Tag Archive:


* Định nghĩa cái chết

Cười nhiều quá đau bụng chết gọi là Hài Tử.

Già mà chết gọi là Lão Tử.

Trượt trên thảm chùi chân chết gọi là Thảm Tử.

Sét đánh chết gọi là Lôi Chấn Tử.

Chết khi đi tiểu gọi là Tiểu Tử.

Chết vì táo bón gọi là Tắc Tử.

Ngu quá chết gọi là Ngốc Tử.

Trời nắng nóng quá mà chết gọi là Thiên Tử.

Xuất tinh quá độ mà chết gọi là Tinh Tử.

Chết lúc tắm tiên với mấy em gái gọi là Đào Hoa Tiên Tử.

Chết ở Thái Lan gọi là Thái Tử.

Chơi Đột Kích quá độ mà chết gọi là Đột Tử.

Chết vì gái gọi là Nữ Tử.

Chết vì tiền gọi là Tài Tử.

Trúng độc mà chết gọi là Độc Tử.

Trúng độc đắc hụt tức quá đập đầu vô cột cờ chết gọi là Bất Đắc Kỳ Tử.

Đẻ ra bị lão hoá chết gọi là Sinh Lão Bệnh Tử.

Đi thám hiểm chết gọi là Thám Tử.

Ăn tới chết gọi là Thực Tử.

Chết trên ruộng gọi là Đồng Tử.

Chết trong đống cứt gọi là Phân Tử.

Trời lạnh mặc đồ mỏng quá chết gọi là Hàn Mặc Tử.

Chết khi giao phối gọi là Hợp Tử.

Ham sinh con làm quá teo của quý chết gọi là Tham Sinh Quý Tử.

Người hầu chết gọi là Hầu Tử.

Xấu hổ mà chết gọi là Hổ Tử.

Bị cục vàng rớt bể đầu chết gọi là Hoàng Tử.

Ngồi thiền nhầm lên đống kim bị đâm báy đít chết gọi là Kim Thiền Tử.

Định nghĩa sự đẻ:

Đẻ trong chùa gọi là Tự Sinh.

Đẻ trong trường học gọi là Trường Sinh.

Đẻ trong giờ học gọi là Học Sinh.

Đẻ một mình gọi là Cô Sinh.

Đẻ trước cửa gọi là Môn Sinh.

Đẻ trước gọi là Tiên Sinh.

Đẻ qua hậu môn gọi là Hậu Sinh.

Đẻ mướn gọi là Hộ Sinh.

Bảo vệ đỡ đẻ gọi là Vệ Sinh.

Bảo vệ đỡ đẻ trong phòng gọi là Phòng Vệ Sinh.

Bảo vệ đỡ đẻ tại nhà gọi là Nhà Vệ Sinh.

Băng ghi hình bảo vệ đỡ đẻ gọi là Băng Vệ Sinh.

Đẻ khi đang súc miệng gọi là Súc Sinh.

Đẻ trong lỗ chó gọi là Chó Sinh.

Đẻ trong bồn cầu gọi là Cầu Sinh.

Đẻ không ra gọi là Vô Sinh.

Đẻ ra tinh trùng gọi là Trùng Sinh.

Đẻ lúc đang ăn phở tái gọi là Tái Sinh.

Đẻ từng đợt gọi là Hồi Sinh.

Đẻ kiểu cũ gọi là Cổ Sinh.

Đẻ nguyên con gọi là Nguyên Sinh.

Đẻ giữa đường gọi là Trung Sinh.

Đẻ lúc đang mua nước tương gọi là Tương Sinh.

Đẻ cùng một lượt gọi là Cộng Sinh.

Đẻ trong đống cứt gọi là Phân Sinh.

Đẻ sau song sắt nhà tù gọi là Song Sinh.

Ma-sơ đi đẻ gọi là Sơ Sinh.

Vừa cười hi hi vừa đẻ gọi là Hi Sinh.

Tính toán thời gian đẻ cho hợp lý gọi là Toán Lý Hoá Sinh

 

Source: sưu tầm

Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa – Kỳ 6: Những luận cứ chủ quyền không vững chắc

– Sự kiện  thứ ba: Ngô Thăng, phó tướng thủy sư Quảng Đông đã thực hiện việc  tuần biển vào khoảng các năm 49 và 51 đời nhà Thanh (1710 – 1712). “Tự Quỳnh Thôi, lịch Đồng Cổ, kinh Thất Châu Dương, Tứ Canh Sa, Châu Tào tam  thiên  lý, Cung  tự tuần thị (từ Quỳnh Nhai, qua Đồng Cổ, qua Thất Châu Dương, Tứ Canh  Sa,  vòng  quanh  ba  ngàn  dặm,  đích thân đi tuần tra xem xét). Gọi Thất Châu Dương ở đây tức quần đảo Tây Sa ngày nay, lúc bấy giờ do hải quân Quảng Đông phụ trách đi tuần”.

>> Kỳ 5: Độ chênh của lịch sử trong Sách trắng Trung Quốc

Việc nghiên cứu nghiêm túc lại cho ta một sự  thật khác hẳn. Những địa danh nêu trong đoạn trích trên đều nằm xung quanh  đảo Hải Nam, theo các tác giả VN ([1]) :

–  Quỳnh Nhai, tức “Đạo binh bị Quỳnh  Nhai” (Đảo Hải Nam) đời Thanh, sở tại Quỳnh Sơn gần thị trấn Hải Khấu ngày nay, phía bắc đảo Hải Nam.

