Tag Archive: trung quoc


NGHE “VIỆT NAM CỰC LỰC PHẢN ĐỐI”, KHOAN CƯỜI

Nhiều bạn, mỗi khi thấy Trung Quốc có những hành vi ngang ngược và người phát ngôn Bộ ngoại giao ta phản đối, quan ngại thì lại cho rằng ta bất lực. Mình nghĩ các bạn có thể bực mình, nhưng quan trọng hơn là trước đó bạn cần biết một chút về công pháp quốc tế, để có thể hiểu giá trị của lời phản đối ấy.

Zing_BNG__Le_Hai_Binh

Ảnh minh họa

Tiếp tục đọc

Advertisements
Trong kho tàng truyện cổ tích Trung Hoa thường có các con vật sống lâu quá thành “tinh” tức là có khả năng biến thành người. Con vật ấy thường là con hồ ly. Nhưng chỉ là đội lốt người thôi, còn bản tính nó vẫn là con cáo quỷ quyệt độc ác. Song nó chỉ lừa người được một lúc nào rồi cái đuôi cáo lòi dần ra bị người lật tẩy phải cúp đuôi chạy trốn.

Tiếp tục đọc

TT – Về thông tin Trung Quốc sắp đủ 50 năm để chiếm hữu các đảo chiếm đóng bất hợp pháp, luật sư Nguyễn Văn Hậu – phó chủ tịch Hội Luật gia TP.HCM – có bài viết gửi Tuổi Trẻ để giải thích các vấn đề liên quan pháp lý quốc tế.

 

Bài báo trên tờ Wall Street Journal của Mỹ từng đặt câu hỏi “Vì sao Trung Quốc cố tình khiêu khích Mỹ và các nước châu Á láng giềng” với hình ảnh là tàu cá Việt Nam bị tàu Trung Quốc đâm chìm – Ảnh chụp lại từ màn hình

Tiếp tục đọc

Đồng chí B nói về âm mưu chống Việt Nam của bè lũ phản động Trung Quốc

 
Lời dẫn: Bài viết dưới đây là ghi chép lại bài phát biểu của Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn. Tài liệu hiện được lưu trữ tại Thư viện Quân đội tại Hà Nội.  Christopher E. Goscha đã phát hiện tài liệu này trong Thư viện Quân đội ở Hà Nội, chép tay lại và dịch ra tiếng Anh. Christopher E. Goscha hiện đang giảng dạy môn Lịch sử tại American University và Trường Quốc tế ở Paris. Ông là đồng Giám đốc Nhóm nghiên cứu Việt Nam đương đại, Trường Khoa học Chính trị, Paris. Theo Stein Tønnesson: “Văn bản không đề ngày tháng, và tên tác giả chỉ cho biết là “đồng chí B”. Dù sao, nội dung tài liệu cho ta thấy, nó được viết năm 1979, có lẽ vào quãng thời gian giữa cuộc tấn công của Trung Quốc vào Bắc Việt Nam tháng 2-1979 và thời điểm phát hành cuốn Sách trắng của Bộ Ngoại giao Việt Nam về mối quan hệ Việt – Trung ngày mồng 4 tháng 10 cùng năm. Dường như văn bản được soạn chỉ ít lâu sau quyết định ngày 15 tháng 3-1979 của Đặng Tiểu Bình ngừng cuộc tấn công trừng phạt Việt Nam và rút quân về nước, nhưng trước khi Hoàng Văn Hoan đào thoát sang Trung Quốc tháng 7-1979.”
Bài này Google.tienlang đã giới thiệu tại blog cũ (đã bị hacker chiếm đoạt). Nay, trước hành động xâm lăng của Trung Quốc trên Biển Đông, chúng tôi xin giới thiệu lại bài viết này để bạn đọc hiểu thêm dã tâm của nhà cầm quyền TQ.
**********************
 

