Tag Archive: undefined


Hoàng Triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” do TS Mai Ngọc Hồng công bố không phải là tấm bản đồ chính thống duy nhất của người Trung Quốc không vẽ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà họ gọi là “Tây Sa” và “Nam Sa”).

Nhiều tấm bản đồ cổ khác do chính người Trung Quốc ấn hành cũng phủ nhận hoàn toàn chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo của Việt Nam.

Bản đồ tỉnh Quảng Đông của Trung Quốc với cực Nam là đảo Hải Nam (khi đó còn thuộc tỉnh này), hoàn toàn không có một dấu tích gì của “Tây Sa” và “Nam Sa”. Tấm bản đồ này được trích từ ấn phẩm “Thanh nhị kinh thập bát tỉnh dưa địa đồ”, xuất bản năm 1850 dưới triều Thanh.

Một tấm bản đồ khác của tỉnh Quảng Đông, ấn hành năm 1935. Cũng như tấm bản đồ trên, chẳng thấy “Tây Sa” và “Nam Sa” đâu cả.

Một tấm bản đồ chính thức của Trung Quốc có tên “Chính trị khu vực đồ” in năm 1936, với đảo Hải Nam là giới hạn cuối cùng về phía Nam của quốc gia này.

Tấm bản đồ mang tên “Trung Hoa dân quốc toàn đồ”, có từ trước năm 1949, tất nhiên cũng không có cái gọi là “Tây Sa” và “Nam Sa”.

Một phiên bản khác của “Trung Hoa dân quốc toàn đồ”, ấn hành năm 1935 cũng phủ định hoàn toàn chủ quyền của Trung Quốc với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.

Xem 

This slideshow requires JavaScript.

source: V.A (tổng hợp)

(REDS.VN) các bài báo “sex” nhuốm màu sắc hư cấu đang đầy rẫy trên báo chí Việt Nam hiện nay có thể coi là một loại hình văn học khiêu dâm được hợp thức và công khai hoá dưới hình thức báo chí.

Bài viết của độc giả Lê Hùng (TP HCM) viết riêng cho REDS.VN. Bài cùng tác giả: BBC Việt ngữ rẻ tiền đến mức nào?)

Buổi tối nay, tôi lướt Facebook, thấy cả chục bạn trẻ trong Friendlist đồng loạt chia sẻ bài viết có tiêu đề “Thầy giáo yêu 20 cô gái không ai còn trinh trắng”.

Nội dung bài viết có thể tóm gọn trong phần giới thiệu đầu bài báo như sau: “Với kinh nghiệm yêu đương trong 2 năm, vào nhà nghỉ với khoảng 20 cô, tôi khẳng định 99% con gái bây giờ không còn trinh trắng, 1% còn lại không dở hơi, thần kinh thì cũng chả ra gì”, anh Nguyễn Trung Kiên (30 tuổi, giáo viên một trường tiểu học trên địa bàn quận Thanh Xuân, HN) chia sẻ.

Phía dưới bài viết, tôi thấy các bạn sôi nổi “ném đá” nhân vật giáo viên trong bài viết bằng những lời lẽ nặng nề nhất.

Và tôi cho rằng các bạn đã “ném đá” nhấm đối tượng.

Trong câu chuyện này, tôi không thể không đặt ra một số câu hỏi.

Thật sự có nhân vật như vậy, câu chuyện như vậy không, hay nhà báo “sáng tác” ra?

Với câu hỏi này, chỉ có người viết mới đưa ra được câu trả lời chính xác. Tôi không dám đưa ra kết luận, dù theo cảm tính, tôi thấy nó sặc mùi hư cấu, như rất nhiều bài báo tương tự xuất hiện trên chuyên mục “Đời sống”, “Tình yêu”, “Tâm sự” v..v của các trang mạng thời gian qua.

Điểm chung của các bài báo này là nhấn mạnh yếu tố “sex”, với những tình tiết rất “kích động”, thể hiện ngay ở cái title. Ví dụ như: “Chồng ngoại tình vì chê “cô bé” của tôi nhỏ”; “Vợ tôi thủ dâm bằng một bóng đèn quả nhót”; “Phát hiện chồng hiến tinh trùng… trực tiếp”; “Xin lỗi, em không cướp chồng chị!”; “Tôi lừa gạt tình để trả thù anh”; “Đừng bắt tôi phải ngoại tình!”; “Vào nhà nghỉ với bồ, bố gặp con đi cùng tình trẻ”; “Chồng tôi thề chỉ thử xem ôsin còn hay mất trinh”; “Lần đầu tiên tôi ăn vụng đã làm cô ấy có thai”; “Dân văn phòng gần như ai cũng… ngoại tình!”; “Thỏa mãn cùng lúc với 3 người, tôi ghê tởm chính mình”; “Kết cục bi thảm vì “quan hệ” với em vợ”; “Tôi đang mang thai đứa con của anh rể”; “Mẹ van xin con gái cho được ngoại tình”; “Hứng tình, mẹ mạnh tay chi tiền cho “trai bao””; “Em cứ sexy quá đà, anh chết mất!”; “Tôi bị con riêng của mẹ kế cưỡng hiếp… v..v

Những bài viết dạng này thường có nội dung lâm ly, bi đát, và không thể nào kiểm chứng được mức độ chân thực.

Liệu có bao nhiêu phần trăm trong số đó không phải là chuyện bịa? Tôi không nghĩ rằng có nhiều người rỗi hơi đến mức đi tâm sự hết những nỗi niềm sâu kín của mình với lều báo.

Báo chí chỉ là báo chí khi có người thật, việc thật, nếu không thì nhà báo chỉ là những kẻ dối trá, và sản phẩm của họ là rác rưởi văn hoá.

Đăng những bài viết kiểu như vậy để làm gì?

Tự đặt mình vào vị trí của người làm báo, tôi dễ dàng tìm ra câu trả lời muôn thuở: câu khách, tăng view, hút quảng cáo, làm phồng túi tiền.

Trong thời buổi khủng hoảng kinh tế, tôi hoàn toàn thông cảm cho điều này. Nhưng tôi chân thành khuyên quý toà soạn hay đăng các bài báo như vậy chớ có nhảy chồm chồm lên bày tỏ sự tự ái mỗi khi bị ai đó nói là báo lá cải.

Đã làm đĩ để kiếm tiền thì bị người đời thị phi là chuyện đương nhiên.

Những bài viết đó có gây hệ luỵ gì cho xã hội?

Như tôi đã đề cập, những bài viết trên chỉ xoáy vào ba chủ đề chính: sex, sex và sex. Sex được săm soi dưới đủ mọi khía cạnh sống sượng, thô tục, từ ngoại tình cho đến loạn luân, như muốn nhổ toẹt vào các giá trị đạo lý và văn hoá dân tộc mà chúng ta đang ngày đêm rao giảng.

Chúng không có bất cứ một giá trị gì khác ngoài tính “giải trí” đơn thuần. Ở điểm này, tôi thấy hoàn toàn có thể xếp chúng ngang hàng với các tác phẩm thuộc thể loại “cô giáo Thảo” (dòng văn học khiêu dâm ở miền Nam trước 1975) mà bọn học sinh chúng tôi chuyền tay nhau lén lút khi còn ngồi trên ghế nhà trường.

Theo quan điểm cá nhân của tôi, các bài báo “sex” nhuốm màu sắc “sáng tác”, trên phương diện nào đó có thể coi là một loại hình văn học khiêu dâm được hợp thức và công khai hoá dưới hình thức báo chí. Và hệ luỵ mà nó gây ra còn lớn hơn là văn học khiêu dâm đích thực.

Đọc “cô giáo Thảo”, ai cũng biết đó chỉ là chuyện hư cấu. Nhưng khi đọc trên báo, độc giả sẽ mặc nhiên coi câu chuyện là “người thật việc thật”. Việc tràn lan những “chuyện thường ngày” như vậy sẽ vẽ nên một bức tranh dơ dáy về xã hội, cũng như khiến con người trở nên chai sạn trước những chuyện đáng kinh tởm. Đó chính là cánh cửa dẫn đến sự tha hoá.

Ngay cả khi những câu chuyện trong bài báo là có thật đi chăng nữa, thì việc phơi bày chúng trên mặt báo dưới những hình thức li kỳ, khêu gợi, gây khoái trá trong độc giả vẫn xứng đáng bị coi là việc làm tội lỗi.

Trong mối quan hệ tương tác với báo chí, mỗi độc giả cũng cần phải tỉnh táo để không trở thành dạng độc giả “tò mò và rỗi hơi”, để lều báo dắt mũi vào những câu chuyện phản nhân văn (và có thể là hoàn toàn là bịa đặt).