– Đồng Cổ ở mỏm đông bắc đảo Hải Nam

– Thất Châu Dương  là vùng biển có bảy hòn đảo gọi là Thất Châu nằm ở phía đông đảo Hải Nam.

– Tứ Canh Sa là bãi cát ở phía tây đảo Hải Nam.


Các chuyến đi của Trịnh Hòa (1405-1443) không được Sách trắng của Bộ Ngoại giao TQ nhắc đến – Ảnh tư liệu

Các địa danh  trên đều được  tìm  thấy trên các hải đồ TQ. Trong hải đồ N 5012 tỷ lệ 1/500.000 do hải quân TQ  xuất bản bằng tiếng TQ  và  tiếng VN  tháng  5.1956  có  tiêu đề: “Vùng  phụ  cận  Lôi Châu  và  đảo Hải Nam”,  và các bản đồ “Bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam”, và Nam Hải địa  hình  đo, tỷ  lệ  1/300.000.000 do  Nhà xuất  bản  địa  đồ TQ  xuất  bản  tháng  5.1984,  có  nhóm  đảo có tên Thất Châu Đảo và vùng biển  xung  quanh các đảo nhỏ đó ở phía đông nam của  đảo  Hải  Nam  được  gọi  tên  đúng  là Thất  Châu Dương. Rõ ràng tên này không được dùng để chỉ toàn bộ biển phía Nam Trung Hoa. Ngoài  ra, trong cuốn Quảng  Đông  dư  địa  đồ thuyết in năm  1909, Lý Hàn  Chung đã nói về các cuộc tuần biển của hải quân Quảng Đông như sau:

“Biên giới  trên biển ngày nay  lấy phía Nam đảo Hải  Nam  làm  giới  hạn,  bên  ngoài  là  Thất  Châu Dương, Đô  đốc  thuỷ  quân Quảng Đông  đi  tuần  đến đó là quay về”.

Ở  đây một  lần  nữa,  chúng  ta  không  thấy  bất  kỳ một ghi chép chính xác nào về các đảo Paracel dưới tên gọi Tây Sa.

Hơn  nữa,  các  hành  vi  quản  lý  mà  TQ viện dẫn, nếu đúng, chỉ  liên quan tới các đảo Tây Sa mà  không  nhắc  gì  đến  các  đảo  Nam  Sa.  Đối  với Spratly, TQ chỉ nêu ra được  sự kiện  năm 1883  khi  tàu  nghiên  cứu  của  Đức  tiến  hành các nghiên cứu  khoa  học  tại  quần  đảo  Nam  Sa,  chính quyền Quảng Đông đã phản  đối  (theo  Heinzig,  sự kiện này  liên quan Tây Sa hơn là tới Nam Sa). Việc phía TQ thiếu một  danh  nghĩa  chiếm hữu của Nhà nước được xác lập một cách vững chắc và từ lâu đời làm cho việc phản đối ngoại giao dựa trên cơ sở quyền thụ  đắc  theo  thời  hiệu  để  ngăn chặn một hành động như vậy không  còn  giá  trị. Đúng  hơn  nó chỉ được coi như một  tham vọng chủ quyền mà thôi.

Để chứng minh cho lập luận của họ, các tác giả TQ  viện dẫn tới cả các chuyến đi của Thái giám Trịnh  Hòa  trong thời gian từ 1405 đến 1433 qua các đảo này. Tuy nhiên các chuyến đi này không được Sách trắng của Bộ Ngoại giao TQ nhắc đến. Các chuyến đi của Trịnh Hòa tới Java, Ấn Độ và bờ biển Phi châu chỉ có giá trị tạo uy danh cho triều Minh ([2]) và Trịnh Hòa cũng không đưa ra một yêu sách  tạo lập danh nghĩa chiếm hữu  các đảo nào thay mặt thiên triều TQ. ([3])

Các thí dụ kể trên chỉ  tạo  ra sự nhận biết về các đảo, đúng hơn là một số đảo. Nếu các đảo trong biển Đông được các thủy thủ và ngư dân TQ biết tới là điều không phải bàn cãi thì việc khẳng định chủ quyền  TQ trên  các  quần  đảo  này  thật  khó thuyết  phục.  Trong  các  sách  và  văn  kiện do TQ trích dẫn, không có một ghi chép nào về quyền phát hiện hoặc sự củng cố một danh nghĩa chiếm hữu các  đảo  này, và về  thực chất không  thể hiện ý định thực  thi chủ quyền tại đó của họ.

Các  sự kiện kể  trên diễn  ra với khoảng thời gian cách quãng  200-500  năm. Điều  đó  rõ  ràng  làm yếu thêm lập luận của TQ, theo đó các Hoàng đế Trung Hoa đã quản  lý các đảo này  từ hai nghìn năm nay một cách liên tục và không ngắt quãng.

Để chứng minh chủ quyền, cần phải cung cấp các bằng  chứng  liên  quan  trực  tiếp  tới  việc  chiếm  hữu. D.L Bennett, luật gia Mỹ, nhận xét:

“Nếu các đảo hoặc không được quản lý bởi một chính phủ hoặc không được thăm viếng bởi các nhân viên nhà nước, vấn đề đặt ra  là liệu những cuộc tiếp xúc riêng rẽ bởi các ngư dân tư nhân TQ có đủ  để  thiết  lập  chủ  quyền trên  Spratly  theo  luật quốc  tế  không. Vì  vậy  giá  trị  của  lập  trường  chính thức của TQ là đáng nghi ngại”. ([4])

TS Nguyễn Hồng Thao

[1] Vũ Phi Hoàng, Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lãnh thổ Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, tr. 88;  Nguyễn Quang Ngọc, Sđd.

