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía bắc, nhưng đã phải rút quân sau hơn một tháng gặp sự kháng cự mãnh liệt của quân và dân ta, chịu nhiều tổn thất nặng nề.

Tuy vậy cuộc chiến tranh xâm lược này cũng mở màn cho cuộc xung đột vũ trang tại biên giới giữa VN và Trung Quốc (TQ) kéo dài suốt 10 năm sau đó. Theo thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược – Bộ Công an, với độ lùi về thời gian, việc nhìn nhận lại cuộc chiến tranh này là hoàn toàn cần thiết.

 

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Thiếu tướng Lê Văn Cương

 

Kể từ sau khi VN và TQ bình thường hóa quan hệ (1991), hai bên dường như đều không muốn nhắc lại cuộc chiến này. Từ hơn 30 năm qua, cuộc chiến chống quân xâm lược Trung Quốc gần như không được nhắc tới. Theo ông tại sao cuộc chiến lại bị rơi vào lãng quên như vậy?

Để trả lời câu hỏi này có lẽ cần cả một hội thảo khoa học. Tôi chỉ xin lưu ý như sau, vào những năm kỷ niệm chẵn 10, 15… hay gần đây nhất là 30 năm sau cuộc chiến tranh chống TQ xâm lược (2009), báo chí, truyền hình của VN gần như không đưa tin gì về sự kiện này. Đây là một sự thiếu sót lớn trên góc độ Nhà nước. Hơn thế nữa, đó là một sự xúc phạm đến linh hồn của những đồng bào, chiến sĩ đã bỏ mình để bảo vệ Tổ quốc trong cuộc chiến tháng 2.1979 và gần mười năm sau đó. Họ nằm dưới mộ có yên không? Gia đình vợ con bạn bè và những người thân thích của họ sẽ nghĩ gì về chuyện này?  Đã có ý kiến cho rằng nhắc đến những chuyện này cũng có nghĩa là kích động chủ nghĩa dân tộc. Tôi có thể khẳng định rằng nói như vậy là ngụy biện.

Trong khi chúng ta im lặng thì những dịp đó chúng tôi đã thống kê hệ thống phát thanh, truyền hình báo chí của TQ tung ra trung bình từ 600-800 tin, bài với những cái tít gần như có nội dung giống nhau về cái mà họ gọi là “cuộc chiến tranh đánh trả tự vệ trước VN”. Có thông tin cho rằng hiện tại có tới trên 90% người dân TQ vẫn quan niệm rằng năm 1979 Quân đội VN đã vượt biên giới sang tấn công TQ và bắt buộc TQ phải tự vệ đánh trả. Từ hàng chục năm nay, hệ thống tuyên truyền của TQ đã nhồi nhét vào đầu người dân TQ rằng cuộc chiến 1979 chỉ là cuộc phản công trước sự xâm lược của VN.

Theo tôi nghĩ, trong tuyên truyền đối nội và đối ngoại, cả ở kênh nhà nước, nhân dân và trên truyền thông, chúng ta phải làm rõ và góp phần làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ bản chất của cuộc chiến tranh Việt – Trung 1979. Đồng thời góp phần làm cho hơn 1,3 tỉ người TQ biết được sự thật rằng vào ngày đó hơn 60 vạn quân TQ đã vượt biên giới xâm lược VN. Việc chúng ta im lặng hàng chục năm qua, theo tôi là  không đúng. Việc nói ra cũng không liên quan gì chuyện kích động chủ nghĩa dân tộc. Hãy thử so sánh chuyện đó với việc TQ tung ra hàng nghìn bài báo xuyên tạc lịch sử từ hàng chục năm qua.

 

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Bộ đội Việt Nam đánh trả quân Trung Quốc xâm lược tại Lạng Sơn năm 1979

 

Với độ lùi về thời gian, theo ông chúng ta có thể rút ra những điều gì từ cuộc chiến tranh này? Những điều đó có ý nghĩa thế nào trong bối cảnh hiện tại ?

Theo tôi, khoảng thời gian 34 năm đã là khá đủ cho chúng ta nhận thức lại những vấn đề xung quanh cuộc chiến 1979. Thế nhưng đến giờ phút này tôi có cảm giác không phải lúc nào chúng ta cũng có được sự nhận thức thống nhất, nhất quán từ trên xuống dưới.

Vấn đề thứ nhất, phải xác định rõ về mặt khoa học, cuộc chiến 1979 là cuộc chiến tranh chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc. Đây là vấn đề phải nhận thức rõ từ cấp cao nhất. Sự nhận thức ấy cũng phải được thống nhất trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Đây là chuyện không được phép mơ hồ.

Không chỉ nhận thức mà Nhà nước có trách nhiệm đưa câu chuyện này vào sách giáo khoa. Thực tế cho thấy phần lớn học sinh tiểu học, trung học và thậm chí đa số trong 1,4 triệu sinh viên hầu như không biết gì về cuộc chiến tranh này. Nếu để tình trạng này kéo dài, trách nhiệm thuộc về Nhà nước. Chắc chắn chúng ta sẽ không tránh được sự phê phán của thế hệ sau này. Hàng vạn người con ưu tú của chúng ta đã bỏ mình để bảo vệ từng tấc đất biên giới phía bắc của Tổ quốc, tại sao không có một dòng nào nhắc đến họ? Bây giờ đã quá muộn. Nhưng không thể để muộn hơn được. Theo quan điểm của tôi, Nhà nước phải yêu cầu đưa phần này vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Chúng ta không thể mơ hồ được, không thể  lờ đi vấn đề lịch sử này được.

 

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Bệnh viện huyện Trùng Khánh, Cao Bằng bị quân Trung Quốc tàn phá tháng 2.1979 – Ảnh: Tư liệu

 

Tôi đã nhiều lần trao đổi với các học giả nước ngoài và họ đã thắc mắc khá nhiều chuyện tại sao sự kiện chiến tranh chống quân TQ xâm lược năm 1979 lại không được nhắc đến trong các giáo trình lịch sử của VN. Tôi đã phải chống chế với lý do rằng người VN muốn quên đi quá khứ và hướng đến tương lai. Nhiều học giả Hàn Quốc, Nhật Bản đã phản bác tôi vì “Lịch sử là lịch sử. Quá khứ là quá khứ. Tương lai là tương lai”. Họ nói rằng: “Chúng tôi biết người VN rất nhân hậu, muốn hòa hiếu với các dân tộc khác. Nhưng điều này không thể thay thế cho trang sử chống ngoại xâm này được”.

Thứ hai,  trong thế giới hiện đại toàn cầu hóa, các quốc gia đều phụ thuộc lẫn nhau. Không có quốc gia nào hoàn toàn độc lập tuyệt đối. Ngay cả Mỹ nhiều lúc cũng phải nhân nhượng các quốc gia khác. Chúng ta không có quan niệm về độc lập chủ quyền tuyệt đối trong thời đại toàn cầu hóa. Nhưng trong bối cảnh này, phải nhận thức rõ cái gì là trường tồn? Theo tôi có 3 thứ là chủ quyền quốc gia, ý thức dân tộc và lợi ích quốc gia. Ở đây chúng ta phân biệt chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, chủ nghĩa dân tộc nước lớn với lòng yêu nước chân chính, ý thức tự tôn tự hào dân tộc. Hai cái đó khác nhau. Người VN có truyền thống yêu nước, có tinh thần chống ngoại xâm bất khuất, đó là điều cần được phát huy trong 92 triệu người VN trong và ngoài nước.

Chủ quyền quốc gia, ý thức dân tộc và lợi ích quốc gia là những cái “dĩ bất biến”, những cái còn lại là “ứng vạn biến”. Những chuyện “16 chữ”, “bốn tốt” trong quan hệ với TQ là “ứng vạn biến”. Bài học từ cuộc chiến chống xâm lược năm 1979 cho thấy nếu không nhận thức được điều này thì rất nguy hiểm.

