Tag Archive: trong


Khi gặp trục trặc trong cuộc sống, người Mỹ xả súng, giết người, người Nhật chọn cách rút lui lặng lẽ đứng bên lề xã hội như hikokomori hoặc tồi tệ nhất là tự tử.

Hệ thống chuẩn mực đã tồn tại và quy định nếp sống, sinh hoạt của xã hội Nhật nhiều năm qua, mang lại cho nước Nhật nhiều thành công nhưng cũng chẳng ít mặt trái. Điều này được phản ảnh qua bài viết của tác giả Ngọc Diệp, người đang học Thạc sĩ ngành Quan hệ Quốc tế tại Nhật Bản.

Đạp xe chầm chậm trên những con phố quận Kanda và Asakusa, Jun lặng lẽ ngắm người qua lại. Dù trời vẫn chỉ đang mùa hè và đã tối, nhưng anh vẫn muốn kéo cao chiếc Tiếp tục đọc

Advertisements

Bài này viết lâu rồi, nhưng đến hôm nay mới chia sẻ được với mọi người.

Rõ ràng, cho đến thời điểm này thì âm mưu của Trung Quốc ở khu vực biển Đông đã thể hiện đầy đủ. Giàn khoan HD-981 thực chất không mang mục đích tìm kiếm dầu mỏ mà mang ý nghĩa của một lãnh thổ thu nhỏ di động nhằm chiếm đất, mở mang bờ cõi. Khi đưa giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, có thể Trung Quốc đã tính toán đến thời điểm hoàn hảo để thực hiện mưu toan của mình. Sự việc bãi cạn Scarborough đã củng cố cho quyết tâm thôn tính toàn bộ khu vực biển Đông của Trung Quốc. Vào thời gian này, toàn bộ thế giới đã tập trung vào Ukraine. Trung Quốc lên tiếng ủng hộ Nga trong vấn đề Crimea; đàm phán ký kết hợp đồng mua bán khí đốt lịch sử để trở thành đối tác kinh tế hàng đầu của Nga. Với những động thái này, Trung Quốc hi vọng sẽ tìm kiếm được sự đồng tình của Nga về vấn đề biển Đông.
Dankhoan981cuaTQ-6385d

Tiếp tục đọc

Ngày 1-3, website của Hội đồng Giám mục Việt Nam đã công bố Thư của Hội đồng Giám mục Việt Nam nhận định và góp ý sửa đổi Hiến pháp gửi tới Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Bức thư nhanh chóng được website tiếng Việt của BBC, VOA, RFA, RFI,… cùng một số website, diễn đàn điện tử đăng tải và phân tích. Ngày 2-4, web sachhiem công bố bài của tác giả Nguyễn Trọng Nghĩa – một công dân theo Thiên chúa giáo, trong đó đưa ra một số góp ý về bức thư này. Ðược sự đồng ý của tác giả, Báo Nhân Dân trích đăng một phần bài viết đó để bạn đọc tham khảo.

 

Tôi tên là Nguyễn Trọng Nghĩa, là giáo dân ở giáo xứ Cao Lãnh – giáo phận Mỹ Tho, ngụ tại số 37, đường Ðiện Biên Phủ, xã Mỹ Trà, TP Cao Lãnh, tỉnh Ðồng Tháp. Vừa qua, tôi thấy trên nhiều diễn đàn mạng điện tử đăng tải bức thư của Hội đồng Giám mục Việt Nam (HÐGM), trong đó đưa ra nhận định, góp ý với Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Thiết nghĩ, việc góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp là quyền và việc làm cần thiết của mỗi công dân, là việc làm thể hiện chính kiến chính trị của mỗi cá nhân trong xã hội. Sau khi xem bản nhận định và góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp của HÐGM, tôi có mấy điều góp ý như sau:

… – Các Giám mục (GM) viết: “Dự thảo khẳng định quyền tự do ngôn luận

(Ðiều 26), quyền sáng tạo văn học – nghệ thuật (Ðiều 43), quyền tự do tín ngưỡng (Ðiều 25). Tuy nhiên, ngay từ đầu, Dự thảo lại khẳng định đảng cầm quyền là “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng”

(Ðiều 4). Như thế, phải hiểu thế nào và làm sao thực thi quyền tự do ngôn luận và sáng tạo văn học,  nghệ thuật, bởi lẽ tư tưởng đã bị đóng khung trong một chủ thuyết rồi? Tương tự như thế, phải hiểu thế nào và làm sao thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bởi lẽ chủ nghĩa Mác – Lê-nin tự thân là chủ nghĩa vô thần? Phải chăng những quyền này chỉ là những ân huệ được ban cho tùy lúc tùy nơi, chứ không phải là quyền phổ quát, bất khả xâm phạm, và bất khả nhượng? Hiến pháp cần phải xóa bỏ những mâu thuẫn và bất hợp lý này, thì mới có sức thuyết phục người dân và thu phục lòng dân”.

Góp ý của tôi: Có lẽ các GM chưa có điều kiện tìm hiểu cặn kẽ về bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 cũng như các lý luận nền tảng đã được công khai khi xây dựng bản Dự thảo, vì tôi thấy các GM không phân tích ý nghĩa từng điều khoản trong Dự thảo Hiến pháp, nên đã nhận định chưa đúng với những gì mà tôi đã biết qua các cơ quan truyền thông đại chúng.

Vấn đề “tư tưởng bị đóng khung trong một chủ thuyết” là chưa đúng, vì theo tôi được biết chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng để định hướng xã hội, đảng cầm quyền chỉ lấy tư tưởng đó để định hướng xã hội chứ không “đóng khung” tư tưởng của người dân. Quyền tự do ngôn luận không phải bao gồm quyền phỉ báng hay xúc phạm người khác, hay xuyên tạc nói không đúng một cách cố ý… Quyền sáng tạo văn học, nghệ thuật cũng không bao gồm sáng tạo tư tưởng cực đoan hay mê tín, đó cũng không phải là quyền sáng tạo hay dựng đứng sự việc để bài xích một hệ tư tưởng khác… Cũng thế, quyền tự do tín ngưỡng bao gồm cả quyền tự do không tín ngưỡng, không được nâng tôn giáo mình lên và hạ thấp tôn giáo khác… Ðảng cầm quyền quản lý một xã hội có nhiều thành phần dân cư, thì cần có các chuẩn mực về ngôn phong để giáo dục đạo đức cho con người trong xã hội, không bắt người dân “nói theo” Ðảng. Cũng như khi giáo dân hiệp thông cùng giáo hội, chúng ta trở nên khác biệt với người Tin lành, vì chúng ta chỉ được hiểu kinh thánh từ giáo hội chứ không phải tự do tùy ý giải nghĩa kinh thánh.

Như vậy, với các quyền được các GM đề cập thì: a. Theo tôi, tự thân nó được “tự do” mà cụ thể là pháp luật và pháp lệnh tương ứng, nếu có vấn đề thì chỉ cần điều chỉnh ở luật và pháp lệnh chứ không cần thiết điều chỉnh ở Hiến pháp; b. Tôi không biết chủ nghĩa Mác – Lê-nin là chủ nghĩa vô thần, nên nếu có thể xin hãy chứng minh nhận định này của các GM, vì khi nhận định về một cá nhân hay tổ chức mà không toàn diện, cụ thể hay khách quan thì ý kiến của các GM trở nên chủ quan, thiên kiến và thiếu hiểu biết. Tôi nhận biết cụm từ “cộng sản vô thần” xuất phát từ sự xuyên tạc của những người chống cộng từ ý thức hệ, như là sự đối trọng giữa “tư bản” và “cộng sản” của thế kỷ trước. Hiện tại, tôi nhận biết rất nhiều người cộng sản có tín ngưỡng của nhiều tôn giáo, mà hầu hết là các tôn giáo phổ biến, còn những người không theo tín ngưỡng – tôn giáo nào đó thì cũng thờ cúng tổ tiên,… Vậy nhận định người cộng sản vô thần theo tôi là chưa đúng và quá thiên kiến hay chỉ là nhận định chống cộng sản không suy xét!?

Những quyền được Hiến pháp, pháp luật quy định thì chắc chắn không phải là ân huệ được ban phát cho, khi đã được ghi vào Hiến pháp và pháp luật thì chắc chắn đó là quyền phổ quát, những quyền được ghi vào luật là quyền bất khả xâm phạm, dĩ nhiên là bất khả nhượng. Tôi thấy rất lạ khi các GM không biết điều này, không phân tích, hay hiểu điều hết sức đơn giản này. Tất cả những quyền mà các GM đề cập đều có sự chế tài nếu cá nhân hoặc tổ chức nào vi phạm, tôi biết điều này vì tôi đã xem rất kỹ các luật này và cả Hiến pháp, các vị GM có tìm hiểu hay không mà sao tôi thấy như là các vị không biết đến? Tôi thấy các vị GM có nhiều điều chưa sáng trong nhận định của mình!

– Các GM viết: “Trong thực tế, sự trói buộc tư tưởng vào một hệ ý thức duy nhất đã kìm hãm tư duy sáng tạo của người dân Việt Nam. Ðây là một trong những lý do lớn, dẫn đến tình trạng trì trệ và chậm tiến của Việt Nam về nhiều mặt: giáo dục, khoa học và công nghệ văn hóa và nghệ thuật”.

Góp ý của tôi: Tôi nhận định rằng hệ tư tưởng hiện tại của đảng cầm quyền là hệ tư tưởng quản lý xã hội theo một hệ thống chuẩn mực. Ðến nay, Nhà nước ta đã ký kết tất cả các hiệp ước về quyền con người mà Liên hợp quốc cũng như hầu hết các quốc gia tiến bộ về nhân quyền đã ký kết. Hiện tại, Việt Nam là quốc gia tiến bộ về vấn đề nhân quyền – quyền con người, nếu nhận định rằng vì bị “trói buộc” nên bị “kìm hãm” là không thực, quá thiên kiến hay cố ý gán ghép. Vậy nếu được thì xin các GM cho một chứng minh về “sự trói buộc tư tưởng vào một hệ ý thức duy nhất đã kìm hãm tư duy sáng tạo của người dân Việt Nam”? Tôi công nhận nếu có sự ràng buộc về tư tưởng một cách cực đoan thì chắc chắn nhiều lĩnh vực sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Hiện tại, ngành giáo dục nếu có chậm phát triển thì cũng không phải do “hệ tư tưởng” mà do “trình độ quản lý”. Thực tế, nhiều trường tư thục hay nước ngoài không bị hạn chế bởi một hệ tư tưởng mà vẫn không thể hiện được sự ưu việt hơn cách quản lý giáo dục công lập… Nếu các vị GM quan tâm tới các lĩnh vực giáo dục, khoa học và công nghệ, văn hóa và nghệ thuật, thì sẽ thấy các lĩnh vực này hiện đang rất phát triển, phát triển vượt bậc. Còn có một sự thật lịch sử cụ thể quan trọng mà các GM đã bỏ qua trong quá trình nhận định và góp ý là: Ðất nước chúng ta vừa trải qua chiến tranh chưa lâu, sau đó là những năm bị cấm vận. Ðất nước ta đang trong quá trình CNH, HÐH mở cửa, hội nhập quốc tế và đã đạt những thành tựu mà thế giới – cộng đồng quốc tế công nhận. Vậy tại sao các vị GM lại không biết vấn đề này?

Kính thưa các vị Giám mục,

Con cho rằng các vị GM cũng là công dân nên không đứng ngoài chính trị, nhưng con thấy rằng các nhận định và đóng góp có hơi hướng của các thành phần chống cộng rất thiên kiến, cực đoan, xuyên tạc sự thật (hoặc do các vị không biết?). Con nghĩ với trình độ của các GM, nhận thức sẽ cao hơn giáo dân chúng con, con cũng biết các tàn dư mâu thuẫn trong quá khứ và cả tư tưởng quản lý xã hội khác với người cộng sản hẳn đã làm các ngài không sáng suốt trong nhận định về người cộng sản… Con tin không 100% GM đồng quan điểm với bản nhận định và góp ý, nhưng các vị ấy vẫn phải đứng tên cùng “các Giám mục Công giáo Việt Nam”. Các ngài GM nên biết rằng chúng con cũng có suy tư, cũng có quan điểm về mọi vấn đề khác nhau. Các GM không thể đại diện cho toàn thể giáo dân Việt Nam mượn việc góp ý với Hiến pháp để thể hiện thiên kiến của mình.

 

NGUYỄN TRỌNG NGHĨA
[Bài được đăng trên báo NHÂN DÂN]

Vừa mắt nhắm mắt mở bước vào ngày đầu tuần thì nhân được một “đơn đặt hàng” của độc giả có cái nickname khá rắc rối tan12ckt1980“Đề nghị bạn Thanh Tùng nghiên cứu và có bài viết phản bác lại cái này cho anh em nhé: Sự cùng quẫn của tờ báo Đảng- Blogger JB Nguyễn Hữu Vinh.”. Nhấn vào link thì gặp “bà buôn cải”, ngỡ đâu rằng anh chàng Ba sàm sau khi trang nhà mất thiêng nên lưu lạc sang đây đánh quả nhưng hóa ra không phải vậy. Đây là một anh chàng Nguyễn Hữu Vinh khác, xinh giai hơn và có cái “tai tồ” (title) JB gắn đằng trước tên chứ không phải “BS” như anh chàng kia. Thú thật trước giờ tôi chỉ thấy giới trẻ trên mạng hay vung vít 2 chữ “BJ” chứ “JB” thì tôi chẳng hiểu là gì cả, bạn nào biết thì giải thích giùm nhé! Đọc thêm một chút thì ngộ ra rằng JB này là một giáo dân đang đăng đàn hồ hởi chê bai, “vạch mặt” tờ báo Nhân dân. Tôi tự hỏi, báo Nhân dân là cơ quan ngôn luận của ĐCSVN, một trong những tờ báo lớn nhất Việt Nam với đội ngũ nhà báo dày dạn, bản lĩnh thì sao lại để hình ảnh của mình bị bôi xấu trên báo nước ngoài (dù rằng là loại báo “đâm bị thóc chọc bị gạo”) mà không phản ứng gì? sao bạn tan12ckt1980 không liên hệ với báo Nhân dân để nhắc nhở họ bảo vệ uy tín của mình mà lại “đặt hàng” tôi? Tuy nhiên đọc xong bài viết thì tôi cũng hiểu phần nào lý do: thứ nhất, bài viết đúng là thể hiện tư duy của một “con cừu” nên các nhà báo có lẽ chẳng thèm phản biện mà xem đó như câu chuyện hài làm quà mỗi dịp trà dư tửu hậu; thứ hai, “bà buôn cải” đăng bài bôi xấu báo khác nhưng thòng cái câu “Bài viết thể hiện quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả” để phủi trách nhiệm. Báo chí mà lẩn như lươn thế thì cần quái gì thằng biên tập nữa?

Thôi thì bạn đọc đã có lời, bài viết cũng đã mất công đọc, lại thêm món “lý luận của cừu” dường như vẫn còn thiếu trên blog này nên tôi sẽ cùng các bạn tìm hiểu xem “mùi vị” của nó thế nào.

Con chiên Vinh “văng miểng”

Chắc hẳn các bạn cũng như tôi đã từng nghe đến nhàm chán cái câu “Đại hội / kế hoạch / hội thảo / chiến dịch,.. đã thành công tốt đẹp”mà mấy cậu thư ký các cơ quan nhà nước “nhét vào mồm” các sếp?! Căn bệnh khoa trương thành tích của bộ máy hành chính có “công lao” không nhỏ từ các vị “quân sư quạt máy” này. Nhưng nếu các bạn mà xem qua bài viết của con chiên JB Nguyễn Hữu Vinh thì hẳn sẽ cười đến té ghế vì so với đẳng cấp “chém gió” của anh ấy, đám “quân sư” kia chỉ dám đứng đằng xa mà nhìn. Trong bản gốc tại blog của mình, anh ta viết về bản góp ý sửa đổi hiến pháp của hội đồng giám mục Việt Nam như sau:
“Như tiếng sấm giữa trời quang, bản văn của Hội Đồng Giám mục Việt Nam nhận định và góp ý vào bản Hiến pháp gửi tới Quốc hội đã làm rung chuyển nhiều thành phần trong xã hội. Không chỉ với người Công giáo Việt Nam, mà ngay cả với những công dân quan tâm đến tình hình đất nước, lo lắng cho tiền đồ dân tộc cảm thấy hân hoan, phấn khởi. Với bản văn mạch lạc, sáng suốt và đúng trọng tâm những gì đất nước này, dân tộc này đang cần để vượt qua bế tắc, tiến bước trên con đường phát triển. Trước đó, bản Kiến nghị của 72 nhân sĩ trí thức đã gây một tiếng vang lớn báo hiệu dân tộc Việt Nam đã có những dấu hiệu chuyển mình. Cơn chuyển mình vật vã, đau đớn để vượt qua sự sợ hãi vốn tạo thành thói quen của cả xã hội, thành phản xạ của mỗi công dân Việt Nam.”
Ôi, đẳng cấp cỡ này ngỡ đâu chỉ còn có ở đám rận vàng bên “mẫu quốc”, ngày đêm tung hô cho cái gọi là “quân lực VNCH vô địch” để tự ám thị mình dù đã chạy cách xa nửa vòng trái đất khỏi quê hương và gần 40 năm kể từ tháng 4 hào hùng năm 1975 ấy. Các bạn đọc của tôi, các bạn có thấy mình bị “rung chuyển” không vậy? Riêng tôi thì có, chỉ có điều là “rung rốn vì cười”!!! Có lẽ chúng ta nên tạm gọi anh chàng này là Vinh “văng miểng” để phân biệt với anh Vinh “sàm” kia.

Thế rồi, JB cho rằng uy lực của “tiếng sấm giữa trời quang” ấy đã khiến cho “nhà cầm quyền Hà Nội lúng túng và hoảng hốt”, dẫn đến những việc sử dụng “đòn bẩn”, “dựng chuyện và bịa đặt”, hệ thống truyền thông của Đảng và nhà nước, cụ thể là báo Nhân dân phải “cùng quẫn”. Ôi, nghe như thể vận mệnh chế độ đang đứng bên bờ vực của sự tồn vong vậy! Hãy xem những lý lẽ của con chiên này ra sao mà lại hùng hổ nổ nguyên băng hoành tráng đến thế.