[2] BBC, ngày 27 tháng 11 năm 2008

[3] Năm 2005 Trung Quốc tuyên  truyền nhiều về Trịnh Hòa, tổ chức thi  “Nhịp cầu Hán ngữ” kỷ niệm các chuyến đi  của ông, gọi ông  là nhà hàng hải  vĩ  đại ngang  tầm Colombo  nhằm mục đích  gắn chuyến  đi  của Trịnh Hòa với quyền phát hiện. 

[4] D.L Benne, “Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và việc sử dụng luật pháp quốc  tế  trong  vụ  tranh  chấp  các  đảo  Spratleys”,  Stanford  Journal  of International Law, quyển 28 (1991-1992), tr. 435.

>> Kỳ 7: Tư liệu phía Việt Nam

Written by: Tyler Siêu Nhân

 

Xin chào các bạn, do lý do cá nhân mà lâu rồi mình không có bài tutorial nào trên Việt Designer, hôm này xin gửi tới các bạn một tut cơ bản cách tạo hiệu ứng mưa, tuyết và tia lửa điện. Mình sẽ gộp cả 3 hiệu ứng này thành 1 bài viết vì thực ra nó cũng tương tự giống nhau thôi.

Một vài ví dụ cho 3 hiệu ứng (áp dụng cho các tác phẩm manip)

Hiệu ứng mưa

Cách tạo hiệu ứng mưa, tuyết và tia lửa điện trong Photoshop

Hiệu ứng tuyết

Cách tạo hiệu ứng mưa, tuyết và tia lửa điện trong Photoshop

Hiệu ứng tia lửa điện

Cách tạo hiệu ứng mưa, tuyết và tia lửa điện trong Photoshop

Bước 1: Tạo 1 file mới (Ctrl + N)

Ấn D để trả màu ở hộp màu về đen trắng, Fill màu đen (Alt + Backspace)

Cách tạo hiệu ứng mưa, tuyết và tia lửa điện trong Photoshop

Filter > Noise > Add Noise (thông số có thể tùy chỉnh theo ý các bạn).

Cách tạo hiệu ứng mưa, tuyết và tia lửa điện trong Photoshop

– Tạo hiệu ứng mưa rơi

1) Filter > Blur > Gaussian Blur (thông số còn tùy thuộc vào kick cỡ bức ảnh, nhưng chỉ dao động từ 0,1 đến 1px). 

Cách tạo hiệu ứng mưa, tuyết và tia lửa điện trong Photoshop

2) Filter > Blur > Motion Blur (thông số Distance càng cao thì mưa càng mỏng). 

Cách tạo hiệu ứng mưa, tuyết và tia lửa điện trong Photoshop

3) Tạo 1 file mới, đặt Brush khoảng 25px

Cách tạo hiệu ứng mưa, tuyết và tia lửa điện trong Photoshop

sử dụng Pen (P) vẽ 1 đường thẳng dọc từ trên xuống dưới như sau:

Cách tạo hiệu ứng mưa, tuyết và tia lửa điện trong Photoshop

Lưu lại theo định dạng brush

Cách tạo hiệu ứng mưa, tuyết và tia lửa điện trong Photoshop

Thiết lập brush, màu trắng và tô

Cách tạo hiệu ứng mưa, tuyết và tia lửa điện trong Photoshop

Cách tạo hiệu ứng mưa, tuyết và tia lửa điện trong Photoshop

– Tạo hiệu ứng tuyết

1) Filter > Blur > Gaussian Blur

Cách tạo hiệu ứng mưa, tuyết và tia lửa điện trong Photoshop

2) Filter > Blur > Motion Blur 

Cách tạo hiệu ứng mưa, tuyết và tia lửa điện trong Photoshop

– Tạo hiệu ứng tia lửa điện

Bước 1 và 2 giống như cách tạo hiệu ứng tuyết

3) Tạo 1 lớp Color Balance (Layer > New Adjustment Layer > Color Balance)

Cách tạo hiệu ứng mưa, tuyết và tia lửa điện trong Photoshop

Bước 2: Đến đây các bạn thấy hiệu ứng chưa hoàn chỉnh, đây mới là bước quan trọng để tạo nên hình ảnh hoàn chỉnh của các hiệu ứng

Tạo 1 Layer Level (Layer > New Adjustment Layer > Level) 

Cách tạo hiệu ứng mưa, tuyết và tia lửa điện trong Photoshop

Cách tạo hiệu ứng mưa, tuyết và tia lửa điện trong Photoshop

Bước 3: Vì vùng các bạn muốn lấy chỉ là vùng màu trắng, vì thế các bạn cần đặt hòa trộn để làm biến mất vùng màu đen, trong trường hợp này chúng ta sử dụng chức năng hòa trộn Screen, nếu hiệu ứng lem lên mod các bạn tạo Mask để xóa.

Cách tạo hiệu ứng mưa, tuyết và tia lửa điện trong Photoshop

Thử liền nha, hiệu ứng đơn giản nhưng lại rất hiệu quả :D

Source: Viet designer

Kỳ 4: “Bằng chứng khảo cổ” mập mờ và thiếu chính xác của Trung Quốc

 

Để củng cố lý lẽ về chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa, người TQ sử dụng cả các luận cứ về khảo cổ. Người TQ cho là đã tìm thấy vết tích tiền cổ và vật dụng cổ có từ thời Vương Mãng (năm thứ ba trước Công nguyên cho đến năm 23 sau Công nguyên) trên các quần đảo.