Nói chung, sau khi chúng ta đánh bại Mỹ, không đế quốc nào dám đánh chúng ta nữa. Chỉ có những người nghĩ rằng họ vẫn có thể đánh chúng ta và dám đánh chúng ta là những kẻ phản động Trung Quốc. Nhưng người dân Trung Quốc hoàn toàn không muốn thế. Tôi không biết những kẻ phản động Trung Quốc này sẽ tiếp tục tồn tại thêm bao lâu nữa. Tuy nhiên, miễn là họ tồn tại, thì họ sẽ tấn công chúng ta như họ vừa thực hiện (nghĩa là đầu năm 1979).
Nếu chiến tranh đến từ phương Bắc, thì các tỉnh [Bắc Trung Bộ] Nghệ An, Hà Tĩnh và Thanh Hóa sẽ trở thành cơ sở cho toàn bộ đất nước. Các tỉnh này tốt nhất, là các căn cứ mạnh nhất, tốt nhất và hiệu quả nhất. Vì nếu vùng đồng bằng [Bắc Bộ] tiếp tục là vùng liên tục căng thẳng, thì tình hình sẽ rất phức tạp. Vấn đề không đơn giản chút nào. Nếu không phải là người Việt Nam, thì sẽ không có người nào đánh Mỹ, bởi vì lúc Việt Nam chiến đấu chống Mỹ, cả thế giới còn lại đều sợ Mỹ …
Mặc dù Trung Quốc đã giúp [Bắc] Triều Tiên chỉ với mục đích bảo vệ sườn phía Bắc của họ. Sau khi cuộc chiến kết thúc [ở Triều Tiên] và khi áp lực lên Việt Nam, ông ta (chỗ này hình như nói đến Chu Ân Lai khi đoạn văn sau đó cho thấy vậy) nói rằng, nếu Việt Nam tiếp tục chiến đấu, thì sẽ phải tự lo liệu. Ông ta sẽ không giúp thêm nữa và gây áp lực với chúng ta để ngừng chiến đấu.
Khi chúng ta ký Hiệp Định Geneva, rõ ràng là Chu Ân Lai đã chia đất nước ta làm hai [phần]. Sau khi nước ta bị chia thành hai miền Nam – Bắc như thế, một lần nữa ông ta gây sức ép lên chúng ta, không được làm gì đối với miền Nam Việt Nam. Họ ngăn cấm chúng ta đứng lên [chống lại Việt Nam Cộng hòa do Mỹ hậu thuẫn]. [Nhưng] họ, [người Trung Quốc,] không thể làm gì để ngăn cản chúng ta.
Khi chúng ta ở miền Nam và chuẩn bị chiến tranh du kích ngay sau khi ký Hiệp định Geneva, Mao Trạch Đông đã nói với Đại hội Đảng của chúng ta rằng, ngay lập tức, chúng ta phải buộc Lào chuyển hai tỉnh đã được giải phóng cho chính phủ Viêng Chăn. Nếu không, người Mỹ sẽ tiêu diệt hai tỉnh này, một tình huống rất nguy hiểm [theo cái nhìn của Trung Quốc]! Ngay lập tức, Việt Nam đã phải làm việc với người Mỹ [liên quan đến vấn đề này]. Mao đã bức hiếp chúng ta bằng cách này và chúng ta đã phải làm điều đó.
Sau đó, khi hai tỉnh này đã được chuyển cho Viêng Chăn, những tên phản động [Lào] ngay lập tức bắt giữ Souphanouvong (Chủ tịch Lào từ năm 1975-1986). Lào có hai tiểu đoàn bị bao vây lúc đó. Hơn nữa, họ vẫn chưa sẵn sàng chiến đấu. Sau đó, một tiểu đoàn đã có thể thoát khỏi sự [bao vây]. Lúc đó, tôi đưa ra quan điểm của tôi là, Lào phải được phép tiến hành chiến tranh du kích. Tôi mời Trung Quốc đến và thảo luận về vấn đề này với chúng ta. Tôi nói với họ: “Các đồng chí, nếu các đồng chí tiếp tục gây áp lực với Lào bằng cách này, thì lực lượng của họ sẽ hoàn toàn tan rã. Bây giờ họ phải được phép tiến hành chiến tranh du kích“.
Trương Văn Thiên (Zhang Wentian), người trước đó là Tổng Thư ký [Đảng Cộng sản Trung Quốc] và sử dụng bút danh Lạc Phú, trả lời tôi: “Vâng, các đồng chí, điều các đồng chí nói đúng. Hãy để chúng tôi cho phép tiểu đoàn đó của Lào đảm nhiệm chiến tranh du kích“.
Ngay lập tức, tôi hỏi Trương Văn Thiên: “Các đồng chí, nếu các đồng chí cho phép Lào gánh vác chiến tranh du kích, thì không có gì phải sợ việc phát động chiến tranh du kích ở miền Nam Việt Nam. Điều gì làm cho các đồng chí sợ đến nỗi các đồng chí ngăn cản hành động như thế?”
Ông ta [Trương Văn Thiên] đã nói: “Không có gì phải sợ!”
Trương Văn Thiên đã nói thế. Tuy nhiên, Ho Wei, Đại sứ Trung Quốc ở Việt Nam lúc đó, đã ngồi ở đó và nghe điều đã nói. Ngay lập tức, ông ta điện cho Trung Quốc (báo cáo điều Lê Duẩn và Trương Văn Thiên đã nói). Ngay lập tức, Mao trả lời: “Việt Nam không thể phát động chiến tranh du kích ở miền Nam. Việt Nam phải nằm chờ trong một thời gian dài!” Chúng ta rất nghèo. Làm sao chúng ta có thể đánh Mỹ nếu không có Trung Quốc làm căn cứ hậu tập? Nên chúng ta phải nghe theo họ, đúng không?
Tuy nhiên, chúng ta đã không đồng ý. Chúng ta đã bí mật tiếp tục phát triển lực lượng. Khi [Ngô Đình] Diệm kéo lê máy chém khắp miền Nam Việt Nam, chúng ta đã ban hành lệnh thành lập lực lượng quần chúng để chống lại lệnh đã được lập và nắm quyền [từ chính phủ Diệm]. Chúng ta đã không chú ý [đến Trung Quốc].
Khi cuộc nổi dậy giành chính quyền bắt đầu, chúng tôi đi Trung Quốc để gặp Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình. Đặng Tiểu Bình đã nói với tôi: “Đồng chí, bây giờ sai lầm của đồng chí đã xảy ra rồi, đồng chí chỉ nên đánh ở mức trung đội trở xuống“. Đó là áp lực mà họ đã áp đặt lên chúng ta.
Tôi nói [với Trung Quốc]: “Vâng, vâng! tôi sẽ làm điều đó. Tôi sẽ chỉ chiến đấu ở mức một trung đội trở xuống“.
Sau khi chúng ta chiến đấu và Trung Quốc nhận ra rằng chúng ta có thể chiến đấu hiệu quả, đột nhiên Mao có suy nghĩ mới. Ông ta nói rằng, vì Mỹ đánh chúng ta, ông ta sẽ đưa quân đội [Trung Quốc] đến giúp chúng ta xây dựng đường xá. Mục tiêu chính của ông ta là tìm hiểu tình hình đất nước ta để sau này ông ta có thể tấn công chúng ta và từ đó mở rộng xuống khu vực Đông Nam Á. Không có lý do nào khác.
Chúng tôi biết rõ ý đồ này, nhưng phải cho phép họ (sự xâm nhập của quân đội Trung Quốc). Thôi thì cũng được. Nhưng họ quyết định đưa quân vào. Tôi yêu cầu họ chỉ gửi người, nhưng quân lính của họ đã đến cùng với súng đạn. Tôi cũng phải chịu điều này.
Sau đó, ông ta (Mao Trạch Đông) bắt chúng ta phải nhận 20.000 quân của ông ta đến xây một con đường từ Nghệ Tĩnh vào Nam Bộ (thuật ngữ tiếng Việt chỉ miền Nam Việt Nam). Tôi từ chối. Họ tiếp tục yêu cầu nhưng tôi không nhượng bộ. Họ gây áp lực với tôi cho quân của họ vào nhưng tôi đã không chấp thuận. Họ tiếp tục gây sức ép nhưng tôi vẫn không chịu.
Tôi đưa ra những ví dụ này để các đồng chí thấy họ có âm mưu cướp nước ta từ lâu và âm mưu đó ác độc như thế nào.
– Sau khi Mỹ đưa hàng trăm ngàn quân vào miền Nam Việt Nam, chúng ta đã phát động cuộc tổng tấn công vào năm 1968 để buộc họ giảm leo thang. Để đánh bại Hoa Kỳ, một điều cần phải biết là làm thế nào để họ từ từ giảm leo thang. Đó là chiến lược của chúng ta. Chúng ta chiến đấu chống một kẻ thù lớn, kẻ thù với dân số 200 triệu người và thống trị thế giới. Nếu chúng ta không thể làm cho họ giảm leo thang từng bước, thì chúng ta sẽ thất bại và không thể tiêu diệt kẻ thù. Chúng ta phải đấu tranh để làm nhụt ý chí họ để buộc họ phải đi đến bàn đàm phán với chúng ta mà không cho phép họ đưa thêm quân.
Đến lúc họ muốn thương lượng với chúng ta, Ho Wei đã viết một bức thư cho chúng tôi, nói rằng: “Các ông không thể ngồi xuống đàm phán với Hoa Kỳ. Các ông phải đưa quân Mỹ vào miền Bắc Việt Nam để đánh với họ“. Ông ta gây áp lực với chúng tôi cách này, làm cho chúng tôi bối rối vô cùng. Đây không phải là vấn đề hoàn toàn đơn giản. Rất là mệt mỏi mỗi khi tình huống như thế phát sinh [với Trung Quốc].
Chúng tôi quyết định không thực hiện cách đó (nói đến lời khuyên của Hồ Wei không đàm phán với Hoa Kỳ). Chúng tôi phải ngồi xuống ở Paris. Chúng tôi phải làm cho họ (Mỹ) giảm leo thang để đánh bại họ. Trong thời gian đó, Trung Quốc đã thông báo [với Mỹ]: “Nếu các ông không tấn công tôi, tôi sẽ không tấn công các ông. Nhưng rất nhiều quân lính mà các ông muốn đưa vào Việt Nam, tùy các ông“. Trung Quốc nhất trí điều này và đã gây áp lực với chúng tôi bằng cách đó.
Họ (Trung Quốc) đã trao đổi nhiều với Mỹ và ép buộc chúng ta phục vụ như là một con bài để mặc cả theo cách này. Khi người Mỹ nhận ra rằng họ đã thua trận, ngay lập tức, họ sử dụng Trung Quốc để [tạo điều kiện] rút quân [ở miền Nam Việt Nam]. Nixon và Kissinger đã đến Trung Quốc để thảo luận vấn đề này.
– Trước khi Nixon đi Trung Quốc, [mục đích chuyến đi của ông ta là] giải quyết vấn đề Việt Nam bằng cách đó, để phục vụ lợi ích của Mỹ và giảm bớt thất bại của Mỹ, cũng như cùng lúc cho phép ông ta lôi kéo Trung Quốc về phía Mỹ. Chu Ân Lai đã đến gặp tôi. Chu Ân Lai nói với tôi: “Lúc này, Nixon đến gặp tôi chủ yếu là thảo luận về vấn đề Việt Nam, do vậy tôi phải đến gặp đồng chí để thảo luận điều đó với đồng chí“.
Tôi trả lời: “Đồng chí, đồng chí có thể nói bất cứ điều gì đồng chí thích, nhưng tôi không nghe theo đồng chí. Đồng chí là người Trung Quốc, tôi là người Việt. Việt Nam là của tôi (đất nước của tôi), hoàn toàn không phải của các đồng chí. Các đồng chí không có quyền nói [về vấn đề Việt Nam] và các đồng chí không có quyền thảo luận [các vấn đề đó với Mỹ]. Hôm nay, các đồng chí, chính tôi sẽ nói với các đồng chí điều mà thậm chí tôi chưa hề nói với Bộ Chính trị, rằng đồng chí đã nêu ra vấn đề nghiêm trọng và vì thế tôi phải nói:
– Năm 1954, khi chúng tôi giành chiến thắng tại Điện Biên Phủ, tôi đã ở [tỉnh] Hậu Nghĩa. Bác Hồ đã điện nói với tôi rằng, tôi phải vào miền Nam để tập hợp [các lực lượng ở đó] và nói chuyện với đồng bào miền Nam [về vấn đề này]. Tôi đi bằng xe tải vào miền Nam. Trên đường đi, đồng bào ra chào đón tôi vì họ nghĩ rằng chúng tôi đã giành chiến thắng. Đau đớn vô cùng! Nhìn đồng bào miền Nam, tôi đã khóc. Vì sau đó, Hoa Kỳ sẽ đến và tàn sát [người dân] một cách khủng khiếp.
Khi vừa tới miền Nam, ngay lập tức, tôi đã điện cho Bác Hồ để xin ở lại [miền Nam] và không trở lại miền Bắc để tôi có thể đánh thêm mười năm nữa hoặc hơn. Đồng chí đã gây khó khăn cho tôi như thế này (muốn nói đến vai trò của Chu Ân Lai trong việc chia cắt Việt Nam tại Geneva năm 1954), đồng chí có biết không“?
Chu Ân Lai nói: “Tôi xin lỗi đồng chí. Tôi đã sai. Điều đó tôi sai” (muốn nói đến sự chia cắt Việt Nam tại Geneva). Sau khi Nixon rời khỏi Trung Quốc, một lần nữa, ông ta (Chu Ân Lai) đến Việt Nam để hỏi tôi về một số vấn đề liên quan đến cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, ngay lập tức, tôi nói với Chu Ân Lai: “Nixon đã gặp các đồng chí rồi. Chẳng bao lâu nữa, họ (Hoa Kỳ) sẽ tấn công chúng tôi thậm chí còn mạnh hơn“.
Tôi hoàn toàn không sợ. Cả hai (Mỹ và Trung Quốc) đã thương lượng với nhau để đánh tôi mạnh hơn. Ông ta (Chu Ân Lai) đã không bác bỏ quan điểm này là vô căn cứ và chỉ nói rằng: “Tôi sẽ gửi thêm súng đạn cho các đồng chí“.
Sau đó ông ta (Chu Ân Lai) nói (về mối lo ngại âm mưu bí mật Trung – Mỹ): “Không có điều đó“. Tuy nhiên, hai bên đã thảo luận làm thế nào để đánh chúng ta mạnh hơn, gồm các cuộc tấn công bằng bom B-52 và phong tỏa cảng Hải Phòng. Rõ ràng là như thế.
– Nếu Liên Xô và Trung Quốc đã không mâu thuẫn với nhau, thì Hoa Kỳ không thể tấn công chúng ta quyết liệt như họ đã tấn công. Khi hai [cường quốc Trung Quốc và Liên Xô] xung đột, người Mỹ đã không bị [phe đối lập là khối xã hội chủ nghĩa] cản trở. Mặc dù Việt Nam có thể thống nhất và đoàn kết với cả Trung Quốc lẫn Liên Xô, để đạt được điều này rất phức tạp, lúc đó chúng ta phải dựa vào Trung Quốc nhiều thứ. Lúc đó, hàng năm Trung Quốc cung cấp viện trợ 500.000 tấn thực phẩm, cũng như súng ống, đạn dược, tiền bạc, chưa kể đến viện trợ đô la. Liên Xô cũng đã giúp bằng cách này. Nếu chúng ta không thể làm điều đó (đoàn kết và thống nhất với Trung Quốc và Liên Xô), mọi thứ sẽ rất nguy hiểm.
Mỗi năm tôi đã phải đi Trung Quốc hai lần để nói chuyện với họ (lãnh đạo Trung Quốc) về [các sự kiện] ở miền Nam Việt Nam. Về phía Liên Xô, tôi không phải nói gì cả (về tình hình ở miền Nam Việt Nam). Tôi chỉ nói một cách chung chung. Khi giao thiệp với Trung Quốc, tôi đã phải nói rằng cả hai [nước] đang đánh Mỹ. Tôi đã đi một mình. Tôi phải có mặt về vấn đề này. Tôi đã đến đó và nói chuyện với họ nhiều lần bằng cách này, mục đích chính là để xây dựng quan hệ gần gũi hơn giữa hai bên (nghĩa là Trung Quốc và Việt Nam). Chính xác là vào thời điểm đó Trung Quốc gây áp lực với chúng ta để xa lánh Liên Xô, cấm chúng ta không được đi với Liên Xô.
Họ đã làm rất căng. Đặng Tiểu Bình, cùng với Khang Sinh đã đến và nói với tôi: “Đồng chí, tôi sẽ giúp đồng chí vài tỷ [có lẽ là nhân dân tệ] mỗi năm. Đồng chí không thể nhận bất cứ thứ gì từ Liên Xô“.
Tôi không đồng ý điều này. Tôi nói: “Không, chúng ta phải đoàn kết và thống nhất với toàn bộ phe [xã hội chủ nghĩa]“.