Thực hư “những đòn bẩn”

“Đòn bẩn” thứ nhất, theo JB là “kéo dài thời gian góp ý đến cuối tháng 9/2013 thay vì kết thúc trong tháng Ba” vì “sau khi chi ‘hàng đống tiền dân’ từ ngân sách, nhà nước sẽ thu được một số lượng chữ ký áp đảo và coi như “đó là nguyện vọng nhân dân”. Trước giờ tôi chỉ biết rằng để có lợi thế thì người ta phải tổ chức trưng cầu ý kiến trong thời gian thật ngắn nhằm hạn chế những ý kiến chống đối (đêm dài lắm mộng!) chứ chẳng ai lại tự dưng kéo dài thời gian cho đối thủ nằm nghĩ ngợi thêm chiêu trò hay lôi kéo thêm nhiều người khác cả. “Chi ngân sách” thì cũng đã chi hầu hết trong 3 tháng đầu rồi, 6 tháng tiếp theo chỉ nằm chờ xem có thêm ý kiến nào khác thì bổ sung vào chứ liên quan gì đến việc “nhà nước sẽ thu một số lượng chữ ký áp đảo”? Người thông minh thì phải lợi dụng thời gian kéo dài này mà tuyên truyền ý tưởng của mình đến đông đảo người dân hơn nữa để lôi kéo thêm đồng minh về phía mình chứ sao lại than thở vì điều đó? Phải chăng khả năng càn quấy của JB và các đồng đạo chỉ đến vậy, để lâu sợ người ta phát hiện ra bản chất của mình hoặc“phong trào” sẽ “mất lửa”? Thật đúng là tư duy của cừu khác hẳn người thường!

“Đòn bẩn” thứ hai mà JB “tố” là “hệ thống tuyên truyền, truyền thông nhà nước còn ‘lôi đám nhân sĩ, trí thức’ ra ‘đánh hội đồng’ trước công luận nhưng lại không dám đưa ra cho người dân xem họ, những trí thức, nhân sỹ, đã thực sự nói gì?”. Câu này tự thân nó đã mâu thuẫn với nhau, chẳng khác nào bảo đưa 1 bị cáo ra trước tòa nhưng viện kiểm sát lại không cho người tham gia phiên tòa biết bị cáo đó bị truy tố vì tội gì. Tôi thậm chí đôi khi cũng bực với cái hệ thống tuyên truyền của nước mình, họ phản bác lại những luận điệu sai trái của đám “nhân sĩ trí thức” này nhưng chẳng “dám” nêu thẳng tên tuổi của họ ra mà chỉ “đánh” vào cái lý luận ngu ngơ của họ. Rõ là nhân đạo không phải lối! Đám “nhân sĩ trí thức” đó là những ai, nói những gì thì nhan nhản trên mạng, thậm chí họ là đối tượng được ưu ái trong blog Đôi mắt, chỉ khác cái là ở đây họ được gọi đúng với bản chất của họ, “rận sỹ chấy thức”.

Sau khi cho rằng chính quyền đã ra 2 “đòn bẩn”, con chiên này tiếp tục “tự sướng” về cộng đồng Ki tô giáo của anh ta: “Họ cũng thừa biết xưa nay, giáo dân Công giáo luôn đồng lòng, nhất trí với Hội đồng Giám mục một cách hầu như là tuyệt đối trong những vấn đề cơ bản đối với vận mệnh giáo hội và đất nước, vì con người. Do vậy, tiếng nói của Hội đồng luôn được sự ủng hộ to lớn. Chính vì thế, đánh vào khối này còn khó hơn ‘đục khối bê-tông’, càng đánh trực diện vào nó, càng khơi động tinh thần đoàn kết, hiệp thông. Điều đó đã được thử thách suốt mấy chục năm nay dưới chế độ Cộng sản nói riêng và suốt mấy trăm năm, qua nhiều thời kỳ lịch sử khốc liệt với giáo hội Công giáo. Do vậy, họ dùng nhiều chiêu trò khác tinh vi hơn nhưng cũng được cho là ‘bẩn thỉu’ hơn.”.
Đúng, trước giờ “giáo dân Công giáo luôn đồng lòng, nhất trí với Hội đồng Giám mục một cách hầu như là tuyệt đối”, đó là điều ai cũng biết. Thậm chí dùng từ “đồng lòng, nhất trí” là chưa thể hiện rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa giáo dân và hội đồng giám mục, mà phải nói là “phục tùng, tuân thủ, cung cúc nghe lời”. Đàn cừu thì làm sao có chuyện “đồng lòng, nhất trí” với chủ chăn được?! Và người ta cũng biết rằng cái “Hội đồng giám mục” ấy lại phải “phục tùng, tuân thủ, cung cúc nghe lời” các thế lực khác ngoài lãnh thổ Việt Nam, cụ thể là tòa thánh Vatican. Nhưng đó là một câu chuyện khác mà tôi sẽ kể sau này nếu có dịp. Câu hỏi vui cho mọi người suy nghĩ là: tại sao những người đã tự nguyện làm cừu cho người khác chăn mà lại tích cực “đấu tranh” cho “nhân quyền” vậy?

Tự tin với cái “khối bê tông” của mình, JB cho rằng chính quyền và hệ thống truyền thông của họ phải sử dụng những chiêu “bẩn thỉu hơn” nhằm “đục thủng khối bê tông” ấy. Những “chiêu bẩn” đó là: dùng người của Phật Giáo, Ki tô giáo để tuyên truyền cho chính sách của Đảng và Nhà nước; đội lốt các trang web Phật giáo để chống Ki tô giáo.

Con chiên này nói rằng: “Nếu như có một Hòa Thượng Thích Quảng Độ không được nhà nước ưa thích, thì lập tức có một vị Hòa thượng Thích Thanh Tứ lên diễn đàn Quốc hội ‘mạt sát’ được truyền hình cho cả nước xem. Nếu nhà nước không thích Bát Nhã, lập tức có các “ông sư, phật tử” nơi khác được điều đến thi tài trấn áp buộc họ phải rời nơi cứ trú. Nếu nhà nước muốn các phật tử vâng lời đảng, giữ nguyên nội dung điều 4 của Hiến pháp 1992, duy trì sự cai trị của Đảng CSVN và kiên quyết xóa bỏ quyền tư hữu đất đai của người dân, lập tức có các nhà sư như Thượng Tọa Thích Đức Thiện và Thích Thanh Dũng lên truyền hình tuyên truyền hộ về công lao của Đảng và rằng “xác định quyền tư hữu đất đai là trái với tinh thần từ bi của Đức Phật và bác ái của Chúa Giêsu”.
Trong tay của Đảng, dường như có thể có đủ mọi quân bài và mọi thành phần nhằm thực hiện đầy đủ “sự lãnh đạo sáng suốt và tuyệt đối”.

Thật là buồn cười khi JB cho rằng việc nhà nước sử dụng những người trong tôn giáo để nói chuyện về những vấn đề liên quan đến giáo phái của mình là việc “bẩn thỉu”. Có lẽ đầu óc cừu nên nghĩ vậy. Là một con người thì phải biết đó là cách giải quyết hợp tình hợp lý nhất. Mọi người, dù là giáo dân Ki tô giáo, Hồi giáo, Phật giáo,.. nếu đang sống trên đất nước này, là người Việt Nam thì trước hết họ là những công dân của đất nước. Là công dân thì họ phải tôn trọng và tuân thủ pháp luật (có lẽ trừ những giáo dân như JB là tự cho mình cái quyền làm trái điều hiển nhiên đó). Vậy thì khi nhà nước cần triển khai chính sách, thực thi một công vụ nào đó có liên quan đến một tôn giáo, các vị chức sắc tôn giáo đứng ra làm cầu nối giữa chính quyền và giáo dân là cực kỳ hợp lý và hiệu quả. Có lẽ những giáo dân như JB cho rằng nhà nước phải dùng xe tăng và lưỡi lê như Ngô Đình Diệm xưa kia đàn áp Phật giáo thì mới là “chiêu sạch”?!

Tư duy con cừu

Mang theo cái tư duy ngược đời đó, Vinh “văng miểng” chụp mũ tất cả những người Ki tô giáo có những bài viết, phát biểu không theo ý mình trên báo đài là “giả mạo”, “dàn dựng”,… Chưa cần biết cáo buộc đó là đúng hay sai nhưng nếu là một người hiểu biết, nhất là người “nhân danh dân chủ” thì phải hiểu một điều cơ bản rằng: Ai nói, ai viết không quan trọng mà điều quan trọng là những gì người ta nói, người ta viết đấy là đúng hay sai. Giả sử bây giờ giáo hoàng Francis có nói với tôi rằng “JB Vinh thực sự là một con cừu” thì tôi vẫn bảo đó là sai vì anh ta rõ ràng là không có sừng, không có lông xù, không đi bằng 4 chân dù rằng có thể anh ta có tư duy của một con cừu (bài viết này gọi “con cừu”, “con chiên” là tôn trọng sở nguyện của JB). Nhưng xem ra đối với những người vẫn tin rằng “mặt trời quay quanh trái đất” thì điều đó là đòi hỏi quá sức. Bởi lẽ đó, anh ta sẵn sàng cho tất cả những điều người khác nói mà không hợp ý anh ta và chủ chăn của anh ta là “ngây ngô” nên“không phải mất thời giờ để bàn về chuyện liệu những người như tác giả bài viết này có trình độ về lý luận hoặc hiểu biết ra sao”. Một trong những điều “ngây ngô”như anh ta quan niệm là: Đơn cử, tác giả của bài báo được tờ báo Nhân Dân của Đảng trân trọng, viết những câu như: “Tôi không biết chủ nghĩa Mác – Lê-nin là chủ nghĩa vô thần”. Con chiên này cho rằng bất cứ ai không biết “chủ nghĩa Mác – Lê-nin là chủ nghĩa vô thần” thì đều là “ngây ngô”! Vậy tôi sẽ phân tích để xem kẻ nào mới thực sự là “ngây ngô”.

Cái điều “cộng sản vô thần” mà các giáo dân như JB mang ra hù dọa lẫn nhau thực chất là một trong những chiêu trò tâm lý chiến của Mỹ ngụy và Ki tô giáo nhồi nhét cho con chiên từ hàng chục năm trước để tạo ra sự đối lập giữa cộng sản và tôn giáo nhằm tách họ ra khỏi sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Một người có suy nghĩ bình thường chí ít cũng phải đi tìm hiểu xem câu đó nghĩa là gì, đúng hay sai, từ đâu ra,.. chứ không nhắm mắt nghe theo mù quáng nhưng đàn cừu thì chỉ cần biết cứ chủ chăn nói ra thì là chân lý rồi. Một trong những lý lẽ mà những kẻ như JB hay rêu rao là Marx dạy rằng “tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” để từ đó suy diễn ra “tôn giáo là tệ nạn cần dẹp bỏ như thuốc phiện”. Đây là câu được cắt xén (nghề của “chàng” mà!) từ Lời nói đầu cuốn “Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hegel”. Nguyên văn Marx viết trong sách như sau:
“Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”.

Người có khả năng đọc hiểu sẽ dễ dàng hiểu rằng ở đây Marx muốn nhấn mạnh đến chức năng xã hội và tính 2 mặt của tôn giáo: là “thuốc giảm đau” trước những vấn đề bức bối của cuộc sống nghèo nàn và bị áp bức nhưng cũng là “chất gây nghiện” cho những người lạm dụng, khiến họ quên đi thực tại và cam chịu thay vì đấu tranh cho quyền lợi của mình. Như vậy, chính những kẻ lợi dụng tôn giáo để bịt mắt nhân dân nhằm phục vụ cho lợi ích của riêng mình mới chính là kẻ thù của tôn giáo đích thực, nhân quyền đích thực. Chủ nghĩa cộng sản (CNXH khoa học) như mọi ngành khoa học tiến bộ khác thì đều là “vô thần”, tức không tin hoặc không lấy yếu tố thần thánh siêu nhiên làm căn cứ cho nghiên cứu của mình, chứ không có nghĩa là “kẻ thù” của tôn giáo. Trong một đất nước thì có người theo đạo này, đạo kia và người không theo tôn giáo nào cả (lương dân). Vậy theo cái lý lẽ của con chiên JB thì những lương dân ấy, tức người “vô thần”, cũng là kẻ thù của tôn giáo à? Do đó, chỉ có những kẻ lợi dụng tôn giáo, sợ ánh sáng khoa học làm mọi người nhận ra bản chất của mình nên mới cuống quýt chụp mũ cho khoa học (CNXHKH, thuyết tiến hóa của Darwin,…) là kẻ thù của mình với ảo tưởng kêu gọi những cuộc thánh chiến vào thành trì của khoa học. Nhưng khổ nỗi, “thời oanh liệt” nay còn đâu!

CNCS của Marx là một ngành khoa học nghiên cứu về bản chất, sự vận động của kinh tế – chính trị và xã hội loài người, từ đó đưa ra đường lối, phương thức quản lý, xây dựng xã hội. Điều này là hiển nhiên đối với con người hiểu biết, dù đồng tình hay không với những quan điểm của Marx. Vậy mà con cừu (cứ cho là có hiểu biết) JB lại quan niệm rằng “trẻ con cũng không khỏi phải ‘bật cười’ về” nhận thức “chủ nghĩa Mác-lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ tư tưởng quản lý xã hội và đảng cầm quyền chỉ lấy tư tưởng quản lý xã hội chứ không “đóng khung” tư tưởng của người dân”. Thử hỏi “chế độ cộng sản vô thần” này có bắt các con chiên phải từ bỏ chủ chăn của mình để trở về làm con người “vô thần” không hay chỉ thấy các giáo dân (theo lệnh của chủ chăn) sử dụng hôn nhân để ép buộc người ngoại đạo gia nhập đạo mình, sử dụng tình cảm huyết thống để ngăn cản những người không theo ý chủ chăn? Vậy ai là kẻ thực sự “đóng khung tư tưởng” người dân?

Ai là giáo gian?

Trong bài viết của mình, Vinh “văng miểng” cáo buộc một số người là giả mạo giáo dân, do hệ thống truyền thông của nhà nước “dàn dựng” bằng những lời lẽ chung chung như “bị giáo dân ‘bóc mẽ’, sự bịa đặt bị phê phán là ‘trắng trợn nhớp nháp’ này đã bị ‘vạch trần’ trước muôn dân và dư luận quốc tế”, “gán ghép sượng sùng đã bị lật tẩy nhanh chóng sau đó”. Nếu chỉ tư duy một cách logic thì cũng hiểu rằng những giáo dân mà muốn lách ra khỏi những giáo lý và áp đặt của chủ chăn để thể hiện chính kiến của mình (khác với mong muốn của chủ chăn và những con chiên như JB) thì cũng phải chịu rất nhiều áp lực từ gia đình, công hội, đồng đạo (ngày xưa còn phải đối mặt với giàn thiêu nữa) nên họ phải bí mật là điểu đương nhiên. Nhưng khi có những người can đảm vượt qua những rào cản đó thì JB lại cho rằng họ là những kẻ “mạo danh” hoặc “đầu óc không bình thường”. Đó là 2 trường hợp gần đây nhất mà chúng ta sẽ xem xét ngay sau đây.

Trường hợp 1 – ông Nguyễn Quốc Hiếu: Vinh “văng miểng” viết rằng “Đài truyền hình dùng cách dựng ra một “Linh mục ở Bắc Ninh”. Màn kịch này nhanh chóng bị giáo dân ‘bóc mẽ’, sự bịa đặt bị phê phán là ‘trắng trợn nhớp nháp’ này đã bị ‘vạch trần’ trước muôn dân và dư luận quốc tế”.
Sự thực là thế nào?
Chương trình thời sự tối ngày 26 tháng 3 năm 2013 của đài truyền hình Trung ương VTV1 có đoạn phóng sự “Chức sắc tôn giáo góp ý sửa đổi Hiến Pháp 1992”, trong đó phỏng vấn ông Nguyễn Quốc Hiếu, với dòng chữ chú thích “Linh mục Nguyễn Quốc Hiếu, Chủ tịch Ủy ban đoàn kết Công giáo tỉnh Bắc Ninh”. Hai ngày sau, tòa giám mục Bắc Ninh ra thông báo xác nhận “Giáo phận Bắc Ninh Không Có Linh mục Nguyễn Quốc Hiếu”. Vậy là các con chiên dạng như JB vặn loa hết cỡ để lu loa với thiên hạ rằng “VTV dàn dựng linh mục ở Bắc Ninh”. Thiếu điều bắn pháo hoa ăn mừng vì “chiến tích” này! Nhưng bản chất sự việc có đúng như họ nói vậy không? Bất cứ ai ngoại đạo mà không có hứng thú tìm hiểu về ngóc ngách Ki tô giáo thì cũng chẳng để ý đến cha cố, cha xứ, linh mục, cha đạo, phó tế, giám mục,.. khác nhau thế nào. Do đó, việc ông Nguyễn Quốc Hiếu được chú thích là “linh mục” thì cũng có thể hiểu là do sự hiểu biết có hạn của nhân viên nhà đài về cơ cấu giáo hội, nhất là khi ông này có cái chức danh khá kêu “Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết công giáo tỉnh Bắc Ninh“. Chức danh này của ông Hiếu là thật và ông Hiếu cũng là một người theo Ki tô giáo nên không thể nói nhà đài “dựng” ông ấy lên.

Vậy “Ủy ban đoàn kết công giáo” là gì mà tại sao một người có chức danh như vậy lại bị con chiên JB và chủ chăn của mình “tẩy chay”? Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam là một tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, có mục đích “đoàn kết rộng rãi mọi người Công giáo, cùng toàn dân xây dựng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hoà bình, được xác quyết theo tinh thần Thư chung 1980 của Hội đồng Giám mục Việt Nam “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào” và nhiều Thư chung sau đó”, trong đó có những phong trào thi đua “Kính Chúa – yêu nước” và “sống tốt đời, đẹp đạo…“. Tiền thân của tổ chức này là Ủy ban Liên lạc những người Công giáo Việt Nam yêu Tổ quốc, Yêu hòa bình, gọi tắt là Ủy ban Liên lạc Công giáo toàn quốc, là tập hợp những người Công giáo “dám” chống lại sắc chỉ “không cộng tác với cộng sản” của Giáo hoàng Pio XII (1949) để cùng nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Pháp (trong khi phần còn lại theo Pháp chống lại Việt Minh!). Trong kháng chiến chống Mỹ, tại miền Nam cũng có một tổ chức tương tự là Hội Những người Công giáo kính Chúa yêu nước, sát cánh cùng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, chống lại ngụy quyền Việt Nam cộng hòa (một chính phủ mà chóp bu cũng toàn là con chiên của giáo hội La Mã). Ủy ban Đoàn kết tôn giáo Việt Nam hiện nay là tổ chức được hình thành dựa trên sự hợp nhất của 2 tổ chức công giáo yêu nước trên (1983).
Như vậy có thể hiểu được vì sao mà thành phần “chỉ yêu nước Chúa” như JB lại hằn học với những giáo dân chân chính “kính Chúa – yêu nước Việt”, rêu rao rằng Ủy ban Đoàn kết Công giáo là “cánh tay nối dài của Cộng sản” mà không thèm quan tâm đến việc quê cha đất tổ mình đã có từ ngàn đời trước khi “cánh tay nối dài của giáo hội La Mã” vươn đến đây. Miệng họ leo lẻo “cộng sản vô thần” nhưng cũng chính họ chụp mũ những người công giáo chân chính là “tay sai cộng sản”. Thật tình tôi không hiểu vì sao cái “chế độ cộng sản tàn bạo, vô thần” này lại cứ để cho những kẻ có truyền thống chống tổ quốc, hại nhân dân như vậy được yên ổn “hành nghề chống chế độ” như vậy? Thật là “tàn bạo” quá đi!