>> Kỳ 3: Sử liệu Trung Quốc nói gì?

Chang The-Kuang và S.Yeh viết rằng các đảo này có chứa “các tàn tích của khu dân cư, các vật dùng sành sứ, các dao sắt, các nồi gang và các vật dụng hằng ngày khác có niên đại từ thời Đường, Tống”. Báo cáo sơ bộ của chuyến khảo cổ học thứ hai trên quần đảo Tây Sa của tỉnh Quảng Đông ghi rằng “qua hai cuộc khảo sát, các nhà khảo cổ học đã khảo sát hầu hết các đảo, đá, bãi ngầm, các vũng của quần đảo Tây Sa và hầu như ở đâu họ cũng tìm thấy các đồ vật cổ và các lịch sử của quần đảo Tây Sa, bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc chúng ta từ ngàn đời nay”.

Vấn đề đặt ra ở đây là trong luật quốc tế không tồn tại một quy tắc nào cho phép tự quy thuộc chủ quyền cho một quốc gia trên một vùng đất mà tại đó các cổ vật thuộc nền văn minh của nước đó được tìm thấy. Các cổ vật này có thể thuộc các ngư dân TQ đi lại và bị đắm thuyền trong vùng biển này, cũng như có thể thuộc các ngư dân Philippines, Malaysia hoặc của các tàu thuyền Ả Rập, Bồ Đào Nha, Hà Lan bị trôi dạt mắc nạn vào đây. Không có gì chứng minh được rằng các ngư dân TQ là những người duy nhất có các hoạt động định cư thường xuyên trên các đảo không có nước ngọt này.

Trong khi đó, năm 2001, trong khuôn khổ dự án 10 năm điều tra cơ bản khảo cổ học Trường Sa – Tây Nguyên – Nam Bộ, các nhà khoa học Việt Nam đã khai quật và phát hiện nhiều di tích khảo cổ có giá trị trên quần đảo Trường Sa. Trên chứng chỉ khảo cổ học, các nhà sử học đã xác định được các cư dân người Việt sinh sống ở Trường Sa là rất sớm, chí ít cũng phải từ thời nhà Trần và liên tục định cư, sinh sống ở đây trong các giai đoạn thời kỳ sau. Qua các hiện vật thu được, dựa trên căn cứ sử học và văn hóa học, rất rõ ràng để nhận ra có một sợi dây liên kết chặt chẽ giữa cư dân trên đảo với cư dân đất liền từ thuở sơ khai đến nay. Có thể những cư dân đầu tiên Trường Sa là kết quả của các cuộc di dân, tìm đất mới thời cổ xưa. Hoặc là các ngư dân Việt đi biển ghé vào và ở lại lâu dài, khai phá đất đai, tạo lập cuộc sống mới.

 
Một trang trong cuốn Hải ngoại kỷ sự (1695) của Thích Đại Sán, một nhà sư Trung Quốc đời Khang Hy, thuật lại chuyến du hành tới xứ Đàng Trong, thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Đại Việt – Ảnh: biengioilanhtho.gov.vn

Chủ quyền quốc gia đã được luật quốc tế định nghĩa về mặt pháp lý. Trương Hồng Tăng và các tác giả TQ khác lập luận rằng: “Dưới thời nhà Tống, nhiều sách vở đã ghi nhận rằng những ngư dân TQ thường tới đây bắt cá và thu lượm san hô (…). Theo Chư phiên chí (ghi chép về các nước chư hầu) của Zhao Rushi (Triệu Nhữ Quát) sống dưới thời nhà Tống cách đây 700 – 800 năm, người TQ đã biết rằng các quần đảo Tây Sa và Nam Sa là những vùng nguy hiểm cho hàng hải (…). Vào thế kỷ trước, chỉ có người TQ đã sống và khai thác một cách liên tục các quần đảo Tây Sa và Nam Sa (…)”.

Sau khi đã nghiên cứu sâu sắc các tài liệu TQ, ông Heinzig, một luật gia Đức đã rút ra kết luận chỉ bắt đầu từ thời nhà Tống (960) người TQ mới có thể tiếp cận với quần đảo Paracels (Hoàng Sa). Còn về việc hiện diện của người TQ trong khu vực Spratlys (Trường Sa) không có gì ghi nhận trước 1867, thời điểm một tàu nghiên cứu Anh gặp những ngư dân TQ tới từ đảo Hải Nam. Theo Heinzig, chỉ từ khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất người TQ mới bắt đầu gọi quần đảo Spratlys là “Đoàn Sa Trung Đảo”. ([1])

Sự tiếp xúc riêng rẽ của những cư dân TQ cá thể đối với Paracels liệu có đủ để thiết lập chủ quyền TQ tại đó không theo luật quốc tế? Các tác giả TQ khẳng định rằng TQ phát hiện ra Tây Sa và Nam Sa cách nay 2.100 năm, vào thời Hán Vũ Đế. Đối với họ, theo luật quốc tế và tập quán quốc tế thời kỳ đó: “Chủ quyền thuộc về người phát hiện” (Who discovers the territory, holds its sovereignty), đó là ngư dân TQ, và vì vậy TQ phải có chủ quyền trên đó”.