LÊ HÙNG [ REDS.vn]

Cờ Tư lệnh

Với mong muốn đất nước ta có thêm một loại hình cờ mang màu sắc Việt Nam, Đại tá, nhà văn Nguyễn Quí Hải, Cựu chiến binh, từng là Tiểu đoàn trưởng pháo 130mm trong chiến dịch tiến công Quảng Trị năm 1972, đã sáng chế ra loại cờ mới: CỜ TƯ LỆNH.


Về luật chơi, hình thức con cờ,  Cờ Tư lệnh vừa phù hợp với người già vừa phù hợp với lớp trẻ, vừa có thể chơi với bộ cờ sừng trâu có giá tiền cao dành cho bậc trung lưu, cũng có thể chơi với bộ cờ nhựa, bàn làm bằng tấm giấy vừa đủ kích cỡ, người chơi bình dân, kể cả các em học sinh bậc trung học cơ sở có thể tự vẽ.
Quân Cờ Tư lệnh, ngoài quân cờ tròn còn có quân cờ khối. Quân cờ hình khối tương tự như quân Cờ vua, nhưng không trừu tượng mà cụ thể là máy bay, xe tăng, tên lửa, tàu chiến…

 
Bàn cờ và quân cờ


CỜ TƯ LỆNH vừa mang tính giải trí, vừa mang tính trí tuệ; vừa thư giãn, vừa hình thành cho người chơi biết cách tổ chức sử dụng lực lượng hiệu quả, tốn ít quân mà giành được thắng lợi.

Khác Cờ tướng, Cờ Tư lệnh mang tính mở. Các quân cờ đều có thể đi thẳng, đi tiến, đi ngang, đi lui, tung hoành dọc ngang. Dân quân (còn gọi là Quân “tóc dài”) ngoài đi tiến, lui, ngang, dọc và ăn quân đối phương như quân bộ binh, còn được đi và ăn chéo quân đối phương.

Chỉ có pháo binh, không quân là được đi và ăn quân đối phương vượt qua cả khối chắn; được đi chéo, ăn chéo như quân tượng trong Cờ tướng nhưng khác tượng là không bị kìm chân ở bên này chiến tuyến.

Cao xạ, tên lửa tạo ra được vành đai hỏa lực trên không, máy bay đối phương không thể qua. Vì vậy máy bay muốn phát huy hỏa lực oanh kích vào các mục tiêu của đối phương thì phải tìm mọi cách tiêu diệt cao xạ và tên lửa trước. Nếu máy bay sơ ý bay qua vành đai hỏa lực của phòng không đối phương, thì lập tức bị bắn cháy. Nếu máy bay chủ đích tiêu diệt trận địa cao xạ để mở đường tiến công thì phải một đổi một.

Trên bàn cờ có vùng biển, lục địa, sông nước; lực lượng tham chiến đủ cả hải, lục, không quân và phòng không. Tàu chiến trên vùng biển, ngoài cao xạ, pháo binh còn được trang bị tên lửa hải đối hải. Pháo có thể đứng tại chỗ bắn và ăn quân đối phương trên đất liền.

Cờ có hai kiểu chơi: Chơi công khai dàn quân theo mẫu; hoặc chơi nâng cao, quân có thể bố trí theo chiến thuật riêng và giấu thế bố trí cho đến lúc bắt đầu cuộc chơi.

Cờ có tính mở, sau khi chơi thành thạo, người chơi có thể đúc kết kinh nghiệm và sáng tạo ra thế, ra nước cờ hay. Có thể tùy tính cách từng người, cờ có thể chơi với chiến lược phá hoại đối phương bằng không quân, hải quân. Cũng có thể chơi với chiến thuật phòng ngự phản công, tấn công, chính diện, vu hồi, hay thọc sâu đánh vào nơi hiểm yếu.

Cờ vừa mang màu sắc dân gian vừa mang hơi thở của thời đại. Cờ không có cung cấm, quân cờ cao nhất là Tư lệnh. Tư lệnh trong chiến tranh, trong từng trận đánh, trong từng chiến dịch là người chỉ huy trực tiếp, là người có vai trò đặc biệt quan trọng đến thành bại của cuộc chiến.

CỜ TƯ LỆNH rất gần gũi với lớp sĩ quan trẻ. Cờ có thể chơi đến tận cùng, khi diệt được tư lệnh đối phương, nhưng cũng có thể chơi 10 phút tính điểm, chơi từng trận, chơi từng cuộc chiến, chơi giữa giờ giải lao trên thao trường.

Hãy chơi và tìm ra nước cờ hay nhất. Hãy thách đấu nếu không ai thắng nổi, nước cờ đó sẽ mang tên bạn, bạn sẽ trở thành siêu Tư lệnh.

Ước mong của tác giả là cờ sớm được cộng đồng chấp nhận, được các cơ quan quản lý môn thể thao nghệ thuật giải trí trong và ngoài quân đội tạo điều kiện cả về tinh thần và vật chất giúp cho Cờ Tư lệnh mau thâm nhập vào cuộc sống, góp phần cho cuộc sống thêm phong phú nói chung, cho việc hình thành bản lĩnh chỉ huy cho lớp trẻ, đặc biệt lớp trẻ trong quân đội nói riêng.

CỜ TƯ LỆNH là sản phẩm trí tuệ của đại tá, nhà văn Nguyễn Quí Hải đã được Cục Bản quyền tác giả văn học nghệ thuật, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch chính thức công nhận ngày 16 tháng 11 năm 2010, số bằng chứng nhận 3283.

Cờ không chỉ phát triển rộng rãi ở trong nước mà có thể vươn ra cộng đồng quốc tế.

 

 
BẰNG CHỨNG NHẬN CỦA CỤC BẢN QUYỀN TÁC GIẢ
Tác giả Cờ Tư lệnh: Đại tá, nhà văn Nguyễn Quí Hải


Khi cần giải đáp thêm, quý độc giả có thể liên hệ trực tiếp với tác giả theo số điện thoại 04 38370007 hoặc 0975656290.

 

LUẬT CHƠI
CỜ TƯ LỆNH


I. Mục đích của ván cờ

Ván cờ được chơi giữa hai người, một người cầm quân Đỏ, một người cầm quân Xanh. Mỗi người tìm chiến thuật điều quân trên bàn cờ theo luật chơi để cuối cùng làm thất bại mục tiêu chiến lược của đối phương hoặc tiêu diệt được Tư lệnh của đối phương.

Cờ vừa giúp cho người chơi cả trẻ lẫn già (đặc biệt là giới quân sự) vừa có hứng thú giải trí, vừa có cơ hội rèn luyện cách tổ chức lực lượng giành chiến thắng, qua đó nâng cao trí thông minh, tài thao lược, góp phần nâng cao sức chiến đấu của lực lượng vũ trang trong nhiệm vụ Quốc phòng toàn dân bảo vệ đất nước.

II. Cấu trúc của bàn cờ

Bàn cờ hình chữ nhật, do 11 đường dọc và 12 đường ngang cắt nhau vuông góc tại 132 điểm hợp thành. Có một khoảng trống ước lệ, đó là sông (màu xanh nhạt – xem Hình 2). Sông nằm ngang, chia bàn cờ thành hai phần đối xứng bằng nhau gọi là chiến tuyến. Trên sông (chiến tuyến) có hai đoạn nước nông, dưới có nền đá, được gọi là ngầm. Mọi phương tiện đều có thể vượt qua ngầm. Bên trái bàn cờ (nhìn từ phía này), sẽ là bên phải (nhìn từ phía kia) có hai dãy ô vuông chạy dọc suốt hai chiến tuyến, được quy ước đó là biển (xanh đậm hơn màu sông), trên biển có lực lượng hải quân tham chiến.

 

 
Hình 2. Bàn cờ


Mỗi ván cờ lúc bắt đầu có đủ 38 quân, số quân đó được chia đều cho hai bên: 19 quân Đỏ, 19 quân Xanh bao gồm 11 loại quân. Quân cờ của bên Xanh hoặc bên Đỏ, chỉ khác nhau về màu sắc, còn ký hiệu, cách đi và cách ăn quân đối phương của chúng hoàn toàn giống nhau.
Ký hiệu và số lượng của 11 loại quân đó được thể hiện ở Hình 3 dưới đây:

 

 
Hình 3. Quân cờ


Đường kính mỗi quân cờ khoảng 3,2cm

III. Các cách chơi CỜ TƯ LỆNH

Có hai cách chơi: chơi cơ bản và chơi nâng cao

1. Chơi cơ bản

Việc bố trí quân cơ bản lúc đầu, hai bên công khai bố trí giống nhau theo quy định của luật chơi (như hình vẽ).