Trường hợp 2 – Ông Nguyễn Trọng Nghĩa: tác giả của bài viết Góp Ý Của Giáo Dân về Bản “Nhận Định Và Góp Ý Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp 1992 (Sửa Đổi Năm 2013) Của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam – Các Giám Mục Công Giáo Việt Nam”đăng trên sachhiem.net và được báo Nhân dân đăng lại với cái tên Nhiều điều chưa sáng trong một bản góp ý.
Sau khi đọc bài viết này của ông Nghĩa, con chiên “văng miểng” cho rằng “buộc phải nghi ngờ về sức khỏe tâm thần của ông” vì “trong đất nước Việt Nam này, hẳn không ai không biết (ngoại trừ những người cộng sản vô thần) rằng chưa có một giáo dân nào dám hỗn xược xưng “tôi” trước một linh mục chứ chưa nói đến với Giám mục hoặc Hội đồng Giám mục Việt Nam. Điều đó không chỉ là quy định, mà là sự tôn kính tối thiểu cần có đã thấm vào máu của mỗi giáo dân” (sic) và “ở Giáo hội Công giáo không có quan niệm hỗn mang kiểu “đồng chí cha, đồng chí con, đồng chí vợ, đồng chí chồng”. Bức thư phần đầu xưng “Tôi”, phần sau xưng “Con” như một sự ‘hoang tưởng’ của một người có đầu óc không bình thường”.
Đọc qua những dòng trên, quả thật tôi cũng “buộc phải nghi ngờ về sức khỏe tâm thần của” ông chiên JB, bởi lẽ anh ta đã “hoang tưởng” đến mức cho rằng “trong đất nước Việt Nam này, ngoại trừ những người cộng sản vô thần” thì ai cũng phải biết về lề lối xưng hô, tôn ti trật tự của giáo hội. Không biết Phật giáo, Cao Đài, Hồi giáo, Hòa Hảo,… có “huấn luyện” giáo dân của họ về điều đó hay không nhưng tôi thấy lương dân như tôi cũng không phải là ai cũng biết điều mà anh ta cho rằng “không ai không biết” ấy. Đương nhiên là trong giáo hội công giáo sẽ không có cái danh xưng“đồng chí cha, đồng chí con, đồng chí vợ, đồng chí chồng” mà chỉ có “cừu cha, cừu con, cừu vợ, cừu chồng” nên JB tỏ ra rất phấn khích khi đọc được chữ “tôi” trong bài viết của ông Nguyễn Trọng Nghĩa. Nếu chịu khó suy nghĩ và chịu khó hiểu thì chúng ta thấy rằng bài viết này chia làm 2 phần: phần trình bày ý kiến của ông Nghĩa về bản góp ý của Hội đồng giám mục gửi cho Sách hiếm nên xưng “tôi” và một phần gửi gắm tới các vị chức sắc giáo hội để giải thích cho hành vi “phạm thượng” này trong trường hợp họ đọc được bài viết nên xưng “con” (mục “Tại Sao Phải Góp Ý Bản Góp Ý Của Các Vị Giám Mục”).
Để củng cố giả thiết của mình, anh Vinh “văng miểng” mời thêm vài “diễn viên quần chúng” ra làm bình phong: “Người dân địa phương cho biết ông có hiện tượng đầu óc bị ‘man mát’, hay không bình thường về thần kinh, sức khỏe tâm thần. Gặp gỡ linh mục Chánh xứ, ông nội của ông Nghĩa đã than phiền về sự mâu thuẫn giữa ông Nghĩa với ông nội và cha mẹ ruột, người ông nội cũng cho hay đã không gặp gỡ và tỏ ra lo lắng cho ông Nghĩa về mặt nhân cách và đạo đức.”
rồi reo lên sung sướng:
“Thế có vẻ là đã quá rõ. Một người không còn giữ các lề luật Giáo hội, không tham gia, không còn liên hệ với giáo hội đã chục năm nay, bỗng nhiên được Báo Nhân Dân gọi là “Công dân theo Thiên Chúa giáo”?”

Thật là “cười rung cả rún” với con chiên “văng miểng” này. Tác giả bài viết tự xưng là“giáo dân giáo xứ Cao Lãnh”, báo Nhân dân đăng là “Công dân theo Thiên chúa giáo” thì có gì là sai mà con chiên JB cứ làm như thể tờ báo này tự ý gắn cái mác đó cho tác giả vậy. Giả sử cáo buộc của JB rằng ông Nghĩa đã “không còn giữ các lề luật Giáo hội, không tham gia, không còn liên hệ với giáo hội đã chục năm nay” là đúng thì không lẽ tờ báo này phải có trách nhiệm về Cao Lãnh để điều tra xem tác giả có phải là một giáo dân hay không thì mới được đăng bài? Không lẽ danh xưng “giáo dân” là một cái gì đó ghê gớm đến mức phải được xác minh trước khi ý kiến của họ được đưa ra cộng đồng? Ôi thế thì còn gì là “tự do ngôn luận” nữa!!!
Chưa hết, đến cả việc cho rằng ông Nghĩa “đã không còn liên hệ, không tuân phục những nguyên tắc, quy định” “nghĩa là anh đã tự đứng ra ngoài hàng ngũ công giáo” thì xem ra con chiên này đã tự ý tạo ra giáo luật cho riêng mình. Theo giáo luật của Giáo hội Ki-tô giáo La Mã hiện nay thì một giáo dân chỉ bị vạ tuyệt thông khi:

  1. Người bội giáo, lạc giáo hay ly giáo, sẽ bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết.
  2. Ai ném bỏ Bánh Thánh, lấy hoặc giữ với mục đích phạm thánh, bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh.
  3. Người nào hành hung Đức Thánh Cha sẽ mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh.
  4. Ai thi hành việc phá thai, và việc phá thai có kết quả, sẽ mắc vạ tuyệt thông tiền kết.
  5. Tư tế hành động ngược lại các quy định ở điều 977, sẽ bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh.
  6. Linh mục giải tội nào vi phạm trực tiếp ấn bí tích, phải bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh.
  7. Giám mục nào không có ủy nhiệm thư giáo hoàng mà phong chức giám mục cho người khác, cũng như người nào được thụ phong do giám mục ấy sẽ mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh.

Vậy thì, với những gì mà JB kể lể, rõ ràng ông Nguyễn Trọng Nghĩa vẫn chưa từng bị rút phép thông công bởi giáo hội, hay nói cách khác là ông vẫn đang trong tình trạng“hiệp thông” với giáo hội. Còn tại sao ông Nghĩa không liên hệ với giáo hội hoặc mâu thuẫn với gia đình (nếu là thật) thì hoàn toàn dễ hiểu bởi những gì ông ấy đã làm, đã thể hiện (với khát khao không là một con chiên mù quáng) là trái với chủ trương“đóng khung tư tưởng cừu” của giáo hội. Mà trái với ý của những người nhân danh Chúa thì đương nhiên phải là những kẻ “đầu óc bị ‘man mát’, hay không bình thường về thần kinh, sức khỏe tâm thần” chứ còn gì!!! Nếu “bình thường” như các con chiên khác thì ông Nghĩa đã không có những câu hỏi “phạm thượng”, “móc họng” các bề trên thế này: Khi Đức Tin Bị Thử Thách Ta Phải Làm Gì? Vì không“bình thường” như các con chiên khác nên ông Nghĩa không thể an phận đờ đẫn vểnh tai mà nghe những giáo huấn thế này:

Trích tuyên ngôn chính thức của đạo Tin Lành tại Việt Nam.
1) “ Mọi giao ước mà các thế hệ trước của dân tộc Việt Nam đã lập với (quỉ – tqd) Sa-tan, từ nay đã bị hủy bỏ hoàn toàn. Amen”.
2) “Nhân danh Đức Chúa Giê-xu Christ, chúng tôi công bố: nước Việt Nam và mọi người Việt Nam, vốn là tài sản của Đức Chúa Trời, nay đã được dâng trả lại cho Ngài, tùy ý Ngài sử dụng cho vinh hiển của Ngài”.
3) “…với tư cách làm chức thầy tế lễ của Đức Chúa Trời, một dân thánh biệt riêng cho Ngài, ngay bây giờ hiệp làm một như một người, đại diện cho thân thể của Đấng Christ tại Việt Nam, đại diện cho dân tộc Việt Nam ở trước mặt Đức Chúa Trời”.

Sách hiếm, Giao điểm là tay sai của Cộng sản?

Mũi nhọn cuối cùng của con chiên “văng miểng” chĩa vào hệ thống truyền thông của Nhà nước và báo Nhân dân là cáo buộc 2 trang web Sách hiếm và Giao điểm là công cụ của Nhà nước để “mang danh Phật Giáo để đâm lưng Công giáo”. Cơ sở của cáo buộc này là “một ‘văn bản yêu cầu’ Tổng cục Hải Quan Việt Nam ‘hỗ trợ’ một Việt Kiều đưa 420 quyển tạp chí ‘Giao Điểm’ được in trong nước đưa ra nước ngoài để ‘phục vụ tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta'”.Đây là một chuyện đã xảy ra cách đây 5 năm và đã được các bên liên quan làm rõ tại đây: Phỏng Vấn Ông Bùi Hồng Quang Về Một Văn Thư của Cục An Ninh. Không biết có phải JB nghĩ rằng chuyện đã quá lâu, không ai biết nên “khai quật” lên để “nhát ma” thiên hạ?
Vì chuyện đã quá lâu và đã có giải thích của người trong cuộc nên tôi chỉ điểm sơ qua thế này:
– Giả sử những chứng từ kia là “đồ thật” thì việc hỗ trợ đó cũng là rất bình thường nếu không muốn nói là cần hoan nghênh. Cụm từ “phục vụ tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta” có thể hiểu rằng: 1) việc hỗ trợ Việt kiều in ấn / phát hành / truyền bá văn hóa trong nước ra nước ngoài nói riêng, các ngành nghề khác nói chung là chủ trương, là chính sách của Đảng và nhà nước, để từ đó kêu gọi Việt kiều yên tâm về nước đầu tư; 2) Vì đây là những ấn phẩm “thuần túy tôn giáo” nên có tác dụng tuyên truyền đường lối, chính sách về “tự do tôn giáo” của Đảng và nhà nước. Và thực tế nội dung của các ấn phẩm này (tạp chí Giao điểm số 65) chẳng có gì liên quan đến việc tuyên truyền cho CNCS cả.
– Tạp chí Giao điểm được thành lập từ 1990, trước cả khi Mỹ bỏ cấm vận đối với Việt Nam. Nếu quả thực đó là “tay sai của CSVN” thì chúng ta rất nên tự hào khi đã có một tạp chí thuần tôn giáo hình thành và phát triển “sâu gốc bền rễ” trong cộng đồng người Việt tại Mỹ. Đó là cái tát thích đáng vào những cái mồm leo lẻo rằng Việt Nam ngăn cấm tự do tôn giáo.

Con chiên Nguyễn Hữu Vinh với cái tư duy cừu của mình không thể hiểu được điều đó nên gân cổ lên rằng: “Người ta mệnh danh Phật giáo để ‘điên cuồng xuyên tạc’ và ‘chống phá Công giáo’. Việc ‘đánh phá Công giáo’ ở những trang này có thể coi là sự bất chấp sự thật, bất chấp lý lẽ, bất chấp luân thường đạo lý, miễn đúng như định hướng mà Đảng CSVN đã đưa ra. Người ta có vẻ không cần quan tâm đến những gì Đức Phật đã dạy, những nguồn gốc sự đau khổ của con người Việt Nam, miễn là làm ‘vừa lòng ông chủ’ và cơn ‘hận thù mù quáng’ của họ”.

Thứ nhất, với những gì tôi đọc trên trang Sách hiếm thì tất cả các bài viết mà JB cho là “chống phá Công giáo” đều có ký tên rõ ràng của người viết chứ không hề nhân danh Đức Phật hay Phật giáo hay thậm chí là Phật tử.

Thứ hai, theo tôi đọc thì những tác giả như GS Trần Chung Ngọc, GS Nguyễn Mạnh Quang,… trích dẫn ngay từ kinh thánh ra và có chú thích rõ ràng chứ chẳng hề “điên cuồng xuyên tạc” như con chiên JB vu cáo. Tôi cũng thấy có nhiều con chiên và chủ chăn khác vào đấu lý với các tác giả này và đều được “dắt tay chỉ dẫn” từng chỗ, từng chỗ trong thánh kinh.

Thứ ba, nếu muốn “chống phá Công giáo” thì Nhà nước Việt Nam đâu cần phải“mệnh danh Phật giáo” làm gì vì những bê bối của Ki-tô La Mã được liệt kê đầy rẫytrên các phương tiện truyền thông nước ngoài đó thôi: nào là 7 núi tội ác, nào là ấu dâm, nào là tham ô – bài bạc,… Trong khi đó, truyền thông của cái chế độ đang bị tố là“chống phá công giáo” lại chẳng hề mặn mà gì với việc phơi bày bản chất của các vị buôn thần bán thánh này, thậm chí còn ca ngợi và cổ vũ cho những người Công giáo chân chính sống tốt đời đẹp đạo. Thế mới lạ chứ!

Thứ tư, Nhà nước Việt Nam chẳng có lý do gì để chống Công giáo nếu tôn giáo này hoặc những người lợi dụng nó không làm những điều gây tổn thương đến lợi ích quốc gia vì có một thực tế là khi kinh tế – khoa học kỹ thuật càng phát triển thì người dân càng có xu hướng tự giải thoát mình khỏi thân phận con cừu cho người khác chăn. Theo số liệu từ World Christian Database thì số người theo Kitô giáo tại châu Âu (cái nôi của đạo này) đã giảm từ 38,5% dân số năm 1970 xuống còn 23,7% dân số năm  2012.

Thứ năm, con chiên JB cũng như những kẻ lợi dụng tôn giáo làm chính trị luôn lải nhải cái luận điệu ngu dốt “cộng sản vô thần, đàn áp tôn giáo” nhưng khi có vấn đề với các tôn giáo khác hoặc với chính những người trong tôn giáo của mình (Ủy ban đoàn kết tôn giáo) thì lại cáo buộc họ là “tay sai cộng sản”! Tại sao cộng sản lại chỉ “chống công giáo” mà không chống các tôn giáo khác?

Thứ sáu, JB cho rằng Sách hiếm, Giao điểm (đứng sau là Đảng CSVN) có “hận thù mù quáng” với Ki-tô giáo nhưng chẳng hề nói ra được đó là hận thù vì cái gì, như thế nào. Đây là một sự chụp mũ vô căn cứ vì khi đọc các trang web này, người đọc sẽ thấy các bài viết đều có chú thích rõ ràng nguồn gốc của thông tin (hầu hết là trích dẫn từ kinh thánh!) và mục đích của người viết dường như là để “giải độc tín ngưỡng”cho những người bị lợi dụng hoặc thiếu hiểu biết. Cũng may là con chiên JB đang sống dưới “ách cai trị của độc tài cộng sản” chứ sống ở “thế giới tự do Hoa Kỳ” thì chắc cũng sẽ chung cảnh ngộ với con chiên Thomas Nguyễn (Nguyễn Văn Thạch), người bị tòa án Mỹ tuyên phạt hơn 150 ngàn đô la Mỹ vì tội vu không Giao điểm là cộng sản.

Nói tóm lại, đọc qua bài viết của con chiên JB Vinh “văng miểng”, tôi chỉ thấy ở đó có sự cùng quẫn về lý lẽ, hiểu biết, tâm thức của một kẻ mắt không nhìn quá ngọn roi, tai không nghe quá được những mệnh lệnh chăn dắt của chủ chăn nhưng lại ôm mộng tưởng chống lại cả thế giới bên ngoài cái chuồng của mình.

[link gốc bài viết tại doimat]

Cũng như các lực lượng khác trong xã hội, báo chí cũng có diễn biến tiêu cực, tham nhũng và cũng là một “mảnh đất lắm người nhiều ma”.

Các cơ quan quản lý và bạn đọc đã nhiều lần ghi công chống tiêu cực tham nhũng của báo chí. Bảng vàng chống tiêu cực của Hội Nhà báo Việt Nam, nếu có, không thể không ghi nhận đóng góp của báo chí với tư cách người phát hiện những dấu hiệu ban đầu của các vụ án tham nhũng và tiêu cực “động trời” đã được đưa ra xét xử với khung án cao nhất của pháp luật. Đã có mùa trao giải báo chí quốc gia, một loạt tác phẩm báo chí được giải cao khi “động” vào nạn ăn cắp than, nạn phụ thu lạm bổ tính vào hạt thóc một nắng hai sương của bà con nông dân, nạn bạo hành ở cơ sở nuôi dạy trẻ, không ăn thì… tát và nhiều vụ tham nhũng khác.Đồng hành cùng sự nghiệp xây dựng Đảng, chống tham nhũng, tiêu cực, lực lượng báo chí đang làm tốt sứ mệnh cao cả của mình, xứng đáng với phần thưởng cao quý: Huân chương Sao Vàng mà Đảng, Nhà nước trao tặng. Đấy là thông điệp vui. Nhưng còn thông điệp không vui?

Thì đây, trong cuộc gặp mặt báo chí tất niên ngày 27/12/2012 đâu phải tình cờ mà ông Nguyễn Văn Bình, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước nói rằng: “Điều tôi trăn trở là trong 100% khó khăn của ngành ngân hàng thì báo chí gây ra đến 40-50%. Sự ủng hộ, đồng thuận của báo chí chưa cao, chạy theo vụ việc đơn lẻ, thổi lên quá đà, tạo dư luận chung trong xã hội không tốt…”.

Phát biểu bâng quơ trên khiến các tổng biên tập và phóng viên buộc phải nghĩ ngợi. Không lẽ báo chí gây khó đến thế cho ngân hàng ư? Không, không thể như thế được? Suốt cả năm có báo nào bị nhắc nhở, chấn chỉnh do thông tin sai lệch về ngân hàng đâu?