So sánh với các tiêu chuẩn thụ đắc lãnh thổ, các ghi chép mà TQ viện dẫn không đủ chứng minh rằng quyền phát hiện đã được xác lập. Một đảo hoặc một quần đảo có thể là đối tượng nhận biết từ lâu đời của các nhà hàng hải, các ngư dân, các nhà địa lý… nhưng chúng vẫn chỉ được coi là lãnh thổ vô chủ

res nullius một khi quốc gia của họ chưa tiến hành một hành động nhà nước nào tại đó. Phan Thạch Anh cố chứng minh rằng vào thế kỷ XV, XVI chỉ cần quyền phát hiện là đủ để tạo nên quyền sở hữu đất vô chủ. Sở dĩ ông ta lập luận như vậy là để chứng minh rằng các hoạt động của tư nhân TQ là đủ để tạo ra quyền phát hiện ([2]). Thế nhưng các hoạt động tư nhân của các ngư dân TQ không thể mang lại hiệu lực pháp lý của “quyền phát hiện” và nó không thể được đánh đồng với quyền chiếm hữu.

Các bằng chứng của quyền phát hiện các đảo này như đã nêu trên rất mập mờ và thiếu chính xác. Chúng ta có thể đồng ý rằng các hoạt động của ngư dân có thể kéo theo sự chú ý và ý định của nhà nước trên lãnh thổ vô chủ. Tuy nhiên, yếu tố ý chí này không đủ khi còn thiếu yếu tố vật chất của các hoạt động nhà nước trên thực địa. Người TQ sẽ chứng minh như thế nào đòi hỏi này của luật quốc tế vào thời kỳ đó?

TS Nguyễn Hồng Thao

_________

[1] Theo Nguyễn Quang Ngọc, Sđd, tr 41. Trước khi Lý Chuẩn ra Hoàng Sa năm 1909, bản đồ TQ vẫn thể hiện đảo Hải Nam là cực nam lãnh thổ TQ. Năm 1928 trường Đại học Trung Sơn tổ chức điều tra quần đảo Tây Sa, được coi là mốc đánh dấu sự hiểu biết của người TQ về quần đảo Tây Sa. Tuy nhiên, cho đến năm 1934, bản đồ TQ vẫn chưa vượt quá quần đảo Tây Sa và đảo Triton, cực nam của quần đảo, ở sát phía dưới vĩ tuyến 16 được gọi là đảo cực nam với lời giải thích đảo là cột mốc đánh dấu lãnh thổ cực nam của TQ. Trong khoảng năm 1935-1936 địa danh Nam Sa và Đoàn Sa xuất hiện trên bản đồ TQ. Nam Sa được đặt tên cho bãi ngầm Maccelesfield Bank còn Đoàn Sa để chỉ Spratleys. Từ năm 1939 tên Nam Sa mới được dùng để chỉ Trường Sa của Việt Nam, tên Đoàn Sa mất đi, còn Maccelesfield Bank được đặt tên là Trung Sa.

[2] Phan Thạch Anh, The ptropolitics of the Nansha islands-China’s indisputable legal case, Beijing, December 1995.

>> Kỳ 5: Độ chênh của lịch sử trong Sách trắng Trung Quốc

Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa –

Kỳ 2: Sức ép và phản ứng

Trong  các thập  kỷ  gần  đây,  trong  quan  hệ  với VN, TQ đã hai lần sử dụng vũ lực để giành quyền chiếm hữu các đảo này, ngày 19.1.1974 tại Hoàng Sa và  ngày 14.3.1988  tại Trường Sa.

>> Kỳ 1: Cuộc tranh chấp phức tạp

Sau  các  biến  cố  trên, mặc  dù hai nước đã  bình thường hóa quan hệ năm 1991, song  tình  trạng căng thẳng  trên biển vẫn tồn tại ([1]). Việc thông qua Luật về lãnh hải của CHND Trung Hoa ngày 25.2.1992,  trong đó khẳng định lại yêu sách của TQ  đối  với  hai  quần  đảo Hoàng  Sa  và Trường Sa, lại  làm dấy  lên một  làn sóng  lo ngại mới tại Đông  Nam  Á ([2])  về  những  toan  tính  sâu  xa  của TQ.

Tháng 2.1995 đến lượt quan hệ TQ – Philippines  trở  nên  căng  thẳng. Philippines  đã  tố  cáo TQ xâm chiếm bằng quân sự một đảo đá nhỏ mà Philippines tuyên bố chủ quyền trong quần đảo Trường Sa. Bộ  trưởng Quốc  phòng  Philippines đã  đưa  ra những tấm ảnh cho thấy các cấu kiện hình đa giác đã được dựng trên những cột thép đảo đá Vành Khăn, mà theo Philippines, đó là các công trình nhà ở lâu dài. Tàu chiến của TQ cũng được quan  sát  thấy tập  trung xung quanh đảo đá này. Philippines đã phản ứng  bằng cách  tăng  cường  thêm  lực  lượng  quân  sự  tại Trường Sa.

Ngày 15.5.1996, TQ gia nhập UNCLOS 1982 và cam kết giải quyết các tranh chấp “phù hợp với  luật pháp quốc tế  đã  được  công  nhận”. Tuy  nhiên, cùng  ngày, TQ công  bố  sắc  lệnh  mở  rộng lãnh hải, trong đó áp dụng việc vạch đường cơ sở cho quốc gia quần đảo vào khu vực quần đảo Hoàng Sa. Hành  động  này  của TQ  là “bất  hợp  pháp  – đó là điều mà nhiều học giả đều nói tới” và là chủ đề chất vấn  tại Diễn  đàn  khu  vực ASEAN  (ARF).