 

 
Hình 4. Cách xếp quân cờ

 

2. Chơi nâng cao (sau khi đã chơi cơ bản thành thạo)

Hai bên theo ý đồ chiến thuật của mình, bí mật bố trí quân (có thể dùng bìa giấy để che giấu) và hoàn toàn tự do, phá cách, không nhất thiết bố trí như lối chơi cơ bản. Khi cuộc chơi bắt đầu mới lật cờ ngửa và tổ chức lực lượng căn cứ tình huống thực tế tìm ra lối đánh sao làm thất bại chiến lược của địch, diệt được tư lệnh đối phương.

IV. Quy tắc chơi

1. Đi và ăn

– Công binh, bộ binh, cao xạ, dân quân “tóc dài” được đi tiến, đi lùi, đi ngang và ăn thẳng, nghĩa là di chuyển tung hoành dọc ngang theo trục bàn cờ từng đoạn một. Có thể đứng tại chỗ ăn mục tiêu trên biển cách một đoạn. Đặc biệt, “tóc dài” ngoài quy định trên còn được đi và ăn chéo từng đoạn một.

– Xe tăng đi và ăn thẳng dọc ngang theo trục từ một đến hai đoạn. Với mục tiêu trên biển, ăn theo quy định, nhưng đứng tại chỗ.

– Pháo binh mặt đất, được đi và ăn thẳng dọc ngang theo trục, đi và ăn chéo 45 độ, từ một đến ba đoạn; được ăn vượt qua khối chắn. (Kiểu quân tượng trong Cờ tướng nhưng không bị kìm chân bên này chiến tuyến)… Pháo được phép đứng tại chỗ bắn và ăn quân đối phương trên biển trong khoảng từ một đến ba đoạn.

– Tên lửa phòng không được đi và ăn quân mặt đất, quân trên không theo vành đai hỏa lực có bán kính hai đoạn theo trục và một đoạn chéo 45 độ.

– Máy bay đi và ăn thẳng, ăn chéo quân đối phương từ một đến bốn đoạn. Được phép vượt khối chắn. Được phép dừng lại ở nơi ăn quân đối phương hay trở lại ngay vị trí sân bay, để tránh bị đối phương tiêu diệt. Máy bay sơ ý bay qua vành đai hỏa lực cao xạ và tên lửa phòng không của đối phương sẽ bị bắn rơi. Nếu mục tiêu của máy bay nhằm vào trận địa cao xạ và tên lửa thì cả hai đều bị tiêu diệt, tức là một đổi một.

– Tàu chiến, trên đó có cao xạ, pháo binh và tên lửa hải đối hải. Cao xạ theo nguyên tắc chung nêu trên. Khi tham chiến hợp đồng binh chủng, pháo trên tàu đứng tại chỗ và bắn các mục tiêu trên đất liền theo quy định đối với pháo binh mặt đất. Tên lửa hải đối hải đi và ăn thẳng, ăn chéo từ một đến bốn đoạn mục tiêu trên biển và dọc bờ biển. Không ăn mục tiêu sâu trên đất liền. Tàu chiến có thể đi vào đoạn sông sâu phía ngoài đoạn có ngầm cạn.

 

 
Hình 5. Cách đi và ăn quân


2. Quy tắc vượt sông

–  Sông có hai đoạn ngầm (xem Hình 2. Bàn cờ), mọi phương tiện đều có thể vượt qua.

– Ngoài hai chỗ đó, còn lại là các đoạn nước sâu, chỉ bộ binh, dân quân tóc dài, tư lệnh và công binh đi qua được. Các phương tiện nặng như cao xạ, pháo binh, xe tăng muốn cơ động qua các đoạn nước sâu ấy thì phải theo sau công binh (đã bắc cầu), nhưng khi ăn quân đối phương bên kia sông, thì được phép qua luôn bất kỳ chỗ nào.

3. Quy tắc công sự

– Trên bàn cờ mỗi bên có 2 công sự (hình lô cốt). Chúng tạo thành sở chỉ huy của Tư lệnh.

–  Công sự không cơ động và không ăn được quân đối phương.

– Công binh, xe tăng, pháo binh, máy bay… phá được công sự để diệt Tư lệnh đối phương. Tư lệnh khi cần vào ẩn nấp trong công sự.

4. Quy tắc vùng cấm trên không

– Cao xạ tạo ra vùng cấm trên không thành một hình tròn có cự ly bán kính bằng một đoạn thẳng, (vòng tròn nhỏ như hình vẽ).

–  Tên lửa phòng không tạo được một vùng cấm hình tròn trên cự ly bán kính hai đoạn thẳng, (chéo chỉ phát huy tác dụng trong phạm vi một đoạn).

– Dải hỏa lực phòng không lớn là của tên lửa phòng không.

– Dải hỏa lực phòng không nhỏ là của cao xạ trên bộ và trên tàu chiến tạo ra. Máy bay muốn oanh kích các mục tiêu sâu trong căn cứ đối phương phải dùng xe tăng bộ binh pháo binh tập trung tiêu diệt cao xạ và tên lửa. Mục tiêu số 1 là tên lửa phòng không. Nếu tiêu diệt được tên lửa phòng không thì máy bay có thể nhanh chóng oanh kích vào sở chỉ huy và các lực lượng phòng thủ của đối phương.

– Máy bay đối phương xâm phạm vùng cấm là bị rơi. Muốn qua lưới hỏa lực phòng không để phát huy sức mạnh của không quân, đối phương phải tập trung hỏa lực, xung lực của bộ binh, xe tăng, pháo binh thọc sâu tiêu diệt các mục tiêu cao xạ và đặc biệt tên lửa phòng không trước. Máy bay oanh kích vào trận địa cao xạ, tên lửa phòng không thì một đổi một.

 

 
Hình 6. Vùng cấm trên không


5. Quy tắc với Tư lệnh

– Tư lệnh không nhất thiết cứ ở trong hầm chỉ huy.

– Tư lệnh được phép thoát ra ngoài, kể cả sang bên đối phương để chỉ huy, để tham gia chiếu tư lệnh đối phương.

– Tư lệnh không được mặt đối mặt với tư lệnh đối phương. Bên nào sơ hở để lộ mặt trước thì bị tư lệnh bên kia ăn.

– Tư lệnh được đi theo trục không hạn chế, miễn là không vướng vật cản và chỉ được ăn quân đối phương từng đoạn một.

– Khi cấp bách Tư lệnh được đi thẳng vào công sự.

– Cờ thắng, thua trong trận chiến tổng lực là khi Tư lệnh bị diệt. Thắng thua, trong chiến tranh phá hoại bằng không quân là khi một bên mất cả hai máy bay. Thắng thua trong chiến tranh phá hoại bằng đường biển là khi một bên mất cả hai tàu chiến. Thắng thua trong chiến tranh cục bộ là khi một bên mất cả hai quân bộ binh, hai quân xe tăng và hai quân pháo binh. Thắng thua trong lối chơi theo séc (10 hoặc 15 phút) là tính theo số điểm.

6. Quy tắc tính điểm

Nếu chơi tính điểm thì căn cứ để tính điểm như sau:

Bộ binh, công binh, cao xạ, dân quân tóc dài: 10 điểm.

Xe tăng, tên lửa phòng không: 20 điểm.

Pháo binh: 30 điểm.

Máy bay: 40 điểm.

Tàu chiến trên có tên lửa, cao xạ và pháo binh được cộng tiêu chuẩn của ba thứ vũ khí: cao xạ 10 điểm + pháo 30 điểm + tên lửa hải đối hải 40 điểm = 80 điểm.

7. Quy tắc quân anh hùng

Quân nào có cơ hội trực tiếp chiếu Tư lệnh quân đối phương, buộc Tư lệnh phải chạy thì quân đó được phong quân anh hùng. Khoảng cách đi, ăn và điểm tính của quân anh hùng đều được cộng thêm một đoạn (10 điểm). Ví dụ: Bộ binh thường chỉ đi và ăn quân đối phương một đoạn, khi được là quân anh hùng thì được ăn quân đối phương từ một đến hai đoạn. Xe tăng thường đi và ăn quân đối phương một đến hai đoạn, xe tăng anh hùng được đi và ăn quân đối phương thêm một đoạn là ba đoạn… Máy bay anh hùng được diệt cao xạ và tên lửa đối phương mà không bị rơi.