Tuy nhiên, cũng như các lực lượng khác trong xã hội, báo chí cũng có diễn biến tiêu cực, tham nhũng và cũng là một “mảnh đất lắm người nhiều ma”. Có thể các tổng biên tập không biết rằng, “quân” của mình có tên trong “liên minh đánh hôi”, đủ khả năng tập hợp dăm ba tờ báo “hai ba” cùng đăng một loại bài nhân danh chống tiêu cực mà trong đó những chi tiết cốt tử giống nhau đến “từng centimét”. Tốn phí trong phi vụ này chỉ bằng một suất chạy thi công chức ở Hà Nội mà ông Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Thành ủy công bố trước HĐND gần đây. Người giữ mối liên hệ phi vụ “đen” này là người trong “nhóm mua” đã mua đứt một tờ cuối tuần.

Đây là chuyện “lính” báo. Còn “quan” báo thì sao? Có những câu chuyện lan truyền trong giới thạo tin về hành tung của một vài vị “quan báo”. Một doanh nhân thổ lộ với nhà báo, có ông “quan báo” nhắn tin vào máy rằng, hiện có đơn kiện với doanh nhân này và báo sẽ đăng… Và sau đó là tin nhắn xin tài trợ một khoản tiền bằng lương tháng của cả một tổ sản xuất, để tổng biên tập báo hoạt động xã hội. Doanh nhân này trả lời, đăng báo đơn tố cáo là quyền của báo nhưng xin lưu ý, đây là đơn nặc danh. Riêng việc tài trợ an sinh xã hội thì doanh nghiệp sẵn lòng, đề nghị gửi cho một công văn. Và sau đó báo vẫn đăng và không có công văn xin tiền với lời nhắn không cho thì thôi!? Chuyện này doanh nhân không công bố cụ thể nhưng chúng tôi mới biết sau khi “quan báo” này được miễn nhiệm.

Còn một “quan báo” khác, để nâng đỡ “người của mình” đã “vay” một khoản tiền lớn để “sửa nhà”. Tuy nhiên, người vợ lại phủ nhận việc vay mượn sửa chữa nhà cửa này. Anh chàng “chạy chọt” kia không may phải hầu tòa nên mới vỡ chuyện “hạ điểm chuẩn” để cất nhắc “quân ta”. Lại có “quan báo” vung tay quá trán tiêu lạm, thưởng bừa đến nỗi ông hạ cánh vẫn không an toàn vì thanh tra, kiểm toán phát hiện tiền tỉ chi sai, chi vượt. Tội nghiệp cả tờ báo phải nhịn thưởng vài năm chưa chắc đã trả xong khoản chi vượt ngưỡng.

Còn một vị “quan báo” đương chức khác đang bị chính cán bộ chủ chốt của báo mình công khai kiện lên cơ quan chủ quản và cơ quan quản lý báo chí về hàng loạt sai phạm trong công tác cán bộ, quản lý tờ báo. Mấy thông tin này thật khó kiểm chứng dù không ít phóng viên biết khá rõ “quan báo” đó là ai. Mới đây tôi có nhận được cú điện thoại của bạn đọc chất vấn vì sao vẫn có trang mạng, báo điện tử thích thông tin hình sự, đời tư, scandal, lộ hàng? Tôi cãi lại, ông xem lại đi, “nó” không phải là báo điện tử mà là trang mạng “cáo mượn oai hùm”, ai bảo xem làm gì? Nhưng quả thật chưa bao giờ các trang mạng lộng hành tác oai tác quái như hiện nay.

Trong cuộc chạy đua chiếm lĩnh thị phần báo chí này chỉ béo các trang mạng. Một sự thật được đưa ra tại hội thảo nghiệp vụ báo chí là, trong khi một phóng viên có kinh nghiệm phải mất nhiều thời gian cho một tin, một bài. Nhưng một nhân viên trang mạng thạo cắt dán thì chỉ trong một giờ có thể tạo ra cả chục tin bài. Kết quả là có những trang điện tử mỗi tuần post lên hơn 1.000 tin, trong đó hầu hết thông tin đều luộc – cắt – dán của báo khác. Mới đây một số tổng biên tập báo điện tử (trong đó có cả Tổng biên tập Báo Năng lượng Mới và trang tin nhanh Petrotimes) đã thống nhất cùng “kiện” lên các cấp quản lý, đề nghị phải có biện pháp nhằm chấm dứt tình trạng các trang mạng chuyên ăn cắp tin, bài đưa lên mạng và đem bán.

Chính vì vậy, nhà báo Đỗ Phượng, cựu Tổng giám đốc Thông tấn xã Việt Nam đã kiến nghị rằng: “Phải rà soát lại đội ngũ lãnh đạo các báo, nhất là báo mạng, trước khi rà soát đội ngũ phóng viên. Tôi tin các phóng viên trẻ họ chỉ cần sự hướng dẫn đúng đắn, họ sẽ cho chúng ta thông tin tốt”.

Nhận diện các dạng vi phạm đạo đức nghề nghiệp trong thực tiễn hoạt động báo chí, các tham luận tại hội thảo này đã cho rằng, vi phạm có ở nhiều bước trong hoạt động tác nghiệp, nhưng tập trung nhiều nhất ở quy trình khai thác, xử lý nguồn tin. Thứ trưởng Bộ Thông tin Truyền thông Đỗ Quý Doãn cho rằng, nhà báo phải xác định, bản thân mình trước hết phải là công dân có đạo đức. Báo chí đặc thù nên cũng có những chuẩn mực riêng.

Về tình trạng sai sót ngày càng nhiều, Thứ trưởng Doãn cũng cho biết thêm, trong 2 năm 2010-2011, Bộ Thông tin Truyền thông đã tiếp nhận và xử lý 600 đơn thư khiếu nại, tố cáo trên 200 vụ việc, đã xử lý hơn 100 trường hợp vi phạm trong hoạt động báo chí. Năm 2010 xử lý 51 trường hợp, trong đó có 42 trường hợp ở báo in, 6 trường hợp báo điện tử và 3 trường hợp ở phát thanh, truyền hình; thu thẻ nhà báo 4 trường hợp. Năm 2011 xử lý 51 trường hợp, trong đó cảnh cáo 1 trường hợp, nhắc nhở 14 trường hợp. Năm 2012 vẫn còn nhiều vi phạm phải nhắc nhở, xử lý.

Thông tin của báo chí không chỉ tác động đến một, hai người mà cả triệu người. Những thông tin thiếu trung thực, kiểu giật gân, thiên lệch, thiếu tính xây dựng… gây ảnh hưởng rất lớn đến tổ chức, cá nhân. Có doanh nghiệp phá sản vì thông tin sai lệch của báo chí… Người làm báo phải xác định trách nhiệm xã hội, trách nhiệm công dân của mình. Mọi quy định, quy ước chỉ nhằm việc tôn trọng pháp luật. Vì thế, trước hết các nhà báo hãy thực hiện đúng, đầy đủ những quy định pháp luật về hoạt động báo chí.

Nhà báo lão thành Hà Đăng, nguyên Trưởng ban Tuyên giáo T.Ư nhấn mạnh: Đạo đức nghề nghiệp của người làm báo, suy cho cùng đều cốt ở bốn chữ “trung thành” và “trung thực”. Trung thành với tổ quốc và nhân dân, với lý tưởng cách mạng, với sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trung thực với bản thân, với bạn bè và đồng nghiệp, với nghề báo, với cuộc sống xã hội của đất nước và dân tộc.

Báo chí biết chống tiêu cực, tham nhũng trong xã hội càng phải vượt lên chính mình để tự khắc phục sai phạm yếu kém. Các tổng biên tập tiêu cực, non kém, buông lỏng quản lý nội bộ cần được thay thế để làm trong sạch báo mình trước đã rồi hãy vào cuộc chống tiêu cực tham nhũng!

MINH NGHĨA (NĂNG LƯỢNG MỚI)

Câu lệnh Set RowCount trong SQL Server

Hôm nay tôi chia sẻ chút kiến thức về câu lệnh Set RowCount trong SQL Server.

Ta xem câu lệnh sau:

1
2
3
4
5
6
USE AdventureWorks;
GO
SELECT count(*) AS Count
FROM Production.ProductInventory
WHERE Quantity < 300;
GO

Đó là 1 câu lệnh hoàn toàn đơn giản, kết quả của nó là:

1
2
3
4
5
Count
 -----------
 537
(1 row(s) affected)

Bây giờ, dùng câu lệnh RowCount để update số dòng theo điều kiện của câu select ở trên, ta thấy chỉ có 4 dòng bị tác động

1
2
3
4
5
6
SET ROWCOUNT 4;
UPDATE Production.ProductInventory
SET Quantity = 400
WHERE Quantity < 300;
GO
(4 row(s) affected)

Câu lệnh RowCount có tác dụng dừng xử lý cho các câu lệnh Insert, Select, Update theo số dòng chỉ định, như ví dụ ở trên ta yêu cầu chỉ update 4 dòng, mặc dù điều kiện Where trả về nhiều kết quả hơn.

1 vấn đề đặt ra là câu lệnh Set RowCount có gì khác so với câu lệnh Select top?

Câu trả lời là việc xử lý bị dừng ngay lập tức khi số dòng trả về bằng số dòng được định nghĩa trong RowCount. Còn câu lệnh Select top thì nó vẫn trả về toàn bộ số dòng bên trong SQL Server, rồi sau đó mới lấy top n record trả về.

Set RowCount vẫn được SQL Server 2012 hỗ trợ, tuy nhiên nó sẽ bị loại bỏ ở phiên bản tiếp theo của SQL Server.

Tham khảo: http://msdn.microsoft.com/en-us/library/ms188774.aspx

Quang Vinh
mai.quangvinh@sqlvn.com

Lợi ích địa chính trị, chứ không phải vì thành công trong xây dựng nền dân chủ .

обама пресс-конференция обама сша
Gần đây một số báo chí , các hãng truyền thông ở hải ngoại có những bài viết ca ngợi “mùa xuân Myanma” họ gọi đó là bước chuyển mình “ngoạn mục” về dân chủ ? và đặt câu hỏi liệu bao giờ có “Mùa xuân Việt nam” ? Để nhận diện cho rõ về vấn đề này chúng ta phân tích có phải thực sự myanma đã đạt được những “thành tựu dân chủ” như các hãng truyền thông tung hô khi mà họ có cách nhìn phiến diện đối với Việt Nam về vấn đề dân chủ .
Chuyến công du nước ngoài đầu tiên sau khi tái đắc cử của Tổng thống Barack Obama là đến các quốc gia Đông Nam Á, mặc dù các nước này hoàn toàn nằm xa trung tâm chính trị thế giới. phân tích mục tiêu chính sách Mỹ trong khu vực. Myanmar sẽ trở thành một đấu trường mới của Trung Quốc và Hoa Kỳ. Chúng ta có thể xâu chuỗi các sự kiện xảy ra để có một nhìn nhận khách quan sau khi Hoa Kỳ nối lại quan hệ với Myanmar.
Năm 1988 Hoa Kỳ áp đặt trừng phạt nghiêm trọng đối với Myanmar, nơi mà quân đội nắm quyền. Tuy nhiên, trong cuộc đấu tranh với chính quyền quân sự, Mỹ đã đánh mất vị trí và ảnh hưởng của họ ở đất nước này. Trung Quốc bắt đầu giữ thế chủ động, tích cực phát triển quan hệ chính trị và kinh tế với Myanmar. Hoa Kỳ, phương Tây nói chung đã bỏ lỡ cơ hội, khiến Trung Quốc nắm được con đường thông qua Myanmar tới Ấn Độ Dương, đặc biệt đã được nhấn mạnh trong vấn đề kịp thời giao nhận đường ống trung chuyển khí đốt, chạy theo biên giới Trung Quốc-Myanmar đến cảng ở Ấn Độ Dương và Trung Quốc. Đường ống này rất cần thiết để bơm năng lượng nhập khẩu, nhất là trong trường hợp bất khả kháng Mỹ chặn đường các tàu chở dầu của Trung Quốc ở eo biển Malacca.Vì vậy, để giữ thể diện, hiện nay Hoa Kỳ đang cố gắng giành chiến thắng thích hợp ở đất nước này. Tất nhiên, quân bài chính là phe đối lập Myanmar. Quân bài đó đang được sử dụng. Aung San Suu Kyi là nhân vật nổi bật nhất của phe đối lập, phương Tây sẽ làm bất cứ điều gì để thúc đẩy bà ta thành nhà lãnh đạo quốc gia tiềm năng. Chưa thể nói rằng phe đối lập đã giành được quyền lực, nhưng trong tương lai, tất nhiên, nó sẽ con chủ bài của Mỹ. Họ sẽ cố gắng để đưa bà ta lên nắm quyền. Vì vậy. Các công ty Mỹ được phép đầu tư vào những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế Myanmar, bao gồm cả công nghiệp dầu khí. Đồng thời họ có cơ hội cung cấp cả dịch vụ tài chính. Đây đều là các khu vực mà Trung Quốc hiện đã chiếm ưu thế. Trung Quốc nhanh chân củng cố vị trí ngay sau khi Hoa Kỳ áp đặt biện pháp trừng phạt cứng rắn đối với Myanmar, kể từ khi thế lực quân đội ở nước này lên nắm quyền năm 1988. Ông Obama giải thích việc nới lỏng hạn chế do những cải cách tự do và tiến bộ hướng tới dân chủ đang xuất hiện ở Myanmar. Tuy nhiên, Mỹ tha thứ cho chế độ độc tài không phải bởi nguyên nhân này .Ở đây, lợi ích địa chính trị của Mỹ trong khu vực đóng vai trò trên hết. Những yếu tố này đi liền với cuộc đối đầu với Trung Quốc, nỗ lực kiềm chế tiềm lực ngày càng tăng, đặc biệt là về quân sự. Nhìn chung, bên cạnh Trung Quốc, Mỹ nỗ lực xây dựng mối quan hệ tương đồng với các nước khác trong khu vực, để nếu cần thiết dựa vào sự yểm hộ của họ hoặc ít nhất là thái độ trung thành. Xuất phát từ tính toán như vậy, Mỹ xây dựng quan hệ với Việt Nam và Ấn Độ. Các động thái của Mỹ cũng cần được đánh giá từ quan điểm lợi ích địa chính trị, chứ không phải sự ưu đãi vì thành công trong xây dựng nền dân chủ ở myanma.
Washington rõ ràng đang ve vãn phe đối lập và cả chính phủ Myanmar. Trước đây, tấm gương Thủ tướng Thein Sein và chính quyền quân sự là hoàn toàn không thể chấp nhận được đối với Hoa Kỳ. Trước khi bà Aung San Sun Kyi xuất hiện, Washington đã dỡ bỏ lệnh trừng phạt đối với Thein Sein, rõ ràng là có tính toán để nâng cao hình ảnh của bà. Việc hủy bỏ các biện pháp trừng phạt cũng được đưa ra đối với chủ tịch hạ viện của quốc hội, ông Shwe Mann. Ông nhân vật thứ ba trong chính quyền quân sự trước đây.
Mỹ bắt đầu ván bài mới vì quyền lợi của mình tại Myanmar .Phản ứng của Trung Quốc là tăng cường các mối quan hệ của mình với Myanmar.khẳng định ý định của Trung Quốc tăng cường hợp tác với Myanmar trong mọi lĩnh vực, bao gồm cả quân sự.
Chuyến thăm đầu tiên của tân lãnh đạo bất kỳ quốc gia nào sau khi lên nắm quyền thường mang ý nghĩa biểu trưng, khẳng định sự quan tâm đặc biệt đến quốc gia hoặc khu vực cụ thể. Ông Barack Obama không phải là một nhà lãnh đạo mới, tuy nhiên yếu tố biểu tượng trong chuyến công du nước ngoài đầu tiên của ông đến các nước Đông Nam Á sau khi tái đắc cử Tổng thống chắc chắc hiện hữu. Theo giới quan sát, nó thể hiện nguyện vọng của Tổng thống Mỹ tăng cường tập trung chú ý về hướng châu Á.
Chính tại châu Á đang tăng cường sức mạnh duy nhất có khả năng thách thức các mục tiêu chiến lược của Mỹ như hỗ trợ dân chủ và ổn định trên toàn thế giới ,cả ba quốc gia mà Tổng thống Obama đến thăm – Thái Lan, Myanmar và Cam-pu-chia đều đóng vai trò quan trọng đối với Mỹ. Tất cả 3 nước đều có rắc rối với Bắc Kinh và việc Mỹ cải thiện quan hệ với các nước này có thể giúp tạo ra lực lượng đối trọng với Trung Quốc vốn đang ngày càng gia tăng ảnh hưởng của mình.
Chuyến đi đến các nước Đông Nam Á bắt đầu từ ngày 18 tháng 11 bằng chuyến thăm Thái Lan – đồng minh truyền thống của Mỹ trong khu vực. Mối quan hệ của Washington với Bangkok luôn gần gũi, nhưng thời gian gần đây, Thái Lan lại tích cực phát triển quan hệ với Bắc Kinh. Trong chuyến thăm Trung Quốc vào tháng 4 năm 2012, Thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra đã công bố việc thành lập “quan hệ đối tác song phương toàn diện” giữa hai nước. Thủ tướng Ôn Gia Bảo xem Thái Lan là “người bạn và đối tác đáng tin cậy”. Kim ngạch thương mại song phương 2 nước cũng tăng trưởng, đạt gần 65 tỷ đôla Mỹ trong năm 2011. Nhiệm vụ đặt ra là đẩy mức thương mại lên 100 tỷ đôla Mỹ vào năm 2015. Bên cạnh đó, dân Trung Quốc cũng chiếm vị trí đầu tiên trong tổng số khách du lịch đến thăm Thái Lan (năm 2011 – 1,7 triệu). Điều thú vị là chính sách hạn chế sự hỗ trợ từ Mỹ và củng cố quan hệ với Trung Quốc được khởi xướng bởi anh trai bà Yingluck Shinawatra – cựu Thủ tướng Thaksin Shinawatra. Ông Thaksin Shinawatra bị lật đổ vào năm 2006 trong một cuộc đảo chính quân sự. Vì vậy, Washington dường như quyết định đã đến lúc phải tăng cường mối quan hệ với Bangkok.
Chuyến thăm Myanmar và Cam-pu-chia quả thật mang tính lịch sử vì trước đây các nhà lãnh đạo Mỹ chưa bao giờ đến thăm các quốc gia này. Tại Myanmar, trong nhiều thập kỷ qua chế độ quân sự chống phương Tây cầm quyền, chủ trương phát triển quan hệ chặt chẽ với Trung Quốc. Trong khi các quốc gia phương Tây áp đặt biện pháp trừng phạt Myanmar do vi phạm nhân quyền, Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại quan trọng nhất của quốc gia khép kín này, cung ứng các khoản vay tín dụng, các công ty của Trung Quốc xây dựng cơ sở hạ tầng (đập, đường giao thông, bến cảng, cầu), khai thác mỏ, … Tuy nhiên, trong năm 2011, chính phủ quân sự cầm quyền đã phải đứng trước cuộc cải cách hạn chế, chính quyền đã được chuyển giao cho người dân. Bầu cử được tiến hành, trong đó có sự tham gia của các ứng viên không chính thức. Ở giai đoạn sau, nhà lãnh đạo nổi tiếng của phe đối lập bà Aung San Suu Kyi còn được bầu vào Quốc hội. Có những tín hiệu cho thấy chính quyền Myanmar đang chịu gánh nặng khi phải đơn phương phụ thuộc vào Bắc Kinh và nước này đồng ý thiết lập mối quan hệ với phương Tây. Còn một điều không hài lòng ở đây là sự hỗ trợ của Trung Quốc đối với 1 số dân tộc thiểu số có thái độ cực đoan sống ở gần biên giới
Rõ ràng, Washington đưa ra những phản ứng nghiêm túc trước các tín hiệu từ Myanmar. Trong bài phát biểu tại trường Đại học Yangon ngay trước chuyến thăm, Tổng thống Barack Obama đã công bố việc giảm bớt các biện pháp trừng phạt kinh tế, đồng thời nhắc lại lời hứa trong lễ tuyên thệ nhậm chức năm 2009 rằng Mỹ sẵn sàng chìa tay với các chính phủ từng dùng thế mạnh của sự sợ hãi để kiểm soát người dân, nếu họ sẵn sàng “buông lỏng quả đấm” của mình.
Chuyến thăm Campuchia của Tổng thống Obama chính thức gắn liền với Hội nghị thượng đỉnh ASEAN. Tổng thống Mỹ đã tránh né các vấn đề quan hệ song phương và chỉ tiến hành một cuộc gặp lễ tân với Thủ tướng Campuchia Hun Sen, vốn bị Mỹ cáo buộc độc tài và truy kích phe đối lập. Các vấn đề lớn đã được Tổng thống Mỹ thảo luận với các nhà lãnh đạo ASEAN tại Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN lần thứ 4, cũng như trong tiến trình đàm phán riêng với Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo và Thủ tướng Nhật Bản Yoshihiko Noda.
Đương nhiên, Mỹ không muốn quan hệ với Bắc Kinh xấu đi. Trung Quốc và Mỹ có sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế, kim ngạch thương mại giữa 2 nước đang đạt mức khổng lồ, Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Trung Quốc chắc chắn sẽ có những vấn đề cần thảo luận. Nhưng cùng một lúc, Washington rõ ràng đang cố gắng mở rộng quan hệ với các nước láng giềng Trung Quốc, bao gồm các nước ASEAN để tạo thế đối trọng với sức mạnh ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực. Chính thái độ cứng rắn của Bắc Kinh trong các tranh chấp lãnh thổ, cũng như trong các tranh chấp khác với các nước láng giềng là lý do chính khiến các nước này mong muốn Mỹ tăng cường sự có mặt của mình tại đây.Hơn nữa, Washington đang củng cố vị trí của mình ở Myanmar và các nước khác ởHơn nữa, Washington đang củng cố vị trí của mình ở Myanmar và các nước khác ở Đông Nam Á trong khuôn khổ chiến lược chung mang tên “sự trở lại châu Á của Hoa Kỳ”. Những “công trạng” cũ của Bắc Kinh trước chính quyền quân sự khó mà có thể cứu vãn được tình thế hiện nay, chính quyền Myanmar buộc phải hành động trong những điều kiện hoàn toàn mới.
 Đối với việt Nam thì chính sách của Hoa kỳ chúng ta có thể hiểu thông qua phát biểu sau của ông Andrew Billo từng làm việc ở Việt Nam bốn năm cho Tổ chức Di dân Quốc tế (2004-2008), ông hiện là trợ lý giám đốc về các chương trình chính sách của Asia Society đặt trụ sở ở New York trả lời phỏng vấn trên BBC việt ngữ về quan hệ Việt- Mỹ “Quan hệ Việt – Mỹ, vốn đã vững chắc, đang phát triển mạnh hơn nữa không chỉ nhờ hợp tác đầu tư và thương mại, mà còn là kết quả của các tranh chấp trên vùng biển Nam Trung Hoa (mà Việt Nam gọi là Biển Đông).Quan hệ với Việt Nam quá quan trọng khiến Mỹ không thể có hành động có ý nghĩa để ngăn vi phạm nhân quyền. Tuy nhiên, các tổ chức phi chính phủ và hệ thống Liên Hiệp Quốc, thông qua các dự án nhằm giúp chính phủ Việt Nam giải quyết lo ngại nhân quyền hiệu quả hơn, có thể có tác động quan trọng. Dẫu sao hợp tác vẫn hiệu quả hơn là tạo áp lực từ bên ngoài. Barack Obama, và Ngoại trưởng Hillary Clinton, đang thừa hưởng di sản hợp tác của đảng Dân chủ với Việt Nam, phát triển từ sau chuyến thăm lịch sử của Tổng thống Clinton năm 2000. Nếu John Kerry, một cựu binh Việt Nam, tiếp quản chức ngoại trưởng, đó sẽ có thể là cú hích hợp tác nhờ sự tôn trọng ông dành cho Việt Nam và nỗ lực của ông nhằm dỡ bỏ lệnh cấm vận năm 1994″.
Houston 25-11-2012