Đóng  góp  của  Indonesia  (trong  vai  trò  đồng chủ  trì  với  Canada)  và  các  nước  ASEAN, TQ tại Hội thảo “Kiềm chế các xung đột tiềm  tàng tại biển Đông” từ năm 1993, các sáng kiến về Bộ quy tắc ứng xử giữa VN – Philippines, TQ – Philippines,  nỗ  lực  của  các  bên  liên  quan  trực  tiếp  đã đưa đến việc ký kết Tuyên bố về cách ứng xử của các bên trong biển Đông năm 2002 (DOC), một bước ngoặt mới đi đến một giải pháp cho biển Đông.

Tuy nhiên cơn khát dầu lửa và các nguồn tài nguyên biển lại tiếp tục làm  dấy  lên  làn  sóng  lo  ngại mới  về  hành động  lấn chiếm  trên  biển  Đông.  Trong  năm  2007-2009, TQ đưa ra chiến lược “biển xanh”, triển khai căn cứ tàu  ngầm nguyên tử ở Hải Nam, xúc tiến chương trình đóng tàu sân bay, nâng cấp đơn vị hành chính Tam Á, mở tour du lịch ra đảo Phú Lâm (Hoàng Sa). Tháng 11.2008, Tập đoàn dầu khí quốc gia TQ CNOOC thông qua kế hoạch đầu tư 200 tỉ NDT  (29  tỉ USD)  cho  thăm  dò  và  khai  thác  dầu khí ở biển Đông.

TQ cũng  tăng cường sức ép  lên  các  công  ty  dầu  khí  nước  ngoài  (British Petroleum (BP), Conoco Phillips, Exxon Mobil, và Oil & National  Gas  Company  (ONGC)  đang  làm việc trên thềm lục địa VN, tiếp tục duy trì yêu sách đường “lưỡi bò” đứt khúc 9 đoạn và chủ trương “chủ quyền thuộc ta, gác tranh chấp cùng khai thác”.


Cơ sở của Trung Quốc tại đá Vành Khăn mà họ chiếm đóng trái phép ở quần đảo Trường Sa – Ảnh: AFP

Tháng 5.2009, tình hình thêm nóng bỏng với việc VN tự trình và cùng Malaysia trình hồ sơ chung ranh giới thềm lục địa ngoài 200  hải  lý  và phản  đối  của  TQ. Phái  đoàn  đại  diện của TQ tại LHQ lần đầu tiên chính thức khẳng định yêu sách của nước này với tất cả vùng nước và các đảo trong phạm vi “đường yêu sách lưỡi  bò”. VN và Malaysia cho  rằng  hồ sơ ranh  giới  thềm lục địa của mình được tính từ đường cơ sở đất  liền nên không ảnh hưởng đến quyền lợi của các nước nào khác.

Tầm quan trọng chính trị,  chiến lược và kinh tế của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đòi hỏi phải có được một giải pháp tổng thể. Nhưng trước hết tranh chấp ở đây phải được coi là tranh chấp pháp lý, trong đó cần dựa trên danh nghĩa pháp lý nào để  xác  định  chủ  quyền  trên  các  quần  đảo  này?

Câu hỏi được đặt  ra  là: đây có phải  là  tranh chấp có  liên quan đến quyền thụ đắc lãnh  thổ được coi  là vô chủ (res  nullius) hoặc là tranh chấp một  vùng lãnh thổ trên đó chủ quyền quốc gia đã được xác định, nhưng với thời gian và sự  phát triển của các sự kiện, lãnh thổ đó trở thành lãnh thổ từ bỏ (terre derelictio)?

Do việc chiếm cứ các đảo  khác nhau tại các giai đoạn khác  nhau và do có quá nhiều các  danh nghĩa khác nhau được đưa ra trên cùng một vùng lãnh thổ. Đã có khá nhiều tác phẩm trong và ngoài nước viết về tranh chấp  chủ  quyền  trên  hai  quần  đảo  Hoàng  Sa  và Trường Sa.

Chúng tôi sẽ cố gắng nghiên  cứu sâu các luận thuyết của mỗi bên tranh chấp dưới ánh sáng của thuyết luật theo thời điểm (Intertemporel).

Luật theo thời điểm do M.Hubert đưa ra lần đầu tiên trong vụ đảo Palmas bao gồm  hai nguyên tắc cơ bản:

1) Một sự kiện pháp lý phải  được đánh  giá  dưới  ánh sáng  của luật mà nó là đương thời  chứ không phải dưới ánh sáng của luật có hiệu lực vào thời điểm mà tranh chấp nảy sinh hoặc được giải quyết;

2) Một luật lệ không thể duy trì trong một hệ thống pháp luật trừ phi nó phù hợp với các yêu cầu trong  hệ  thống  đó.

TS Nguyễn Hồng Thao

[1] Quan hệ Việt-Trung đó được cải  thiện đáng kể với việc hai bên nâng  quan hệ “đối tác hợp tác chiến lược  toàn diện” tháng 5.2008, giải quyết các bất đồng trong vịnh Bắc Bộ năm 2000 và hoàn thành phân giới cắm mốc biên giới đất liền Việt-Trung năm 2008. 

[2] Far East Economic Review  (Tạp  chí  kinh  tế Viễn Đông). FEER, ngày 13.8.1992.

>> Kỳ 3: Sử liệu Trung Quốc nói gì?