8. Cấu trúc quân cờ

Quân cờ có hai loại: Loại quân tròn như cờ tướng, trên mặt có in ký hiệu các binh chủng; Loại thứ hai là hình khối như cờ vua, nhưng không trừu tượng mà cụ thể là xe tăng, pháo binh, tên lửa… được đúc như những tượng đài nhỏ xíu, in màu xanh đỏ hấp dẫn đủ sức quyến rũ tuổi teen.

V. Chức năng từng thành phần

1. Tư lệnh (*)

Chỉ huy sở của Tư lệnh gồm 2 lô cốt boong ke có thể bố trí thay đổi, lệch sang trái, sang phải, không nhất thiết ở giữa, khi cần thì chuyển lên trên (lối chơi nâng cao) tùy chiến thuật của người đánh cờ, mục đích luyện cho người chơi tìm ra chiến thuật hay nhất trong tấn công cũng như phòng ngự để giành chiến thắng. Tư lệnh khi cần thiết được phép xuất trận, khi đó không nằm trong sở chỉ huy nên dễ bị thương vong, hoặc bị đối phương bắt sống, nhưng điều đó là cần thiết trong chiến tranh. Luật chơi không được lộ mặt Tư lệnh. Tư lệnh chỉ được đi dọc, ngang hoặc lui về sở chỉ huy, với số đoạn không hạn chế, miễn là không vướng khối chắn và chỉ được ăn quân đối phương từng đoạn một. Khi cấp bách Tư lệnh được chui vào boong ke. Tài chỉ huy của Tư lệnh chính là tài chỉ huy của người chơi cờ.

2. Công binh (C)

Công binh có 2 đơn vị (2 quân cờ). Công binh có nhiệm vụ bắc cầu cho lực lượng binh chủng hợp thành vượt chiến tuyến ở đoạn nước sâu, khi đoạn ngầm bị phong tỏa lực lượng không qua được. Sau khi bắc cầu, các phương tiện khác như bộ binh, cao xạ, tên lửa phòng không khi cơ động phải đi theo cầu công binh đã bắc. Công binh đi và ăn quân đối phương theo trục từng đoạn một, kể cả bên kia sông và có thể đứng tại chỗ ăn quân trên biển cách một đoạn.

3. Xe tăng (T)

Xe tăng đi và ăn theo trục từ một đến hai đoạn (không có khối chắn phía trước). Xe tăng khi cơ động phải đi qua ngầm hoặc theo sau công binh. Khi ăn quân đối phương được phép qua luôn bất kể ở đoạn sông nào.

4. Bộ binh (B)

Bộ binh có 2 đơn vị (2 quân cờ), bố trí thường cách chiến tuyến một hàng ngang. Bộ binh đi và ăn quân địch từng đoạn một theo trục tọa độ. Bộ binh được phép tiến, lùi hoặc đi ngang theo ý đồ chiến thuật. Bộ binh đỉ và ăn quân đối phương bên kia sông bất kể đoạn sông nào, được phép đứng tại chỗ ăn quân trên biển cách một đoạn.

5. Dân quân tóc dài (D)

Dân quân ngoài việc được đi và ăn như quân bộ binh, còn được đi và ăn chéo 45 độ từng đoạn một.

6. Pháo binh (P)

Pháo binh có 2 đơn vị. Pháo binh đi và ăn quân đối phương theo trục và chéo 45 độ cách từ một đến ba đoạn, được phép vượt qua khối chắn (do tính năng đường đạn cầu vồng). Pháo được phép đứng tại chỗ để bắn và ăn quân đối phương trên biển. Khi chỉ cơ động, không ăn quân đối phương thì khi qua sông phải qua ngầm cạn hoặc qua đoạn công binh đã bắc cầu.

7. Cao xạ (F)

Cao xạ có 2 trận địa. Cơ động từng đoạn một có nhiệm vụ bảo vệ  quân ta trong dải hỏa lực vòng tròn có bán kính bằng một đoạn thẳng và ăn thẳng quân mặt đất của đối phương từng đoạn một. Cao xạ bắn cháy tất cả máy bay địch khi bay qua dải hỏa lực trận địa, trừ khi quân đối phương là quân anh hùng.

8. Tên lửa phòng không (L)

Tên lửa phòng không đi và ăn quân mặt đất từ một đến hai đoạn thẳng theo trục khi phía trước không có khối chắn và ăn chéo 45 độ chỉ một đoạn (trong vành đai hỏa lực). Tên lửa có vành đai hỏa lực bán kính bằng hai đoạn thẳng. Máy bay đối phương xâm phạm dải hỏa lực đó đều bị cháy.

9. Hải quân (H)

Hải quân trên tàu chiến có cao xạ (H1), pháo (H3) và tên lửa hải đối hải (H4). Cao xạ có dải hỏa lực vòng tròn bằng một đoạn thẳng để bảo vệ tàu và bảo vệ quân mình trong tác chiến hợp đồng. Máy bay đi qua dải hỏa lực của cao xạ một đoạn trên tàu chiến đối phương thì coi như bị cháy.

Tàu chiến đi trên biển từ một đến bốn đoạn, theo tiêu chuẩn tên lửa hải đối hải. Tên lửa hải đối hải chỉ bắn mục tiêu trên biển và trên bờ, không bắn mục tiêu sâu vào đất liền. Pháo trên tàu vừa cơ động vừa bắn mục tiêu trên biển, trên bộ sâu vào đất liền, ăn quân đối phương cách từ một đến ba đoạn theo trục tọa độ và theo đường chéo 45 độ. Tàu chiến có thể vào đoạn sông sâu phía ngoài đoạn có ngầm đá cạn.

10. Không quân (K)

Không quân có 2 sân bay. Máy bay có thể cơ động thẳng theo trục, chéo 45 độ và oanh kích mục tiêu đối phương với quy định khoảng cách trong phạm vi từ một đến bốn đoạn. Được phép bay vượt qua khối chắn. Được phép oanh tạc mục tiêu, song có thể trở lại vị trí xuất phát ngay hoặc ở lại nơi đã oanh kích. Nhưng nếu bay qua dải hỏa lực vòng tròn của cao xạ, của tên lửa thì coi như máy bay bị cháy. Máy bay nhằm oanh kích trận địa cao xạ, tên lửa thì một đổi một. Trừ khi máy bay là quân anh hùng.

11. Công sự

Mỗi bên có 2 công sự hợp thành sở chỉ huy. Công sự không được cơ động và không ăn được quân đối phương.

VI. Cách ghi nước đi khi chơi trên mạng

Trong các thế cờ, để ghi lại vị trí và sự dịch chuyển quân cờ, người ta thường ghi lại các nước đi như sau:

Dấu chấm (.) là tiến. Ví dụ: Cao xạ tiến 1 đoạn ghi là F1.

Hai gạch ngang (=) là đi ngang. Ví dụ: Xe tăng đi ngang 2 đoạn về bên trái ghi là T=2t.

Gạch chéo (/) là đi chéo. Ví dụ: Pháo binh ăn chéo hai đoạn về bên phải ghi là P/ 2f.

Hai chấm (:) là đi lùi.

Quá trình chơi Cờ tư lệnh, có thể rút ra cách đánh sao cho hiệu quả, ít mất quân mà vẫn giành thắng lợi. Qua một thời gian, khi đã chơi thành thạo, người chơi cờ có thể rút ra các nước chơi, các thế cờ tối ưu.

Chơi Cờ Tư lệnh, không bị gò bó về bố trí quân và phát huy tối đa mưu trí, sáng tạo, quyết đoán, rèn luyện tài tổ chức lực lượng giành chiến thắng.

Khi đã chơi thành thạo, người chơi chuyển lên chơi nâng cao. Trong cách chơi nâng cao, hai bên bí mật bố trí đội hình của mình. Khi bắt đầu chơi mới cùng lộ đội hình, buộc người chơi phải nhanh chóng xử trí mọi tình huống.

VII. Ván cờ kết thúc như thế nào

A. Khi chơi theo thời gian, 10 hoặc 15 phút, trong giờ giải lao, cờ sẽ kết thúc khi đến giờ quy định và thắng thua tính theo số điểm, như trong quy tắc đã nói. Trong các cuộc thi có thể phân thắng bại qua ba séc, tính theo điểm, nếu không kết thúc từng chiến cuộc. Mỗi séc thường từ 10 đến 15 phút.

B. Khi chơi không khống chế thời gian:

– Kết thúc khi dừng chơi, thắng thua tính theo số điểm của các quân mỗi bên ăn được.