Thứ ba, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, tiêu chí để phân biệt người yêu nước hiện nay là anh có bảo vệ lợi ích quốc gia hay không. Trên thế giới này không có bạn bè vĩnh viễn hay kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia mới là vĩnh viễn. Năm nay chúng ta chuẩn bị tổng kết Nghị quyết T.Ư 8 (7.2003) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Tôi thấy có một quan điểm bây giờ vẫn đúng, đó là: “Những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh”. Đồng thời, cũng phải có cách nhìn biện chứng về đối tượng và đối tác: trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong một số đối tác, có thể có mặt khác biệt, mâu thuẫn với lợi ích của ta, cần phải đấu tranh.

 

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Tù binh Trung Quốc bị bắt tại Cao Bằng

 

Nhìn lại từ câu chuyện của 34 năm trước đến những căng thẳng hiện tại trong vấn đề biển Đông, theo ông có thể hy vọng gì ở tương lai trong quan hệ giữa VN và TQ ?

Tạo ra lòng tin, sự hữu nghị chân thật giữa hai nước là con đường tất yếu nhưng đòi hỏi thời gian lâu dài và từ cả hai phía. Đây không phải là điều có thể hy vọng có được trong vài ba năm tới đây. Lịch sử mách bảo chúng ta muốn giữ được hòa bình, ổn định, giữ được độc lập tự chủ thì điều quan trọng nhất là giữ được lòng dân. Trên dưới một lòng, có được sự đoàn kết dân tộc thì chắc chắn không có kẻ xâm lược nào dám dại dột động đến chúng ta cả. Lịch sử VN đã cho thấy những lần mất nước đều bắt đầu từ việc chính quyền mất dân. Năm 179 trước CN An Dương Vương để mất nước là do mất dân. Một ông vua đứng đầu quốc gia mà tin vào kẻ thù thì chuyện mất nước là không thể tránh khỏi. Năm 1406, nhà Hồ mất nước cũng vì đã mất dân. Đến mức độ nhà Minh truy bắt cha con Hồ Quý Ly thì chính những người trong nước đã chỉ điểm cho quân Minh. Năm 1788 Lê Chiêu Thống sang cầu viện Mãn Thanh đưa 20 vạn quân sang giày xéo quê cha đất tổ cũng là ông vua đã mất dân. Đó là bài học muôn đời để bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Ng.Phong
(thực hiện)
nguồn: http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130217/nhin-lai-chien-tranh-bien-gioi-1979.aspx

Đang có một cuộc thay đổi lớn diễn ra trên… những bàn thờ gia tiên của người Việt. Cuộc thay đổi đó phản chiếu một cách tinh tế những cuộc bể dâu đang diễn ra trong đời sống xã hội và đời sống tinh thần của con người.

Thử tìm về ý nghĩa của cái bàn thờ và quan niệm về những đồ thờ trong tâm linh tín ngưỡng Việt Nam ngõ hầu tìm thấy ngọn nguồn câu chuyện.Bàn thờ và đồ thờ

Trong Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới(1) hai tác giả Jean Chevalier và Alain Gheerbrant định nghĩa: bàn thờ (autel): “Một vũ trụ vi mô và một tác nhân của cái thiêng. Tất cả mọi động tác khấn vái, tụng kinh, tất cả mọi đường nét kiến trúc đều quy tụ về đây. Bàn thờ tái tạo trong quy mô thu nhỏ quần thể của thánh đường và của vũ trụ. Đây là chỗ mà cái thiêng tích tụ với mật độ cao nhất. Trên bàn thờ hay bên bàn thờ, người ta làm lễ dâng, lễ cúng, chính cái đó làm nó trở thành thiêng liêng. Cũng vì lẽ ấy nó được cất cao (altum: cao, cao thượng, kỳ vĩ có gốc Latinh là autel – bàn thờ) so với tất cả mọi vật xung quanh. Nó cũng tập hợp trong mình hệ biểu tượng của trung tâm thế giới: nó là tiêu điểm của đường xoắn ốc biểu trưng sự tinh thần hoá từng bước của vũ trụ. Bàn thờ tượng trưng cho địa điểm và khoảnh khắc, nơi một sinh thể trở thành linh thiêng, nơi thực hiện một thao tác thiêng liêng” (trang 58).

Ý nghĩa của cái bàn thờ trong đạo thờ gia tiên của người Việt, cũng mang những đặc điểm biểu tượng cơ bản của một “autel” được thể hiện trong định nghĩa trên. Đối tượng được phụng thờ là ông bà tổ tiên, người đã khuất trong gia đình. Những nghi thức lễ dâng, lễ cúng thể hiện lòng thành đối với những tiền nhân, người thân thuộc đang ở cõi âm.

Nhà văn Toan Ánh giải thích về Quan niệm thờ phụng tổ tiên(2) rằng: “Qua việc thờ phụng tổ tiên, tại Việt Nam, người khuất và người còn sống luôn luôn như có một sự liên lạc mật thiết. Sự thờ cúng chính là môi trường gặp gỡ của thế giới hữu hình và vũ trụ thần linh.

Đối với người Việt Nam, chết chưa phải là chết hẳn, thể xác tuy chết nhưng linh hồn vẫn còn và vẫn hằng lui tới với gia đình. Thể xác tiêu tan nhưng linh hồn bất diệt (…) Tục cũng cho rằng, vong hồn những người đã khuất thường luôn ngự trên bàn thờ để gần gụi con cháu, theo dõi con cháu trong công việc hàng ngày và giúp đỡ con cháu trong những trường hợp cần thiết”.

Ở phần Cầu cúng lễ bái, Toan Ánh nói về quan niệm đồ cúng được đặt trên bàn thờ, ngoài nhang đèn (thật), người ta thể hiện quan niệm về sự thành kính qua việc chọn đồ thờ cúng là hoa quả tươi, mới: “Mỗi khi có mùa hoa quả mới, trước khi mua ăn, con cháu bao giờ cũng nghĩ đến việc mua thắp hương cúng vái các cụ, cũng như một năm hai vụ cơm mới, con cháu cũng đều có sửa lễ cúng vái tổ tiên.

Nếu trong vườn nhà có một cây ăn quả, những quả chín đầu tiên phải được hái thắp hương các cụ” (trang 24, 25, sách đã dẫn).

Điều này cũng trùng khớp với cách diễn giải của tác giả An Nam phong tục sách, cụ Mai Viên Đoàn Triển: “Đồ thờ thì có đèn nến, bình hương, bình hoa, mâm bồng, mâm vuông, mâm tròn, hộp trầu, đài rượu làm bằng đồng hay bằng gỗ sơn”. Và: “Ngày tết phải cúng cáo, ngày giỗ phải cúng cáo, có hoa quả đầu mùa, gạo mới hay việc hiếu, hỷ đều phải cúng cáo. Nhà giàu có thì dùng lễ tam sinh (lợn, trâu, dê) hoặc nhất sinh (một con lợn); lễ nhỏ, làm cỗ bàn, oản quả. Thông thường nhà dùng lễ lớn thì lo cỗ nhất sinh, lễ nhỏ thì sắm một thủ lợn hoặc một con gà, một miếng thịt, nhà nghèo sửa mâm cơm, canh, rau đậu, một con cá, một quả trứng.

Lễ không cứ lớn, nhỏ, chỉ cần rất mực thành tâm”(3).

Trong cuốn Việt Nam phong tục, thì ngoài liệt kê về việc bày biện trên bàn thờ, cụ Phan Kế Bính còn nhấn mạnh tầm quan trọng của những vật dụng để thờ cúng. Trong quan niệm dân gian người Việt, đó là những thứ được “thiêng hoá”, “thánh hoá” dù khó khăn đến mấy cũng không được đem cầm, bán. Cụ Phan viết: “Đồ thờ phụng, càng nhà giàu thì càng trang hoàng nhiều đồ quý, nhà nghèo đến đâu cũng có được một vài cây đèn nến sơn son và một cái bình hương. Ta coi đồ thờ tự là đồ rất kính trọng, không ai dám đem cầm bán bao giờ. Nếu nhà nào dám cầm bán thì ai cũng chê cười”(4)

Chất liệu của biểu tượng thay đổi

Như vậy, qua những dữ liệu trên, cho thấy, trong tín ngưỡng thờ tổ tiên của người Việt, chất liệu, nguồn gốc của đồ thờ cũng đóng vai trò rất quan trọng, không chỉ trong việc đạt đến tính cứu cánh của biểu tượng, sự thành công, hoàn hảo của thực hành nghi thức, mà còn là trung tâm để đánh giá sự thành tâm. Và dường như hương hoa quả, khói nhang, trầm, ánh lửa của ngọn đèn dầu, bấc đã góp phần rất quan trọng làm nên sự hiệu quả của không gian thờ cúng, tạo hiệu ứng về mặt cảm xúc, cảm giác, trực quan cho người thực hành nghi lễ thờ, cúng.