[http://www.thanhnien.com.vn/pages/20110804/suc-ep-va-phan-ung.aspx

Kỳ 1 – Cuộc tranh chấp phức tạp

Tranh  chấp  chủ  quyền  trên  hai  quần  đảo Paracels và Spratlys  (Hoàng Sa và Trường Sa  theo tên  gọi VN, Tây  Sa  và Nam  Sa  theo  tên  gọi Trung Quốc) nằm giữa biển Đông đã  tồn  tại từ  trăm năm nay. Đó  là những  tranh chấp  lâu đời nhất giữa nhiều nước cùng  yêu  sách  chủ quyền trên các đảo, một cuộc tranh chấp kéo dài cho đến tận ngày hôm nay mà chưa đạt được bất kỳ một giải pháp pháp lý bền vững  nào.


Đảo Trường Sa Lớn – Ảnh: Đỗ Hùng

Nó còn phức tạp hơn với nghĩa là tranh chấp lúc thì bùng lên gay gắt, lúc lại lắng xuống với những thay đổi phức tạp từ phía các bên có can dự trực tiếpvào cuộc tranh chấp. Lúc đầu, cuộc tranh chấp chỉ  liên quan trực tiếp đến các đảo. Do vị  trí địa  lý, các đảo này cho phép quốc  gia  ven  biển chiếm hữu  chúng không chỉ quyền kiểm soát thông thương hàng hóa trong  biển Đông mà  còn quyền sử dụng chúng như các căn cứ hải quân ban đầu nhằm mục đích quốc phòng.

Cuộc đua tranh có quy mô và sắc thái khác từ sự phát triển  nhanh chóng  gần đây của Luật  Biển quốc tế  và khả năng phát  hiện  được những mỏ dầu có thể khai thác được nằm dưới đáy biển của hai quần đảo. Công ước của Liên Hiệp Quốc về  Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 có hiệu lực từ năm 1994 cho phép  các quốc gia ven biển có quyền mở  rộng lãnh hải 12 hải  lý, vùng đặc quyền kinh  tế 200 hải  lý và thềm lục địa.

Sự phát triển của luật biển quốc tế đem lại nhiều lợi ích cho quốc gia ven biển như khả năng khai thác các tài nguyên thiên nhiên từ  biển: dầu mỏ, nguồn lợi  thủy sản, khoáng sản, nhưng cũng làm nảy sinh vấn đề phân định vùng biển và thềm lục địa giữa các quốc gia có vùng biển chồng lấn. Giải quyết vấn đề phân định biển luôn gắn  liền  với vấn đề tranh chấp lãnh thổ, đảo.

Theo quy định của UNCLOS 1982,  các đảo, đá  hoặc có  thể  có  vùng  lãnh  hải  12  hải  lý,  vùng  đặc  quyền kinh  tế 200 hải  lý và  thềm  lục địa hoặc chỉ có vùng lãnh hải 12 hải  lý, căn cứ vào một số điều kiện nhất định.

Việc  Công  ước  quy  định  không  rõ  ràng  như vậy  càng  làm  tình  hình  tranh  chấp  chủ  quyền  trên hai quần đảo thêm phức tạp. Nếu các đảo  thuộc hai quần đảo có quyền  có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa  riêng, thì với vị  trí nằm giữa biển, hai quần đảo sẽ đem lại cho quốc gia sở hữu quyền kiểm soát hầu hết biển Đông.

Nó cũng đưa đến bức tranh chồng lấn yêu  sách của các  nước trong biển Đông đòi hỏi phải giải quyết. Nếu các đảo  thuộc hai quần đảo chỉ có quyền có  lãnh hải 12 hải  lý  thì vùng biển của  các quần đảo  này sẽ không chồng lấn  lên  thềm lục  địa và vùng đặc  quyền kinh tế của các nước, giảm bớt tranh chấp.

Trên  thực  tế,  tranh  chấp  phức tạp  thêm chính  là do nguyện vọng của các quốc gia ven biển muốn cho một số đảo, đá, bãi ngầm ngoài khơi không có người ở này được hưởng quy chế pháp  lý đầy đủ  của một đảo. Đúng là luật biển quốc tế mới cho phép các quốc gia ven biển được yêu sách một vùng thềm lục địa và một vùng đặc quyền về kinh tế rộng hai  trăm hải  lý xung quanh các đảo nổi thường xuyên  khi  thủy  triều  lên.  Nhưng  thực tế vẫn có các đảo không thích hợp cho con người đến ở hoặc  cho một  đời  sống  kinh  tế  riêng  có  thể  đòi  hỏi cùng một  quy  chế  như  trên ([1]).  Luật  biển  hiện  đại  đó làm tăng thêm giá trị địa chiến lược của hai quần đảo và  các  bên  tranh  chấp  chính  là  về  vai  trò  địa  chiến lược mới đó của hai quần đảo.

Các  tranh chấp  trên biển Đông, ngoài ý nghĩa về chủ quyền lãnh thổ, lợi ích chiến lược còn  là  quyền sở hữu và khai thác tài  nguyên,  đặc biệt  là  tài  nguyên dầu mỏ. Tranh chấp chủ quyền các đảo và vùng biển không dễ dàng được  giải  quyết  vì  liên  quan  không  chỉ  yếu  tố  luật pháp mà còn cả về lịch sử, ý chí dân tộc và kinh tế.

Mục tiêu của cuộc tranh chấp dai dẳng giờ đây không chỉ là các đảo chính mà chính là các vùng biển rộng lớn bao quanh chúng nhằm kiểm soát được toàn bộ hoặc chỉ một phần biển này. Hoàng Sa, Trường Sa do CHXHCN Việt Nam xác lập chủ quyền; CHND Trung Hoa, lãnh thổ Đài Loan cùng yêu cầu tương tự. Riêng Trường Sa, Philippines chỉ  vào cuộc từ năm 1956, Malaysia từ năm 1979 và Brunei yêu sách một phần nhỏ từ năm 1993.