– Kết thúc khi trận không chiến kết thúc, nghĩa là khi một bên mất cả hai quân máy bay không còn sức chiến đấu trên không. Bên thắng, ngoài số điểm tính theo số quân ăn được còn được thưởng thêm số điểm tương đương số điểm của hai quân máy bay (80 điểm).

– Kết thúc khi trận hải chiến kết thúc, nghĩa là khi một bên mất cả hai quân tàu chiến không còn sức chiến đấu trên biển. Bên thắng, ngoài số điểm tính theo số quân ăn được còn được thưởng thêm số điểm tương đương với số điểm của hai quân tàu chiến (160 điểm).

– Kết thúc khi chiến tranh cục bộ kết thúc, nghĩa là khi một bên mất hết quân xe tăng, quân bộ binh, quân pháo binh, không còn sức chiến đấu. Bên thắng, ngoài tính điểm theo số quân ăn được còn được thưởng thêm số điểm của ba binh chủng đó cộng lại. Cụ thể hai quân pháo 30×2, hai quân xe tăng 20×2, hai quân bộ binh 10×2, vậy tổng cộng điểm thưởng là 120 điểm.

– Kết thúc khi Tư lệnh bị bắt sống, bị chiếu hết đường thoái lui, hoặc Tư lệnh không còn quân. Bên thắng, ngoài điểm tính theo số quân ăn được còn được thưởng 200 điểm và người thắng được phong là Siêu Tư lệnh.

 

… Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ
Kiên quyết không ngừng thế tấn công
… Lạc nước hai Xe đành bỏ phí
Gặp thời một Tốt cũng thành công….
… Tấn công phòng thủ không sơ hở 
Đại tướng anh hùng mới xứng danh. 
                   Hồ Chí Minh


Hà Nội, ngày 1 tháng 11 năm 2010
Người sáng chế
Nguyễn Quí Hải

Làm việc với cả tập tin PDF

Đây là tính năng mới được phát triển và tích hợp trên Word 2013. Theo cách cổ điển sử dụng trên Word 2010, người dùng khi cần lấy thông tin từ tập tin PDF phải trải qua các bước: chọn/Copy/Paste, rồi sau đó lại sửa chữa định dạng cho phù hợp trên Word. Từ nay, Word 2013 cho phép người dùng có thể nhúng nguyên tập tin PDF vào văn bản. Tất cả nội dung trên tập tin PDF sẽ đều được chuyển đổi sang Word 2013, kể cả hình ảnh. Word 2013 sẽ tự động định dạng cho người dùng. Người dùng sau đó có thể lưu lại dưới định dạng PDF hoặc DOCX.

Tích hợp PDF là tính năng hay và thật sự mới mẻ trên Word 2013

Chức năng Reader hỗ trợ máy tính bảng

Thay đổi nổi bật và cuối cùng của Word 2013 là Word 2013 sẽ “hô biến” và trở thành một bộ đọc tài liệu (Reader) trên máy tính bảng. Chức năng này giúp người dùng thoải mái đọc tài liệu dưới định dạng “chỉ đọc”, mà không sợ tài liệu bị vô ý thay đổi. Để lật trang, người dùng chỉ cần lướt tay từ trái sang phải hoặc từ phải sang trái.

Sự thay đổi này cũng cho thấy MS Office thật sự đang tranh đấu cật lực với các phần mềm cùng chức năng trên thế giới máy tính bảng khá nhộn nhịp ngày nay.

Exel 2013 thật sự là một viên thuốc Panadol giảm cơn đau đầu khi bạn phân tích bảng số liệu trên Excel 2013

Trong quá trình phát triển, Excel ngày một tập trung vào việc phân tích và “chế biến” dữ liệu, từ đơn giản đến phức tạp, từ nhiều nguồn dữ liệu khác nhau. Sự thay đổi, nâng cấp lần này của Excel 2013 cũng không là ngoại lệ. Tất cả tập trung vào việc phân tích dữ liệu thô thành một cái gì đó để phân tích nhanh hơn, dễ dàng hơn (thông qua việc tăng tốc độ xử lý các biểu đồ, cập nhật tính năng tự điền số liệu). Tất nhiên, nó vẫn có dáng dấp của giao diện Metro của Window 8.

Là một phần không thể tách rời trong bộ Office 2013, tính năng điện toán đám mây cũng được tích hợp trên Excel 2013. Bên cạnh việc lưu trữ, khi tạo mới 1 tập tin Excel, bạn cũng có thể tự chọn cho mình một loại template riêng phù hợp với nhu cầu. Tất cả các template được lưu trữ cả trên cloud và trên máy tính.
Toàn bộ giao diện mới mẻ của một bảng tính. Vẫn là Metro, kiểu menu ngữ cảnh được thay đổi cho dễ sử dụng hơn so với Excel 2010. Còn nữa, nếu không thích, người dùng có thể ẩn đi những loại menu không thường xuyên sử dụng

Giao thức “ma” – Flash Fill

Bằng cách phát hiện các mẫu (Pattern) xuất hiện trong chuỗi của cột B, Excel sẽ tự động phát hiện và kiểm tra chuỗi tương ứng bạn đã nhập ở ô D3 (John), D4 (Jenny) để cho ra kết quả tự động, là tên của các nhân vật xuất hiện ở cuối chuỗi dữ liệu ở cột B. Để làm được điều này, dữ liệu của bạn phải được cách nhau bởi các dấu (tokens) như (; – : , _).

Tính năng phân tích nhanh – Conclusion Jumping

Một bổ sung mới trong Excel 2013 là một tính năng nhạy cảm ngữ cảnh được gọi là “phân tích nhanh”. Khi bạn chọn một loạt dữ liệu trong một bảng tính, tính năng này cho phép bạn chọn từ một tập hợp dữ liệu để có thể đưa ra những tầm (range) dữ liệu khác nhau.

Khi tầm dữ liệu được chọn, Excel 2013 sẽ cho xuất hiện một bảng phân tích đơn giản, bạn sẽ nhanh chóng có cho mình một sự lựa chọn về việc tạo bảng, biểu đồ, tính toán…

Như đã đề cập ở trên, bạn có thể chọn cách để định dạng cho vùng dữ liệu. Khi chọn Formatting, bạn có thể tùy chỉnh màu sắc, kích cỡ. Đặc biệt, hãy để ý những thanh xanh nho nhỏ trong cột C, những thanh này giống như một kiểu biểu đồ, cho biết độ lớn của các con số trong cột C bạn đã chọn. Nhanh chóng phải không?

Các kiểu format khác:

  • Giống như trên các phiên bản trước, trong thanh menu/ Auto Formating thì Excel 2013 ngay lập tức có thể cho bạn định dạng một ô nào đó (tô màu, định dạng chữ) khi so sánh giá trị của nó với 1 giá trị khác.
  • Khi chọn Total, bạn có thể nhanh chóng tính được giá trị tổng, giá trị trung bình, phần trăm của một cột dữ liệu mà không cần phải nhập công thức.
  • Để tạo bảng Pivot, chọn Tables, sau đó chọn kiểu bảng cần thiết để phân tích.
  • Đặc biệt, trong CHARTS, Excel 2013 sẽ tự động đề nghị một kiểu biểu đồ tương ứng với dữ liệu được chọn.
Sau khi chọn được loại biểu đồ cần thiết, tiếp tục với việc đi sâu vào vẽ biểu đồ. Biểu đồ sẽ thay đổi ngay tức thời khi chuỗi dữ liệu được thay đổi hoặc dữ liệu được thêm mới

Excel không có tính năng “đồng tác giả”

Không như Google Docs, Excel 2013 vẫn chưa có chức năng “đồng tác giả” như đã đề cập ở Word 2013. Điều cần thiết sắp tới là Microsoft phải bổ sung chức năng này, nếu như vẫn còn muốn chạy đua với Google Docs.

Để “chữa cháy” trong thời điểm này, Excel 2013 chỉ cho phép chia sẻ tập tin này qua Cloud (SkyDrive,SharePoint…) dưới dạng Chỉ đọc (Read-Only). Người khác chỉ cần vào và sao chép tập tin này về rồi chỉnh sửa.

Còn rất nhiều tính năng mới của Excel đang chờ người dùng khám phá.

H.Q.T

 

Xem phần 1

Xem phần 3

Microsoft Office 2013 ra mắt

Mang phong cách của Windows 8, nhiều tính năng mới và hỗ trợ cảm ứng, bộ ứng dụng văn phòng Office 2013 của Microsoft đã có màn trình diễn ấn tượng trong buổi ra mắt người dùng.

Office 2013 (hay còn gọi là Office 15) có thiết kế trực quan, hỗ trợ cá máy tính cá nhân lẫn máy tính bảng dùng Windows 7 và Windows 8. Phiên bản này không hỗ trợ Windows XP hay Vista.