Năm 1963, khi Khrushchev phạm sai lầm, ngay lập tức [Trung Quốc] ban hành một tuyên bố 25 điểm và mời đảng chúng ta đến cho ý kiến . Anh Trường Chinh và tôi đã đi cùng với một số anh em khác. Trong cuộc thảo luận, họ (Trung Quốc) lắng nghe chúng tôi đến, hình như là điểm thứ 10, nhưng khi đến điểm “không từ bỏ phe xã hội chủ nghĩa”, họ đã không nghe… Đặng Tiểu Bình nói: “Tôi chịu trách nhiệm về tài liệu của chính tôi, tôi muốn nghe ý kiến ​​của các đồng chí, nhưng tôi không chấp nhận quan điểm này của các đồng chí“.
Trước khi chúng tôi ra về, Mao gặp anh Trường Chinh và tôi. Mao ngồi xuống trò chuyện với chúng tôi và cuối cùng ông ta tuyên bố: “Các đồng chí, tôi muốn nói cho các đồng chí biết điều này. Tôi sẽ là chủ tịch của 500 triệu nông dân đang thiếu đất, và tôi sẽ mang một đạo quân tiến xuống khu vực Đông Nam Á“. Đặng Tiểu Bình cũng ngồi ở đó, nói thêm: “Chủ yếu là vì nông dân nghèo, trong tình cảnh khó khăn cùng cực!”
Khi chúng tôi ra ngoài, tôi nói với anh Trường Chinh: “Đó anh thấy đó, âm mưu chiếm nước ta và Đông Nam Á. Bây giờ đã rõ rồi“. Họ dám tuyên bố điều đó như thế. Họ nghĩ chúng ta không hiểu. Đúng là không lúc nào họ không nghĩ đến đánh Việt Nam!
Tôi sẽ nói với các đồng chí nhiều hơn để các đồng chí có thể thấy thêm về tầm quan trọng quân sự trong vấn đề này.
Mao hỏi tôi: Ở Lào, có bao nhiêu cây số vuông đất?
Tôi trả lời: Khoảng 200.000 cây số vuông.
Mao hỏi: Dân số của họ bao nhiêu?
Tôi trả lời: Khoảng 3 triệu!
Mao nói: Như vậy là không nhiều! Tôi sẽ đưa dân tôi đến đó, thật mà!
Mao hỏi: Có bao nhiêu cây số vuông đất ở Thái Lan?
Tôi trả lời: Khoảng 500.000 cây số vuông.
Mao hỏi: Có bao nhiêu người?
Tôi trả lời: Khoảng 40 triệu!
Mao nói: Lạy Chúa! Tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc có 500.000 cây số vuông, nhưng có tới 90 triệu người. Tôi cũng sẽ đưa một số người dân của tôi tới Thái Lan!
Đối với Việt Nam, họ không dám nói về việc đưa người tới theo cách này. Tuy nhiên, ông ta (Mao) nói với tôi: “Đồng chí, có đúng là người của các đồng chí đã chiến đấu và đánh bại quân Nguyên?” Tôi nói: “Đúng“. Ông ta hỏi: “Có phải cũng chính người của đồng chí đã đánh bại quân Thanh?” Tôi nói: “Đúng“. Ông ta nói: “Và quân Minh nữa, phải không?” Tôi nói: “Đúng, và cả các ông nữa. Tôi đánh các ông luôn. Các ông có biết điều đó không?“
Tôi đã nói với Mao Trạch Đông như thế. Ông ta nói: “Có, có!” Ông ta muốn chiếm Lào, cả Thái Lan, cũng như muốn chiếm tất cả các nước Đông Nam Á. Đưa người dân đến sống ở đó. Quan điểm đó thật là phức tạp.
Trong quá khứ (nói đến vấn đề có thể xuất phát từ mối đe dọa của Trung Quốc trong thời gian này), chúng ta đã chuẩn bị rất nhiều, không phải là chúng ta không chuẩn bị. Nếu chúng ta không chuẩn bị, tình hình gần đây sẽ rất nguy hiểm. Không phải là vấn đề đơn giản.
Mười năm trước, tôi đã triệu tập các anh em trong quân đội đến gặp tôi. Tôi nói với họ rằng Liên Xô và Mỹ mâu thuẫn với nhau. Đối với Trung Quốc, họ đã bắt tay với đế quốc Mỹ. Trong tình hình căng thẳng này, các đồng chí phải nghiên cứu vấn đề này ngay lập tức. Tôi sợ rằng quân đội không hiểu ý tôi, nên tôi nói với họ rằng, không có cách nào khác để hiểu vấn đề này. Nhưng họ vẫn thấy khó hiểu. Hoàn toàn không dễ. Nhưng tôi không thể nói bằng cách nào khác. Và tôi đã không cho phép những kẻ khác túm lấy tôi.
Khi tôi đến Liên Xô, Liên Xô cũng làm khó tôi về Trung Quốc. Liên Xô đã triệu tập một cuộc họp gồm 80 đảng [cộng sản] để hỗ trợ Việt Nam, nhưng Việt Nam không tham dự hội nghị này, vì [buổi hợp này] không chỉ đơn giản chỉ nhằm giúp Việt Nam, mà còn có mục đích lên án Trung Quốc. Nên Việt Nam đã không đi.
Liên Xô nói: “Bây giờ các đồng chí bỏ rơi chủ nghĩa quốc tế [hay] là cái gì? Tại sao các đồng chí làm điều này?” Tôi nói: “Tôi hoàn toàn không bỏ rơi chủ nghĩa quốc tế. Tôi không bao giờ làm điều này. Tuy nhiên, để là người quốc tế, trước tiên phải đánh bại Mỹ. Và nếu một nước muốn đánh bại Mỹ, thì phải có sự thống nhất và đoàn kết với Trung Quốc. Nếu tôi đến hội nghị này, thì Trung Quốc sẽ gây nhiều khó khăn lớn với chúng tôi. Các đồng chí, hãy hiểu cho tôi“.
Tại Trung Quốc cũng có nhiều ý kiến và tranh luận ​​khác nhau. Chu Ân Lai đồng ý việc hình thành một mặt trận với Liên Xô để chống Mỹ. Một lần, khi tôi đi Liên Xô để dự lễ kỷ niệm quốc gia, tôi có đọc một bức điện Trung Quốc gửi sang Liên Xô, nói rằng: “Bất cứ khi nào có ai đó tấn công Liên Xô, thì Trung Quốc sẽ đứng bên cạnh các bạn“. Đó là vì đã có một hiệp ước hữu nghị giữa Liên Xô và Trung Quốc từ thời trước đó (tháng 2 năm 1950).
Ngồi cạnh Chu Ân Lai, tôi hỏi ông ta: “Trong bức điện gửi đến Liên Xô gần đây, đồng chí đồng ý thành lập một mặt trận với Liên Xô, nhưng tại sao các đồng chí không thành lập một mặt trận chống Mỹ?” Chu Ân Lai nói: “Chúng tôi có thể thành lập mặt trận chống Mỹ. Tôi chia sẻ quan điểm đó. Các đồng chí, tôi sẽ thành lập một mặt trận với các đồng chí [Việt Nam]“. Bành Chân cũng ngồi ở đó, nói thêm: “Quan điểm này cực kỳ chính xác!” Nhưng khi vấn đề được thảo luận tại Thượng Hải, Mao nói là không thể và hủy bỏ nó. Các đồng chí thấy nó phức tạp như thế nào.
Mặc dù Chu Ân Lai giữ vững một số quan điểm này, ông ta dù sao cũng đồng ý xây dựng một mặt trận và [ông ta] đã giúp Việt Nam rất nhiều. Cám ơn ông ta rằng tôi có thể hiểu [nhiều về những gì đang diễn ra ở Trung Quốc]. Nếu không thì sẽ rất nguy hiểm. Có lần, ông ta nói với tôi: “Tôi đang làm hết sức mình để tồn tại ở đây, sử dụng Li Chiang tích lũy và hỗ trợ cho các đồng chí“. Thì ra vậy (tức là Chu Ân Lai đã sử dụng Li Chiang, để giúp người Việt Nam). Có nghĩa là, không có Chu Ân Lai, điều này sẽ hoàn toàn không thể xảy ra. Tôi đang mắc nợ ông ta.
Tuy nhiên, không đúng để nói rằng các lãnh đạo khác của Trung Quốc hoàn toàn chia sẻ quan điểm của Chu Ân Lai. Họ khác nhau nhiều thứ. Phải nói rằng, người kiên quyết nhất là người có tinh thần Đại Hán và là người muốn chiếm Đông Nam Á, đó chính là Mao Trạch Đông. Tất cả các chính sách [của Trung Quốc] đều nằm trong tay ông ta.
Điều tương tự cũng áp dụng đối với các nhà lãnh đạo hiện tại của Trung Quốc. Tuy nhiên, chúng ta không biết tương lai sẽ ra sao, [sự thật của vấn đề là] họ đã tấn công chúng ta. Trong quá khứ, Đặng Tiểu Bình đã làm hai điều mà hiện đang bị đảo lộn. Đó là, khi chúng ta giành chiến thắng ở miền Nam Việt Nam, nhiều [lãnh đạo] Trung Quốc không hài lòng. Tuy nhiên, dù sao Đặng Tiểu Bình cũng chúc mừng chúng ta. Vì lý do này, ngay lập tức ông ta đã bị những người khác xem như là người theo chủ nghĩa xét lại.
Khi tôi đi Trung Quốc lần cuối, tôi dẫn đầu phái đoàn, và tôi đã gặp phái đoàn Trung Quốc do Đặng Tiểu Bình đứng đầu. Khi nói về vấn đề lãnh thổ, gồm cả việc thảo luận về một số hòn đảo, tôi nói: “Hai đất nước chúng ta ở gần nhau, Có một số vùng lãnh thổ của chúng ta vẫn chưa được xác định rõ ràng. Hai bên nên thành lập các cơ quan để xem xét vấn đề này. Các đồng chí, làm ơn đồng ý với tôi [về vấn đề này]”. Ông ta (Đặng Tiểu Bình) đồng ý, nhưng sau khi làm như vậy, ngay lập tức ông ta bị nhóm lãnh đạo khác xem như là người theo chủ nghĩa xét lại.
Nhưng bây giờ ông ta (Đặng Tiểu Bình) điên rồi. Bởi vì ông ta muốn cho mọi người thấy rằng ông ta không phải là người theo chủ nghĩa xét lại, cho nên ông ta đã tấn công Việt Nam mạnh hơn. Ông ta để cho họ tiếp tục tấn công Việt Nam.
Sau khi đánh bại Mỹ, chúng ta giữ lại hơn một triệu quân, các đồng chí lãnh đạo Liên Xô hỏi chúng tôi: “Các đồng chí định đánh với ai mà giữ lại một đội quân thường trực lớn như vậy?” Tôi nói: “Sau này, các đồng chí sẽ hiểu“. Lý do duy nhất chúng ta giữ quân đội thường trực như thế là vì mối đe dọa của Trung Quốc đối với Việt Nam. Nếu không có [một mối đe dọa như thế], thì điều này (quân đội thường trực lớn) sẽ không cần. Gần đây, bị tấn công trên hai mặt trận, [chúng ta có thể thấy rằng] rất nguy hiểm nếu chúng ta đã không được duy trì một đội quân lớn.
(B) (Ý nghĩa của chữ “B” này trong văn bản gốc không rõ ràng) – Sau Đệ nhị Thế chiến, tất cả mọi người tin rằng tên sen đầm quốc tế là đế quốc Mỹ. Họ có thể tiếp quản và bắt nạt cả thế giới. Tất cả các nước, gồm các nước lớn đều sợ Mỹ. Chỉ có Việt Nam là không sợ Mỹ.
Tôi hiểu vấn đề này vì công việc đã dạy tôi. Người đầu tiên sợ [Mỹ] là Mao Trạch Đông. Ông ta nói với tôi, đó là, Việt Nam và Lào, rằng: “Ngay lập tức, các ông phải chuyển giao hai tỉnh của Lào đã được giải phóng cho chính phủ Viêng Chăn. Nếu các ông không làm như vậy, thì Mỹ sẽ sử dụng điều đó làm lý do tấn công. Đó là mối nguy lớn”. Về phía Việt Nam, chúng tôi đã nói: “Chúng ta phải chiến đấu chống Mỹ để giải phóng miền Nam Việt Nam“. Ông ta (Mao) nói: “Các ông không thể làm điều đó. Miền Nam Việt Nam phải nằm đợi trong một thời gian dài, đợi một đời, 5-10 đời hoặc thậm chí 20 đời kể từ bây giờ. Các ông không thể đánh Mỹ. Đánh Mỹ là nguy hiểm“. Mao Trạch Đông đã sợ Mỹ đến mức độ đó…
Nhưng Việt Nam không sợ. Việt Nam đã tiếp tục chiến đấu. Nếu Việt Nam không đánh Mỹ thì miền Nam Việt Nam sẽ không được giải phóng. Một đất nước chưa được giải phóng sẽ vẫn là một đất nước lệ thuộc. Không ai có được độc lập nếu chỉ có một nửa đất nước được tự do. Không có được độc lập cho đến năm 1975, đất nước chúng ta cuối cùng có được độc lập hoàn toàn. Có độc lập, tự do sẽ đến. Tự do phải là tự do cho cả nước Việt Nam …
Engels đã nói về chiến tranh nhân dân. Sau đó, Liên Xô, Trung Quốc và chính chúng ta cũng đã nói [về vấn đề này]. Tuy nhiên, ba nước rất khác về nội dung [chiến tranh nhân dân]. Không đúng là chỉ vì các bạn có hàng triệu người, thì các bạn có thể làm bất cứ điều gì các bạn muốn. Trung Quốc cũng nói đến chiến tranh nhân dân, tuy nhiên, [họ cho rằng] “khi kẻ thù tiến lên, thì chúng ta phải rút lui“. Nói cách khác, phòng thủ là chính, và chiến tranh được chia thành ba giai đoạn, vùng nông thôn được sử dụng để bao vây thành thị, trong khi [các lực lượng chính] chỉ ở lại trong rừng núi… Người Trung Quốc ở thế phòng thủ và rất yếu [trong Đệ nhị Thế chiến]. Ngay cả với 400 triệu người đọ sức với quân đội Nhật Bản có 300.000 – 400.000 quân, Trung Quốc vẫn không thể đánh bại họ.
Tôi phải lặp lại điều này như thế, vì trước khi Trung Quốc gửi cố vấn cho chúng ta, một số anh em Việt Nam chúng ta không hiểu. Họ nghĩ rằng [Trung Quốc] rất có khả năng. Nhưng họ không có kỹ năng và do đó chúng ta đã không làm theo [những lời khuyên của Trung Quốc].
Năm 1952, tôi rời miền Bắc sang Trung Quốc vì tôi bị bệnh và cần điều trị. Đây là lần đầu tiên tôi đi nước ngoài. Tôi đặt câu hỏi cho họ (Trung Quốc) và thấy nhiều điều rất lạ. Có những khu vực [đã bị] quân Nhật chiếm đóng, mỗi khu có dân số khoảng 50 triệu người, nhưng không có lấy một chiến binh du kích…
Khi tôi từ Trung Quốc trở về, tôi đã gặp Bác [Hồ]. Bác hỏi tôi:
– Đây là lần đầu tiên chú đi ra nước ngoài, phải không?
Vâng, đây là lần đầu tiên tôi đi ra nước ngoài.
– Chú đã thấy gì?
Tôi thấy hai điều: Việt Nam rất dũng cảm và họ (Trung Quốc) không dũng cảm chút nào.
Tôi hiểu điều này kể từ ngày đó. Chúng ta (Việt Nam) hoàn toàn khác với họ. Lòng can đảm vốn có trong con người Việt Nam và do đó chúng ta chưa bao giờ có một chiến lược phòng thủ (ý nói ở thế thủ). Mọi người dân chiến đấu.
Gần đây, họ (Trung Quốc) đã mang hàng trăm ngàn quân vào xâm chiếm nước ta. Hầu hết, chúng ta đã sử dụng lực lượng dân quân và quân đội trong vùng để tấn công họ. Chúng ta không ở thế thủ và do đó họ phải lùi bước. Họ không thể quét sạch dù một trung đội Việt Nam, trong khi chúng ta đã xóa sổ vài trung đoàn và hàng chục tiểu đoàn của họ. Có được như vậy là vì chiến lược tấn công của chúng ta.
Đế quốc Mỹ đã đánh với chúng ta trong một cuộc chiến kéo dài. Họ rất mạnh, nhưng họ đã thua. Nhưng có một yếu tố đặc biệt, đó là những mâu thuẫn gay gắt giữa Trung Quốc và Liên Xô. [Vì điều này,] họ đã tấn công chúng ta mạnh như thế này.
… Việt Nam đã chiến đấu chống Mỹ, và đã chiến đấu rất quyết liệt, nhưng chúng ta biết rằng Hoa Kỳ là một nước rất lớn, khả năng tích lũy hơn 10 triệu quân và đưa tất cả các loại vũ khí được xem là mạnh của họ vào để đánh chúng ta. Vì vậy, chúng ta đã phải chiến đấu trong một thời gian dài để làm cho cho họ giảm leo thang. Chúng ta là những người có thể làm được điều đó, Trung Quốc thì không thể. Khi quân đội Mỹ tấn công Quong Tre (Quảng Trị?), ngay lập tức Bộ Chính trị ra lệnh đưa quân đội vào chiến đấu. Chúng ta không sợ.