Lửa làm ấm cúng không gian, thanh tẩy, tái sinh là biểu tượng của trời, thần linh. Ngọn lửa đèn, bấc cháy có ngọn bốc lên phía trên, tượng trưng cho sự hướng thượng, nên đó vẫn được xem là nguồn năng lượng thần linh. Khói hương của những nén nhang quyện trong không gian tạo ra hiệu ứng huyền ảo, làm thanh thoát tâm hồn người sống; cũng như thể hiện quan niệm về một “kênh” kết nối trời đất, âm dương, chuyển tiếp tâm tình, lời khấn nguyện của người trần đến với người thiêng, thần thánh được phụng thờ. Hương hoa, tinh dầu của quả xanh là thành quả của bàn tay làm ra, dâng lên tổ tiên tượng trưng lòng thành con cháu, hậu duệ. Vì vậy, qua chất liệu, nguồn gốc những biểu tượng thờ cúng, khảo sát từ phía người thực hành thờ cúng, đã có sự trù định chức năng cộng hưởng tâm lý. Suy cho cùng, thông qua những đồ thờ, là nhang (hương), hoa quả tươi, người dương làm một cuộc chuyển hoá năng lượng để làm một cuộc gặp gỡ xuyên không gian và thời gian, để đối thoại, tâm tình với người âm.

Vậy, bạn có giật mình hay không nếu một hôm, đang lúc lau dọn bàn thờ chuẩn bị đón tết, chợt phát hiện ra, bấy lâu tổ tiên từ lâu sống chung với những đồ thờ đã bị biến đổi về chất liệu: từ thiên nhiên, tự nhiên sang nhựa, điện, từ đồ thật sang… “đồ giả”?

“Chỉ cần rất mực thành tâm”. Nhiều người lấy cái vế sau một câu nói của cụ Mai Viên Đoàn Triển để thoát khỏi những bận tâm. Người khác lại giải thích cho sự “biến đổi chất liệu” trên bằng việc viện dẫn những cái khó cần thích ứng trong đời sống. Có ít nhất ba nguyên do sau:

Một giai đoạn, do chịu hậu quả của sự áp đặt ý thức hệ trong quản lý văn hoá, khiến nhiều người xem thờ cúng, kể cả thờ cúng tổ tiên là gần với tệ dị đoan, duy tâm, hữu thần.

Không gian nhà cửa, nhất là nhà cửa trong bối cảnh đô thị hoá chật chội hơn, sự chuyển đổi từ kiến trúc hài hoà cởi mở với thiên nhiên sang kiến trúc nhà ống diễn ra phổ biến, điều này bất lợi cho việc chăm chút về nhang đèn hoa trái trên những bàn thờ, mọi thứ được quy về tiện dụng. Đồ nhựa, điện đáp ứng được điều đó. Khói nhang bị coi là ngột ngạt, ô nhiễm, lửa đèn bị coi là tiềm tàng khả năng cháy nổ hoả hoạn, hoa quả bị coi lãng phí…

Đời sống công nghiệp, đô thị hoá, nhịp điệu nhanh, vội, nhiều áp lực dẫn đến việc chọn lựa những phương thức thờ cúng mang tính tượng trưng, thiên về trang trí hơn đi sâu vào tín niệm, ý nghĩa truyền thống của biểu tượng, tiết kiệm được thời gian.

Một đĩa quả nhựa được sơn phết màu như thật, lư hương nhựa xi giả đồng, với ba cây nhang điện luôn ở trạng thái “cháy” đỏ, hai cây đèn (hay điện mô phỏng cây nến trái ớt), một đĩa bấc có bộ phận quạt gió cài đặt bên trong làm cho ánh điện đạt đến hiệu ứng “cháy bốc” như đồ thờ thật. Việc còn lại là bật và tắt công tắc khi cần. Những đồ thờ này có thể sử dụng quanh năm, mọi lúc, thích ứng quá tốt với không gian kiến trúc, môi trường sống mới và tinh thần sống mới chú trọng tính công năng, tiện ích.

Mấy ông bà già ở làng quê Việt Nam hôm nay có con cháu đi làm ăn xa, thành đạt, gửi tiền về xây nhà cửa, từ đường… sẽ mở mày mở mặt với xóm giềng hơn nếu lũ nhỏ mỗi lần về thăm quê, biết ý, mua thêm vài “phụ kiện hiện đại” để trưng bày thêm trên bàn thờ. Đồ thờ cúng bằng nhựa, bằng điện không chỉ chiếm lĩnh không gian nơi những bàn thờ gia tiên ở thành phố mà còn đang làm một cuộc đổ bộ mạnh mẽ trên những bàn thờ gia tiên nơi làng quê Việt Nam, nơi đang chịu tác động mạnh mẽ đến mức không kịp phản vệ từ làn sóng đô thị diễn ra nhanh chóng.

Khi tự vấn về lòng thành

Lòng thành chắc không vì vậy mà mất đi đâu cả. Đạo hiếu nơi người Việt, tin rằng vẫn sâu đậm trong tâm thức, được giáo dục cho các đời sau. Nhưng có một thực tế là người ta đang chọn lựa cách thể hiện lòng thành theo khuynh hướng tiện ích. Nhìn từ hệ quy chiếu truyền thống thì việc đó ít nhiều làm mất đi không khí tính “thiêng” mà việc thờ cúng tạo ra. Nhưng biết sao được, cần có cái nhìn cởi mở, thức thời để phù hợp với bối cảnh sống. Chắc tổ tiên chúng ta thì không bao giờ bày tỏ thái độ hay trách cứ cháu con về những chuyện lặt vặt như thế. Song, đôi khi chúng ta không tránh khỏi những cái giật mình thảng thốt khi nghĩ rằng một ngày nào đó, chúng ta cũng sẽ đến thời kỳ bật điện ngồi ngó đồ nhựa. Còn bây giờ thì vẫn phải sống theo thời, rồi biết cách tự trấn an rằng: ý nghĩa cuối cùng của đời sống tâm linh, không còn nằm ở vật chất, mà ở những phút quán tưởng và… tự vấn.

“Chức năng cộng hưởng của biểu tượng càng mạnh khi biểu tượng càng kết hợp tốt hơn với khí hậu tinh thần của một người, một xã hội, một thời đại, một hoàn cảnh” – Jean Chevalier(5) viết.

————————————

Chú thích:

(1) Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới của Jean Chevalier và Alain Gheerbrant (Phạm Vĩnh Cư chủ biên, Nguyễn Xuân Giao, Lưu Huy Khánh, Nguyên Ngọc, Vũ Đình Phòng, Nguyễn Văn Vỹ dịch, NXB Đà Nẵng và Trường Viết văn Nguyễn Du, 2002).

(2) Bộ sách Nếp cũ, cuốn Tín ngưỡng Việt Nam (quyển thượng), NXB Trẻ, 2005.

(3) Thờ gia tiên, An Nam phong tục sách, Mai Viên Đoàn Triển, NXB Hà Nội, 2008.

(4) Việt Nam phong tục, Phan Kế Bính, NXB Văn hoá thông tin, 2005.

(5) Sách đã dẫn.