Nhiều cải tiến trong Microsoft Office 2013 – Ảnh: Microsoft
Gói Office mới cũng đi kèm với phần mềm hội thoại Internet (VoIP) Skype. Người dùng sẽ được tặng 60 phút gọi toàn cầu mỗi tháng.

Thay đổi lớn nhất của Office 2013 chính là sự kết hợp chặt chẽ với dịch vụ lưu trữ đám mây SkyDrive. Văn bản của người dùng có thể được lưu trữ an toàn mà không lo sợ rủi ro mất mát dữ liệu. Đồng thời, người dùng có thể truy cập vào tài liệu của mình trên nhiều thiết bị khác nhau thông qua tính năng đồng bộ của SkyDrive.

Ngoài ra, với việc “đám mây” hóa Office 2013, bộ ứng dụng văn phòng này sẽ luôn được cập nhật, mang tính xã hội cao và được thiết kế sao cho thuận tiện nhất cho việc ghi chép trong các buổi họp nhóm, hội nghị.

Khung tài khoản hiển thị tất cả các dịch vụ bao gồm của Microsoft và các hãng khác như Flickr, YouTube và LinkedIn kết nối đến Office – Ảnh: InfoWorld
Người dùng có thể chèn nhanh ảnh từ dịch vụ lưu trữ ảnh Yahoo! Flickr hay Microsoft SkyDrive vào văn bản Word khi soạn thảo
Office 2013 có giao diện Metro theo phong cách Windows 8
Bạn có thể tải về bản dùng thử Office 2013 tại đây. Phiên bản này không dành cho Windows XP và Windows Vista.

“Microsoft đang có những bước tiến vững vàng. Phiên bản Office mới, hiện đại sẽ đưa đến tính năng suất mà vẫn giữ nguyên độ linh hoạt tuyệt vời cho không chỉ khách hàng cá nhân mà cả khách hàng doanh nghiệp. Đây là một dịch vụ đám mây, và dịch vụ này sẽ thực sự tỏa sáng khi kết hợp cùng Windows 8”, Steve Ballmer – CEO của Microsoft – đã chia sẻ trong phiên họp báo giới thiệu sản phẩm tại San Francisco ngày 16-7.

Ngoài việc kết hợp với Skydrive, Office 2013 còn hỗ trợ chuyển sang chế độ cảm ứng cho những thiết bị lai giữa laptop và máy tính bảng. Người dùng có thể lướt nhẹ ngón tay trên màn hình hoặc kéo hay thay đổi kích cỡ để đọc các văn bản và thuyết trình.

Video giới thiệu về Office 2013. Nguồn: Youtube
Video giới thiệu về Office 2013. Nguồn: Youtube

Người dùng cũng có thể soạn thảo văn trực tiếp bằng cách viết tay với bút điện tử (Stylus). Office 2013 sẽ chuyển đổi những gì bạn viết sang kí tự (text) và bảng biểu.

DUY NGUYỄN [TTO]

QUÂN HÀM, QUÂN HIỆU QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

Xem lại các phần trước:

Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa – Kỳ 12: Chiếm hữu bằng vũ lực là bất hợp pháp

 

Kể từ 1885, luật pháp quốc tế về vấn đề thụ đắc lãnh thổ đã thay đổi sâu sắc. Đối với các đất vô chủ terres res nullius, đó là việc chiếm hữu thực sự, không gián đoạn và thường xuyên mà sự không liên tục tương đối lớn có thể được châm chước nếu có phù hợp với việc duy trì quyền có thông báo việc chiếm cứ đó cho các cường quốc khác thông qua con đường ngoại giao. Một danh nghĩa đã từng được thiết lập có thể mất đi nếu quốc gia sở hữu danh nghĩa này nhường lại cho quốc gia khác hoặc bằng con đường chuyển nhượng hoặc bằng con đường thụ đắc theo thời hiệu.

>> Kỳ 11: Chiếm hữu đúng luật

 
An Nam Đại quốc họa đồBản đồ Việt Nam trong cuốn Từ điển La tinh – Việt Nam của giám mục Jean Louis Taberd xuất bản năm 1838 vẽ một phần của “Paracel hay Cát Vàng” (Paracel seu Cát Vàng) vào khu vực quần đảo Hoàng Sa hiện nay. (nguồn: Cục Thông tin đối ngoại – Bộ Thông tin-Truyền thông)

Trong trường hợp thứ nhất, một hiệp ước phải được ký kết để ghi nhận sự chuyển giao quyền lực. Trong trường hợp thứ hai, cơ chế thụ đắc theo thời hiệu đòi hỏi hai điều kiện đồng thời.

– Quốc gia danh nghĩa từ bỏ danh nghĩa của họ và lãnh thổ trở thành lãnh thổ bị từ bỏ dereclictio.

– Quốc gia cạnh tranh thực thi việc chiếm hữu lãnh thổ yêu sách, mà việc này có thể được coi như giá trị và áp đặt cho quốc gia thứ ba phù hợp với các điều kiện được yêu cầu. Đó là một sự “củng cố bởi tác động của thời gian” – thuật ngữ mà Ch.de Visscher sử dụng – khi tiến hành thực thi chủ quyền thực sự, công khai, liên tục và hòa bình. Thụ đắc theo thời hiệu không có gì khác hơn trong trường hợp này – như Ch.Rousseau từng chỉ ra – là một nhãn hiệu nhằm che đậy việc chiếm hữu bị giảm giá vì không đúng luật [1].

Thụ đắc theo thời hiệu gần như lúc nào cũng là cơ sở cho một hành vi vi phạm [2]. Do vậy, để minh chứng danh nghĩa thụ đắc theo thời hiệu, bên chiếm cứ thứ hai phải thể hiện được một sự quản lý hòa bình, có hiệu lực và không có lỗ hổng nào về chủ quyền lãnh thổ trước sự thờ ơ nghiêm trọng của bên chiếm cứ đầu tiên.

Luật quốc tế cổ điển không ngăn ngừa việc sử dụng vũ lực để chinh phục một lãnh thổ. Tuy nhiên, hình thức thụ đắc này yêu cầu ký kết một hiệp ước hòa bình. Trong đầu thế kỷ XX, những toan tính đầu tiên nhằm hạn chế việc sử dụng vũ lực trong các quan hệ quốc tế đã được ghi nhận với học thuyết Drago (1902 – 1907). Cuối cùng, bước quyết định theo hướng cấm sử dụng vũ lực đã được thực hiện bằng việc thông qua Hiệp ước Paris ngày 26.8.1928 (Pacte Briand-Kellogg).

Từ đó trở đi, quy tắc truyền thống sử dụng vũ lực đã bị lên án. Ý tưởng này đã được khẳng định lại trong Điều 2, Khoản 4 Hiến chương LHQ:

“Các nước thành viên của tổ chức kiềm chế, trong quan hệ quốc tế của họ, đe dọa vũ lực hoặc sử dụng vũ lực, chống lại sự vẹn toàn lãnh thổ hoặc độc lập chính trị của tất cả các quốc gia, hoặc mọi cách khác không phù hợp với mục tiêu của LHQ”.

Nguyên tắc này đã được phát triển và củng cố trong NQ 2625 (XXV) của Đại hội đồng LHQ ngày 24.10.1970 (Tuyên ngôn về các nguyên tắc của luật pháp đề cập các quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương LHQ):

“Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự chiếm đóng quân sự, kết quả của việc sử dụng vũ lực trái với các điều khoản của Hiến chương LHQ. Lãnh thổ của một quốc gia không thể là một đối tượng thụ đắc bởi một quốc gia khác do đe dọa sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực. Bất kỳ sự thụ đắc lãnh thổ nào bằng sự đe dọa sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực đều là bất hợp pháp”.

Hiến chương LHQ và các nghị quyết của Đại hội đồng LHQ cũng lên án mọi sự đe dọa sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực như một phương tiện để giải quyết các tranh chấp quốc tế, trong đó có tranh chấp lãnh thổ. Các nước thành viên LHQ phải giải quyết “Các tranh chấp quốc tế của họ bằng phương pháp hòa bình, sao cho hòa bình và an ninh quốc tế cũng như pháp lý không bị đe dọa” [3].

TS Nguyễn Hồng Thao

[1] Ch.Rousseau, Công pháp quốc tế, Sirey, 1977, t. III, tr 183.

[2] Fauchille, Giáo trình công pháp quốc tế, Paris, 1925, t. I, tr. 785.

[3] Hiến chương LHQ, Điều 2, Khoản 3.