Sau đó tôi đi Trung Quốc gặp Chu Ân Lai. Ông ta nói với tôi: “Điều đó (cuộc tấn công vào Quảng Trị) có lẽ là chưa từng có, có một không hai. Chỉ có một [cơ hội] trên đời này, không có cơ hội thứ hai. Không ai dám làm những điều các đồng chí đã làm“.
… Chu Ân Lai là người đứng đầu Bộ Tham mưu. Ông ta dám nói, ông ta thẳng thắn hơn. Ông ta nói với tôi: “Nếu tôi biết trước cái cách mà các đồng chí sử dụng, chúng tôi không cần Vạn lý Trường chinh“.
Vạn lý Trường chinh là gì? Vào đầu cuộc hành quân có 300.000 quân, đến cuối Vạn lý Trường chinh chỉ còn 30.000 quân. 270.000 người đã chết. Thực sự ngu ngốc khi thực hiện cách này. Nói như vậy để các đồng chí biết chúng ta đang đi trước họ như thế nào. Trong tương lai không xa, nếu chúng ta chiến đấu chống lại Trung Quốc, chúng ta chắc chắn sẽ giành chiến thắng … Tuy nhiên, sự thật là nếu một nước khác [không phải Việt Nam] chiến đấu chống lại Trung Quốc, không rõ họ có giành được chiến thắng như thế này không (như Việt Nam).
… Nếu Trung Quốc và Liên Xô thống nhất với nhau, không chắc Hoa Kỳ có dám đánh chúng ta hay không. Nếu hai nước thống nhất và liên kết với nhau để giúp chúng ta, không chắc Hoa Kỳ có dám đánh chúng ta cái cách mà họ đã đánh. Họ sẽ do dự ngay từ đầu. Họ sẽ do dự như thời Kennedy. Việt Nam, Trung Quốc và Liên Xô, tất cả đã giúp Lào và ngay lập tức Mỹ ký một hiệp ước với Lào. Họ không dám gửi quân Mỹ sang Lào, họ để cho Đảng [Nhân dân Cách mạng] Lào tham gia chính phủ ngay lập tức. Họ không dám tấn công Lào nữa.
Sau đó, khi hai nước [Liên Xô và Trung Quốc] xung đột với nhau, Mỹ được [Trung Quốc] thông báo là họ có thể tiến tới và tấn công Việt Nam mà không sợ. Đừng sợ [sự trả đũa của Trung Quốc]. Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông đã nói với Mỹ: “Nếu các ông không tấn công tôi, thì tôi sẽ không tấn công các ông. Các ông có thể đưa nhiều quân vào miền Nam Việt Nam mà các ông muốn. Tùy các ông“.
… Hiện tại, chúng ta có biên giới với một nước rất mạnh, một nước với ý đồ bành trướng mà nếu muốn được thực hiện, phải bắt đầu với một cuộc xâm lược Việt Nam. Vì vậy, chúng ta phải chung vai gánh vác, vai trò lịch sử khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta chưa bao giờ trốn tránh trách nhiệm lịch sử. Trước đây, Việt Nam đã thực hiện nhiệm vụ của mình, và lần này Việt Nam xác định không cho phép họ bành trướng. Việt Nam giữ độc lập riêng mình và làm như vậy cũng là để bảo vệ nền độc lập của các nước Đông Nam Á. Việt Nam kiên quyết không để Trung Quốc thực hiện âm mưu bành trướng. Trận đánh gần đây [với Trung Quốc] chỉ là vòng một. Hiện họ vẫn còn chuẩn bị nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, bất kể họ chuẩn bị đến mức độ nào, Việt Nam cũng sẽ thắng …
Tiến hành chiến tranh không phải là đi bộ thong thả trong rừng. Gửi một triệu quân vào cuộc chiến chống lại một nước ở bên ngoài liên quan đến vô số khó khăn. Gần đây họ đưa 500.000 – 600.000 binh lính để đánh chúng ta, nhưng họ đã không có thiết bị vận tải đầy đủ để cung cấp lương thực cho quân đội của họ. Trung Quốc hiện đang chuẩn bị 3,5 triệu quân, nhưng họ phải để lại một nửa số quân đó ở biên giới [Trung-Xô] để ngăn chặn Liên Xô. Vì lý do đó, nếu họ đưa 1 hoặc 2 triệu quân vào để đánh chúng ta, chúng ta sẽ không sợ bất cứ điều gì. Chúng ta chỉ có 600.000 quân tham gia, và trong tương lai gần, nếu chúng ta phải đánh với 2 triệu quân, sẽ không có vấn đề gì cả. Chúng ta không sợ.
Chúng ta không sợ bởi vì chúng ta biết cách đánh. Nếu họ đưa 1 triệu quân, họ sẽ chỉ giành được một chỗ đứng ở miền Bắc. Đi xuống vùng trung du, vùng đồng bằng và Hà Nội và thậm chí xuống dưới sẽ khó khăn hơn nữa.
Các đồng chí, như các đồng chí biết, bọn Hitler tấn công quyết liệt theo cách này, nhưng khi họ (Đức Quốc xã) đến Leningrad, họ không thể vào được. Với thành phố, người dân và các công trình phòng thủ, không thể nào thực hiện các cuộc tấn công hiệu quả chống lại mỗi người và mọi người. Thậm chí đánh trong hai, ba hoặc bốn năm, họ vẫn không thể vào. Mỗi làng ở đó (ở miền Bắc) thì giống như thế. Đường lối của chúng ta là: mỗi huyện là một pháo đài, mỗi tỉnh là một chiến trường. Chúng ta sẽ chiến đấu và họ sẽ không thể nào vào được cả.
Tuy nhiên, không bao giờ đủ khi chỉ đánh kẻ thù ở tiền tuyến. Phải có một đội quân hậu tập trực tiếp mạnh mẽ. Sau trận đánh gần đây kết thúc, chúng tôi đánh giá rằng, trong tương lai không xa, chúng ta phải đưa thêm vài triệu người đến mặt trận phía Bắc. Nhưng kẻ thù đến từ phía bắc, hậu phương trực tiếp cho cả nước phải là Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh … Hậu phương trực tiếp bảo vệ thủ đô phải là Thanh Hóa và Nghệ Tĩnh. Chúng ta có đủ người. Chúng ta có thể đánh chúng bằng nhiều cách … Chúng ta có thể sử dụng 2-3 quân đoàn để giánh một cú mạnh vào chúng, sẽ làm cho chúng lảo đảo, trong khi chúng ta tiếp tục giữ đất của chúng ta. Để đạt được mục đích này, mỗi người lính phải là một người lính thực và mỗi đội phải là một đội hình thực sự.
– Bây giờ đã đánh xong một trận rồi, chúng ta không nên chủ quan. Chủ quan và đánh giá thấp kẻ thù là sai lầm, nhưng thiếu tự tin cũng sai. Chúng ta không chủ quan, chúng ta không đánh giá thấp kẻ thù. Nhưng chúng ta cũng tự tin và vững tin vào chiến thắng của chúng ta. Chúng ta cần phải có cả hai điều này.
– Bây giờ Trung Quốc có âm mưu đánh [chúng ta] để mở rộng xuống phía Nam. Nhưng trong thời đại hiện nay họ không thể đánh và dọn dẹp một cách dễ dàng. Trung Quốc chỉ đánh Việt Nam có vài ngày mà cả thế giới đã hét lên: “Không được đụng đến Việt Nam“! Thời đại hiện nay không giống như thời xưa. Trong những ngày này, không chỉ có chúng ta và họ (muốn nói Trung Quốc). Bây giờ cả thế giới đang gắn chặt với nhau. Loài người vẫn chưa hoàn toàn đi vào giai đoạn xã hội chủ nghĩa, nhưng đây là lúc mọi người đều muốn độc lập và tự do. [Ngay cả] trên các đảo nhỏ, người dân cũng muốn độc lập, tự do.
Cả nhân loại hiện nay như thế. Điều đó là rất khác với thời xưa. Thời đó, người dân chưa nhận thức rõ những điều này. Do đó, câu của Bác Hồ: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” là một ý tưởng của thời đại hiện nay. Đụng đến Việt Nam là đụng đến nhân loại và xâm phạm độc lập, tự do … Việt Nam là một quốc gia tượng trưng cho độc lập và tự do.
– Khi phải chiến đấu chống Mỹ, anh em chúng ta trong Bộ Chính trị đã thảo luận với nhau về vấn đề này, cân nhắc liệu chúng ta có dám đánh Mỹ hay không. Tất cả đều đồng ý đánh. Bộ Chính trị đã bày tỏ quyết tâm: để chiến đấu chống Mỹ, chúng ta không sợ Mỹ. Tất cả đều đồng tâm. Khi tất cả đã đồng ý đánh Mỹ, không sợ Mỹ, chúng ta cũng không sợ Liên Xô. Tất cả đều đồng ý. Chúng ta cũng không sợ Trung Quốc. Tất cả đều đồng ý. Nếu chúng ta không sợ ba điều này, chúng ta có thể đánh Mỹ. Đó là cách chúng tôi đã thực hiện trong Bộ Chính trị hồi đó.
Mặc dù Bộ Chính trị đã gặp và tổ chức các buổi thảo luận như thế và mọi người đồng lòng, sau này có một người đã nói với một đồng chí điều mà tôi đã nói. Đồng chí đó đặt câu hỏi cho Bộ Chính trị, hỏi lý do gì mà Anh Ba một lần nữa lại nói rằng, nếu chúng ta muốn đánh Mỹ, thì chúng ta không nên sợ Trung Quốc? Tại sao anh ấy phải nói như vậy nữa?
Lúc đó, anh Nguyễn Chí Thanh, người đã bị nghi là có cảm tình với Trung Quốc, đứng lên và nói: “Kính thưa Bộ Chính trị và kính thưa Bác Hồ, lời phát biểu của Anh Ba là đúng. Phải nói như thế (ý nói không cần phải sợ Trung Quốc), vì họ (Trung Quốc) gây rắc rối cho chúng ta nhiều điều. Họ chặn chúng ta ở chỗ này, rồi họ trói tay chúng ta ở chỗ kia. Họ không cho chúng ta đánh…“
Trong khi chúng ta đánh ở miền Nam Việt Nam, Đặng Tiểu Bình quy định rằng tôi chỉ có thể đánh ở mức trung đội trở xuống và không được đánh ở mức cao hơn. Ông ta (Đặng Tiểu Bình) nói: “Ở miền Nam, do các ông phạm sai lầm về việc đã khởi động đánh trước, các ông chỉ nên đánh ở mức trung đội trở xuống, không được đánh ở mức cao hơn“. Họ gây áp lực lên chúng ta như thế.
– Chúng ta không sợ ai cả. Chúng ta không sợ bởi vì chúng ta có lẽ phải. Chúng ta không sợ ngay cả anh trai của chúng ta. Chúng ta cũng không sợ bạn bè của chúng ta. Dĩ nhiên, chúng ta không sợ kẻ thù của chúng ta. Chúng ta đã đánh họ rồi. Chúng ta là con người, chúng ta không sợ bất cứ ai. Chúng ta độc lập. Cả thế giới biết chúng ta độc lập.
Chúng ta phải có một quân đội mạnh mẽ, bởi vì đất nước chúng ta đang bị đe dọa và bị bắt nạt … Không thể khác được. Nếu không, thì sẽ nguy hiểm vô cùng, nhưng đất nước chúng ta nghèo.
– Chúng ta có một quân đội mạnh, điều đó không có cách nào làm nhụt chí chúng ta. Có một số chính sách của Trung Quốc đối với chúng ta: xâm lược và chiếm đóng nước ta, tìm cách làm suy yếu chúng ta về kinh tế và làm cho điều kiện sống của chúng ta khó khăn. Vì những lý do này, để chống lại Trung Quốc, trước hết, chúng ta phải, không những chiến đấu, mà còn làm cho chúng ta mạnh mẽ hơn. Để đạt được mục đích này, theo tôi, quân đội của chúng ta không nên là một lực lượng lãng phí nguồn lực của nhà nước, mà nên là một lực lượng sản xuất mạnh mẽ. Khi kẻ thù đến, họ (những người lính) cầm súng ngay lập tức. Khi không có kẻ thù, thì họ sẽ sản xuất đàng hoàng. Họ sẽ là biểu tượng tốt nhất và cao nhất trong sản xuất, sản xuất nhiều hơn bất cứ người nào khác. Dĩ nhiên, đó không phải là một câu chuyện mới …
– Hiện nay, trên vai quân đội của chúng ta đang gánh vác một nhiệm vụ lịch sử: bảo vệ độc lập và tự do của chúng ta, trong khi cùng lúc bảo vệ hòa bình và độc lập trên toàn thế giới. Nếu chính sách bành trướng của bè lũ phản động Trung Quốc không thể thực hiện được nữa, sẽ là lợi ích của cả thế giới. Việt Nam có thể làm điều này. Việt Nam có 50 triệu người rồi. Việt Nam có những người bạn Lào và Campuchia và có địa thế vững chắc. Việt Nam có phe [XHCN] và tất cả nhân loại đứng về phía ta. Rõ ràng là chúng ta có thể làm điều này.
… Các đồng chí có biết người nào trong đảng chúng ta, trong nhân dân của chúng ta, nghi chúng ta sẽ thua Trung Quốc? Dĩ nhiên là không có ai cả. Nhưng chúng ta phải duy trì các mối quan hệ bạn bè của chúng ta. Chúng ta không muốn hận thù dân tộc. Tôi lặp lại: tôi nói điều này bởi vì tôi chưa bao giờ cảm thấy căm thù Trung Quốc. Tôi không cảm thấy như thế. Đó là họ đánh chúng ta.
Hôm nay tôi cũng muốn các đồng chí biết rằng trong thế giới này, người đã bảo vệ Trung Quốc là chính tôi! Đó là sự thật. Tại sao vậy? Bởi vì trong hội nghị tháng 6 năm 1960 tại Bucharest, 60 đảng đứng lên chống lại Trung Quốc, nhưng chỉ có mình tôi là người bảo vệ Trung Quốc. Việt Nam chúng ta là thế. Tôi sẽ tiếp tục lặp lại điều này: Tuy họ cư xử tồi tệ, chúng ta biết rằng người của họ là bạn của chúng ta. Về phía chúng ta, chúng ta không cảm thấy xấu hổ với Trung Quốc. Tuy nhiên, âm mưu của một số lãnh đạo (Trung Quốc) là một vấn đề khác. Chúng ta coi họ chỉ là một bè lũ. Chúng ta không nói tới đất nước họ. Chúng ta không nói người dân Trung Quốc xấu với chúng ta. Chúng ta nói bè lũ phản động Bắc Kinh. Tôi nói lại điều này một lần nữa một cách nghiêm túc như thế.
Vì vậy, chúng ta hãy kiểm soát tình hình chặt chẽ, trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, và không bao giờ nới lỏng sự cảnh giác. Về mối quan hệ với Trung Quốc cũng vậy. Tôi tin rằng trong 50 năm, hoặc thậm chí trong 100 năm, chủ nghĩa xã hội có thể thành công, và lúc đó chúng ta sẽ không bị vấn đề này nữa. Nhưng sẽ mất một thời gian [dài] như thế. Vì vậy, chúng ta phải chuẩn bị và sẵn sàng trên mọi phương diện.
Hiện nay, chắc chắn không ai còn nghi ngờ nữa. Nhưng cách đây năm năm, tôi dám chắc rằng [không có] đồng chí nào nghi ngờ Trung Quốc có thể đánh chúng ta. Nhưng có. Đó là vì các đồng chí [này] không có kiến ​​thức về vấn đề này. Nhưng đó không phải là trường hợp của chúng tôi (Lê Duẩn và ban lãnh đạo). Chúng ta biết rằng Trung Quốc đã và đang tấn công chúng ta [cách đây] mười năm hoặc hơn. Vì vậy chúng ta không ngạc nhiên [về cuộc tấn công của Trung Quốc vào tháng 1 năm 1979].