Bài viết này sẽ hướng dẫn các bạn cài đặt Domain Controler trên Windows Server 2012 và join domain từ 1 máy Windows XP.
Trước hết các bạn cần chuẩn bị môi trường để chúng ta thực hiện việc setup domain:

1/Windows Server 2012
-Computer name: AD
-IP: 192.168.2.1
2/Windows XP SP2
-Computer name: Client1
-IP: 192.168.2.10

*** Chú ý:Trên Windows Server 2012 lệnh “dcpromo” đã bị loại bỏ bởi Microsoft

Nào bây giờ chúng ta bắt tay vào làm thôi:

  • Mở server manager chọn Add role and features

Domain controler Winserver 2012

Chọn Next

Domain Controler trên Windows Server 2012

Trên Installation Type chọn Role-based or Feature-based Installation 

windows server 2012 domain controller

Trên menu Server Selection chọn Select a server from the server pool và click Next

windows server 2012 domain controller

Để cài đặt AD DS, chọn Active Directory Domain Services, sau khi pop-up hiện ra chọn Add features

Active Directory Domain Services for Windows Server 2012

Sau đó cứ tiếp tục Next => Next cho đến khi tới trang Confirmation, tại đây bạn có thể ấn Next để tiếp tục cài đặt hoặc cấu hình thêm ở những tính năng khác( màu vàng)

Active Directory Domain Services

Sau đó chọn Close để hoàn tất

 Active Directory Domain Services

Sau khi setup Active Directory Domain Services bây giờ chúng ta promote the server to a Domain Controller

Domain Controller.

Dể tạo domain mới chọn Add a new forest và nhập vào tên domain (idata) cần tạo

DOMAIN CONTROLLER

Tiếp tục chọn Next => Next cho đến khi hiện ra trang Prerequisite Checks chọn install

DOMAIN CONTROLLER

Đến khi nó hiện ra bảng sau thì bạn đã thành công

DOMAIN CONTROLLER

Bây giờ chúng ta join Windows XP vào domain, các bạn làm như hình bên dưới

Join Windows XP into domain

Join Windows XP into domain

Wow, vậy là chúng ta đã hoàn thành Lab. Thật đơn giản đúng không các bạn

Author:   Kahn Ho

CHÍNH PHỦ
——–

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————-

Số: 71/2012/NĐ-CP

Hà Nội, ngày 19 tháng 09 năm 2012

 

NGHỊ ĐỊNH

SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 34/2010/NĐ-CP NGÀY 02 THÁNG 4 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật giao thông đường bộ ngày 13 tháng 11 năm 2008;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải;

Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ,

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ cụ thể như sau:

1. Sửa đổi, bổ sung Điều 8 như sau:

“Điều 8. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe ô tô và các loại xe tương tự ô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm a, Điểm h, Điểm i, Điểm k Khoản 2; Điểm a, Điểm đ, Điểm e Khoản 3; Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm i, Điểm k Khoản 4; Điểm a, Điểm c, Điểm d Khoản 5; Điểm a Khoản 6; Điểm a Khoản 7 Điều này;

b) Chuyển hướng không nhường quyền đi trước cho: Người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ; xe thô sơ đang đi trên phần đường dành cho xe thô sơ;

c) Chuyển hướng không nhường đường cho: Các xe đi ngược chiều; người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật đang qua đường tại nơi không có vạch kẻ đường cho người đi bộ;

d) Khi dừng xe, đỗ xe không có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết;

đ) Khi đỗ xe chiếm một phần đường xe chạy không đặt ngay báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe theo quy định, trừ trường hợp đỗ xe tại vị trí quy định được phép đỗ xe;

e) Không gắn biển báo hiệu ở phía trước xe kéo, phía sau xe được kéo; không nối chắc chắn, an toàn giữa xe kéo và xe được kéo khi kéo nhau; xe kéo rơ moóc không có biển báo hiệu theo quy định;

g) Không giữ khoảng cách an toàn để xảy ra va chạm với xe chạy liền trước hoặc không giữ khoảng cách theo quy định của biển báo hiệu “Cự ly tối thiểu giữa hai xe”, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm i Khoản 4 Điều này;

h) Không tuân thủ các quy định về nhường đường tại nơi đường bộ giao nhau, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm d, Điểm đ Khoản 2 Điều này;

i) Bấm còi hoặc gây ồn ào, tiếng động lớn làm ảnh hưởng đến sự yên tĩnh trong đô thị và khu đông dân cư trong thời gian từ 22 giờ ngày hôm trước đến 5 giờ ngày hôm sau, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định;

k) Người điều khiển, người ngồi hàng ghế phía trước trong xe ô tô có trang bị dây an toàn mà không thắt dây an toàn khi xe đang chạy;

l) Chở người ngồi hàng ghế phía trước trong xe ô tô có trang bị dây an toàn mà không thắt dây an toàn khi xe đang chạy.

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Chuyển làn đường không đúng nơi cho phép hoặc không có tín hiệu báo trước, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm i Khoản 4 Điều này;

b) Điều khiển xe chạy tốc độ thấp mà không đi về bên phải phần đường xe chạy;

c) Để người ngồi trên buồng lái quá số lượng quy định;

d) Không giảm tốc độ và nhường đường khi điều khiển xe chạy từ trong ngõ, đường nhánh ra đường chính;

đ) Không nhường đường cho xe xin vượt khi có đủ điều kiện an toàn; không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên, đường chính từ bất kỳ hướng nào tới tại nơi đường giao nhau;

e) Xe được quyền ưu tiên khi đi làm nhiệm vụ không có tín hiệu còi, cờ, đèn theo đúng quy định;

g) Dừng xe, đỗ xe trên phần đường xe chạy ở đoạn đường ngoài đô thị nơi có lề đường rộng; dừng xe, đỗ xe không sát mép đường phía bên phải theo chiều đi ở nơi đường có lề đường hẹp hoặc không có lề đường; đỗ xe trên dốc không chèn bánh; mở cửa xe, để cửa xe mở không bảo đảm an toàn;

h) Dừng xe không sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi hoặc bánh xe gần nhất cách lề đường, hè phố quá 0,25 mét; dừng xe trên đường xe điện, đường dành riêng cho xe buýt; dừng xe trên miệng cống thoát nước, miệng hầm của đường điện thoại, điện cao thế, chỗ dành riêng cho xe chữa cháy lấy nước, nơi có biển cấm dừng; rời vị trí lái, tắt máy khi dừng xe; dừng xe, đỗ xe không đúng vị trí quy định ở những đoạn có bố trí nơi dừng xe, đỗ xe; dừng xe, đỗ xe trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường;

i) Quay đầu xe trái quy định trong khu dân cư;

k) Quay đầu xe ở phần đường dành cho người đi bộ qua đường, trên cầu, đầu cầu, gầm cầu vượt, ngầm, đường hẹp, đường dốc, đoạn đường cong tầm nhìn bị che khuất, nơi có biển báo “cấm quay đầu xe”;

l) Lùi xe ở đường một chiều, ở khu vực cấm dừng, trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường, nơi đường bộ giao nhau, nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt, nơi tầm nhìn bị che khuất; lùi xe không quan sát hoặc không có tín hiệu báo trước.

3. Phạt tiền từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 05 km/h đến dưới 10 km/h;

b) Bấm còi, rú ga liên tục; bấm còi hơi, sử dụng đèn chiếu xa trong đô thị, khu đông dân cư, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định;

c) Chuyển hướng không giảm tốc độ hoặc không có tín hiệu báo hướng rẽ;

d) Quay đầu xe tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; không tuân thủ các quy định về dừng xe, đỗ xe tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; dừng xe, đỗ xe trong phạm vi an toàn của đường sắt;

đ) Dừng xe, đỗ xe tại vị trí: Bên trái đường một chiều; trên đoạn đường cong hoặc gần đầu dốc nơi tầm nhìn bị che khuất; trên cầu, gầm cầu vượt, song song với một xe khác đang dừng, đỗ; nơi đường bộ giao nhau hoặc trong phạm vi 05 mét tính từ mép đường giao nhau; điểm dừng đón, trả khách của xe buýt; trước cổng hoặc trong phạm vi 05 mét hai bên cổng trụ sở cơ quan, tổ chức có bố trí đường cho xe ô tô ra vào; nơi phần đường có bề rộng chỉ đủ cho một làn xe; che khuất biển báo hiệu đường bộ;

e) Đỗ xe không sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi hoặc bánh xe gần nhất cách lề đường, hè phố quá 0,25 mét; đỗ xe trên đường xe điện, đường dành riêng cho xe buýt; đỗ xe trên miệng cống thoát nước, miệng hầm của đường điện thoại, điện cao thế, chỗ dành riêng cho xe chữa cháy lấy nước; đỗ xe nơi có biển cấm dừng hoặc biển cấm đỗ; đỗ, để xe ở hè phố trái quy định của pháp luật;

g) Không sử dụng đủ đèn chiếu sáng về ban đêm hoặc khi sương mù, thời tiết xấu hạn chế tầm nhìn; sử dụng đèn chiếu xa khi tránh nhau;

h) Xe không được quyền ưu tiên sử dụng tín hiệu còi, cờ, đèn của xe ưu tiên;

i) Xe ô tô kéo theo từ hai xe ô tô khác trở lên; xe ô tô đẩy xe khác; xe ô tô kéo xe thô sơ, mô tô, xe gắn máy hoặc kéo lê vật trên đường; xe kéo rơ moóc, sơ mi rơ moóc kéo theo rơ moóc hoặc xe khác;

k) Chở người trên xe được kéo, trừ người điều khiển.

4. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Chạy trong hầm đường bộ không sử dụng đèn chiếu sáng gần; lùi xe, quay đầu xe trong hầm đường bộ; dừng xe, đỗ xe, vượt xe trong hầm đường bộ không đúng nơi quy định;

b) Đi vào đường cấm, khu vực cấm, đi ngược chiều của đường một chiều; trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp theo quy định;

c) Điều khiển xe không đi bên phải theo chiều đi của mình; đi không đúng phần đường hoặc làn đường quy định;

d) Điều khiển xe chạy dưới tốc độ tối thiểu trên những đoạn đường bộ có quy định tốc độ tối thiểu cho phép;

đ) Dừng xe, đỗ xe, quay đầu xe trái quy định gây ùn tắc giao thông;

e) Dừng xe, đỗ xe, mở cửa xe không bảo đảm an toàn gây tai nạn;

g) Không nhường đường hoặc gây cản trở xe ưu tiên;

h) Không thực hiện biện pháp bảo đảm an toàn theo quy định khi xe ô tô bị hư hỏng ngay tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt;

i) Không tuân thủ các quy định khi vào hoặc ra đường cao tốc; điều khiển xe chạy ở làn dừng xe khẩn cấp hoặc phần lề đường của đường cao tốc; dừng xe, đỗ xe trên phần đường xe chạy trên đường cao tốc; quay đầu xe, lùi xe trên đường cao tốc; chuyển làn đường không đúng nơi cho phép hoặc không có tín hiệu báo trước khi chạy trên đường cao tốc; không tuân thủ quy định ghi trên biển báo hiệu về khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước khi chạy trên đường cao tốc;

k) Không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông.

5. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 10 km/h đến 20 km/h;

b) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa tới mức vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 1, Điểm a Khoản 8 Điều này;

c) Vượt trong các trường hợp cấm vượt; vượt bên phải xe khác trong trường hợp không được phép; không có báo hiệu trước khi vượt;

d) Tránh xe không đúng quy định; không nhường đường cho xe đi ngược chiều theo quy định tại nơi đường hẹp, đường dốc, nơi có chướng ngại vật;

đ) Không tuân thủ hướng dẫn của người điều khiển giao thông khi qua phà, cầu phao hoặc nơi ùn tắc giao thông; không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển giao thông hoặc người kiểm soát giao thông.

6. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 20 km/h đến 35 km/h;

b) Gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường; bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn.

7. Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 35 km/h; điều khiển xe đi ngược chiều trên đường cao tốc, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp theo quy định;

b) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở;

c) Điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy;

d) Điều khiển xe lạng lách, đánh võng; chạy quá tốc độ đuổi nhau trên đường bộ;

đ) Không chú ý quan sát, điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định gây tai nạn giao thông; tránh, vượt không đúng; quy định gây tai nạn giao thông hoặc không giữ khoảng cách an toàn giữa hai xe theo quy định gây tai nạn giao thông.

8. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở;

b) Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người kiểm soát giao thông hoặc người thi hành công vụ.

9. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm d Khoản 7 Điều này mà gây tai nạn hoặc không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của người thi hành công vụ hoặc chống người thi hành công vụ.

10. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:

a) Vi phạm Điểm h Khoản 3 Điều này bị tịch thu còi, cờ, đèn sử dụng trái quy định;

b) Vi phạm Điểm h Khoản 3; Điểm b, Điểm c, Điểm i, Điểm k Khoản 4; Điểm b Khoản 5; Điểm a Khoản 6 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

c) Vi phạm Điểm i Khoản 3; Điểm a, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 4; Điểm c, Điểm đ Khoản 5; Điểm b Khoản 6; Điểm a, Điểm b, Điểm d, Điểm đ Khoản 7; Khoản 8 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày. Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều này mà gây tai nạn giao thông nhưng chưa tới mức nghiêm trọng thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày: Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 1; Điểm a, Điểm b, Điểm d, Điểm g, Điểm h, Điểm i, Điểm k, Điểm l Khoản 2; Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 3; Điểm b, Điểm c, Điểm i, Điểm k Khoản 4; Điểm b Khoản 5;

d) Vi phạm Điểm c Khoản 7, Khoản 9 Điều này hoặc tái phạm Điểm d Khoản 7 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn. Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều này mà gây tai nạn giao thông từ mức nghiêm trọng trở lên thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn: Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 1; Điểm a, Điểm b, Điểm d, Điểm g, Điểm h, Điểm i, Điểm k, Điểm l Khoản 2; Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h, Điểm i Khoản 3; Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm e, Điểm h, Điểm i, Điểm k Khoản 4; Điểm b, Điểm đ Khoản 5; Điểm b, Điểm đ Khoản 7; Khoản 8.”