NGUYỄN VĨNH NGUYÊN (SÀI GÒN TIẾP THỊ) 

Cuộc cách mạng trên bàn thờ gia tiên của người Việt

Ba “nữ lưu”: Phạm Thanh Nghiêm ,Tạ Phong Tần ,Huỳnh Thục Vy

Vào thập niên 90 của thế kỷ trước cộng đồng người Việt định cư tại Hoa Kỳ đã chứng kiến sự ra đời của nhiều tổ chức hội, đoàn được núp dưới chiêu bài chống cộng , có tổ chức tập hợp thành lực lượng vũ trang lén lút về Việt Nam khủng bố , có tổ chức chỉ có một mạng cũng đứng ra hô hào “giải phóng quê hương” ? cái đích cuối cùng của các tổ chức cá nhân này là móc hầu bao của những người nhẹ dạ cả tin trong cộng đồng. Thật thế ! “nghề làm chính trị” quá dễ ăn, đã có rất nhiều băng, đảng, cá nhân giàu lên từ nghề này. Nó giống như nấm độc mọc rộ lên sau cơn mưa nhưng cũng tàn lụi ngay sau đó , nhưng cũng có những băng đảng, tổ chức được che đậy một cách mưu mô xảo quyệt hòng che mắt mọi người với những danh xưng mang tính “thời thượng” tiêu biểu là tổ chức mang danh cái được gọi là “Mạng lưới nhân quyền Việt nam” (tên tiếng Anh là Vietnam Human Rights Network – viết tắt là VHRN). 

Tháng 11-1997, một nhóm người Việt trên đất Mỹ do Nguyễn Thanh Trang, Lê Minh Nguyên, Ngô Văn Hiếu, Nguyễn Ngọc Quỳnh, Lâm Thu Vân, Nguyễn Thị Hồng Liên, Nguyễn Quốc Khải, Đoàn Việt Trung v.v… cầm đầu đã tổ chức “hội nghị quốc tế” tại thành phố Santa Ana, thuộc quận Orange County bang California, Mỹ công bố thành lập “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam”.Từ sau sự kiện khủng bố  ngày 11/9/2001”, tại Mỹ, tổ chức này nhận thấy phương thức vũ trang, khủng bố, bạo loạn lật đổ mà các nhóm chống cộng lưu vong người Việt, như “Việt Tân”, “Chính phủ Việt Nam tự do”, “Dân chủ nhân dân”, “Nhân dân hành động” v.v… sử dụng chống phá Nhà nước Việt Nam đã thất bại thảm hại khi bị lực lượng an ninh Việt Nam tiêu diệt từ khi đặt chân về nước và bị dư luận quốc tế lên án, nên cái gọi là “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” đã “điều chỉnh” phương thức hoạt động nếu không trước sau cũng nối gót các tổ chức “đàn anh”. Chiêu bài “dân chủ, nhân quyền” đang là mốt thịnh hành trên thế giới. Để lừa bịp dư luận tại “đại hội ”, số đối tượng cầm đầu đề ra mục tiêu của VHRN là nhằm “gia tăng có hiệu quả các hoạt động dân chủ, nhân quyền trên thế giới để thúc đẩy tiến trình cải tiến dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam.? Sau khi ra đời, VHRN tìm mọi cách để phô trương, đánh bóng hòng gây thanh thế trong cộng đồng cũng là chiêu bài đè các đối thủ khác. Một trong những cách đó là mập mờ đánh lận con đen về danh xưng nhằm tạo cho cộng đồng người Việt hải ngoại tin rằng VNHR là một tổ chức “ngoại vi” của HRW (Human Right Watch – Tổ chức quan sát nhân quyền Liên Hiệp Quốc). Bản chất nô lệ đã ăn sâu vào não bộ của hạng người này, làm bất cứ chuyện gì phải kéo theo bằng được cá nhân hoặc tổ chức ngoại quốc vào để tăng thêm phần “tự tin”. Thật đúng với câu “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” VHRN đồng thời bắt tay với những nhóm người Việt chống cộng cực đoan khác như : “Báo tự do ngôn luận”, “Ủy ban tự do tôn giáo cho Việt Nam”, “Tiếng dân kêu cứu”, “Diễn đàn dân chủ”, “Tập hợp Thanh niên dân chủ” “nhóm Thông luận” ,“Mạng ý kiến”, “Thông điệp xanh”, “Cánh én”, “Đàn chim Việt”, “Mạng lưới tuổi trẻ Việt Nam lên đường”, “Liên minh Việt Nam tự do” (tổ chức ngoại vi của tổ chức khủng bố “Việt Tân”), “Phong trào thống nhất dân tộc và xây dựng dân chủ” ,”Ủy ban cứu người vượt biển”, “Ủy ban bảo vệ người lao động Việt Nam”, “Diễn đàn dân chủ liên minh Việt Nam”..vv…Qua hành động này, bộ mặt thật của “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” đã lộ rõ tổ chức này mục đích lập ra là để chống phá Việt Nam. Điểm mặt “nhân sự” gồm những kẻ đã có thâm niên chống phá xuyên tạc, v khống về Việt Nam như: Nguyễn Thanh Trang, Nguyễn Tường Bách, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Minh Cần, Đoàn Viết Hoạt, Nguyễn Hữu Lễ, Phạm Ngọc Lũy, Nguyễn Quốc Quân, Nguyễn Chí Thiện. Ngoài ra, VHRN còn móc nối quan hệ với một số tổ chức phi chính phủ đã có những hoạt động vu cáo, xuyên tạc chống phá Nhà nước Việt Nam về “dân chủ, nhân quyền” – như: tổ chức “Ân xá quốc tế” (Amnesty International – AI), “Quan sát nhân quyền” (Human Rights Watch – HRW), “Nhà báo không biên giới” (Reporters Sans Frontieres – RSF), “Ủy ban bảo vệ ký giả” (Committee to Protect Journalists – CPJ)…
Từ khi thành lập đến nay, VHRN đã ra “Bản tin nhân quyền” phối hợp với các tổ chức chống cộng phản động lưu vong người Việt khác tổ chức “Ngày nhân quyền quốc tế” hàng năm tập hợp “những tiếng nói quốc nội đòi nhân quyền” để phổ biến ở Việt Nam và ở nước ngoài trao “giải thưởng nhân quyền” hàng năm hoặc trợ giúp về tài chính cho các “nhà hoạt động “xuất sắc” về dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam bị ngược đãi”….? một trong những hành động bỉ ổi nhất của tổ chức VHRN là ngày 17/8/2009 đã gửi “thư thỉnh cầu” Tổng thống Mỹ Obama chỉ thị cho Bộ Ngoại giao đưa Việt Nam trở lại danh sách CPC” với luận điệu xuyên tạc “Chính phủ Việt Nam vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo, gia tăng kìm kẹp báo chí, cản trở tự do thông tin và trấn áp hàng chục người bất đồng chính kiến gây bất lợi cho cuộc đấu tranh cho nhân quyền và dân chủ ở Việt Nam…”? Đây là mưu đồ đen tối với cái đích chúng nhằm đến là để khuếch trương thanh thế tổ chức nhằn đánh động cho chính quyền Mỹ biết có sự “hiện diện” của tổ chức này.