Ngọc Thu, dịch từ: Wilson Center

Tiếp tục đọc

TTO – Thủ tướng Đức Angela Merkel đã tặng cho Chủ tịch Tập Cận Bình tấm bản đồ cổ Trung Quốc không có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của VN, nhân chuyến thăm châu Âu của lãnh đạo Trung Quốc trong tuần vừa qua.

 

Thủ tướng Đức và Chủ tịch Trung Quốc xem bản đồ Trung Quốc cổ thế kỷ 18 do Jean-Baptiste Bourguignon d’Anville (Pháp) vẽ, tại Phủ Thủ tướng Đức ở Berlin tối 28.3 – Ảnh: Cơ quan báo chí chính phủ Đức (BPA)

Tiếp tục đọc

Điều khẳng định chắc chắn là nếu quốc gia nào lập khu nhận dạng phòng không trên Biển Đông thì sẽ có nhiều vùng chồng lấn rộng lớn lên chủ quyền, quyền chủ quyền hợp pháp của Việt Nam. 

Ngay tại khu vực nhận dạng phòng không (ADIZ) của Trung Quốc trên biển Hoa Đông cũng đã chồng lấn lên chủ quyền và quyền chủ quyền của 2 quốc gia là Hàn Quốc và Nhật Bản. Tiếp tục đọc
Với những thông tin chính thức theo biên bản tốc ký các cuộc trao đổi của Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng với các phái đoàn Hoa Kỳ, hẳn bạn đọc có thể hình dung tác hại của sự “tam sao thất bản”.

>> Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ III)

>> Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ II)

>> Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ I)

Đại sứ Michalak:

Chúng tôi đã bày tỏ thái độ rất rõ ràng, cần duy trì khu vực này ở trạng thái mở đối với các hoạt động thông thường và cần phải làm như vậy. Chúng tôi cũng muốn hỏi xem Việt Nam khả năng đi xa đến mức nào, nếu như tôi đưa tàu sân bay vào khu vực tranh chấp đó thì liệu ngài có đi cùng tôi ra tàu sân bay tham quan không?

 Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Nếu ngài đưa tàu sân bay vào đó để nhằm mục đích răn đe, hay cảnh giới thì đó sẽ là một sai lầm lớn. Chúng tôi phải mời tàu sân bay của các ngài ra khỏi khu vực tranh chấp ngay lập tức. Chúng tôi nói về phương diện khác, phương diện về thái độ. Và nếu như ta thực sự tin tưởng lẫn nhau thì quan điểm phải có cái gì đó giải tỏa, có cái gì đó phù hợp. Thí dụ gần đây, cơ quan tình báo hai nước thường đặt vấn đề trao đổi tin về chống khủng bố và một số việc khác. Muốn vậy, quan điểm hai bên phải phù hợp. Về chủ quyền của mình tại một số hòn đảo ở biển Đông, Việt Nam có những dấu ấn lịch sử tại đó để minh chứng.

Những người chống đối Nhà nước trước đây, chúng tôi vẫn cho phép họ gặp những nhân viên nước ngoài trong đó có các nhân viên ngoại giao Mỹ. Thế nhưng những người nước ngoài sau khi đã được gặp mặt những nhân vật chống đối này thường đưa ra những thông tin không chính xác. Tôi thấy, tất cả những đại sứ hay những người mới đều vào Huế để gặp các nhân vật chống đối hay xin gặp Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân. Ngài giải thích với tôi, đó là những nhân vật mà phía Mỹ quan tâm.


Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng kiểm tra công tác bảo vệ ở một đơn vị an ninh

 

Nên ngài phải rút kinh nghiệm rằng, sau này có đi địa phương, cứ đi vào các trại mồ côi, người ta nhìn vào các ngài sẽ khác. Liên quan đến TLSQ tại TP Hồ Chí Minh, theo luật pháp Việt Nam cũng như quốc tế thì cơ quan lãnh sự chỉ thực hiện chức năng về lãnh sự chứ không giải quyết các vấn đề chính trị xã hội. Những người chống đối Chính phủ Việt Nam sau các cuộc gặp với nhân viên ngoại giao Mỹ đều cho rằng họ được Mỹ hỗ trợ. Lãnh đạo các địa phương cũng đã kiến nghị với chúng tôi rằng, nếu các ngài có đi địa phương thì nên báo trước lịch làm việc, sẽ gặp ai, cần thông tin gì, thì họ sẽ bố trí và chủ động cung cấp thông tin. Chính vì lãnh đạo địa phương luôn nghĩ rằng, nhân viên ngoại giao Mỹ gặp tức là sẽ hỗ trợ cho các cá nhân chống đối Chính phủ nên họ sẽ không muốn cho các ngài gặp lần sau nữa. Tôi thì chưa từ chối cho phép các ngài tiếp xúc với bất cứ trường hợp nào.

Đại sứ Michalak:

– Cảm ơn ngài Thứ trưởng, ngài đã rất có nhã ý tạo điều kiện cho tôi gặp những người chúng tôi cần và tôi đánh giá cao sự giúp đỡ của ngài. Và tôi vẫn cần phải gặp những nhân vật đó nữa, nhất là những người đang ngồi tù, vì nếu tôi không làm thế, tôi sẽ chịu áp lực rất lớn từ phía Mỹ và có thể tôi sẽ phải quay về nước. Tôi tin rằng bản thân mình đã làm được rất nhiều cho mối quan hệ hữu nghị Việt Nam – Mỹ và vấn đề nhân quyền cũng chỉ là một phần trong mối quan hệ song phương thôi nhưng lại là một phần rất quan trọng và tôi mong muốn sẽ có thể làm được nhiều hơn. Tôi muốn rằng các ngài sẽ phải tinh tế hơn trong phương thức xử lý vấn đề.

Ngài có nhận ra một điều rằng, năm ngoái không có một công dân Mỹ nào bị bắt vì tội xâm phạm nhân quyền. Năm ngoái cũng có trường hợp Việt Nam bắt quay về nước ngay tại sân bay, không cho nhập cảnh. Chúng tôi đã nói với những người dân của mình rằng, nếu bạn thuộc một tổ chức nào đó thì rất có thể khi nhập cảnh Việt Nam bạn sẽ bị bắt quay trở lại và không được nhập cảnh. Chúng tôi cũng nói với họ rằng, chúng tôi không nhất trí với các quy định của pháp luật Việt Nam và hai bên sẽ thảo luận thêm về vấn đề này. Cũng có những trường hợp rằng có những người ở khách sạn một thời gian sau đó bị thẩm vấn bởi các cán bộ Công an Việt Nam. Ít nhất một trường hợp có 2 phụ nữ khi vào Việt Nam giải quyết các vấn đề nhân đạo thì lãnh đạo trong nước đã yêu cầu một người ở lại trong nước còn một người phải xuất cảnh.

Về trường hợp đó, chúng tôi không thể nói rằng Việt Nam đã có những tiến bộ về nhân quyền. Các ngài đã cho phép Thượng nghị sĩ James Webb đến thăm 2 chủng viện phía Bắc và phía Nam. Tất cả những điều này đã có tác động rất tích cực đối với quan hệ song phương Việt – Mỹ. Tuy nhiên như vậy là chưa đủ. Và những điều chúng ta đang nói đây là để cùng nhau tìm ra một phương thức phù hợp. Chúng tôi muốn bố trí một chuyến thăm nữa của Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế (UB TDTG QT). Tại chuyến thăm lần trước, UB TDTG QT đã làm không được tốt lắm và lần này tôi biết họ sẽ làm thế nào.

Và tôi cho rằng, việc tạo điều kiện cho họ làm việc tại Việt Nam sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy quan hệ hữu nghị 2 nước. Chúng tôi đi bất cứ đâu cùng họ, họ nói lại những điều họ cảm nhận, chúng tôi nói lại những điều chúng tôi cảm nhận và đại diện Bộ Ngoại giao Mỹ đã không nhất trí với những gì mà  UB TDTG QT báo cáo lại. Hãy cứ để cho họ đến những nơi mà họ muốn, nói những gì mà họ muốn, còn chúng tôi sẽ nêu lên ý kiến riêng của bản thân. Tôi muốn nói rằng, trước đây Việt Nam đã đạt được những tiến bộ về tự do tôn giáo, nhưng Mỹ vẫn muốn đưa Việt Nam vào danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo. Và đó là điều không đúng. UB TDTG QT khuyến nghị đưa Việt Nam vào danh sách CPC nhưng Bộ Ngoại giao Mỹ đã nói: “Không, không có lý do để làm như vậy”.

Gần đây có một tổ chức quốc tế mà tôi không nhớ tên chính xác (nếu các ngài muốn tôi sẽ gửi lại sau) đã nói rằng Việt Nam đang thoát dần khỏi vị trí các nước đứng đầu trong việc ngăn cản người dân thực hành quyền tự do tín ngưỡng. Do vậy, tôi nghĩ rằng Việt Nam nên để đoàn UB TDTG QT phát biểu những gì họ muốn để nếu khi họ trở về Mỹ họ có đưa ra những báo cáo tiêu cực về tình hình tôn giáo Việt Nam thì các bạn có thể dẫn chứng từ báo cáo của tổ chức quốc tế kia và báo cáo từ Bộ Ngoại giao Mỹ về sự khác biệt. Và nói về niềm tin lẫn nhau, khi Việt Nam nói đã cải thiện được tình hình tự do tôn giáo và chúng tôi nhận thấy điều đó nên chúng tôi sẽ tiếp tục tin và đưa ra những tuyên bố về sự cải thiện tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Tôi tin rằng, ngài có rất nhiều ý kiến về những điều tôi vừa nói.

 Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Chúng tôi cần nói rằng, chúng tôi chưa từng phản đối những phái đoàn như vậy khi vào Việt Nam, chúng tôi rất hoan nghênh đoàn UB TDTG QT.

Đại sứ Michalak:

– Quan điểm của Bộ Công an là đồng ý phải không?

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Tất cả nhân viên ngoại giao mới phải hiểu pháp luật Việt Nam. Những người đang trong quá trình điều tra thì không được gặp bất cứ ai, kể cả công dân Việt Nam. Còn những người đang thụ án trong trại giam, nếu các ngài có nhu cầu, chúng tôi sẽ tạo điều kiện. Nghiêm cấm các hoạt động gặp gỡ để xúi giục phạm tội. Như chúng tôi đã cho phép các ngài gặp Lê Thị Công Nhân vào dịp tết vừa qua, nhưng đối với ông Hùng, người đang trong quá trình điều tra thì không gặp được. Mai tòa tuyên án ông Hùng, các ông đến mà xem.

Đại sứ Michalak:

– Tình hình sức khỏe của ông Hùng tốt chứ?

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Sức khỏe tốt.

Đại sứ Michalak:

– Chúng tôi cũng thấy Nhân rất khỏe mạnh.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Tôi là bạn của ông, bạn thân nữa là khác. Tôi còn là bạn của lãnh đạo FBI. Ông có nghĩ là bản thân Mỹ nên nhìn lại mình trong các hoạt động quốc tế, những gì Mỹ làm đều chỉ làm hình ảnh của Mỹ xấu đi. Đó là vì các hoạt động của Mỹ ở Iraq, Afghanistan, CHDCND Triều Tiên. Nên tôi nghĩ, Mỹ nên điều chỉnh lại mình trước. Mặc dù chúng tôi biết Mỹ đã giúp đỡ rất nhiều cho các thành viên quốc tế nhưng hình ảnh Mỹ đang bị ảnh hưởng tiêu cực hơn rất nhiều. Trái lại, Trung Quốc lại có thể làm tốt hơn. Nếu các ngài cứ tiếp tục chính sách của mình như hiện nay, sẽ bị coi là can thiệp vào công việc nội bộ của các nước. Tôi thấy trong bài phát biểu nhậm chức của ông Obama có cái mới đó là Mỹ muốn thay đổi vị thế trên trường quốc tế. Mỹ muốn thay đổi quan hệ của các nước đối với Mỹ. Tôi chỉ khuyên ngài rằng, quan hệ hữu nghị Mỹ – Việt đang ở mức tốt nhất từ trước tới giờ, thế nhưng về lịch sử mà nói rằng, cái gì mà Mỹ mang lại cho Việt Nam vẫn còn rất nặng nề đối với đa số người dân Việt Nam. Để có thể thoát khỏi quá khứ, Mỹ nên thúc đẩy quan hệ hữu nghị với Việt Nam hơn nữa, không những thế còn cải thiện được trong nhận thức và tăng sự tin tưởng lẫn nhau. Việc Tổng thống Bush hỗ trợ phòng chống HIV, rà phá bom mìn, giải quyết chất độc da cam là những bước tiến để tạo sự tin tưởng lẫn nhau. Và ông Obama cũng nói Mỹ sẽ giúp đỡ quốc tế về các vấn đề phòng chống bệnh dịch, môi trường hơn là việc sử dụng sức mạnh quân sự đối với các nước khác. Chúng tôi rất hoan nghênh đoàn UB TDTG QT Mỹ tới Việt Nam và hoan nghênh cả những đoàn khác đến thăm và làm việc tại Việt Nam để tạo điều kiện cho mối quan hệ hữu nghị trở nên tốt hơn. Chúng tôi đảm bảo không có hoạt động khủng bố ở Việt Nam.