2. Sửa đổi, bổ sung Điều 9 như sau:

“Điều 9. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ

1. Phạt tiền từ 60.000 đồng đến 80.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm a, Điểm đ, Điểm h Khoản 2; Điểm c, Điểm đ, Điểm h Khoản 3; Điểm c, Điểm d, Điểm e, Điểm g, Điểm i Khoản 4; Điểm a, Điểm c, Điểm d Khoản 5; Điểm đ Khoản 6; Điểm d Khoản 7 Điều này;

b) Không có báo hiệu xin vượt trước khi vượt;

c) Không giữ khoảng cách an toàn để xảy ra va chạm với xe chạy liền trước hoặc không giữ khoảng cách theo quy định của biển báo hiệu “Cự ly tối thiểu giữa hai xe”;

đ) Chuyển hướng không nhường quyền đi trước cho: Người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ; xe thô sơ đang đi trên phần đường dành cho xe thô sơ;

đ) Chuyển hướng không nhường đường cho: Các xe đi ngược chiều; người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật đang qua đường tại nơi không có vạch kẻ đường cho người đi bộ;

e) Lùi xe mô tô ba bánh không quan sát hoặc không có tín hiệu báo trước;

g) Dùng đèn chiếu xa khi tránh nhau;

h) Người đang điều khiển xe sử dụng ô, điện thoại di động, thiết bị âm thanh, trừ thiết bị trợ thính; người ngồi trên xe sử dụng ô.

2. Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Chuyển làn đường không đúng nơi được phép hoặc không có tín hiệu báo trước;

b) Điều khiển xe chạy dàn hàng ngang từ 3 (ba) xe trở lên;

c) Không sử dụng đèn chiếu sáng về ban đêm hoặc khi sương mù, thời tiết xấu hạn chế tầm nhìn;

d) Không nhường đường cho xe xin vượt khi có đủ điều kiện an toàn; không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên, đường chính từ bất kỳ hướng nào tới tại nơi đường giao nhau;

đ) Tránh xe không đúng quy định; không nhường đường cho xe đi ngược chiều theo quy định tại nơi đường hẹp, đường dốc, nơi có chướng ngại vật;

e) Bấm còi trong thời gian từ 22 giờ ngày hôm trước đến 5 giờ ngày hôm sau, sử dụng đèn chiếu xa trong đô thị, khu đông dân cư, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định;

g) Xe được quyền ưu tiên khi đi làm nhiệm vụ không có tín hiệu còi, cờ, đèn theo đúng quy định;

h) Quay đầu xe tại nơi cấm quay đầu xe.

3. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Dừng xe, đỗ xe trên phần đường xe chạy ở đoạn đường ngoài đô thị nơi có lề đường;

b) Không giảm tốc độ hoặc không nhường đường khi điều khiển xe chạy từ trong ngõ, đường nhánh ra đường chính;

c) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 05 km/h đến dưới 10 km/h;

d) Điều khiển xe chạy tốc độ thấp mà không đi bên phải phần đường xe chạy gây cản trở giao thông;

đ) Dừng xe, đỗ xe ở lòng đường đô thị gây cản trở giao thông; tụ tập từ 3 (ba) xe trở lên ở lòng đường, trên cầu, trong hầm đường bộ; đỗ, để xe ở lòng đường đô thị, hè phố trái quy định của pháp luật;

e) Bấm còi, rú ga liên tục trong đô thị, khu đông dân cư, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định;

g) Xe không được quyền ưu tiên sử dụng tín hiệu còi, cờ, đèn của xe ưu tiên;

h) Không thực hiện đúng các quy định về dừng xe, đỗ xe tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; dừng xe, đỗ xe trong phạm vi an toàn của đường sắt; dừng xe, đỗ xe trên đường xe điện, điểm dừng đón trả khách của xe buýt, trên cầu, nơi đường bộ giao nhau, trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường; dừng xe nơi có biển cấm dừng; đỗ xe tại nơi có biển cấm dừng hoặc biển cấm đỗ;

i) Người điều khiển, người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm hoặc đội mũ bảo hiểm không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ;

k) Chở người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm hoặc đội mũ bảo hiểm không cài quai đúng quy cách, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 06 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật;

l) Chở theo 2 (hai) người trên xe, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 14 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật.

4. Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Chuyển hướng không giảm tốc độ hoặc không có tín hiệu báo hướng rẽ;

b) Chở theo từ 3 (ba) người trở lên trên xe;

c) Không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông;

d) Điều khiển xe chạy dưới tốc độ tối thiểu trên những đoạn đường bộ có quy định tốc độ tối thiểu cho phép;

đ) Điều khiển xe thành đoàn gây cản trở giao thông;

e) Điều khiển xe đi vào đường cao tốc, trừ xe phục vụ việc quản lý, bảo trì đường cao tốc;

g) Điều khiển xe không đi bên phải theo chiều đi của mình; đi không đúng phần đường, làn đường quy định hoặc điều khiển xe đi trên hè phố;

h) Vượt bên phải trong các trường hợp không được phép;

i) Đi vào đường cấm, khu vực cấm; đi ngược chiều của đường một chiều, trừ trường hợp xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp theo quy định;

k) Người điều khiển xe hoặc người ngồi trên xe bám, kéo, đẩy xe khác, vật khác, dẫn dắt súc vật, mang vác vật cồng kềnh; người ngồi trên xe đứng trên yên, giá đèo hàng hoặc ngồi trên tay lái; xếp hàng hóa trên xe vượt quá giới hạn quy định; điều khiển xe kéo theo xe khác, vật khác;

l) Chở hàng vượt trọng tải thiết kế được ghi trong Giấy đăng ký xe đối với loại xe có quy định về trọng tải thiết kế.

5. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 10 km/h đến 20 km/h;

b) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở;

c) Vượt xe trong những trường hợp cấm vượt, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm h Khoản 4 Điều này;

d) Chạy trong hầm đường bộ không sử dụng đèn chiếu sáng gần; dừng xe, đỗ xe, vượt xe trong hầm đường bộ không đúng nơi quy định; quay đầu xe trong hầm đường bộ;

đ) Không tuân thủ hướng dẫn của người điều khiển giao thông khi qua phà, cầu phao hoặc nơi ùn tắc giao thông; không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển giao thông hoặc người kiểm soát giao thông; không nhường đường hoặc gây cản trở xe ưu tiên.

6. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Sử dụng chân chống hoặc vật khác quệt xuống đường khi xe đang chạy;

b) Điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy;

c) Không chú ý quan sát, điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định gây tai nạn giao thông; vượt xe hoặc chuyển làn đường trái quy định gây tai nạn giao thông;

d) Gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn;

đ) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 20 km/h;

e) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở;

g) Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người kiểm soát giao thông hoặc người thi hành công vụ.

7. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Buông cả hai tay khi đang điều khiển xe; dùng chân điều khiển xe; ngồi về một bên điều khiển xe; nằm trên yên xe điều khiển xe; thay người điều khiển khi xe đang chạy;

b) Điều khiển xe lạng lách hoặc đánh võng trên đường bộ trong, ngoài đô thị;

c) Điều khiển xe chạy bằng một bánh đối với xe hai bánh, chạy bằng hai bánh đối với xe ba bánh;

d) Điều khiển xe thành nhóm từ 2 (hai) xe trở lên chạy quá tốc độ quy định.

8. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 14.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm Khoản 7 Điều này mà gây tai nạn hoặc không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của người thi hành công vụ hoặc chống người thi hành công vụ.

9. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:

a) Vi phạm Điểm g Khoản 3 Điều này bị tịch thu còi, cờ, đèn sử dụng trái quy định;

b) Vi phạm Điểm b, Điểm c, Điểm i Khoản 4; Điểm b Khoản 5; Điểm đ Khoản 6 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

c) Vi phạm Điểm đ Khoản 5; Điểm a, Điểm c, Điểm đ, Điểm e, Điểm g Khoản 6; Khoản 7 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày; tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần Khoản 7 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn, tịch thu xe. Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều này mà gây tai nạn giao thông nhưng chưa tới mức nghiêm trọng thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày: Điểm a, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 1; Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm h Khoản 2; Điểm a, Điểm b, Điểm đ, Điểm g, Điểm h Khoản 3; Điểm a; Điểm b, Điểm c, Điểm e, Điểm g, Điểm i, Điểm k Khoản 4; Điểm b, Điểm đ Khoản 5;

d) Vi phạm Điểm b Khoản 6, Khoản 8 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn. Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều này mà gây tai nạn giao thông từ mức nghiêm trọng trở lên thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn: Điểm a, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 1; Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm h Khoản 2; Điểm a, Điểm b, Điểm đ, Điểm g, Điểm h Khoản 3; Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm e, Điểm g, Điểm i, Điểm k Khoản 4; Điểm b, Điểm d, Điểm đ Khoản 5; Điểm a, Điểm c, Điểm e, Điểm g Khoản 6.”

3. Sửa đổi, bổ sung Điều 15 như sau:

“Điều 15. Xử phạt cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm về sử dụng, khai thác trong phạm vi đất dành cho đường bộ

1. Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với người bán hàng rong hoặc bán hàng hóa nhỏ lẻ khác trên lòng đường đô thị, trên vỉa hè các tuyến phố có quy định cấm bán hàng, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm c Khoản 3, Điểm e Khoản 4 Điều này;

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Sử dụng, khai thác tạm thời trên đất hành lang an toàn đường bộ vào mục đích canh tác nông nghiệp làm ảnh hưởng đến an toàn công trình và an toàn giao thông;

b) Trồng cây trong phạm vi đất dành cho đường bộ ở đoạn đường ngoài đô thị làm che khuất tầm nhìn của người điều khiển phương tiện giao thông.

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Xây dựng nhà ở trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ ở đoạn đường ngoài đô thị;

b) Dựng lều quán, cổng ra vào, tường rào các loại, công trình tạm thời khác trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm đ Khoản 4, Điểm a Khoản 5 Điều này;

c) Họp chợ, kinh doanh dịch vụ ăn uống, bày, bán hàng hóa, sửa chữa xe, rửa xe, đặt, treo biển hiệu, biển quảng cáo, làm mái che trên lòng đường đô thị, hè phố hoặc thực hiện các hoạt động, dịch vụ khác trái phép trên lòng đường đô thị, hè phố gây cản trở giao thông, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g Khoản 4, Điểm c Khoản 5, Điểm a Khoản 6 Điều này;

d) Chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố dưới 05 m2 làm nơi trông, giữ xe.

4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Đổ, để trái phép vật liệu, chất phế thải trong phạm vi đất dành cho đường bộ ở đoạn đường ngoài đô thị;

b) Tự ý đào, đắp, san, lấp mặt bằng trong hành lang an toàn đường bộ;

c) Tự ý gắn vào công trình báo hiệu đường bộ các nội dung không liên quan tới ý nghĩa, mục đích của công trình đường bộ;

d) Sử dụng trái phép đất của đường bộ hoặc hành lang an toàn đường bộ làm nơi tập kết hoặc trung chuyển hàng hóa, vật tư, vật liệu xây dựng, máy móc, thiết bị, các loại vật dụng khác;

đ) Dựng lều quán, công trình tạm thời khác trái phép trong khu vực đô thị tại hầm đường bộ, cầu vượt, hầm cho người đi bộ;

e) Bày, bán máy móc, thiết bị, vật tư, vật liệu xây dựng hoặc sản xuất, gia công hàng hóa trên lòng đường đô thị, hè phố;

c) Chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố từ 05 m2 đến dưới 10 m2 làm nơi trông, giữ xe.

6. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Xây dựng nhà ở trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ ở đoạn đường trong đô thị;

b) Trồng cây xanh trên đường phố không đúng quy định;

c) Chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố từ 10 m2 đến dưới 20 m2 làm nơi trông, giữ xe.

6. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố từ 20 m2 trở lên làm nơi trông, giữ xe;

b) Dựng biển quảng cáo trên đất hành lang an toàn đường bộ không được cơ quan quản lý đường bộ có thẩm quyền đồng ý bằng văn bản;

c) Mở đường nhánh đấu nối trái phép vào đường chính.

7. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi xây dựng công trình kiên cố khác trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ.

8. Ngoài việc bị phạt tiền, cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm quy định tại các Khoản 2, 3, 4, 5, 6 và Khoản 7 Điều này còn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây: Buộc phải dỡ bỏ các công trình xây dựng, biển quảng cáo, di dời cây trồng trái phép, thu dọn vật liệu, chất phế thải, hàng hóa và khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra.”

4. Sửa đổi, bổ sung Điều 19 như sau:

“Điều 19. Xử phạt người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự ô tô vi phạm quy định về điều kiện của phương tiện khi tham gia giao thông

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với hành vi điều khiển xe không có kính chắn gió hoặc có nhưng vỡ, không có tác dụng (đối với xe có thiết kế lắp kính chắn gió).

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Điều khiển xe không có đủ đèn chiếu sáng, đèn soi biển số đèn báo hãm, đèn tín hiệu, cần gạt nước, gương chiếu hậu, dụng cụ thoát hiểm, thiết bị chữa cháy, đồng hồ báo áp lực hơi, đồng hồ báo tốc độ của xe hoặc có những thiết bị đó nhưng không có tác dụng, không đúng tiêu chuẩn thiết kế (nếu có quy định phải có những thiết bị đó);

b) Điều khiển xe không có còi hoặc có nhưng còi không có tác dụng;

c) Điều khiển xe không có bộ phận giảm thanh hoặc có nhưng không đúng quy chuẩn kỹ thuật.

3. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Điều khiển xe không đủ hệ thống hãm hoặc có nhưng không đúng tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật;

b) Hệ thống chuyển hướng của xe không đúng tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật;

c) Điều khiển xe không gắn đủ biển số hoặc gắn biển số không đúng vị trí; biển số không rõ chữ, số; biển số bị bẻ cong, bị che lấp, bị hỏng;

d) Điều khiển xe không lắp đủ bánh lốp hoặc lắp bánh lốp không đúng kích cỡ hoặc không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật;

đ) Tự ý thay đổi kích thước thành thùng xe; tự ý lắp thêm ghế trên xe vận chuyển khách.

4. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không có Giấy đăng ký xe, đăng ký rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc theo quy định;

b) Không gắn biển số (nếu có quy định phải gắn biển số);

c) Không có Giấy chứng nhận hoặc tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (nếu có quy định phải kiểm định) hoặc có nhưng đã hết hạn (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc);

d) Điều khiển xe lắp đặt, sử dụng còi vượt quá âm lượng theo quy định;

đ) Điều khiển xe lắp thêm đèn chiếu sáng về phía sau xe.

5. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Xe đăng ký tạm hoạt động quá phạm vi, thời hạn cho phép;

b) Điều khiển xe quá niên hạn sử dụng tham gia giao thông (nếu có quy định về niên hạn sử dụng);

c) Điều khiển loại xe tự sản xuất, lắp ráp (bao gồm cả xe công nông thuộc diện bị đình chỉ tham gia giao thông);

d) Điều khiển xe gắn biển số không đúng với Giấy đăng ký xe hoặc biển số không do cơ quan có thẩm quyền cấp;

đ) Sử dụng Sổ chứng nhận kiểm định, Giấy chứng nhận, tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, Giấy đăng ký xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc sử dụng Giấy đăng ký xe không đúng số khung, số máy (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc).

6. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Vi phạm Khoản 1; Khoản 2; Điểm c, Điểm d, Điểm đ Khoản 3 Điều này bị buộc phải lắp đầy đủ hoặc thay thế thiết bị đủ tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật, tháo bỏ những thiết bị lắp thêm không đúng quy định;

b) Vi phạm Điểm a, Điểm b Khoản 3 Điều này buộc phải khôi phục lại tính năng kỹ thuật của thiết bị hoặc thay thế thiết bị đủ tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật; bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

c) Vi phạm Điểm d, Điểm đ Khoản 4 Điều này bị tịch thu đèn lắp thêm, còi vượt quá âm lượng và buộc phải lắp còi có âm lượng đúng quy chuẩn kỹ thuật;

d) Vi phạm Khoản 4 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

đ) Vi phạm Điểm d, Điểm đ Khoản 5 Điều này bị tịch thu Sổ chứng nhận kiểm định, Giấy chứng nhận, tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, Giấy đăng ký xe, biển số không do cơ quan có thẩm quyền cấp; bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

e) Vi phạm Điểm b, Điểm c Khoản 5 Điều này bị tịch thu phương tiện và bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày.”

5. Sửa đổi, bổ sung Điều 24 như sau:

“Điều 24. Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về điều kiện của người điều khiển xe cơ giới

1. Phạt cảnh cáo người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự mô tô hoặc điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô.

2. Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 120.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy không có hoặc không mang theo Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực;

b) Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy không mang theo Giấy đăng ký xe, Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (nếu có quy định phải kiểm định);

c) Người điều khiển xe mô tô không mang theo Giấy phép lái xe.

3. Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Người điều khiển xe mô tô, các loại xe tương tự mô tô không có Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (nếu có quy định phải kiểm định) hoặc có nhưng đã hết hạn;

b) Người điều khiển xe ô tô, máy kéo không mang theo Giấy đăng ký xe, Giấy phép lái xe, Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (nếu có quy định phải kiểm định).

4. Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 50 cm3 trở lên;

b) Người điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô không có hoặc không mang theo Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực;

c) Người điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô có Giấy phép lái xe nhưng đã hết hạn sử dụng dưới 6 (sáu) tháng.

5. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với người điều khiển xe mô tô không có Giấy phép lái xe hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 7 Điều này.

6. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô.

7. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với người điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 175 cm3 trở lên, xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Có Giấy phép lái xe nhưng không phù hợp với loại xe đang điều khiển hoặc đã hết hạn sử dụng từ 6 (sáu) tháng trở lên;

b) Không có Giấy phép lái xe hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa.

8. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển phương tiện vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây: Vi phạm Khoản 5, Điểm b Khoản 7 Điều này bị tịch thu Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa.”

6. Sửa đổi, bổ sung Điều 26 như sau:

“Điều 26. Xử phạt người điều khiển xe ô tô chở hành khách, ô tô chở người vi phạm quy định về vận tải đường bộ

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không hướng dẫn hành khách ngồi đúng vị trí quy định trong xe;

b) Không thực hiện đúng quy định về tắt, bật sáng hộp đèn “TAXI”.