Đến nay, VHRN đã qua 10 kỳ “đại hội”. “Đại hội” gần đây, bộ sậu cao nhất của VHRN là “Ban phối hợp”, được “đại hội” bầu ra với nhiệm kỳ 2 năm. Nhiệm kỳ 2011-2013 gồm có Nguyễn bá Tùng- Nguyễn thanh Trang-Lê minh Nguyên- lâm thu vân-Nguyễn thị hồng Liên-Nguyễn mậu Trinh-Đoàn việt Trung- Đoàn thanh Liêm- Nguyễn kim Bình và ban “cố vấn” gồm có – Nguyễn Tường Bách, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Minh Cần, Trần Thanh Hiệp,  Đoàn Viết Hoạt, Bà Jackie Bông Wright, Nguyễn Hữu Lễ, Phạm Ngọc Lũy, Nguyễn Quốc Quân, Nguyễn Hữu Thống, Nguyễn Văn Trần, Lâm Lễ Trinh. VHRN đã ra cái gọi là “nghị quyết” kêu gọi Việt Nam trả tự do cho các “nhà đấu tranh dân chủ, nhân quyền đang bị giam cầm”, gia tăng các hoạt động phối hợp hành động hỗ trợ cho cuộc đấu tranh “dân chủ, nhân quyền” ở Việt Nam, tăng giá trị “giải thưởng nhân quyền” hàng năm lên vài ngàn đôla Mỹ để “khích lệ” và “hỗ trợ kinh phí” cho các đối tượng phá rối trong nước.
Từ 2002 đến nay, “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam” trao “giải thưởng nhân quyền” theo kiểu “xếp hàng” mà bà con người Việt tại Hoa Kỳ gọi là “giải nhận tiền”, lần lượt trao cho nhiều phần tử chống đối,hô hào lật đổ chính quyền ở Việt Nam như: Thích Quảng Độ, Nguyễn Văn Lý, Phạm Hồng Sơn, Phạm Quế Dương, Nguyễn Đan Quế, Phan Văn Lợi, Đỗ Nam Hải, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Trần Khải Thanh Thủy, Đoàn Huy Chương, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Khắc Toàn, Trần Anh Kim, Đỗ Minh Hạnh, Hoàng Minh Chính…Ngày 3-11-2012, VHRN ra thông cáo báo chí trao giải thưởng nhân quyền Việt Nam 2012 cho ba “nữ lưu” ở quốc nội….Giải thưởng nhân quyền Việt Nam trao hàng năm cho những kẻ mù quáng có “thành tích” theo tiêu chí của VHRN đề ra là “chống đối, xuyên tạc, vu khống, kích động bạo loạn, bôi nhọ chính quyền Việt Nam” mỗi kẻ được trao giải sẽ được 3.000 đôla Mỹ. Năm 2012, VHRN loan tin về lễ trao giải nhân quyền Việt Nam diễn ra tại thành phố Montreal, Canada ngày 9-12-2012.
Ba “nữ lưu” đó là: Phạm Thanh Nghiêm (37 tuổi, quê Hải Phòng), Tạ Phong Tần (44 tuổi, quê Bạc Liêu) và Huỳnh Thục Vy (27 tuổi, quê Quảng Nam) luôn được các “mõ làng” như VOA,BBC,RFA,RFI…và các trang mạng điện tử tiếng Việt của các nhóm phản động lưu vong người Việt ở Mỹ, Canada đánh bóng,bơm, thổi, tâng bốc do dám “đối đầu” chống chính quyền Việt Nam? Tạ Phong Tần , Phạm Thanh Nghiêm,Huỳnh Thục Vy đều là những con rối để cho các tổ chức chống Việt Nam lợi dụng biến thành kẻ phản phúc đối với dân tộc, những kẻ này được dựng lên như”bù nhìn canh dưa” trên mảnh đất “dân chủ, nhân quyền” cho kẻ khác như VHRN trục lợi . Phạm Thanh Nghiêm và Tạ Phong Tần đều bị tòa kết tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Tạ Phong Tần vừa bị Tòa án nhân dân TP.Hồ Chí Minh kết án 10 năm tù hôm 24-9-2012. Phạm Thanh Nghiêm bị Tòa án nhân dân TP.Hải Phòng kết án bốn năm tù ngày 21-1-2009 và đã chấp hành xong án phạt tù. Huỳnh Thục Vy được biết đến với “công trạng” chống và bôi nhọ chính quyền trên mạng Internet và kích động biểu tình ở TP.Hồ Chí Minh. Huỳnh Thục Vy đã nhiều lần bị cơ quan bảo vệ pháp luật triệu tập, tạm giữ.
Ta hãy nghe ông trưởng “Ban Phối Hợp MLNQVN”  Nguyễn Bá Tùng  Trả lời phỏng vấn “mõ làng RFA ngày 4 -11-2012 : “vấn đề dùng nhân quyền như là sức mạnh, áp lực trong vấn đề ngoại giao là khó khăn đối với các chính phủ. hiện nay có ít chính quyền xem vấn đề nhân quyền như là sách lược chính của vấn đề ngoại giao ,do đó chúng tôi ‘quay đến’ với những tổ chức phi chính phủ như Human Rights Watch, Tổ chức Ân Xá Quốc Tế… Cho đến nay Mạng Lưới Nhân quyền Việt Nam đã thiết lập những mối liên lạc rất chặt chẽ với những tổ chức đó”. Như vậy cũng đủ cho chúng ta thấy rằng VHRN chỉ là loại “theo đóm ăn tàn” dựa hơi, hùa theo kiểu “té nước theo mưa” chứ hoàn toàn không phải là một tổ chức độc lập phản ảnh đúng những gì về Việt Nam về “dân chủ, nhân quyền”. Còn khi nói về “giải nhận tiền” mà VHRN chi ra cho các cá nhân “đoạt giải” thì ông Nguyễn Bá Tùng nói: “những gia đình nhận được giải họ ‘lên tinh thần’”,Và đối với những người khác thấy đó là ‘an ủi’ cho những nhà đấu tranh “?. Vậy là những kẻ được VHRN “tôn vinh” chỉ là những kẻ vì một chút vật chất nhỏ bé mà đã đi ngược lại lợi ích của dân tộc chứ làm gì có lý tưởng cống hiến dám hy sinh cả cuộc đời mình cho lợi ích dân tộc, có tiền thì “lên tinh thần” không có tiền thì “xuống tinh thần”? thật đúng là những kẻ mù quáng, hạ đẳng về nhân cách . Còn nhận xét của bà con cộng đồng người Việt ở hải ngoại thì đây hành động của những kẻ “nối giáo cho giặc”,”rước voi về dày mả tổ” của những kẻ chống cộng cực đoan chống lại quê hương, đất nước một cách mù quáng . Việc VHRN lợi dụng và khai thác chiêu bài “bảo vệ nhân quyền” thông qua trao “giải thưởng nhân quyền Việt Nam” cho những kẻ chống đối, gây rối ở trong nước chỉ là màn hài kịch chính trị vụng về của những kẻ trong cái tổ chức MLNQVN ở hải ngoại. Một điều chắc chắn rằng: giống như số phận của các nhóm phản động cực đoan người Việt khác ở hải ngoại,với chiêu bài chống phá Việt Nam về “dân chủ, nhân quyền” của tổ chức VHRN sẽ thật bại thảm hại khi mà chân tướng của họ bị bóc trần với kiểu kiếm tiền “nhận mười, nhả một” trơ trẽn này đã trở nên lỗi thời và không thể lừa mị được bà con trong cộng đồng người Việt chân chính ở hải ngoại.
AMARI TX
Hoa Kỳ 18-12-2012