>> Kỳ 13: Đặt dấu mốc 1909: Quá muộn!

Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa – Kỳ 6: Những luận cứ chủ quyền không vững chắc

– Sự kiện  thứ ba: Ngô Thăng, phó tướng thủy sư Quảng Đông đã thực hiện việc  tuần biển vào khoảng các năm 49 và 51 đời nhà Thanh (1710 – 1712). “Tự Quỳnh Thôi, lịch Đồng Cổ, kinh Thất Châu Dương, Tứ Canh Sa, Châu Tào tam  thiên  lý, Cung  tự tuần thị (từ Quỳnh Nhai, qua Đồng Cổ, qua Thất Châu Dương, Tứ Canh  Sa,  vòng  quanh  ba  ngàn  dặm,  đích thân đi tuần tra xem xét). Gọi Thất Châu Dương ở đây tức quần đảo Tây Sa ngày nay, lúc bấy giờ do hải quân Quảng Đông phụ trách đi tuần”.

>> Kỳ 5: Độ chênh của lịch sử trong Sách trắng Trung Quốc

Việc nghiên cứu nghiêm túc lại cho ta một sự  thật khác hẳn. Những địa danh nêu trong đoạn trích trên đều nằm xung quanh  đảo Hải Nam, theo các tác giả VN ([1]) :

–  Quỳnh Nhai, tức “Đạo binh bị Quỳnh  Nhai” (Đảo Hải Nam) đời Thanh, sở tại Quỳnh Sơn gần thị trấn Hải Khấu ngày nay, phía bắc đảo Hải Nam.

– Đồng Cổ ở mỏm đông bắc đảo Hải Nam

– Thất Châu Dương  là vùng biển có bảy hòn đảo gọi là Thất Châu nằm ở phía đông đảo Hải Nam.

– Tứ Canh Sa là bãi cát ở phía tây đảo Hải Nam.


Các chuyến đi của Trịnh Hòa (1405-1443) không được Sách trắng của Bộ Ngoại giao TQ nhắc đến – Ảnh tư liệu

Các địa danh  trên đều được  tìm  thấy trên các hải đồ TQ. Trong hải đồ N 5012 tỷ lệ 1/500.000 do hải quân TQ  xuất bản bằng tiếng TQ  và  tiếng VN  tháng  5.1956  có  tiêu đề: “Vùng  phụ  cận  Lôi Châu  và  đảo Hải Nam”,  và các bản đồ “Bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam”, và Nam Hải địa  hình  đo, tỷ  lệ  1/300.000.000 do  Nhà xuất  bản  địa  đồ TQ  xuất  bản  tháng  5.1984,  có  nhóm  đảo có tên Thất Châu Đảo và vùng biển  xung  quanh các đảo nhỏ đó ở phía đông nam của  đảo  Hải  Nam  được  gọi  tên  đúng  là Thất  Châu Dương. Rõ ràng tên này không được dùng để chỉ toàn bộ biển phía Nam Trung Hoa. Ngoài  ra, trong cuốn Quảng  Đông  dư  địa  đồ thuyết in năm  1909, Lý Hàn  Chung đã nói về các cuộc tuần biển của hải quân Quảng Đông như sau:

“Biên giới  trên biển ngày nay  lấy phía Nam đảo Hải  Nam  làm  giới  hạn,  bên  ngoài  là  Thất  Châu Dương, Đô  đốc  thuỷ  quân Quảng Đông  đi  tuần  đến đó là quay về”.

Ở  đây một  lần  nữa,  chúng  ta  không  thấy  bất  kỳ một ghi chép chính xác nào về các đảo Paracel dưới tên gọi Tây Sa.

Hơn  nữa,  các  hành  vi  quản  lý  mà  TQ viện dẫn, nếu đúng, chỉ  liên quan tới các đảo Tây Sa mà  không  nhắc  gì  đến  các  đảo  Nam  Sa.  Đối  với Spratly, TQ chỉ nêu ra được  sự kiện  năm 1883  khi  tàu  nghiên  cứu  của  Đức  tiến  hành các nghiên cứu  khoa  học  tại  quần  đảo  Nam  Sa,  chính quyền Quảng Đông đã phản  đối  (theo  Heinzig,  sự kiện này  liên quan Tây Sa hơn là tới Nam Sa). Việc phía TQ thiếu một  danh  nghĩa  chiếm hữu của Nhà nước được xác lập một cách vững chắc và từ lâu đời làm cho việc phản đối ngoại giao dựa trên cơ sở quyền thụ  đắc  theo  thời  hiệu  để  ngăn chặn một hành động như vậy không  còn  giá  trị. Đúng  hơn  nó chỉ được coi như một  tham vọng chủ quyền mà thôi.

Để chứng minh cho lập luận của họ, các tác giả TQ  viện dẫn tới cả các chuyến đi của Thái giám Trịnh  Hòa  trong thời gian từ 1405 đến 1433 qua các đảo này. Tuy nhiên các chuyến đi này không được Sách trắng của Bộ Ngoại giao TQ nhắc đến. Các chuyến đi của Trịnh Hòa tới Java, Ấn Độ và bờ biển Phi châu chỉ có giá trị tạo uy danh cho triều Minh ([2]) và Trịnh Hòa cũng không đưa ra một yêu sách  tạo lập danh nghĩa chiếm hữu  các đảo nào thay mặt thiên triều TQ. ([3])

Các thí dụ kể trên chỉ  tạo  ra sự nhận biết về các đảo, đúng hơn là một số đảo. Nếu các đảo trong biển Đông được các thủy thủ và ngư dân TQ biết tới là điều không phải bàn cãi thì việc khẳng định chủ quyền  TQ trên  các  quần  đảo  này  thật  khó thuyết  phục.  Trong  các  sách  và  văn  kiện do TQ trích dẫn, không có một ghi chép nào về quyền phát hiện hoặc sự củng cố một danh nghĩa chiếm hữu các  đảo  này, và về  thực chất không  thể hiện ý định thực  thi chủ quyền tại đó của họ.

Các  sự kiện kể  trên diễn  ra với khoảng thời gian cách quãng  200-500  năm. Điều  đó  rõ  ràng  làm yếu thêm lập luận của TQ, theo đó các Hoàng đế Trung Hoa đã quản  lý các đảo này  từ hai nghìn năm nay một cách liên tục và không ngắt quãng.

Để chứng minh chủ quyền, cần phải cung cấp các bằng  chứng  liên  quan  trực  tiếp  tới  việc  chiếm  hữu. D.L Bennett, luật gia Mỹ, nhận xét:

“Nếu các đảo hoặc không được quản lý bởi một chính phủ hoặc không được thăm viếng bởi các nhân viên nhà nước, vấn đề đặt ra  là liệu những cuộc tiếp xúc riêng rẽ bởi các ngư dân tư nhân TQ có đủ  để  thiết  lập  chủ  quyền trên  Spratly  theo  luật quốc  tế  không. Vì  vậy  giá  trị  của  lập  trường  chính thức của TQ là đáng nghi ngại”. ([4])

TS Nguyễn Hồng Thao

[1] Vũ Phi Hoàng, Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lãnh thổ Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, tr. 88;  Nguyễn Quang Ngọc, Sđd.

[2] BBC, ngày 27 tháng 11 năm 2008

[3] Năm 2005 Trung Quốc tuyên  truyền nhiều về Trịnh Hòa, tổ chức thi  “Nhịp cầu Hán ngữ” kỷ niệm các chuyến đi  của ông, gọi ông  là nhà hàng hải  vĩ  đại ngang  tầm Colombo  nhằm mục đích  gắn chuyến  đi  của Trịnh Hòa với quyền phát hiện. 

[4] D.L Benne, “Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và việc sử dụng luật pháp quốc  tế  trong  vụ  tranh  chấp  các  đảo  Spratleys”,  Stanford  Journal  of International Law, quyển 28 (1991-1992), tr. 435.

>> Kỳ 7: Tư liệu phía Việt Nam

50 CÂU NÓI NỔI TIẾNG NHẤT CỦA BÁC HỒ (10/50)

1. Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán hai chữ “cộng sản” là ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước. Đồng chí ta nhiều người đã làm được, nhưng vẫn có những người hủ hóa. Đảng có trách nhiệm gột rửa cho những đồng chí đó.

2. Cách dạy trẻ: cần làm cho chúng biết yêu Tổ quốc, thương đồng bào, yêu lao động, biết vệ sinh, giữ kỷ luật, học văn hóa. Đồng thời phải giữ toàn vẹn tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung của chúng, chớ làm cho chúng trở nên già cả.”
…….