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng trên mỗi người vượt quá quy định được phép chở của phương tiện đối với người điều khiển xe ô tô chở hành khách, ô tô chở người (trừ xe buýt) vi phạm hành vi: Chở quá từ 02 người trở lên trên xe đến 9 chỗ ngồi, chở quá từ 03 người trở lên trên xe 10 chỗ ngồi đến xe 15 chỗ ngồi, chở quá từ 04 người trở lên trên xe 16 chỗ ngồi đến xe 30 chỗ ngồi, chở quá từ 05 người trở lên trên xe trên 30 chỗ ngồi, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 4 Điều này.

3. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 800.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không đóng cửa lên xuống khi xe đang chạy;

b) Để người ngồi trên xe khi xe lên, xuống phà, cầu phao hoặc khi xe đang ở trên phà (trừ người già yếu, người bệnh, người khuyết tật);

c) Không chạy đúng tuyến đường, lịch trình, hành trình vận tải quy định;

d) Để người mắc võng nằm trên xe hoặc đu bám ở cửa xe, bên ngoài thành xe khi xe đang chạy;

đ) Sắp xếp chằng buộc hành lý, hàng hóa không bảo đảm an toàn; để rơi hành lý, hàng hóa trên xe xuống đường;

e) Chở hành lý, hàng hóa vượt quá trọng tải theo thiết kế của xe hoặc quá kích thước bao ngoài của xe; để hàng hóa trong khoang chở hành khách;

g) Vận chuyển hàng có mùi hôi thối trên xe chở hành khách;

h) Xe vận chuyển khách du lịch, xe vận chuyển hành khách theo hợp đồng không có danh sách hành khách, hợp đồng vận chuyển theo quy định;

i) Vận chuyển hành khách theo tuyến cố định không đúng tuyến xe chạy, không có “Sổ nhật trình chạy xe” hoặc có nhưng không có xác nhận của bến xe hai đầu tuyến theo quy định;

k) Xe vận chuyển hành khách không có nhân viên phục vụ trên xe đối với những xe quy định phải có nhân viên phục vụ;

l) Xe vận chuyển khách du lịch, xe vận chuyển hành khách theo hợp đồng bán vé cho hành khách;

m) Không sử dụng đồng hồ tính tiền cước hoặc sử dụng đồng hồ tính tiền cước không đúng theo quy định khi chở khách.

4. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng trên mỗi người vượt quá quy định được phép chở của phương tiện đối với người điều khiển xe ô tô chở hành khách chạy tuyến có cự ly lớn hơn 300 km vi phạm hành vi: Chở quá từ 02 người trở lên trên xe đến 9 chỗ ngồi, chở quá từ 03 người trở lên trên xe 10 chỗ ngồi đến xe 15 chỗ ngồi, chở quá từ 04 người trở lên trên xe 16 chỗ ngồi đến xe 30 chỗ ngồi, chở quá từ 05 người trở lên trên xe trên 30 chỗ ngồi.

5. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Để người lên, xuống xe khi xe đang chạy;

b) Sang nhượng hành khách dọc đường cho xe khác mà không được hành khách đồng ý; đe dọa, xúc phạm, tranh giành, lôi kéo hành khách; bắt ép hành khách sử dụng dịch vụ ngoài ý muốn;

c) Xuống khách để trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát của người có thẩm quyền;

d) Xếp hàng trên xe làm lệch xe;

đ) Đón, trả hành khách không đúng nơi quy định trên những tuyến đường đã xác định nơi đón trả khách;

e) Đón, trả hành khách tại nơi cấm dừng, cấm đỗ, nơi đường cong tầm nhìn bị che khuất.

6. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Điều khiển xe tham gia kinh doanh vận tải không gắn thiết bị giám sát hành trình của xe (nếu có quy định phải gắn thiết bị) hoặc gắn thiết bị nhưng thiết bị không hoạt động, không đúng quy chuẩn theo quy định;

b) Chở hàng cấm lưu thông,

7. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Vận chuyển hàng nguy hiểm, hàng độc hại, dễ cháy, dễ nổ hoặc động vật, hàng hóa khác có ảnh hưởng đến sức khỏe của hành khách trên xe chở hành khách;

b) Chở người trên mui xe, nóc xe, trong khoang chở hành lý của xe;

c) Hành hung hành khách;

d) Điều khiển xe ô tô liên tục quá thời gian quy định;

đ) Xe chở hành khách không có hoặc không gắn phù hiệu (biển hiệu) theo quy định hoặc có nhưng đã hết hạn.

8. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển phương tiện vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Vi phạm Khoản 2, Khoản 4 (trường hợp vượt trên 50% đến 100% số người quy định được phép chở của phương tiện); Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h, Điểm i Khoản 3; Khoản 5; Khoản 6 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày. Vi phạm Điểm b Khoản 6 Điều này bị tịch thu hàng hóa cấm lưu thông;

b) Vi phạm Khoản 7 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày; vi phạm Khoản 2, Khoản 4 Điều này (trường hợp vượt trên 100% số người quy định được phép chở của phương tiện) bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn;

c) Vi phạm Khoản 2, Khoản 4 Điều này (trường hợp chở hành khách) phải bố trí phương tiện khác để chở số hành khách vượt quá quy định được phép chở của phương tiện.”

7. Sửa đổi, bổ sung Điều 27 như sau:

“Điều 27. Xử phạt người điều khiển xe ô tô tải, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô vận chuyển hàng hóa

1. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Vận chuyển hàng trên xe phải chằng buộc mà không được chằng buộc chắc chắn; xếp hàng trên nóc buồng lái; xếp hàng làm lệch xe;

b) Chở hàng vượt quá trọng tải thiết kế được ghi trong Giấy đăng ký xe hoặc Sổ chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường mà chưa đến mức vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 2, Điểm a Khoản 4 Điều này.

2. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Chở hàng vượt trọng tải thiết kế được ghi trong Giấy đăng ký xe hoặc Sổ chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường từ 10% đến 40% đối với xe có trọng tải dưới 5 tấn và từ 5% đến 30% đối với xe có trọng tải từ 5 tấn trở lên (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc);

b) Xếp hàng trên nóc thùng xe; xếp hàng vượt quá bề rộng thùng xe; xếp hàng vượt phía trước, phía sau thùng xe trên 10% chiều dài xe;

c) Chở người trên thùng xe trái quy định; để người ngồi trên mui xe, đu bám bên ngoài xe khi xe đang chạy;

d) Điều khiển xe tham gia kinh doanh vận tải hàng hóa không mang theo hợp đồng vận tải hoặc giấy vận chuyển theo quy định, trừ xe taxi tải.

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Điều khiển xe taxi tải không lắp đồng hồ tính tiền cước hoặc lắp đồng hồ tính tiền cước không đúng quy định;

b) Điều khiển xe tham gia kinh doanh vận tải hàng hóa không gắn thiết bị giám sát hành trình của xe (nếu có quy định phải gắn thiết bị) hoặc gắn thiết bị nhưng thiết bị không hoạt động, không đúng quy chuẩn theo quy định;

c) Chở hàng cấm lưu thông; vận chuyển trái phép hoặc không thực hiện đầy đủ các quy định về vận chuyển động vật hoang dã;

d) Chở hàng vượt quá chiều cao xếp hàng cho phép đối với xe ô tô tải thùng hở (không mui); chở hàng vượt quá chiều cao theo thiết kế của xe hoặc thiết kế cải tạo đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt đối với xe ô tô tải thùng kín (có mui).

4. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Chở hàng vượt trọng tải thiết kế được ghi trong Giấy đăng ký xe hoặc Số chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường trên 40% đối với xe có trọng tải dưới 5 tấn và trên 30% đối với xe có trọng tải từ 5 tấn trở lên (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc);

b) Điều khiển xe liên tục quá thời gian quy định;

c) Điều khiển xe không có phù hiệu hoặc có nhưng đã hết hạn đối với loại xe quy định phải có phù hiệu.

5. Ngoài việc bị phạt tiền, người có hành vi vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Vi phạm Điểm a, Điểm b Khoản 2; Điểm d Khoản 3; Điểm a Khoản 4 Điều này bị buộc phải hạ phần hàng quá tải, dỡ phần hàng vượt quá kích thước quy định; vi phạm Điểm c Khoản 3 Điều này bị tịch thu hàng hóa cấm lưu thông, động vật hoang dã vận chuyển trái phép;

b) Vi phạm Điểm a, Điểm b Khoản 2; Điểm a, Điểm b Khoản 3 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

c) Vi phạm Điểm c Khoản 2; Điểm c, Điểm d Khoản 3; Khoản 4 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày.”

8. Sửa đổi, bổ sung Điều 33 như sau:

“Điều 33. Xử phạt chủ phương tiện vi phạm quy định liên quan đến giao thông đường bộ

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự mô tô tự ý thay đổi nhãn hiệu, màu sơn của xe không đúng với Giấy đăng ký xe.

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự ô tô vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Lắp kính chắn gió, kính cửa của xe không phải là loại kính an toàn;

b) Tự ý thay đổi màu sơn của xe không đúng với màu sơn ghi trong Giấy đăng ký xe; không thực hiện đúng quy định về biển số, quy định về kẻ chữ trên thành xe và cửa xe; trừ hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 41 của Nghị định này.

3. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với chủ xe mô tô, xe gắn máy; các loại xe tương tự mô tô vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Tự ý đục lại số khung, số máy;

b) Tẩy xóa, sửa chữa hoặc giả mạo hồ sơ đăng ký xe;

c) Tự ý thay đổi khung, máy, hình dáng, kích thước của xe;

d) Khai báo không đúng sự thật hoặc sử dụng các giấy tờ, tài liệu giả để được cấp lại biển số, Giấy đăng ký xe;

đ) Giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật điều khiển xe tham gia giao thông;

e) Không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định;

g) Không mua hoặc nộp phí cho phương tiện khi tham gia giao thông theo quy định.

4. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự ô tô vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Tự ý đục lại số khung, số máy;

b) Tẩy xóa hoặc sửa chữa Giấy đăng ký xe, hồ sơ đăng ký xe, Giấy chứng nhận hoặc tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường hoặc các loại giấy tờ khác về phương tiện;

c) Không chấp hành việc thu hồi Giấy đăng ký xe; biển số xe; sổ chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ theo quy định;

d) Vẽ, dán quảng cáo trên xe không đúng quy định;

đ) Không làm thủ tục đổi lại Giấy đăng ký xe khi xe đã được cải tạo;

e) Giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật điều khiển xe tham gia giao thông;

g) Khai báo không đúng sự thật hoặc sử dụng các giấy tờ, tài liệu giả để được cấp lại biển số, Giấy đăng ký xe.

5. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Thuê, mượn linh kiện, phụ kiện của xe ô tô khi kiểm định;

b) Đưa xe cơ giới, xe máy chuyên dùng không có Giấy chứng nhận hoặc tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường theo quy định ra tham gia giao thông.

6. Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự ô tô vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Tự ý thay đổi tổng thành khung; tổng thành máy; hệ thống phanh; hệ thống truyền động; hệ thống chuyển động hoặc tự ý cải tạo kết cấu, hình dáng, kích thước của xe không đúng thiết kế của nhà chế tạo hoặc thiết kế cải tạo đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; tự ý thay đổi tính năng sử dụng của xe;

b) Cải tạo các loại xe ô tô khác thành xe ô tô chở khách;

c) Không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định;

d) Không mua hoặc nộp phí cho phương tiện khi tham gia giao thông theo quy định.

7. Ngoài việc bị phạt tiền, người có hành vi vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Vi phạm Khoản 1, Điểm b Khoản 2 Điều này buộc phải khôi phục lại nhãn hiệu, màu sơn ghi trong Giấy đăng ký xe hoặc thực hiện đúng quy định về biển số, quy định về kẻ chữ trên thành xe và cửa xe;

b) Vi phạm Điểm b, Điểm d Khoản 3; Điểm b, Điểm g Khoản 4 Điều này bị thu hồi biển số, Giấy đăng ký xe (trường hợp đã được cấp lại), tịch thu hồ sơ, các loại giấy tờ, tài liệu giả mạo;

c) Vi phạm Điểm a Khoản 2, Điểm a Khoản 6 Điều này buộc phải khôi phục lại hình dáng, kích thước hoặc tình trạng an toàn kỹ thuật ban đầu của xe; vi phạm Điểm b Khoản 6 Điều này bị tịch thu phương tiện;

d) Vi phạm Điểm g Khoản 3, Điểm d Khoản 6 Điều này bị buộc phải mua hoặc nộp phí theo quy định.”

9. Sửa đổi, bổ sung Điều 36 như sau:

“Điều 36. Xử phạt người điều khiển xe bánh xích; xe quá tải trọng, quá khổ giới hạn của cầu, đường (kể cả xe ô tô chở hành khách)

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện đúng quy định trong Giấy phép lưu hành, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm b, Điểm d, Điểm đ Khoản 3 Điều này.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi điều khiển xe mà tổng trọng lượng của xe hoặc tải trọng trục xe (bao gồm cả hàng hóa xếp trên xe, người đuợc chở trên xe) vượt quá tải trọng cho phép của cầu, đường từ 10% đến 20%, trừ trường hợp có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng.

3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không chấp hành việc kiểm tra tải trọng, khổ giới hạn xe khi có tín hiệu, hiệu lệnh yêu cầu kiểm tra tải trọng, khổ giới hạn xe; chuyển tải hoặc dùng các thủ đoạn khác để trốn tránh việc phát hiện xe chở quá tải, quá khổ;

b) Điều khiển xe có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng nhưng tổng trọng lượng của xe hoặc tải trọng trục xe (bao gồm cả hàng hóa xếp trên xe nếu có) vượt quá quy định trong Giấy phép lưu hành;

c) Điều khiển xe mà tổng trọng lượng của xe hoặc tải trọng trục xe (bao gồm cả hàng hóa xếp trên xe, người được chở trên xe) vượt quá tải trọng cho phép của cầu, đường trên 20%, trừ trường hợp có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng;

d) Chở hàng vượt khổ giới hạn của cầu, đường ghi trong Giấy phép lưu hành;

đ) Điều khiển xe bánh xích tham gia giao thông không có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng theo quy định hoặc lưu thông trực tiếp trên đường;

e) Điều khiển xe vượt quá khổ giới hạn của cầu, đường hoặc chở hàng vượt khổ giới hạn của cầu, đường tham gia giao thông, trừ trường hợp có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng.

4. Ngoài việc bị phạt tiền, người điền khiển phương tiện vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Vi phạm Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3 Điều này bị đình chỉ lưu hành cho đến khi thực hiện đúng quy định hoặc bị buộc phải hạ tải ngay phần quá tải, dỡ phần quá khổ; nếu gây hư hại cầu, đường phải khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra;

b) Vi phạm Khoản 1, Khoản 2 Điều này còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) 30 (ba mươi) ngày;

c) Vi phạm Khoản 3 Điều này còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) 60 (sáu mươi) ngày.”

10. Sửa đổi, bổ sung Điều 37 như sau:

‘‘Điều 37. Xử phạt người đua xe trái phép, cổ vũ đua xe trái phép

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Tụ tập để cổ vũ, kích động hành vi điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định, lạng lách, đánh võng, đuổi nhau trên đường hoặc đua xe trái phép;

b) Đua xe đạp, đua xe đạp máy, đua xe xích lô, đua xe súc vật kéo, cưỡi súc vật chạy đua trái phép trên đường giao thông.

2. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với người cổ vũ, kích động đua xe trái phép mà cản trở hoặc chống người thi hành công vụ.

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với người đua xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện trái phép.

4. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với người đua xe ô tô trái phép.

5. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Người đua xe ô tô, xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện, xe đạp máy mà chống người thi hành công vụ;

b) Tổ chức đua xe trái phép.

6. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển phương tiện vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây: Vi phạm Điểm b Khoản 1 Điều này bị tịch thu xe (trừ xe bị chiếm đoạt, súc vật kéo, cưỡi); vi phạm Khoản 3, Khoản 4, Điểm a Khoản 5 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn và tịch thu xe (trừ xe bị chiếm đoạt).”

11. Sửa đổi, bổ sung Điều 38 như sau:

“Điều 38. Xử phạt người có hành vi cản trở việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ hoặc đưa hối lộ người thi hành công vụ

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi môi giới, tiếp tay, chỉ dẫn cho người điều khiển phương tiện trốn tránh việc kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ.

2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Cản trở hoặc không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ về: Các giấy tờ liên quan đến người và phương tiện, điều kiện hoạt động của phương tiện, hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải, đào tạo, sát hạch lái xe, đăng kiểm phương tiện;

b) Có lời nói, hành động đe dọa, lăng mạ, xúc phạm danh dự hoặc chống lại người thi hành công vụ, xúi giục người khác không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ, sử dụng uy tín của cá nhân, tổ chức để gây áp lực, cản trở người thi hành công vụ, trừ các hành vi vi phạm quy định tại: Điểm b Khoản 8, Khoản 9 Điều 8; Điểm g Khoản 6, Khoản 8 Điều 9; Khoản 2, Điểm a Khoản 5 Điều 37 của Nghị định này;

c) Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người kiểm soát giao thông hoặc người thi hành công vụ, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 8 Điều 8, Điểm g Khoản 6 Điều 9 của Nghị định này;

d) Đưa tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác cho người thi hành công vụ để trốn tránh việc xử lý vi phạm hành chính.

3. Ngoài việc bị phạt tiền, người vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp sau đây:

a) Vi phạm Điểm d Khoản 2 Điều này còn bị tịch thu số tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;

b) Vi phạm Khoản 2 Điều này nếu người vi phạm là người điều khiển phương tiện thì còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển ô tô, mô tô, máy kéo, các loại xe tương tự ô tô, các loại xe tương tự mô tô), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) 60 (sáu mươi) ngày.”

12. Sửa đổi, bổ sung Điều 41 như sau:

“Điều 41. Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về đào tạo, sát hạch lái xe

1. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với giáo viên dạy lái xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Giáo viên dạy thực hành để học viên không có phù hiệu “Học viên tập lái xe” lái xe tập lái hoặc có phù hiệu nhưng không đeo khi lái xe tập lái;

b) Giáo viên dạy thực hành chở người, hàng trên xe tập lái trái quy định;

c) Giáo viên dạy thực hành chạy sai tuyến đường, thời gian quy định trong Giấy phép xe tập lái; không ngồi bên cạnh để bảo trợ tay lái cho học viên thực hành lái xe;

d) Không đeo phù hiệu “Giáo viên dạy lái xe” khi giảng dạy;

đ) Không có giáo án của môn học được phân công giảng dạy theo quy định.