 Nhà báo, chủ báo bị chụp mũ, vu khống, sỉ nhục, bị đánh đập dã man hoặc thủ tiêu, ám sát. Tòa soạn báo bị côn đồ khủng bố, đốt cháy, bao vây gây náo loạn cả năm trời. Nhiều người bị ngăn cấm đọc báo, nghe đài… Đây là thực trạng nhức nhối, kéo dài suốt 37 năm qua, là “khổ nạn” của báo chí Việt trên đất Mỹ. Phan Nhật Nam – một cây bút chống cộng khét tiếng từ trước và sau năm 1975, phải cay đắng thốt lên: “Những người làm văn, làm báo ở đây (Mỹ) đang phải chịu đựng một áp lực tồi tệ”… (Phan Nhật Nam trả lời Lệ Hằng – đã đăng trên nhiều trang web). Nhà văn Nhật Tiến thì than thở: “Không có đủ tự do cho những người cầm bút ở hải ngoại…” (trích từ “Sống và viết trên đất Mỹ” – Thế Uyên tháng 4-1998, đã đăng trên “Tiền vệ”). Tại sao trên xứ sở tự do như Hoa Kỳ lại có chuyện đàn áp báo chí khốc liệt như vậy?

Kỳ 1: VÀI NÉT LỊCH SỬ BÁO VIỆT TRÊN ĐẤT MỸ

Ngày 30-4-1975, kết thúc sự tồn tại của chính thể Việt Nam cộng hòa (VNCH). Hai ngày sau, tại đảo Guam, tờ báo đầu tiên của người Việt tại Mỹ ra đời với tên gọi Chân trời mới. Tại thời điểm đó, trên đảo Guam có hơn 100 ngàn người Việt (gồm binh lính, sĩ quan, công chức chế độ VNCH vừa sụp đổ) được máy bay, tàu chiến bốc ra đang chờ sang Mỹ định cư.

Ồ ẠT RA ĐỜI RỒI… CHẾT YỂU!

Tờ Chân trời mới mỗi tuần ra năm số, mỗi số phát hành từ 5 – 10 ngàn bản. Đến cuối tháng 10-1975, tờ báo này cũng đóng cửa theo trại tạm cư Guam (theo BBC ra ngày 18-4-2005).

Tiếp đó, trong cộng đồng người Việt di tản trên đất Mỹ ra đời thêm một số tờ báo như: Đất mới (7-1975), Đất lành (8-1975), Văn nghệ tiền phong (11-1975), Tin yêu (2-1976), Việt báo (7-1976)… Tổng cộng trong hai năm 1975 – 1976 có tới 45 tờ báo Việt ra đời.

Những năm sau đó, cùng với làn sóng người Việt ồ ạt nhập cư vào Mỹ, báo chí (bao gồm báo in, truyền hình, truyền thanh và Internet) tiếng Việt càng nảy nở nhộn nhịp. Đến nay – 37 năm hình thành cộng đồng Việt tại Mỹ, đã có hàng trăm cơ sở báo chí ra đời hoặc… biến mất. Nhiều tờ báo khai trương ồn ào, phát hành được… một số rồi “tắt”. Như tờ Tin Văn của Hoàng Dược Sư ra một số duy nhất vào tháng  9-1975 với 15.000 bản in, sau đó… hết vốn, đóng cửa. Tờ Quê Hương của Du Tử Lê cũng đoản mệnh sau khi số thứ hai được phát hành. Có tờ như KBC Hải ngoại chết đi sống lại không biết bao nhiêu lần và mỗi lần “tái sinh” lại có một chủ mới…

Sở dĩ có tình trạng lạ lùng kể trên là vì ở Mỹ muốn ra một tờ báo rất dễ, dễ đến mức ai cũng có thể là chủ báo, nhà báo. Có người ví von: “Làm báo ở Mỹ dễ hơn lái xe. Bởi lái xe còn đòi hỏi bằng cấp, làm báo chẳng cần bằng cấp…”. Cũng có những người Việt tốt nghiệp các khoa, trường đào tạo báo chí của Mỹ nhưng hầu hết không tham gia làm báo Việt bởi thu nhập thấp và tương lai bấp bênh. Họ làm việc cho các cơ quan truyền thông của Mỹ. Có những tờ báo chỉ một người làm, “công nghệ” chính là cắt, dán. Cứ lấy tin báo khác đưa sang báo của mình, chẳng cần tính đến bản quyền. Báo loại này chỉ sống nhờ quảng cáo. Báo in xong, đem đi cho là chính. Trên trang web BBC tiếng Việt ngày 22-7-2007 đăng ý kiến của một độc giả người Việt ở Mỹ: “Ở Cali quơ tay là có hàng chục tờ báo (tiếng Việt) rơi rớt trong các tiệm phở, ngõ ngách các khu chợ, siêu thị. Chục tờ như một toàn nhai đi nhai lại, copy trên mạng, kể cả các “tin Việt Nam” đều từ các báo điện tử Việt Nam mà ra… Đa số “báo chợ” không có một phóng viên, chỉ có vài người lên mạng “sao y bản chính”. Nhà báo kỳ cựu Sơn Điền – Nguyễn Viết Khánh từng viết về một kỷ niệm buồn với báo Việt ở Mỹ: “Tình cờ ra chợ, thấy chồng báo để dưới đất cho thiên hạ lượm. Những tờ báo trang trọng đẹp đẽ, trong đó có biết bao tâm tư trí não đã gửi gắm thành văn bị chà đạp bởi bước chân vô tình của khách qua đường…”. Nhà báo Nguyễn Ngọc Bích (Giám đốc chương trình Việt ngữ đài CATD) trong bài “Người Việt hải ngoại và công tác truyền thông hải ngoại”, cho biết: “Báo Việt ngữ ở hải ngoại phần lớn (95 – 98%) là báo của một gia đình. Vợ chồng với đôi ba người thân phụ giúp… Các tin có thể viết dông dài, văn bất thành cú mà vẫn được đăng vì tờ báo có nhiều chỗ trống cần trám hoặc vì là chỗ quen biết… Đây là cách làm báo tiểu công nghệ”…

Ra một tờ báo quá dễ như vậy nên báo Việt ở Mỹ nhiều đến mức không đếm xuể. Cây bút chống cộng Phan Nhật Nam trong lần trả lời phỏng vấn Lệ Hằng, đã mỉa mai: “Chỉ riêng vùng Orange County (Nam California – USA) đã có hơn 200 hội đoàn, số lượng báo cũng xấp xỉ như nhu cầu hội đoàn này…”. Trong bài nói chuyện tại trụ sở cộng đồng Dallas ngày 12-11-2005, nhà báo Phan Thanh Tâm cho biết: “Có người ví trên trời có bao nhiêu ngôi sao thì quận Cam (nơi có đông người Việt định cư) có bấy nhiêu tờ báo. Tờ này chết, tờ khác phanh ngực tiến lên…”. Trong bài “Người Việt hải ngoại và công tác truyền thông đại chúng”, nhà báo Nguyễn Ngọc Bích có cùng quan điểm: “Riêng vùng tôi ở, Washington D.C và ngoại ô Virginia và Maryland, có chừng 60 ngàn người Việt Nam, mà có đến hơn mười tờ tuần báo (Việt ngữ) ra hàng chục năm nay. Nếu mỗi tờ in 3.000 bản mỗi tuần, thì ta cũng có con số 30 nghìn bản các loại một tuần. Có nghĩa là cứ hai người Việt từ tuổi sơ sinh đến lúc bạc đầu thì đã có một tờ báo Việt ngữ để đọc một tuần… Rất nhiều người thuộc lòng những giờ báo được phát đến các cơ sở thương mại, để nhanh chân đến đó lấy trước khi người ta lấy hết…”.

Trang web Bulletin ngày 13-6-2005, đăng phát biểu của tác giả Phạm Nam Vinh: “Ở thủ đô tị nạn này (quận Cam – California) chẳng mấy ai quan tâm đến sự báo này vừa ra, báo nọ âm thầm lặng lẽ đóng cửa. Có khi cầm một tờ báo trên tay mà chẳng biết nó ra hàng tuần hay nửa tháng, hay một tháng, ba tháng. Có tờ tìm đỏ con mắt không biết chủ nhiệm, chủ bút, ban biên tập là những ai. Ngay đến địa chỉ báo quán ở đâu cũng chẳng thấy nữa…”. Mỹ là xứ sở phát triển khoa học kỹ thuật bậc nhất thế giới. Nhưng hơn mười năm sau khi ra đời, báo Việt ngữ ở Mỹ sau khi in xong phải bỏ dấu bằng tay, trông lem luốc. Đến đầu những năm 90 thế kỷ 20, kỹ sư Hồ Thành Việt của Công ty VNI cho ra đời phần mềm tiếng Việt, nhờ đó báo Việt ở hải ngoại mới thoát được nạn “bỏ dấu bằng tay”!