3. Ưu điểm của thanh niên ta là hăng hái, giàu tinh thần xung phong. Khuyết điểm là ham chuộng hình thức, thiếu thực tế, bệnh cá nhân, bệnh anh hùng. Rất mong toàn thể thanh niên ta ra sức phát triển những ưu điểm và tẩy sạch những khuyết điểm ấy. Huy hiệu của thanh niên ta là “tay cầm cờ đỏ sao vàng tiến lên”. Ý nghĩa của nó là: phải xung phong làm gương mẫu trong công tác, trong học hỏi, trong tiến bộ, trong đạo đức cách mạng. Thanh niên phải thành một lực lượng to lớn và vững chắc trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Đồng thời phải vui vẻ, hoạt bát. Bác mong mỗi cháu và toàn thề các cháu nam nữ thanh niên cố gắng làm tṛn nhiệm vụ, để xứng đáng với cái huy hiệu tươi đẹp và vẻ vang ấy.

4. Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, phụ nữ vô cùng đảm đang, đă đóng góp rất nhiều trong chiến đấu và sản xuất. Đảng, Chính phủ cần có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng thêm nhiều phụ nữ phụ trách nhiều công việc kể cả lănh đạo. Phụ nữ phải phấn đấu vươn lên, đây là thực sự là một cuộc cách mạng.

5. Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân.

6. Ví không có cảnh đông tàn/ Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân/ Nghĩ mình trong bước gian truân/ Tai ương rèn luyện, tinh thần thêm hăng.

7. Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề quan hệ tới đời sống của dân, dầu khó đến đâu. Hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân phải được đặc biệt chú ý…

8.Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước.

9. Nước Việt Nam là một. Dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi.

10. Viết để nêu những cái hay, cái tốt của dân tộc ta, của bộ đội ta, của cán bộ ta, của bạn bè ta. Đồng thời viết để phê bình những khuyết điểm của chúng ta, của cán bộ, của nhân dân, của bộ đội. Không nên chỉ viết về cái tốt mà giấu cái xấu. Nhưng phê bình phải đúng đắn, nêu cái hay, cái tốt phải có chừng mực, chớ có phóng đại. Có thế nào, nói thế ấy.

(Bài nói chuyện với cán bộ báo chí, 17-8-1952
Hồ Chí Minh toàn tập)
—————————————-
Bài do thành viên Trương Đình Thông cung cấp

Nguồn: HỘI NHỮNG NGƯỜI GHÉT BỌN PHẢN ĐỘNG

Kỳ 1 – Cuộc tranh chấp phức tạp

Tranh  chấp  chủ  quyền  trên  hai  quần  đảo Paracels và Spratlys  (Hoàng Sa và Trường Sa  theo tên  gọi VN, Tây  Sa  và Nam  Sa  theo  tên  gọi Trung Quốc) nằm giữa biển Đông đã  tồn  tại từ  trăm năm nay. Đó  là những  tranh chấp  lâu đời nhất giữa nhiều nước cùng  yêu  sách  chủ quyền trên các đảo, một cuộc tranh chấp kéo dài cho đến tận ngày hôm nay mà chưa đạt được bất kỳ một giải pháp pháp lý bền vững  nào.


Đảo Trường Sa Lớn – Ảnh: Đỗ Hùng

Nó còn phức tạp hơn với nghĩa là tranh chấp lúc thì bùng lên gay gắt, lúc lại lắng xuống với những thay đổi phức tạp từ phía các bên có can dự trực tiếpvào cuộc tranh chấp. Lúc đầu, cuộc tranh chấp chỉ  liên quan trực tiếp đến các đảo. Do vị  trí địa  lý, các đảo này cho phép quốc  gia  ven  biển chiếm hữu  chúng không chỉ quyền kiểm soát thông thương hàng hóa trong  biển Đông mà  còn quyền sử dụng chúng như các căn cứ hải quân ban đầu nhằm mục đích quốc phòng.

Cuộc đua tranh có quy mô và sắc thái khác từ sự phát triển  nhanh chóng  gần đây của Luật  Biển quốc tế  và khả năng phát  hiện  được những mỏ dầu có thể khai thác được nằm dưới đáy biển của hai quần đảo. Công ước của Liên Hiệp Quốc về  Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 có hiệu lực từ năm 1994 cho phép  các quốc gia ven biển có quyền mở  rộng lãnh hải 12 hải  lý, vùng đặc quyền kinh  tế 200 hải  lý và thềm lục địa.

Sự phát triển của luật biển quốc tế đem lại nhiều lợi ích cho quốc gia ven biển như khả năng khai thác các tài nguyên thiên nhiên từ  biển: dầu mỏ, nguồn lợi  thủy sản, khoáng sản, nhưng cũng làm nảy sinh vấn đề phân định vùng biển và thềm lục địa giữa các quốc gia có vùng biển chồng lấn. Giải quyết vấn đề phân định biển luôn gắn  liền  với vấn đề tranh chấp lãnh thổ, đảo.

Theo quy định của UNCLOS 1982,  các đảo, đá  hoặc có  thể  có  vùng  lãnh  hải  12  hải  lý,  vùng  đặc  quyền kinh  tế 200 hải  lý và  thềm  lục địa hoặc chỉ có vùng lãnh hải 12 hải  lý, căn cứ vào một số điều kiện nhất định.

Việc  Công  ước  quy  định  không  rõ  ràng  như vậy  càng  làm  tình  hình  tranh  chấp  chủ  quyền  trên hai quần đảo thêm phức tạp. Nếu các đảo  thuộc hai quần đảo có quyền  có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa  riêng, thì với vị  trí nằm giữa biển, hai quần đảo sẽ đem lại cho quốc gia sở hữu quyền kiểm soát hầu hết biển Đông.

Nó cũng đưa đến bức tranh chồng lấn yêu  sách của các  nước trong biển Đông đòi hỏi phải giải quyết. Nếu các đảo  thuộc hai quần đảo chỉ có quyền có  lãnh hải 12 hải  lý  thì vùng biển của  các quần đảo  này sẽ không chồng lấn  lên  thềm lục  địa và vùng đặc  quyền kinh tế của các nước, giảm bớt tranh chấp.

Trên  thực  tế,  tranh  chấp  phức tạp  thêm chính  là do nguyện vọng của các quốc gia ven biển muốn cho một số đảo, đá, bãi ngầm ngoài khơi không có người ở này được hưởng quy chế pháp  lý đầy đủ  của một đảo. Đúng là luật biển quốc tế mới cho phép các quốc gia ven biển được yêu sách một vùng thềm lục địa và một vùng đặc quyền về kinh tế rộng hai  trăm hải  lý xung quanh các đảo nổi thường xuyên  khi  thủy  triều  lên.  Nhưng  thực tế vẫn có các đảo không thích hợp cho con người đến ở hoặc  cho một  đời  sống  kinh  tế  riêng  có  thể  đòi  hỏi cùng một  quy  chế  như  trên ([1]).  Luật  biển  hiện  đại  đó làm tăng thêm giá trị địa chiến lược của hai quần đảo và  các  bên  tranh  chấp  chính  là  về  vai  trò  địa  chiến lược mới đó của hai quần đảo.

Các  tranh chấp  trên biển Đông, ngoài ý nghĩa về chủ quyền lãnh thổ, lợi ích chiến lược còn  là  quyền sở hữu và khai thác tài  nguyên,  đặc biệt  là  tài  nguyên dầu mỏ. Tranh chấp chủ quyền các đảo và vùng biển không dễ dàng được  giải  quyết  vì  liên  quan  không  chỉ  yếu  tố  luật pháp mà còn cả về lịch sử, ý chí dân tộc và kinh tế.

Mục tiêu của cuộc tranh chấp dai dẳng giờ đây không chỉ là các đảo chính mà chính là các vùng biển rộng lớn bao quanh chúng nhằm kiểm soát được toàn bộ hoặc chỉ một phần biển này. Hoàng Sa, Trường Sa do CHXHCN Việt Nam xác lập chủ quyền; CHND Trung Hoa, lãnh thổ Đài Loan cùng yêu cầu tương tự. Riêng Trường Sa, Philippines chỉ  vào cuộc từ năm 1956, Malaysia từ năm 1979 và Brunei yêu sách một phần nhỏ từ năm 1993.

TS Nguyễn Hồng Thao

[1] Xem Điều 121, Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr. 94.

Kỳ 2: Sức ép và phản ứng

Nguồn: http://www.thanhnien.com.vn/pages/20110802/luat-quoc-te-va-chu-quyen-tren-hai-quan-dao-hoang-sa-truong-sa.aspx