Đại sứ Michalak:

– Vấn đề là khủng bố theo định nghĩa của ai?

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Không để bất cứ công dân Mỹ nào chết ở Việt Nam do tội phạm khủng bố. Đó là điều hy vọng nhất của tôi. Còn phải phân biệt rõ đâu là luật pháp. Chúng tôi có quyền cho hoặc không cho nhập cảnh Việt Nam dù việc đó không đảm bảo nhân quyền con người đó. Còn chúng tôi không cho phép ai, chúng tôi sẽ thông báo cho các ngài lý do cụ thể. Hôm nay chúng ta chấm dứt ở đây thôi.

Đại sứ Michalak:

– Lần tới tôi sẽ mời ngài tới nhà tôi và ăn một số món ăn Việt Nam.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Hiện nay, tình hình kinh tế đang trong giai đoạn khó khăn. Trong lãnh thổ Việt Nam có rất nhiều tội phạm từ các nước đến nên Việt Nam sẽ phải kiểm soát rất chặt về xuất nhập cảnh và sẽ xử lý rất kiên quyết. Tôi học được phương pháp này từ người Mỹ đấy. Tôi sẽ cho kiểm tra từ giày lên đầu.

Đại sứ Michalak:

– Tôi thấy, khi chúng ta chưa gặp nhau thì các chủ đề cuối buổi thường hay nhất cho nên lần sau cần bắt đầu từ các vấn đề còn bỏ dở ở các buổi trước đó. Nhưng những điều chúng ta thảo luận với nhau đều là không chính thức, nằm ngoài văn bản.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

-Vì chính thức hay không thì ông vẫn là Đại sứ, còn tôi vẫn là Thứ trưởng Bộ Công an.

Đại sứ Michalak:

– Tôi cũng mừng là ngài đã đề cập đến ông Obama cũng như ông đã nói Mỹ nên nhìn lại bản thân mình và đó cũng là những điều mà nhân dân chúng tôi nhìn lại trong toàn bộ quá trình tổng tuyển cử.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Để một dịp khác chúng tôi sẽ nói với ngài những gì chúng tôi nhìn nhận về Mỹ. Nếu chúng tôi áp dụng đường lối kinh tế như Mỹ, chúng tôi sẽ thất bại. Nếu chúng tôi có các hoạt động như của Mỹ đối với Lào, Campuchia, hình ảnh Việt Nam sẽ xấu đi rất nhiều. Tôi nói với ngài rất tâm huyết, như giúp người bạn thân nhìn lại mình.

Đại sứ Michalak:

–  Vậy cách nhìn của Việt Nam về Lào và Campuchia như thế nào?

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

–  Vậy xin hỏi quan điểm của các ngài?

Đại sứ Michalak:

– Theo tôi được biết thì quan hệ của Việt Nam với Lào và Campuchia là quan hệ anh em.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Lịch sử của chúng tôi có những giai đoạn gắn với nhau, để bảo vệ đất nước, chống lại kẻ thù chung. Tôi mong muốn họ có quan hệ quốc tế tốt, chỉ tiếc rằng Việt Nam quá nghèo không thể giúp nhiều cho họ. Mỹ chỉ cần bớt đi số tiền sản xuất vài quả tên lửa và đem giúp Lào thì Lào sẽ trở nên khá hơn. Chúng tôi coi Lào, Campuchia như anh em, thậm chí chúng tôi còn coi họ là anh.

Đại sứ Michalak:

– Ngài có biết hai nước này nhận được viện trợ ODA nhiều hơn Việt Nam không?

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

–  Tôi không biết nhưng chỉ biết rằng Trung Quốc giúp đỡ nhiều hơn Mỹ.

Đại sứ Michalak (cười):

– Nếu tôi nhập ngũ thì có lẽ giờ tôi cũng là tướng rồi và vẫn có thể gặp ông để nói hết những điều tôi muốn. Theo quy tắc lễ tân, vị trí của tôi ngang với vị trí của tướng 3 sao, thậm chí 4 sao.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

–  Đấy là ngài ước thế thôi. Ngài nên nhớ rằng, khi ngài nghỉ hưu ngài không được gọi là tướng nữa, nhưng chúng tôi vẫn được.

Đại sứ Michalak:

– Nhưng khi tôi nghỉ hưu vẫn được gọi là Đại sứ và Đại sứ quán vẫn nhớ đến tôi.

***

Cùng bạn đọc

Với những thông tin chính thức theo biên bản tốc ký các cuộc trao đổi của Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng với các phái đoàn Hoa Kỳ, hẳn bạn đọc có thể hình dung tác hại của sự “tam sao thất bản”. Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội, báo cáo mật đã không phản ánh  thật trung thực đúng như nội dung cuộc trao đổi với Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng là một việc cần phê phán. Nhưng với  BBC, một cơ quan truyền thông Anh quốc thường tự nhận là khách quan, trung thực thì qua sự việc này càng lộ rõ thái độ của họ đối với Việt Nam là như thế nào. Cũng phải nói thêm rằng, bấy lâu nay, BBC thường xuyên có tin bài xuyên tạc về tình hình Việt Nam, và rất “chịu khó” đăng tải ý kiến của những người luôn có hành động, việc làm đi ngược lại lợi ích của dân tộc, của đa số người Việt.

BBC cần xin lỗi bạn đọc Việt ngữ 

Ngày 23/4, ông Đinh Kim Phúc, nghiên cứu viên của khoa Đông Nam Á học, Trường đại học Mở TP HCM, đã có thư ngỏ gửi Tổng giám đốc BBC Mark John Thompson. Trong thư, ông Phúc khẳng định việc BBC tiếng Việt ngày 17/4/2010 đăng tải bài “Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc” của bà Đỗ Ngọc Bích đã xúc phạm đầy ác ý đến lịch sử Việt Nam. Vì vậy, ông Phúc đề nghị Tổng giám đốc Mark John Thompson có biện pháp thích đáng đối với người có trách nhiệm trong việc đưa bài viết này và BBC phải chính thức xin lỗi công khai đến tất cả bạn đọc và người Việt Nam về sai lầm nghiêm trọng này.

(Theo Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh ngày 24/4/2010)

Nguyễn Như Phong (thực hiện Petrotimes)

Buổi làm việc của  Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng với Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Michalak bắt đầu bằng việc Đại sứ  hỏi Thượng tướng về tình hình biển Đông và nói muốn có vai trò tại khu vực này…

>> Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ I)

>> Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ II)


Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng gặp Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam ông Michael Michalak

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng làm việc với Đại sứ Michael Michalak

Dự buổi gặp, về phía Bộ Công an còn có: Thiếu tướng Tô Lâm, Phó tổng cục trưởng Tổng cục An ninh; Thiếu tướng Vũ Hùng Vương, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát và một số cán bộ giúp việc.

Về phía Hoa Kỳ còn có Phó đại sứ Virginia Palme, ông Marc Owens cố vấn cao cấp của Đại sứ và Trưởng văn phòng chống ma túy Jeffrey Warner.

Cuộc gặp được tổ chức vào ngày 10/2/2010, tại trụ sở Vụ Hợp tác Quốc tế của Bộ Công an và sau đó hai bên đi ăn tối.

***

Mở đầu cuộc gặp, Đại sứ Michael Michalak hỏi Thượng tướng về tình hình biển Đông và nói muốn có vai trò tại khu vực này.

 Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Nếu Mỹ quan niệm rằng, Mỹ muốn đứng giữa mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc thì chúng tôi cho rằng đó là một hạn chế của Mỹ về khu vực. Chúng tôi chưa tin tưởng vào thái độ, chính sách của Mỹ đối với Việt Nam. Nếu chỉ nghĩ về quan hệ song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc thì đó sẽ rất hạn chế do chính sách này động đến 6 nước trong khu vực Đông Nam Á, đụng đến vùng biển của Nhật Bản, toàn bộ đường biển quốc tế.

Trong khi Mỹ nói rằng, Mỹ sẽ cùng các nước trong khu vực đảm bảo sự ổn định, hòa bình trong khu vực, trong đó có quyền lợi của Mỹ. Trong khi tôi làm việc với CIA và ngài Thứ trưởng Bộ Ngoại giao tại phòng làm việc của tôi đều nói rằng lợi ích của Việt Nam trong khu vực đều bị ảnh hưởng bởi chính sách biển Đông của Trung Quốc.

Đại sứ Michalak:

– Lợi ích và mối quan tâm của chúng tôi về biển Đông là những con đường hàng hải quốc tế và đã được quốc tế công nhận. Về phương diện cá nhân mà nói, nếu hỏi rằng chính sách biển Đông của Trung Quốc có phải thái quá không, thì đúng là thái quá. Nhưng theo quan điểm của Chính phủ mà nói thì chúng ta có nhiều vấn đề, nhiều nội dung, nhiều lợi ích chúng ta cần cân bằng.

Trước hết, về biển Đông và các tranh chấp ở biển Đông là của khu vực này, gắn liền với lợi ích các nước trong khu vực do vậy tại sao các nước trong khu vực không tự giải quyết, không quan tâm đúng mức mà lại đợi sự giúp đỡ từ bên ngoài.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Chúng tôi không cần Mỹ can thiệp. Tôi chỉ muốn hỏi rằng, những chính sách ấy có ảnh hưởng tới quyền lợi của Mỹ hay không. Còn tất nhiên về quan hệ song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc, thì chúng tôi phải tự  bàn bạc giải quyết với nhau…

(Còn tiếp)

Nguyễn Như Phong [Petrotimes]

“Chúng tôi không bao giờ theo đuổi mối quan hệ với Việt Nam mà phải hy sinh một quốc gia khác, chúng tôi sẽ không theo đuổi mối quan hệ với Trung Quốc mà hy sinh một quốc gia khác” Negroponte

>> Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ I)

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Tôi nhất trí với ngài. Tôi với ngài Đại sứ thì dường như lúc nào công việc nóng bỏng thì chúng tôi lại gặp nhau.

Negroponte (cười):

– Tôi nghĩ rằng ngài Thượng tướng và ông Đại sứ nên gặp nhau trước khi tất cả các sự việc đó xảy ra.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Ngài Đại sứ Hoa Kỳ, tôi coi như bạn bè. Tôi rất quý trọng ngài Đại sứ. Tôi cũng khẳng định với ngài rằng, trong quá trình quan hệ thì chúng ta cũng thấy được lợi ích của hai quốc gia ở khu vực này có những vấn đề tương đồng với nhau. Trong các cuộc trao đổi với những bạn đồng nghiệp với tôi ở Hoa Kỳ, chúng tôi hiểu rất rõ khu vực chúng tôi đang sinh sống cần phải đảm bảo sự ổn định và hòa bình.

Có người gợi ý với tôi rằng, nên quan hệ với Hoa Kỳ nhằm để chống một nước nào đó. Tôi hỏi họ rằng, tôi thấy nước các ngài cũng quan hệ với Hoa Kỳ, có phải là để chống nước chúng tôi không? Chính sách đối ngoại của Chính phủ Việt Nam là mong muốn làm bạn với tất cả các nước trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau và đôi bên cùng có lợi. Chúng tôi không có ý nghĩ là dựa vào nước này để chống lại một nước khác. Cho nên, thế giới này là thế giới mà các mối quan hệ cùng nhau tồn tại và cùng nhau phát triển.

Như ngài biết, chúng tôi cũng phải giải quyết rất nhiều vấn đề với các mối quan hệ với các nước trong khu vực. Chúng tôi muốn quan hệ tốt với họ, chứ không phải là chống họ. Đặc biệt như Trung Quốc, chúng tôi muốn quan hệ tốt với họ, chúng tôi không muốn gây nên mối bất hòa nào, dù là nhỏ nhất với Trung Quốc. Thời gian qua, Trung Quốc họ thực sự có những quan hệ thúc đẩy rất tốt trên nhiều mặt cho sự phát triển kinh tế hai nước. Nhưng việc biên giới đường lưỡi bò họ đưa ra là không thể chấp nhận được, vì nhiều phần trong đó là chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam. Vậy các nước nhìn nhận vấn đề này như thế nào.

Chúng tôi rất ủng hộ chương trình về cơ chế đối thoại chiến lược và cái đó chúng ta có thể trao đổi với nhau. Riêng mối quan hệ với đồng nghiệp chúng tôi, có sự cam kết là chúng tôi sẽ đi sâu về vấn đề này. Chúng tôi sẽ thúc đẩy quan hệ với các nước trong tình hình hiện nay. Trên lĩnh vực của chúng tôi, chúng tôi cũng thảo luận và sẽ đẩy mạnh hơn nữa trong thời gian sắp tới.


Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng tiếp ông John Hanford, Đại sứ lưu động về Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ.

 

Negroponte:

– Vâng, cảm ơn ngài. Tất cả những điều ngài phát biểu đều rất thú vị. Chúng tôi cũng vậy, chúng tôi không bao giờ theo đuổi mối quan hệ với Việt Nam mà phải hy sinh một quốc gia khác, chúng tôi sẽ không theo đuổi mối quan hệ giữa chúng tôi với Trung Quốc mà hy sinh một quốc gia khác. Nhưng mà tôi phải nói rằng, trong những năm vừa qua, nhất là những năm dưới chính quyền Tổng thống Bush thì mối quan hệ giữa Việt Nam với Hoa Kỳ rất tốt, chúng ta đã có nhiều sự hợp tác với nhau trên nhiều lĩnh vực như lĩnh vực an ninh, lĩnh vực giáo dục, lĩnh vực chiến tranh… cũng giống sự mong muốn của chính phủ ngài và chính phủ của chúng tôi muốn rằng sâu rộng thêm mối quan hệ giữa hai quốc gia chúng ta.

Vấn đề biển Đông giống như ngài đã nói, Chính phủ Hoa Kỳ không về một phía nào cả, nhưng chúng tôi tin tưởng rằng tất cả những công ty kinh doanh của Hoa Kỳ trong lĩnh vực này phải có quyền để thúc đẩy các hoạt động kinh doanh của họ tốt. Ngài nói tất cả những hợp tác giữa Bộ của ngài và rất nhiều bộ, ngành khác của Hoa Kỳ, nhất là trong lĩnh vực chống khủng bố, chúng tôi hoan nghênh điều đó. Sau này, nếu ngài có dịp sang Hoa Kỳ, hình như ngài sắp sang Hoa Kỳ thì phải, thì tôi chào đón ngài sang Hoa Kỳ.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Có lẽ sắp tới chúng tôi sẽ có một đoàn thăm Hoa Kỳ, Bộ trưởng của chúng tôi sẽ đi.

Negroponte:

– Vâng, điều đó rất tuyệt.


Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng gặp Thượng tọa Huyền Quang năm 2008.

 

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Tôi cũng nói với ngài rằng, qua chuyến đi của tôi sang Hoa Kỳ tháng 6 vừa qua thì tôi đã gặp được tất cả các cơ quan liên quan đến hợp tác với chúng tôi, tôi cũng đã đến cơ quan mà ngài đã từng phụ trách, nói tóm lại là chúng tôi đã tìm được tiếng nói chung. Chúng tôi đang xây dựng cơ chế hợp tác để đạt kết quả tốt. Điều đó tôi vẫn đang giấu ngài Đại sứ.

Hôm nay tôi rất vui mừng, ngài là một chuyên gia về Việt Nam, một nhà lãnh đạo biết tiếng Việt, đối với tôi đây là một điều lý thú. Tôi hy vọng ngài sẽ dẫn dắt quan hệ hai nước chúng ta đạt được nhiều thuận lợi. Chúng ta đang xây dựng lòng tin, lòng tin ấy đang ngày càng tăng lên. Chúng ta phải làm sao để cho người dân hai nước chúng ta hiểu rằng nếu mối quan hệ của chúng ta tốt thì mối quan hệ vật chất, tinh thần của họ cũng tốt lên; làm sao chúng ta để cho nhân dân Việt Nam cũng như trong khu vực thấy được vai trò của Hoa Kỳ, Hoa Kỳ đến để giữ gìn hòa bình chứ không phải mang đến chiến tranh.

Như ngài biết, nhân dân Việt Nam rất nhạy cảm về vấn đề này, họ chỉ cần nghe thấy tiếng “Mỹ” là đã hình dung có một vấn đề gì đó rất không bình thường?  Cho nên chúng ta phải thúc đẩy quan hệ hai nước để hai bên hiểu rõ về nhau. Ngài thông cảm rằng, đất nước chúng tôi đang trong quá trình đi lên và đang  hoàn chỉnh các mối quan hệ xã hội nên tôn giáo cũng có vấn đề. Đời sống người dân tộc cũng đã cải thiện hơn nhiều. Nếu ngài Đại sứ cùng các bộ, ngành khác của Hoa Kỳ giúp đỡ thì sẽ tạo thêm sự thúc đẩy. Tôi nói với ngài rằng, tôi rất ấn tượng với ngài Đại sứ, chúng tôi có những cuộc trao đổi rất thân thiện. Tôi hiểu rằng, nếu ngài Tổng thống Bush không làm xong nhiệm kỳ này, thì chính sách của Mỹ vẫn không có gì thay đổi. Qua các buổi gặp với các cơ quan của Hoa Kỳ, tôi tiên lượng được vấn đề này.

Nói chung, tương lai quan hệ giữa hai nước chúng ta sẽ tốt đẹp. Sau chuyến đi của ngài, ngài cũng sẽ khẳng định được rằng, quan hệ giữa hai nước chúng ta vẫn liên tục phát triển. Tôi đánh giá rất cao vai trò của ngài, trong việc xây dựng mối quan hệ, Bộ Ngoại giao là rất quan trọng.

Negroponte:

– Ý của ngài nói về vai trò của Bộ Ngoại giao là rất quan trọng thì tôi không dám đánh giá, nhưng tôi chia sẻ những ý kiến lạc quan mà ngài vừa phát biểu. Tôi còn nhớ, sau chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Bush, thì ngay ngày hôm sau, sau khi trở về nước, tôi và ngài Tổng thống có gặp nhau và lúc đó ngài Tổng thống đã tỏ ra rất hồ hởi đối với tất cả mối quan hệ giữa hai nhân dân chúng ta. Tôi nghĩ rằng chúng ta đã có nền tảng rất tốt để tiến lên phía trước. Tôi nghĩ rằng tất cả những điều đó không còn liên quan gì đến chiến tranh cả, nó hoàn toàn liên quan đến lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực y tế hoặc lĩnh vực giáo dục. Cảm ơn ngài ngày hôm nay đã tiếp tôi và tôi mong sẽ trở lại trong tương lai. Sẽ có rất nhiều sự hợp tác với Bộ của ngài.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Có vấn đề gì ngài cứ nói với ngài Đại sứ, ngài Đại sứ sẽ nói với tôi. Tôi với ngài Đại sứ đã có cam kết rồi, hai bên sẽ hợp tác tốt với nhau để giải quyết, thúc đẩy mối quan hệ không chỉ riêng hai chúng tôi. Tôi thấy có nhiều cơ quan của Việt Nam cũng mến ngài Đại sứ. Tôi cũng phải nói với ngài rằng, tôi và Đại sứ đây có hứa ăn cơm với nhau một bữa nhưng vẫn chưa ăn với nhau được. Tôi sẽ xem xét lại ý kiến của ngài, không hiểu tại sao ngài Đại sứ, nhân viên từ Hà Nội vào tận các tỉnh mà không ủy quyền cho TLS, điều này tôi với ngài sẽ tìm hiểu sau.

Hôm nay chúng ta có thể kết thúc tại đây!

***

Ở phần tiếp, chúng tôi sẽ đăng tải những ghi chép về buổi làm việc của  Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng với Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Michalak.

Bạn đọc có thể theo dõi trên Petrotimes vào lúc 15h ngày 1/10/2011.

Buổi làm việc được bắt đầu bằng việc Đại sứ Michael Michalak hỏi Thượng tướng về tình hình biển Đông và nói muốn có vai trò tại khu vực này…

(Còn tiếp)

Nguyễn Như Phong (thực hiện)

BBC Việt ngữ: Một kiểu làm báo thấp tầm! 

Đó là tiêu đề của một bài viết đăng trên Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh số ra ngày 23/4/2010 của tác giả Ngọc Khánh liên quan tới bài “Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc” của một tác giả là nghiên cứu sinh người Việt ở Mỹ được trang mạng BBC Việt ngữ đăng tải ngày 17/4/2010.

Theo tác giả Ngọc Khánh, trong bản quy tắc biên tập của mình, BBC quy định: Đối với các chủ đề gây tranh cãi, “chúng ta (biên tập viên) phải luôn nhớ rằng phần lớn nội dung của BBC giờ đây đã hiện diện ở nhiều nước trên khắp thế giới… Khi vấn đề rất gây tranh cãi, chúng ta phải đảm bảo rằng tất cả các quan điểm chính đều được phản ánh trong những nội dung của BBC, có thể bằng một chương trình riêng, một bài viết riêng”.

Tác giả nhận định, có thể thấy các quan điểm sai trái, thiếu hiểu biết và ngụy biện trong các bài viết nêu trên của BBC Việt ngữ chắc chắn là quan điểm gây tranh cãi và khi được đăng tải nguyên vẹn trong một bài viết trên mạng thì nghĩa là chúng đã hiện diện ở nhiều nước trên khắp thế giới.

Ngọc Khánh cho rằng, cách hành xử của BBC Việt ngữ rõ ràng đang đi ngược lại quy tắc biên tập của chính họ. Thêm vào đó, cách xử lý của BBC Việt ngữ sau khi bị độc giả phản ứng dữ dội cũng đang đi ngược lại “truyền thống chuyên nghiệp” mà họ vẫn tự hào.

G.K

[Bài của Petrotimes]

Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ I)

Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ II)

Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ III)

Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ cuối)

Ngày 31/8/2011, Báo Điện tử BBC bản tiếng Việt đăng bài: “Tướng Hưởng than phiền về biển Đông”. Nội dung bài báo là đăng lại bức điện mật của Đại sứ Mỹ báo cáo về cuộc gặp của Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng Thứ trưởng Bộ Công an và Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Hoa kỳ John Negroponte và Phó trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ Scott Marciel vào ngày 11/9/2008, với sự tham gia của Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Michalak. Bức điện này bị Wikileaks thu được.

Theo BBC thì nội dung bức điện là, trong cuộc gặp này, Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng đã trách Hoa Kỳ không đứng về phía Việt Nam trong vấn đề biển Đông. Bức điện còn viết: “Ông Hưởng còn thể hiện ý kiến rằng an ninh khu vực, hòa bình và thịnh vượng không thể có được nếu như không có sự hiện diện của Hoa Kỳ tại khu vực này và nói thêm sự có mặt của Hoa Kỳ có thể điều phối quan hệ trong khu vực”.

Chúng tôi cũng có trong tay hai bức điện của Đại sứ quán Hoa Kỳ và thấy nội dung cuộc họp đã không được phản ánh trung thực, bởi lẽ Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng chưa hề có lời nào như thế (hoặc tương tự như thế), trong các cuộc gặp với John Negroponte và Scott Marciel cùng Đại sứ Michael Michalak.

Tôi (Nguyễn Như Phong, Đại tá an ninh,  nguyên là Phó tổng biên tập Báo Công an Nhân dân, phụ trách chuyên đề An ninh thế giới tuần) – là người được dự nhiều cuộc gặp giữa Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng với phái đoàn Hoa Kỳ, cũng rất ngạc nhiên trước sự việc này.

Để bạn đọc hiểu rõ sự thực về những cuộc gặp  này và từ đó sẽ thấy được sự cắt xén nội dung bức điện nhằm “đổi trắng thay đen”, “thọc gậy bánh xe” của BBC, được phép của Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng, Báo Năng lượng Mới xin đăng nguyên văn biên bản cuộc đối thoại giữa Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng (hiện là phái viên của Thủ tướng Chính phủ về an ninh và tôn giáo) với Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Negroponte, Phó trợ lý Ngoại trưởng Scott Marciel và Đại sứ Michael Michalak.

I. Cuộc gặp của Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng với Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Mỹ John Negroponte.

Cuộc gặp được tổ chức vào ngày 11/9/2008 tại phòng khách Tổng cục An ninh, 15 Trần Bình Trọng, Hà Nội.

Tham dự cuộc họp về phía Việt Nam có các ông: Thứ trưởng Nguyễn Văn Hưởng; ông Tô Lâm, Phó tổng cục trưởng Tổng cục An ninh và một số cán bộ giúp việc khác. Phiên dịch cho phía Việt Nam là Phan Thanh Mỹ.

Về phía Hoa Kỳ gồm các ông: John Negroponte, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Ngoại giao Mỹ; Scott Marciel, Phó trợ lý Ngoại trưởng Mỹ về Đông Á – Thái Bình Dương; Michael Michalak, Đại sứ Mỹ tại Việt Nam; Brian Aggeler, Tham tán chính trị Sứ quán Mỹ; Monica Lam, Thư ký Đại sứ Mỹ; Vương Thanh, phiên dịch.


Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng trong một lần gặp Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam ông Michael Michalak

Sau những lời chào hỏi xã giao, Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Tôi biết ngài từng ở Sài Gòn khá lâu. Hôm nay gặp nhau, tôi muốn nghe chút tâm sự của ngài?

 Negroponte:

– Lần đầu tiên tôi trở lại Việt Nam kể từ năm 1973, cũng là một thời gian khá dài. Tôi có thời gian làm việc 4 năm ở Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Sài Gòn ngày xưa.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Từ đó ngài đã có lần nào quay lại chưa?