“THÀ Ở TÙ CHỨ KHÔNG… ĐI LÀM BÁO!”
Tình hình báo chí đã buồn, nghề báo trong cộng đồng Việt ở Mỹ cũng hiu hắt không kém. Theo tìm hiểu của các tác giả loạt bài này, nhuận bút trung bình của một bài báo trên báo chí Việt ngữ  hiện cỡ 25USD (thấp hơn nhiều so với nhuận bút các báo trong nước đang trả). Dù ít ỏi, nhưng không phải báo nào cũng trả nổi. Chuyện chủ báo quỵt nhuận bút của nhà báo không hiếm xảy ra. Trên tờ Việt Fun ra gần đây, trong bài “Vui buồn đời viết báo hải ngoại”, tác giả Hà Đình Trung viết: “Phần lớn báo Việt ngữ ở hải ngoại đều phải dựa vào quảng cáo để sống. Trong vùng Bắc Cali (USA) có mấy chục tờ báo, đa phần đời sống của chủ báo cũng bấp bênh nói gì đến những tay ký giả làm công cho chủ báo. Người ký giả chuyên nghiệp sống nhờ vào nhuận bút, nhưng thành thật mà nói, từ trước đến nay có bao nhiêu ông chủ báo làm tròn nghĩa vụ cao cả này. Chi phí công tác không được chủ báo trả, đã vậy có người ba năm không được trả lương, nhuận bút. Nhưng nhục nhất là đi xin quảng cáo… bởi vậy có người vừa dí dỏm vừa cường điệu nói với nhà báo Thanh Thương Hoàng rằng – Nếu phải chọn giữa ở tù và làm báo, tôi thà đi tù…”. Trong giới ký giả Việt ở Mỹ, thường có câu đùa chua xót: “Ghét đứa nào cứ cho nó đi làm báo”…

Một “đặc tính” nữa của báo Việt ở Mỹ là “chửi”. Thời kỳ đầu là chửi bới quê hương, sau đó là chửi lẫn nhau giữa các báo với các báo, đài với đài, hội đoàn với hội đoàn và các cá nhân với cá nhân. Chửi xong lại kiện nhau ra tòa. Nhà báo Phan Thanh Tâm trong bài “Báo chí hải ngoại” (đã trích dẫn ở trên), viết: “Tuy sinh hoạt đã 30 năm, có lập hội ký giả, báo Việt ngữ vẫn chưa bao giờ có một làng báo… Đây là một tập thể phức tạp nhất. Không có làng nên không có lệ, không có quy ước. Nhiều vụ kiện tụng vì phỉ báng, chụp mũ đã xảy ra… Ngày 9-9-1993, hơn 100 nhà văn, nhà báo đã gửi một thư ngỏ đến quý vị chủ nhiệm báo, giám đốc truyền thanh, truyền hình yêu cầu các cơ quan truyền thông khi chỉ trích ai nên tôn trọng quyền trả lời của người bị chỉ trích…”.

Trên trang web Dân kêu ra ngày 29-1-2012, trong bài “Tú gàn – ông là ai?”, tác giả Nguyễn Văn Lục kết luận: “Truyền thông báo chí hải ngoại được tự do viết. Nhưng học đòi dân chủ, tự do không xong. Tự do biến thành tự do chửi, chửi vung vít, chửi bất cứ ai mình muốn chửi. Báo chí tự biến thành “báo bẩn” vì “chửi”… Cũng vì “đặc tính chửi” quá phổ biến trên báo Việt ở Mỹ nên ông Nguyễn Cao Kỳ – nguyên phó tổng thống VNCH lúc còn sống, phải than rằng: “Báo chí trong nước ngày càng hay, trong khi báo chí hải ngoại ngày càng tồi tệ” (trích từ sách “Tường trình cùng đồng bào trong nước” – xuất bản tại Mỹ 1998, trang 54).

Tuy gặp nhiều khó khăn như vậy, nhưng báo Việt ở Mỹ sẽ “dễ thở” hơn rất nhiều nếu như không có kềm kẹp, đàn áp man rợ của các tổ chức phản động lưu vong. Bọn khủng bố báo chí này thường xưng danh “Tập thể quân lực VNCH”, “Chánh nghĩa quốc gia”, “Kháng chiến phục quốc”, “Bảo vệ cờ vàng”… để bóp nghẹt tự do báo chí. Thế Uyên – một cây bút chống cộng thâm độc từ thập niên 60, 70 ở Sài Gòn, nay sang Mỹ tiếp tục đời viết văn, làm báo. Dù đã có “số má” như vậy, nhưng Thế Uyên vẫn không thoát khỏi “vòng kim cô” của lực lượng áp bức báo chí. Trong bài “Sống và viết trên đất Mỹ”, đăng trên tờ Tiền vệ tháng 4-1998, Thế Uyên cay đắng, uất hận kể: “Những môn đệ còn theo trường phái chống cộng cổ điển ở Mỹ ép buộc cộng đồng hải ngoại phải chấp nhận những tiền đề chính trị xã hội chẳng liên quan gì đến thực tại Việt Nam. Ai mà không chịu phát ngôn theo các tiền đề đó thì trước sau cũng bị chụp mũ, đả kích thậm tệ, biểu tình và tẩy chay. Và nếu là người cầm bút thì còn bị đánh trọng thương, bị đốt chết, bắn chết…”.
[http://www.congan.com.vn/?mod=detnews&catid=942&p&id=466363http://www.congan.com.vn/?mod=detnews&catid=942&p&id=466363]

Bộ ảnh hiếm về chiến tranh VN trên tạp chí LIFE

Tạp chí LIFE đã công bố những bộ ảnh màu với tên gọi “Chúng tôi chìm sâu hơn vào cuộc chiến khốc liệt” của phóng viên ảnh Larry Burrows trong ấn phẩm của mình vào tháng 1/1963.

Những bức ảnh đầy chân thực này được tạp chí LIFE coi là một tác phẩm ảnh phóng sự quan trọng, đột phá tới mức nó được đưa lên trang bìa của tạp chí này.

Đặc biệt, những biên tập viên tạp chí này cho rằng bức ảnh bài thực sự mang tính gợi mở hiếm có và giúp nhiếp ảnh gia Burrows phát huy đầy đủ đặc trưng mạnh mẽ của thể loại chân dung.

Theo Soha

Chào mọi người.
Mình xin giới thiệu cho mọi người một ứng dụng thú vị trên trình duyệt Chorme cho mọi người xem.

Để rõ hơn bạn đọc ở đây: http://kenminhthien.net/2012/07/04/viewtube-xem-video-tren-mang-xa-hoi-bang-popup/
Mình sẽ để link phía dưới của youtube nha.

Bây giờ mọi người xem mình dùng ứng dụng này trước rồi tiến hành cài đặt trong Chorme. 🙂

Tiếp theo là bạn trang cửa hàng trực tuyến của Chorme và search cụm từ: Viewtube nha.

Bạn làm tương tự thế là xong.
Chúc bạn may mắn trong cuộc sống.
pp

Trung Quốc rất giỏi trong việc xâm chiếm bằng cách làm đường. Làm đường đến đâu xâm chiếm đến đấy, di dân đến đấy. Họ mưu tính làm một con đường suốt từ Vân Nam đi dọc Lào xuống tới tận Tây Nguyên, mà ở đoạn cuối Tây Nguyên thì Campuchia và Lào cho họ thuê đất tới 55 năm. Như vậy cả khu vực sẽ gần như là đất của họ…

Con đường bành trướng xuống phía nam của Trung Quốc được thực hiện cả trên bộ lẫn trên biển. Nếu quá bị cuốn vào chuyện biển Đông, chúng ta có thể rơi vào bẫy của Trung Quốc.

“Cần phải nhìn nhận quá trình nam tiến của Trung Quốc một cách toàn diện, trong đó không chỉ có khu vực biển Đông và hình thức xung đột quân sự. Đó còn là quá trình diễn ra trên đất liền với những hình thức chiến tranh kinh tế, chiến tranh tiền tệ, chiến tranh mạng, là bành trướng văn hóa, là áp lực chính trị, là quá trình di dân…” – Đại tá Quách Hải Lượng, nguyên Tùy viên quân sự Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh, nhận định.

Phân tích vị trí địa lý của Trung Quốc, ông Quách Hải Lượng không đánh giá cao cơ hội của Trung Quốc ở phía bắc (giáp với Nga), phía đông (bị Nhật Bản, Hàn Quốc án ngữ, mà đó là những đồng minh thân cận của Mỹ) và phía tây (giáp vùng Trung Á, vốn bất ổn với sự cạnh tranh của nhiều cường quốc). Hướng mở rộng của Trung Quốc gần như chỉ có một.