2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Cơ sở đào tạo lái xe không bố trí giáo viên dạy thực hành ngồi bên cạnh để bảo trợ tay lái cho học viên thực hành lái xe; bố trí giáo viên không đủ tiêu chuẩn để giảng dạy;

b) Cơ sở đào tạo lái xe sử dụng xe tập lái không có “Giấy phép xe tập lái”, biển xe “Tập lái”, không ghi tên cơ sở đào tạo, cơ quan quản lý trực tiếp ở mặt ngoài hai bên cánh cửa hoặc hai bên thành xe theo quy định;

c) Cơ sở đào tạo lái xe sử dụng xe tập lái không trang bị thêm bộ phận hãm phụ hoặc có nhưng không có tác dụng;

d) Cơ sở đào tạo lái xe tuyển sinh học viên không đủ điều kiện quy định về độ tuổi, sức khỏe, thâm niên, số Km lái xe an toàn tương ứng với từng hạng đào tạo;

đ) Cơ sở đào tạo lái xe không có đủ số lượng giáo viên dạy thực hành lái xe các hạng để đáp ứng với lưu lượng đào tạo ghi trong Giấy phép đào tạo lái xe;

e) Cơ sở đào tạo lái xe không lưu trữ đầy đủ hồ sơ các khóa đào tạo theo quy định;

g) Khai báo không đúng sự thật hoặc sử dụng các giấy tờ, tài liệu giả để được học, kiểm tra, sát hạch cấp mới, cấp lại Giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ hoặc nhận lại Giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ khi bị tước quyền sử dụng.

3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với cơ sở đào tạo lái xe, trung tâm sát hạch lái xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Cơ sở đào tạo lái xe tổ chức tuyển sinh, đào tạo không đúng hạng Giấy phép lái xe được phép đào tạo; đào tạo vượt quá lưu lượng quy định trong Giấy phép đào tạo lái xe;

b) Cơ sở đào tạo lái xe tổ chức đào tạo lái xe ngoài địa điểm được ghi trong Giấy phép đào tạo lái xe;

c) Cơ sở đào tạo lái xe tuyển sinh, đào tạo lái xe mà không có Giấy phép đào tạo lái xe hoặc có Giấy phép đào tạo lái xe nhưng đã hết hạn;

d) Cơ sở đào tạo lái xe đào tạo không đúng chương trình, giáo trình theo quy định; bố trí số lượng học viên tập lái trên xe tập lái vượt quá quy định;

đ) Cơ sở đào tạo lái xe không có đủ hệ thống phòng học; phòng học không đủ trang thiết bị, mô hình học cụ;

e) Cơ sở đào tạo lái xe không có sân tập lái hoặc sân tập lái không đủ điều kiện theo quy định;

g) Cơ sở đào tạo lái xe không có đủ số lượng xe tập lái các hạng để đáp ứng với lưu lượng đào tạo ghi trong Giấy phép đào tạo lái xe;

h) Cơ sở đào tạo lái xe cấp Giấy chứng nhận tốt nghiệp hoặc chứng chỉ sơ cấp nghề cho học viên sai quy định;

i) Trung tâm sát hạch lái xe không đủ điều kiện, quy chuẩn theo quy định;

k) Trung tâm sát hạch lái xe tự ý thay đổi hoặc sử dụng phần mềm sát hạch, thiết bị chấm điểm, chủng loại xe ô tô sát hạch khi chưa được sự chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền;

l) Trung tâm sát hạch lái xe để phương tiện, trang thiết bị chấm điểm hoạt động không chính xác trong kỳ sát hạch; để các dấu hiệu, ký hiệu trái quy định trên sân sát hạch trong kỳ sát hạch;

m) Trung tâm sát hạch lái xe không niêm yết mức thu phí sát hạch, phí các dịch vụ khác theo quy định; thu phí sát hạch, phí các dịch vụ khác trái quy định.

4. Giáo viên dạy thực hành để học viên thực hành lái xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại Điều 8 của Nghị định này, bị xử phạt theo quy định đối với hành vi đó.

5. Ngoài việc bị phạt tiền, cá nhân, tổ chức vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Cơ sở đào tạo lái xe vi phạm Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 2; Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 3 Điều này bị đình chỉ tuyển sinh cho đến khi có đủ điều kiện theo quy định hoặc khắc phục xong vi phạm;

b) Trung tâm sát hạch lái xe vi phạm Điểm i, Điểm k, Điểm l Khoản 3 Điều này bị đình chỉ tổ chức sát hạch lái xe cho đến khi có đủ điều kiện theo quy định hoặc khắc phục xong vi phạm;

c) Vi phạm Điểm g Khoản 2 Điều này bị tịch thu các giấy tờ, tài liệu giả mạo.”

13. Sửa đổi, bổ sung Mục 7 Chương II như sau:

“Mục 7. ÁP DỤNG THÍ ĐIỂM ĐỐI VỚI MỘT SỐ VI PHẠM TRONG KHU VỰC NỘI THÀNH CỦA CÁC THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG

Điều 43. Xử phạt người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự ô tô vi phạm một số hành vi áp dụng riêng trong khu vực nội thành của các thành phố trực thuộc Trung ương

1. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm a, Điểm h Khoản 1 Điều 8 Nghị định này.

2. Phạt tiền từ 600.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm h, Điểm i, Điểm k Khoản 2 Điều 8 Nghị định này.

3. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.400.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 3 Điều 8 Nghị định này.

4. Phạt tiền từ 1.400.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm k Khoản 4 Điều 8 Nghị định này.

5. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm đ, Điểm e Khoản 5 Điều 26 Nghị định này.

6. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Vi phạm Điểm h Khoản 2; Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 3; Điểm a, Khoản 4 Điều 8 Nghị định này (trong trường hợp dừng xe, đỗ xe trái quy định) bị buộc phải đưa phương tiện ra khỏi nơi vi phạm;

b) Vi phạm Điểm h, Điểm i, Điểm k Khoản 2; Điểm đ, Điểm e Khoản 3; Điểm b, Điểm c, Điểm đ, Điểm k Khoản 4 Điều 8 Nghị định này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

c) Vi phạm Điểm đ, Điểm e Khoản 5 Điều 26 Nghị định này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

d) Vi phạm Điểm a, Điểm e, Điểm g Khoản 4 Điều 8 Nghị định này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày. Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều 8 Nghị định này mà gây tai nạn giao thông nhưng chưa tới mức nghiêm trọng thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày: Điểm a, Điểm h Khoản 1; Điểm h, Điểm i, Điểm k Khoản 2; Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 3; Điểm b, Điểm c, Điểm k Khoản 4;

đ) Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều 8 Nghị định này mà gây tai nạn giao thông từ mức nghiêm trọng trở lên thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn: Điểm a, Điểm h Khoản 1; Điểm h, Điểm i, Điểm k Khoản 2; Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 3; Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm e, Điểm k Khoản 4.

Điều 44. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm một số hành vi áp dụng riêng trong khu vực nội thành của các thành phố trực thuộc Trung ương

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm a Khoản 1; Điểm a Khoản 2 Điều 9 Nghị định này.

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm đ, Điểm h Khoản 3 Điều 9 Nghị định này.

3. Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 800.000 đồng đối với người điều khiển, người ngồi trên xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm c, Điểm g, Điểm i, Điểm k, Điểm l Khoản 4 Điều 9 Nghị định này.

4. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:

a) Vi phạm Điểm c, Điểm i Khoản 4 Điều 9 Nghị định này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

b) Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều 9 Nghị định này mà gây tai nạn giao thông nhưng chưa tới mức nghiêm trọng thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày: Điểm a Khoản 1; Điểm đ, Điểm h Khoản 3; Điểm c, Điểm g, Điểm i, Điểm k Khoản 4;

c) Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều 9 Nghị định này mà gây tai nạn giao thông từ mức nghiêm trọng trở lên thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn: Điểm a Khoản 1; Điểm đ, Điểm h Khoản 3; Điểm c, Điểm g, Điểm i, Điểm k Khoản 4,

Điều 45. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe đạp, xe đạp máy, xe thô sơ khác vi phạm một số hành vi áp dụng riêng trong khu vực nội thành của các thành phố trực thuộc Trung ương

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với người điều khiển, người ngồi trên xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại:

a) Điểm a, Điểm c, Điểm d, Điểm g Khoản 1; Điểm a, Điểm b, Điểm d, Điểm g Khoản 2; Điểm b, Điểm c Khoản 3 Điều 11 Nghị định này;

b) Khoản 1 Điều 21 Nghị định này.

2. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều 21 Nghị định này còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tịch thu xe.

Điều 46. Xử phạt người đi bộ vi phạm một số hành vi áp dụng riêng trong khu vực nội thành của các thành phố trực thuộc Trung ương

1. Phạt tiền từ 60.000 đồng đến 80.000 đồng đối với người đi bộ vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm b, Điểm c Khoản 1 Điều 12 Nghị định này.

2. Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 120.000 đồng đối với người đi bộ vi phạm một trong các hành vi quy định tại Khoản 2 Điều 12 Nghị định này.”

14. Sửa đổi, bổ sung Khoản 3, Khoản 4 Điều 47 như sau:

“3. Cảnh sát trật tự, Cảnh sát phản ứng nhanh, Cảnh sát cơ động, Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng Công an cấp xã trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao có liên quan đến trật tự an toàn giao thông đường bộ có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định tại các Điểm, Khoản, Điều của Nghị định này như sau:

a) Điểm đ, Điểm i Khoản 1; Điểm g, Điểm h Khoản 2; Điểm b, Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 3; Điểm a, Điểm b, Điểm d, Điểm đ, Điểm h Khoản 4; Điểm b, Điểm đ Khoản 5; Điểm b, Điểm c, Điểm d Khoản 7; Khoản 8; Khoản 9 Điều 8;

b) Điểm e Khoản 2; Điểm a, Điểm đ, Điểm e, Điểm h, Điểm i, Điểm k Khoản 3; Điểm b, Điểm c, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm i, Điểm k Khoản 4; Điểm b, Điểm d, Điểm đ Khoản 5; Điểm b, Điểm e, Điểm g Khoản 6; Khoản 7; Khoản 8 Điều 9;

c) Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm h, Điểm i Khoản 2; Điểm b, Điểm đ, Điểm h Khoản 3; Điểm d, Điểm e, Điểm g Khoản 4; Điểm b, Điểm c Khoản 5; Điểm a Khoản 6; Khoản 7 Điều 10;

d) Điểm c, Điểm g, Điểm h, Điểm i Khoản 1; Khoản 2; Khoản 3; Khoản 4 Điều 11;

đ) Điều 12, Điều 13, Điều 14, Điều 15;

e) Khoản 1, Khoản 2, Khoản 4, Khoản 5 Điều 18;

g) Điều 21, Điều 23;

h) Điểm b Khoản 3; Điểm b, Điểm c, Điểm đ, Điểm e Khoản 5; Điểm c Khoản 7 Điều 26;

i) Điều 29, Điều 32;

k) Khoản 3, Khoản 4 Điều 34; Điều 35, Điều 37, Điều 38.

4. Thanh tra đường bộ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định về hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải tại các điểm dừng xe, đỗ xe trên đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ, trạm kiểm tra tải trọng xe, trạm thu phí, cơ sở kinh doanh vận tải đường bộ, khi phương tiện (có hành vi vi phạm) dừng, đỗ trên đường bộ; hành vi vi phạm quy định về đào tạo sát hạch, cấp Giấy phép lái xe, hoạt động kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật của công trình đường bộ và một số hành vi vi phạm khác quy định tại các Điểm, Khoản, Điều của Nghị định này như sau:

a) Điểm đ Khoản 1; Điểm g, Điểm h Khoản 2; Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 3; Điểm a, Điểm b, Điểm đ, Điểm h Khoản 4; Điểm b, Điểm đ Khoản 5; Điểm b Khoản 7; Khoản 8 Điều 8;

b) Điểm a, Điểm đ, Điểm h Khoản 3; Điểm d, Điểm đ Khoản 5 Điều 9;

c) Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h, Điểm i Khoản 2; Điểm b Khoản 3; Điểm e, Điểm g Khoản 4; Điểm b, Điểm c Khoản 5 Điều 10;

d) Điểm c, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 1; Điểm a, Điểm b Khoản 2; Điểm b Khoản 3 Điều 11;

đ) Điểm a Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4, Điểm b Khoản 5 Điều 14;

e) Điều 15, Điều 16, Điều 17, Điều 18;

g) Khoản 1; Khoản 2; Khoản 3; Khoản 4; Điểm b, Điểm đ Khoản 5 Điều 19;

h) Điều 22, Điều 23;

i) Điểm b Khoản 3; Điểm b, Điểm c Khoản 4; Khoản 6; Khoản 7 Điều 24;

k) Điều 25; Điều 26;

l) Khoản 1; Điểm a, Điểm b, Điểm d Khoản 2; Khoản 3; Khoản 4 Điều 27;

m) Điều 28, Điều 30, Điều 31;

n) Khoản 2; Điểm a, Điểm d, Điểm e Khoản 4; Khoản 5; Điểm a, Điểm b Khoản 6 Điều 33;

o) Điều 34, Điều 36, Điều 38, Điều 41, Điều 42.”

15. Sửa đổi, bổ sung Điều 54 như sau:

“Điều 54. Tạm giữ phương tiện, giấy tờ có liên quan đến người điều khiển và phương tiện vi phạm

1. Để ngăn chặn ngay vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt được phép tạm giữ phương tiện đến 10 (mười) ngày trước khi ra quyết định xử phạt đối với những hành vi vi phạm được quy định tại các Điều, Khoản, Điểm sau đây của Nghị định này:

a) Vi phạm Điểm g, Điểm k Khoản 4; Điểm b, Điểm đ Khoản 5; Điểm b, Điểm c, Điểm d Khoản 7; Khoản 8 Điều 8;

b) Vi phạm Điểm b, Điểm đ Khoản 5; Điểm b, Điểm e, Điểm g Khoản 6; Khoản 7; Khoản 8 Điều 9;

c) Vi phạm Điểm đ Khoản 3; Điểm d, Điểm g Khoản 4; Điểm a Khoản 6; Khoản 7 Điều 10;

d) Vi phạm Điểm d, Điểm đ Khoản 4 Điều 11 trong trường hợp người vi phạm là người dưới 16 tuổi và điều khiển phương tiện;

đ) Vi phạm Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d Khoản 4; Điểm d, Điểm đ Khoản 5 Điều 19;

e) Vi phạm Khoản 3 Điều 20;

g) Vi phạm Điểm a, Điểm đ Khoản 1 Điều 22;

h) Vi phạm Khoản 1; Điểm a, Điểm c Khoản 4; Khoản 5; Khoản 6; Khoản 7 Điều 24;

i) Khoản 2, Khoản 4 Điều 26 trong trường hợp xe kinh doanh vận chuyển hành khách chở vượt trên 50% số người quy định được phép chở của phương tiện; Điểm đ Khoản 7 Điều 26;

k) Khoản 3 Điều 36;

l) Vi phạm Điểm a, Điểm b, Điểm c Khoản 2 Điều 38 trong trường hợp người vi phạm là người điều khiển phương tiện.

2. Để bảo đảm việc xử phạt vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt còn có thể quyết định tạm giữ phương tiện, giấy tờ có liên quan đến người điều khiển và phương tiện vi phạm một trong các hành vi quy định tại Nghị định này theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Khi bị tạm giữ giấy tờ theo quy định tại Khoản này, nếu quá thời hạn hẹn đến giải quyết vụ việc vi phạm ghi trong biên bản vi phạm hành chính, người vi phạm chưa đến trụ sở của người có thẩm quyền xử phạt để giải quyết vụ việc vi phạm mà vẫn tiếp tục điều khiển phương tiện hoặc đưa phương tiện ra tham gia giao thông, sẽ bị áp dụng xử phạt như hành vi không có giấy tờ.

3. Khi phương tiện bị tạm giữ theo quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này, chủ phương tiện phải chịu mọi chi phí (nếu có) cho việc sử dụng phương tiện khác thay thế để vận chuyển người, hàng hóa được chở trên phương tiện bị tạm giữ.

4. Bộ Công an hướng dẫn cụ thể việc áp dụng biện pháp tạm giữ phương tiện quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này.”

16. Sửa đổi, bổ sung Khoản 4, Khoản 6, Khoản 7 Điều 57 như sau:

“4. Đối với người điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 8, Điểm h Khoản 2 Điều 10 Nghị định này, trong trường hợp đặt báo hiệu nguy hiểm không đúng quy định bị xử phạt kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013.

6. Quy định tại Mục 7 Chương II Nghị định này được thực hiện thí điểm trong thời gian 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày Nghị định có hiệu lực thi hành, Ủy ban nhân dân các thành phố trực thuộc Trung ương quy định cụ thể phạm vi khu vực nội thành để thực hiện việc thí điểm. Hàng năm, Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Ủy ban nhân dân các thành phố trực thuộc Trung ương báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện thí điểm; kết thúc thời hạn thí điểm, tổ chức tổng kết đánh giá việc thực hiện thí điểm và báo cáo Chính phủ đề xuất chủ trương thực hiện tiếp theo.

7. Về việc xử phạt đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành vi quy định tại Điểm a Khoản 6 Điều 26, Điểm b Khoản 3 Điều 27 Nghị định này được thực hiện từ ngày 01 tháng 7 năm 2013.”

Điều 2. Hiệu lực thi hành

1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10 tháng 11 năm 2012.

2. Bãi bỏ Nghị định số 33/2011/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ.

3. Các hành vi vi phạm quy định tại Nghị định này được phát hiện và lập biên bản trước ngày Nghị định này có hiệu lực, vẫn thực hiện theo quy định của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 và Nghị định số 33/2011/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2011.

Điều 3. Trách nhiệm thi hành

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

 Nơi nhận:
– Ban Bí thư Trung ương Đảng;
– Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP;
– VP BCĐ TW về phòng, chống tham nhũng;
– HĐND, UBND các tỉnh, TP trực thuộc TW;
– Văn phòng TW và các Ban của Đảng;
– Văn phòng Tổng Bí thư;
– Văn phòng Chủ tịch nước;
– Hội đồng Dân tộc và các UB của Quốc hội;
– Văn phòng Quốc hội;
– Tòa án nhân dân tối cao;
– Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
– Kiểm toán Nhà nước;
– UB Giám sát tài chính Quốc gia;
– Ngân hàng Chính sách Xã hội;
– Ngân hàng Phát triển Việt Nam;
– Ủy ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
– Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
– VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTCP, Cổng TTĐT, các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;
– Lưu: Văn thư, KTN (5b).

http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?_page=1&class_id=1&document_id=163786&mode=detail