Negroponte:

– Chưa, bây giờ quay lại Việt Nam tôi thấy điều kiện và hoàn cảnh đã khác nhiều. Cũng nhờ những nỗ lực của hai chính phủ, chúng ta đã gặt hái được những điều tốt đẹp.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Tôi đồng ý. Tôi rất vui mừng được đón tiếp ngài tại Bộ Công an. Quan hệ tốt của hai nước đã tạo cơ hội cho các cơ quan có cơ hội cùng làm việc. Tôi cũng đã có cơ hội được đến thăm Hoa Kỳ 3 lần, được tiếp kiến ngài Tổng thống và phải nói thực rằng, đánh giá sự phát triển của hai nước chúng ta ngày càng toàn diện. Xin cảm ơn Đại sứ đã gửi tôi bức ảnh chụp với Tổng thống Bush. Tôi biết rằng ngài Thứ trưởng trong chuyến đi Việt Nam lần này giải quyết rất nhiều vấn đề trong quan hệ hai nước. Hôm nay Bộ Công an được tiếp ngài, hy vọng được nghe ý kiến của ngài về quan hệ với Bộ Công an.

Negroponte:

– Trước hết tôi thấy rằng hai quốc gia chúng ta còn nhiều lĩnh vực mà chúng ta có thể tiếp tục làm việc, công tác với nhau nhiều hơn. Tôi biết cách đây một tuần, cộng sự viên của chúng tôi, ông Kappes đã có dịp được làm việc với ngài. Ông Kappes với tôi có một thời gian dài được làm việc gần gũi với nhau, khi mà lúc đó đó tôi là Giám đốc tình báo quốc gia. Tôi là người thuyết phục ông Kappes trở lại làm việc cho chính phủ vì ông đó đã về hưu nhưng tôi thuyết phục thì ông ấy trở lại. Đấy là một trong những lĩnh vực mà chúng ta có thể hợp tác. Chúng tôi đã làm việc với ngài Bộ trưởng và Thứ trưởng Bộ Ngoại giao để nói lên mong muốn của chúng tôi để những nhân viên của chúng tôi ở Tổng lãnh sự quán (TLSQ) Mỹ tại TP HCM có được những cơ hội để thực hiện công việc lãnh sự của họ sâu rộng ra. Bởi vì những sự việc tới hạn hiện tại họ đang gặp phải, họ có cơ hội nới rộng những dịch vụ lãnh sự ở những nơi tôi nghĩ họ nên có mặt ở đó. Tôi mong ngài hiểu rằng, tất cả những gì chúng tôi muốn làm hoàn toàn không có ý định giấu giếm trong công việc lãnh sự mà bổn phận chúng tôi phải làm. Việc này chúng tôi sẽ làm việc với Bộ Ngoại giao Việt Nam. Chúng tôi muốn nói với ngài là để tất cả nhân viên của Bộ Công an Việt Nam biết được sự di chuyển của nhân viên Hoa Kỳ khi họ thực hiện bổn phận của họ. Tôi nói với ngài để tỏ lòng biết ơn nếu trong tương lai ngài Đại sứ của chúng tôi có cơ hội được làm việc với ngài để giải nghĩa những chi tiết về những việc mà tôi vừa trình bày.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Tôi rất hiểu ý nghĩa của việc TLSQ tiến hành công việc. Trong quan hệ của chúng ta ngày càng phát triển thì việc mở rộng các hoạt động, phạm vi của cơ quan đại diện các ngài thì  tới được các tỉnh, thành phố khác là cần thiết. Tôi thông báo cho ngài rằng, trong khi chưa hoạt động một cách chính thức thì các hoạt động của ngài Đại sứ và bộ phận khác vẫn bình thường, từ trước tới giờ, chúng tôi đã tạo điều kiện cho các ngài tốt và sẽ tiếp tục như vậy.

Chúng tôi cũng nói với ngài rằng, chúng tôi không coi hoạt động của nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ đe dọa an ninh Việt Nam. Điều này tôi đã khẳng định với ngài Đại sứ trong một dịp làm việc cách đây khoảng một tháng. Tuy nhiên, chúng tôi có tính đến đặc điểm từng vùng miền. Đặc điểm vùng miền này là vùng dân tộc thiểu số, đặc biệt là dân tộc Khmer. Ở đây cũng có những mối quan hệ về đường biên giới, cho nên những bước mở rộng của chúng ta còn phụ thuộc vào những đặc điểm này và chúng ta phải tính toán những bước đi cho phù hợp.

Chúng tôi khẳng định trong những cái như vậy cũng không có trở ngại gì đối với nhân viên của ngài Đại sứ. Tóm lại, tôi rất ủng hộ ý kiến của Bộ Ngoại giao. Tôi ghi nhận ý kiến của ngài và sẽ có phản ứng tích cực.

Negroponte:

– Tôi có một điều muốn làm rõ, nếu tôi nói sai thì ngài Đại sứ sẽ sửa cho tôi. Trong việc lãnh sự, ví dụ như xảy ra tại Cà Mau thì hiện thời bây giờ nhân viên lãnh sự của Hoa Kỳ xuất phát từ Hà Nội phải đến Cà Mau làm việc, nhân viên của Hoa Kỳ tại TP HCM lại không được phép đến Cà Mau làm việc.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng (quay sang hỏi các cán bộ giúp việc):

– Có phải như thế không?

Một sĩ quan trả lời:

– Báo cáo anh, không hẳn là như thế. Đứng về mặt phạm vi thì đúng là theo quy định của hai bên thì phạm vi hoạt động lãnh sự của TLSQ tại TP HCM thì chỉ trong phạm vi đấy thôi. Cũng như TLS của ta ở San Francisco thì Hoa Kỳ cũng chỉ cho (hoạt động) trong phạm vi đấy thôi. Thế nên về mặt nguyên tắc thì khó nhưng trên thực tế ta vẫn tạo điều kiện cho họ đi.

Negroponte:

– Chúng tôi không giới hạn hoạt động của TLSQ Việt Nam tại San Francisco. Tôi nghĩ rằng, về việc này chúng ta cần phải có một cuộc đối thoại để có thể tìm được một giải đáp thực tế cho vấn đề này. Tôi chỉ đề nghị thế thôi.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

–  Những vấn đề cụ thể tôi sẽ làm việc với ngài Đại sứ nhưng tôi nghĩ không có giới hạn nào. Tôi chưa thấy có việc nào Sứ quán phải cử nhân viên từ Hà Nội vào, tôi nghĩ các nhân viên của TLSQ tại TP HCM khi đi thì các ngài có thể thay mặt Đại sứ ở đây, không có gì cản trở. Chúng tôi sẽ kiểm tra lại, chúng tôi sẽ điều chỉnh. Tôi nghĩ ngài Đại sứ có thể ủy quyền TLSQ đi gặp. Sao phải từ ngoài này vào? Ngày hôm nay tôi mới được nghe thấy việc này. Tôi sẽ làm việc với ngài Đại sứ. Nếu đúng như vậy thì từ khi tôi gặp ngài Đại sứ, TLSQ có thể đi thay các ngài từ Hà Nội vào.


Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng đang kiểm tra một đơn vị đặc nhiệm của Công an Hà Nội

Negroponte:

– Rất vui mừng. Cảm ơn ngài.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Tôi nghĩ sau này có mở rộng phạm vi hoạt động thì đó chỉ là cái chính thức thôi, còn phạm vi hoạt động các ngài thì các ngài đại diện ở đây thì chúng tôi không hạn chế về việc đó.

Hôm nay có ngài Thứ trưởng ở đây cùng ngài Đại sứ, tôi cũng nói về việc hết sức là nội bộ quan hệ của chúng ta, một điều mà việc tiếp xúc địa phương ở Việt Nam, nhân viên của các ngài có nhiều vấn đề mà địa phương người ta phàn nàn. Tôi nhận được rất nhiều ý kiến của địa phương, người ta rất khen ngài Đại sứ trong thời gian vừa qua đã chịu khó xuống các tỉnh, thăm các nơi nghèo khó, thăm các trại mồ côi… Người ta rất trân trọng ngài Đại sứ về một số nghĩa cử. Thế nhưng một số nhân viên TLSQ Mỹ tại TP HCM gần đây thường hay gặp không chính thức rồi chính thức đối với những người mà địa phương cho rằng, đó là những người mà không tốt với chính quyền, hay nói thẳng ra đó là những kẻ chống đối. Tôi cho rằng những việc gặp như vậy sẽ không có lợi cho địa phương, làm cho những người có thái độ xấu không hợp tác với chính quyền, họ cho rằng phía Hoa Kỳ và Đại sứ ủng hộ họ. Điều này làm cho quan hệ giữa địa phương và TLSQ Hoa Kỳ tại TP HCM chưa được thân thiết. Nhân viên các ông thường xuyên gặp những người luôn có những hành động, việc làm chống đối chính quyền. Chúng tôi hiểu rằng việc đó sẽ giúp cho các ngài tìm hiểu thông tin, về khía cạnh này, khía cạnh khác cho nên phía Bộ Công an không có ý kiến gì về việc này. Thậm chí tôi có nói với ngài Đại sứ rằng có thể đi gặp thêm một số người nữa. Tôi nghĩ rằng, để giải quyết vấn đề này đôi khi các ngài ở TLSQ khi gặp thì nên thông báo cho chính quyền địa phương, những người này không liên quan gì đến TLS hoặc số nhân viên của phía Hoa Kỳ. Tôi nói về vấn đề này có tính chất xây dựng, làm thế nào để giúp cho địa phương và cơ quan lãnh sự có quan hệ tốt. Tôi cũng nói với ngài Thứ trưởng rằng, mặc dù như vậy nhưng mà các địa phương cũng không có hành vi gì cản trở các nhân viên ngoại giao làm việc cả. Đây là vấn đề nhạy cảm. Chừng mực nào đó thì một số cán bộ địa phương người ta nghĩ rằng các ngài đứng sau những người có hành vi chống đối. Chúng tôi muốn sau này, giữa cơ quan ngoại giao Hoa Kỳ có đường thông tin chính thức với chúng tôi, có những hợp tác để giúp ích chúng tôi tìm hiểu thông tin về nhân sự. Gần đây, có một số trường hợp các ngài tự đi xác minh, tự đi tìm hiểu thì gây cho địa phương những thắc mắc. Trong quá trình hoạt động quan hệ thì vẫn còn có những tồn tại như vậy, chúng ta phải hợp tác làm thế nào để sự phối hợp đó được tốt; người ta tôn trọng cái quyền của địa phương người ta, chúng ta thì có những việc riêng và làm thế nào để chúng ta có những thông tin được tốt.

Đại sứ Michalak:

– Tôi khẳng định với ngài Thứ trưởng rằng, trong việc thúc đẩy quan hệ giữa hai nước chúng ta, nhất là quan hệ giữa Hoa Kỳ và dân tộc Việt Nam ngày càng tốt. Vì vậy nên những vấn đề quan tâm của tôi về TLSQ  cũng là những vấn đề mà chúng tôi thấy rằng chúng ta cần có sự hợp tác rất tốt, chúng ta tạo điều kiện cho những nhân viên của TLSQ và địa phương hoàn thành tốt nhiệm vụ của họ.

Negroponte:

– Vâng thưa ngài, tôi muốn nói với ngài một điều đầu tiên là nếu như ngài nghĩ lại và thấy rằng tất cả những chuyện gì xảy ra giữa mối quan hệ Hoa Kỳ và Việt Nam trong 8 năm qua, trong thời kỳ của Tổng thống Bush thì tôi cho rằng ngài sẽ đến một kết luận rằng mối quan hệ giữa hai nước chúng ta đã có những bước tiến rất tốt. Vâng thưa ngài, chúng tôi muốn nói rằng chúng tôi không có một chú ý nào trong cuộc gặp với người nào đó hoặc có chú ý nào đe dọa đến Việt Nam. Đã có những cuộc đối thoại giữa hai ngài Tổng thống và ngài Chủ tịch nước của hai quốc gia đã có những cuộc trao đổi rất nhiều từ các cấp của hai quốc gia, tại sao chúng ta lại biết rõ được những điều tốt xảy ra, chú ý nào đe dọa đến Việt Nam. Vâng, tất cả những hoạt động của chúng tôi đã xảy ra là vì chúng tôi muốn hiểu rõ thêm suy nghĩ của những người dân Việt Nam và đây có thể nói những khác biệt trong lịch sử, chính trị, hoặc là những quan điểm trong quá khứ giữa hai nước chúng ta nhưng chuyện đó không phải là quan trọng. Vâng, dựa theo tất cả những điều phát biểu của ngài, tôi thấy rằng, trong tương lai giữa ngài và ngài Đại sứ của chúng tôi ở đây sẽ phải gặp nhau thường xuyên hơn nữa để chúng ta có những dịp để mà bàn làm cho những việc hiện thời đã hữu ích rồi càng hữu ích thêm.

BBC (viết tắt cụm từ tiếng Anh: British Broadcasting Corporation), được thành lập năm 1922, là thông tấn xã quốc gia của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Sản phẩm của BBC là bao gồm các chương trình và thông tin trên TV, trên đài phát thanh và trên Internet.
Hiện tại, do nhiều thay đổi về ngân sách và chính sách, BBC chỉ còn truyền tin bằng 28 ngôn ngữ, gồm trang tin trên mạng internet của BBC Tiếng Việt. Từ tháng 4/2011, BBC Tiếng Việt đã ngừng phát chương trình trên làn sóng ngắn để tập trung vào truyền thông trên Internet.

(Còn tiếp)

 Nguyễn Như Phong [Bài của Petrotimes]

Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ I)

Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ II)

Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ III)

Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ cuối)