Nhận định này cũng trùng với ý kiến của TS chính trị học Đinh Hoàng Thắng. Trong một cuộc trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, ông Thắng nói: “Phải thấy là Trung Quốc chỉ còn phía nam để phát triển xuống. Thế kỷ 21 là thế kỷ của đại dương, nếu chỉ dừng chân trong lục địa Trung Hoa thì không được, mà các ngả khác thì bị chặn hết rồi”.

Biểu hiện rõ ràng nhất của tư tưởng “nam tiến” có lẽ đã xuất hiện từ thời Chu Ân Lai, Thủ tướng Trung Quốc từ năm 1949 đến năm 1976. Tháng 9-1963, Chu Ân Lai phát biểu trong cuộc gặp gỡ với các đại diện của Đảng Lao động Việt Nam, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Indonesia tại Quảng Đông: “Nước chúng tôi thì lớn nhưng không có đường ra, cho nên rất mong Đảng Lao động Việt Nam mở cho một con đường mới xuống Đông Nam châu Á” (Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm, NXB Sự thật, năm 1979).

Đồng tiền đi trước

Hiếm khi nào trong lịch sử sự hiện diện của Trung Quốc ở Đông Nam Á lại mạnh mẽ trên tất cả lĩnh vực như từ một thập kỷ trở lại đây. Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar, với sự gắn kết chặt chẽ về địa lý và văn hóa với Trung Quốc, với những yếu kém nội tại của mình, là mắt xích yếu nhất dọc biên giới mà người láng giềng phương bắc của họ có thể khai thác. Đồng tiền đi trước, con đường đầu tư kinh tế có lẽ là lối đi nhanh và hiệu quả nhất. Trong một bài viết mới đây, nhà nghiên cứu Trung Quốc Bonnie S. Glaser (Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS, Mỹ) cho biết: “Trong hơn một thập kỷ qua, Trung Quốc đã theo đuổi một chiến lược ở Đông Nam Á với nội dung căn bản là sử dụng “củ cà rốt” kinh tế để làm tăng lợi ích của các nước Đông Nam Á trong việc gìn giữ quan hệ tốt với Trung Quốc”.

Năm 2010, với những khoản đầu tư trị giá 2,9 tỉ USD, Trung Quốc trở thành nhà đầu tư lớn nhất tại Lào và có trong tay khoảng 10.000 km2 đất dự án, tương đương với 4% diện tích của cả nước Lào. Người Trung Quốc kiểm soát phần lớn nền kinh tế Lào, từ khai thác mỏ, thủy điện đến cao su, hay cả ngành bán lẻ và dịch vụ khách sạn.

Tình trạng tương tự cũng xảy ra ở Campuchia: Trong năm năm qua, Campuchia đã nhận được khoảng 2 tỉ USD tiền viện trợ từ Bắc Kinh với những điều kiện hết sức hào phóng.

Tại Myanmar, 8,7 tỉ USD đã được Trung Quốc rót vào các dự án đầu tư trong năm 2010, chưa kể khoản vay không lãi trị giá 4,2 tỉ USD. Tính đến tháng 7-2011, 800 dự án của các nhà đầu tư Trung Quốc cũng đang hoạt động tại Việt Nam với số vốn đăng ký 3,2 tỉ USD, đứng thứ năm trong các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

“Làm đường đến đâu xâm chiếm đến đấy”

Đầu tháng 7-2012, lần đầu tiên Hội nghị các ngoại trưởng ASEAN với lịch sử 45 năm không thể đưa ra được thông cáo chung mà lý do là sự bất đồng của nước chủ nhà Campuchia với các nước có liên quan đến tranh chấp trên biển Đông. Nguyên nhân sâu xa này nhanh chóng được lý giải khi ngay sau hội nghị, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cảm ơn Campuchia về sự hợp tác chặt chẽ của chủ nhà trong tiến trình hội nghị.

Nhà phân tích Bonnie S. Glaser nhận định: “Việc Trung Quốc gây ảnh hưởng khống chế lên Campuchia không phải điều đáng ngạc nhiên. Bắc Kinh đã cung cấp tới hơn 10 tỉ USD đầu tư trực tiếp cho Campuchia. Chỉ tính riêng trong năm 2011, lượng đầu tư mà Trung Quốc cam kết với Phnom Penh cao gấp 10 lần con số Mỹ cam kết. Sự phụ thuộc của Campuchia vào Trung Quốc, về mặt kinh tế, thể hiện rõ ở Cung điện Hòa Bình – công trình được xây bằng tiền tài trợ của Trung Quốc – là nơi họp hội nghị thượng đỉnh ASEAN vừa qua”.

Tháng 6-2011, thủ tướng Campuchia công khai khẳng định Trung Quốc là nhà đầu tư lớn nhất, đồng thời là nhà tài trợ lớn nhất trong việc giúp đỡ Campuchia xây dựng cơ sở hạ tầng, gồm đường sá, cầu cống… Vấn đề ở đây, theo các nhà phân tích, là các thỏa thuận kinh tế luôn kéo theo những hệ quả chính trị, xã hội, quân sự đã được hoạch định từ trước đó.

Đại tá Quách Hải Lượng nói: “Trung Quốc rất giỏi trong việc xâm chiếm bằng cách làm đường. Làm đường đến đâu xâm chiếm đến đấy, di dân đến đấy. Họ mưu tính làm một con đường suốt từ Vân Nam đi dọc Lào xuống tới tận Tây Nguyên, mà ở đoạn cuối Tây Nguyên thì Campuchia và Lào cho họ thuê đất tới 55 năm. Như vậy cả khu vực sẽ gần như là đất của họ”.

“Đứng về chiến lược quân sự, đó là những con đường cơ động chiến lược và cơ động chiến dịch. Về kinh tế thì có thể khống chế được toàn bộ các hành lang quan trọng của bán đảo Đông Dương. Họ xây dựng cơ sở hạ tầng là nhằm như thế” – ông Lượng giải thích.

Trung Quốc đang nắn dần đường biên giới quốc gia không theo cách thức tấn công quân sự truyền thống mà bằng cách di dân. Số liệu thống kê chưa đầy đủ cho thấy có khoảng 2,5 triệu người Hoa đến Đông Nam Á làm ăn sinh sống trong vòng 30 năm qua. Khoảng 1 triệu người Trung Quốc cũng đã di dân đến Myanmar trong giai đoạn 1995-2005, theo báo cáo của nhà nghiên cứu độc lập Sudha Ramachandran (Ấn Độ) và khoảng 300.000 người Trung Quốc đang sinh sống rải rác khắp nơi ở Campuchia. Đây hầu hết là lao động Trung Quốc tìm cách ở lại khu vực bản địa sau khi hết hợp đồng với các dự án. Họ thậm chí hình thành nên các khu “phố Tàu” như ở Mandalay (Myanmar) hay Viêng Chăn (Lào).

Tại Lào, một doanh nghiệp Trung Quốc đã thuê cả một thị trấn nằm sát biên giới hai nước và biến nơi đây gần như thành khu vực của riêng người Trung Quốc. Thị trấn rộng 21 km2 được đặt tên là Bò Thèn này có ngôn ngữ chính là tiếng Trung, thanh toán bằng nhân dân tệ và sử dụng giờ Bắc Kinh thay vì giờ Viêng Chăn. Hệ thống điện, viễn thông và ngay cả các lực lượng chức năng như công an cũng đều được “kéo” từ Trung Quốc sang. Lực lượng hải quan đã dời từ biên giới Lào-Trung xuống phía nam của thị trấn này. (Trung Quốc tăng cường di dân sang Lào, website nghiencuubiendong.vn, Học viện Ngoại giao, 29-3-2010).

Nói đến sự hiện diện của người Trung Quốc ở các khu Hoa kiều và nhiều khu vực có dự án đầu tư ở Việt Nam, Đại tá Quách Hải Lượng nói: “Nếu chấm trên bản đồ Việt Nam những khu vực có người Trung Quốc sinh sống, chúng ta sẽ có một tấm bản đồ da báo”.

ĐOAN TRANG (BLOGSPOT)