TS Nguyễn Hồng Thao

[1] Xem Điều 121, Công ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr. 94.

Kỳ 2: Sức ép và phản ứng

Nguồn: http://www.thanhnien.com.vn/pages/20110802/luat-quoc-te-va-chu-quyen-tren-hai-quan-dao-hoang-sa-truong-sa.aspx

Lời tòa soạn: Tranh  chấp  chủ  quyền  trên  hai  quần  đảo Hoàng  Sa  và Trường Sa của VN là tranh chấp dài nhất, phức tạp nhất, trên vùng biển rộng lớn nhất, nhiều đảo nhất và liên quan đến nhiều bên nhất  trong  lịch  sử  các  tranh  chấp  thế  giới. Tranh chấp được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm nhất, tốn nhiều giấy mực nhất trong thời gian qua nhằm tìm kiếm một giải pháp công bằng có thể chấp nhận.

Nhằm cung cấp thêm thông tin liên quan đến vấn đề này, Báo Thanh Niên trân trọng giới thiệu công trình nghiên cứu về luật quốc tế và chủ quyền  trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của TS Nguyễn Hồng Thao. Nội dung chính đăng tải được trích từ cuốn sách Việt Nam và các  tranh  chấp  biển  trong  biển Đông của TS Nguyễn Hồng Thao.

Cuốn sách này đã được tặng Giải thưởng quốc tế INDEMER năm 2000 của Viện Luật kinh tế biển Công quốc Monaco cho các tác phẩm luật viết bằng tiếng Pháp xuất sắc nhất trong 1996-2000. Bản dịch  tiếng Việt do tác giả thực hiện, bám  sát  trung  thành bản tiếng Pháp có cập nhật một số sự kiện mới.

 

[Nguồn từ Báo Thanh Niên. http://www.thanhnien.com.vn/pages/hoang-sa-truong-sa-cua-viet-nam.aspx]

20 tuổi, 700 USD và đi khắp thế gian

20 tuổi, trong lúc bạn bè đang mải mê với sự học ở một trường đại học hay cao đẳng nào đó, Nguyễn Thị Khánh Huyền hay Huyền Chip (Sinh 1990) một mình xách ba lô lên vai và đi vòng quanh thế giới. Sự đi của Huyền không bởi một mục đích xa xôi nào, chỉ đơn giản “đi vì muốn đi mà thôi”.

 


Huyền ở lễ hội Holy tại Nepal. Cô đã có thời gian sống ở đây ba tháng.

Xách ba lô lên và đi

Cô gái 22 tuổi nhớ lại quãng thời gian trước khi chuyến đi vòng quanh thế giới bắt đầu ” 20 tuổi, khi đang làm việc ở Malaysia, công việc, đồng nghiệp, môi trường làm việc, tất cả đều rất tốt, nhưng tôi nhận thấy cuộc sống của mình như đang đi vào đường không lối ra. Nếu cứ làm và chờ đợi được tăng lương, thăng chức thì rồi cũng sẽ đến lúc con người ta già và chết. Tôi muốn đi để biết được thực sự mình muốn gì cho cuộc sống này. 20 tuổi, khi ấy tôi chỉ như một đứa trẻ, nói với mẹ rằng con muốn đi vòng quanh thế giới, thế là đi.”

 


Huyền trước kim tự tháp Khafre, Cairo, Ai Cập.

Và Huyền đi thật, chỉ với 700 USD trong túi. Sau cái tặc lưỡi “đi bừa đi”, đôi chân đã đưa Huyền tới 25 quốc gia, trái tim níu cô ở lại với Ấn Độ suốt bốn tháng, trải qua ba tháng khác tại Nepal, cũng như sống cuộc sống thường nhật suốt ba tháng khác tại Israel.

Trong 24 tháng ròng, thỉnh thoảng bạn bè và người thân sẽ giật mình khi thấy Huyền xuất hiện như một khách mời dự tiệc, hay đang tham gia lễ trao giải trong các quảng cáo hay phim điện ảnh tại Ấn Độ. Lúc khác, Huyền trở thành nhân viên trong một sòng bài ở Tanzania, tổ chức sự kiện ở Nepal hay đang cặm cụi viết bài cho một trang web công nghệ ở Israel. Cô cũng không nề hà làm công việc tỉ mỉ và mất thời gian như nhập dữ liệu cho một trang web về danh bạ tại Zambia.


Mỗi nước Huyền đặt chân đến, cô đều tìm cách đến thăm ít nhất một trại trẻ mồ côi.

Hành trình một mình mà không đơn độc của cô gái Việt trẻ này còn được lấp đầy bởi những công việc thiện nguyện cho trẻ em mồ côi và người già ở Nepal, Myanmar và Kenya. Giáng sinh mà Huyền đã trải qua ở Nepal đến giờ vẫn còn đọng lại trong cô những dư vị rất ngọt ngào với 50 cô cậu bé theo đạo Hindu chưa bao giờ biết đến Noel trong đời.

“Tôi và năm người bạn khác hùn tiền mua bánh kẹo, dạy hát, nhảy múa với các em. Tiệc tàn, chúng tôi ôm nhau chào tạm biệt. Các em quyến luyến đến nỗi chúng xếp hàng để ôm chầm lấy tôi, cứ đứa này ôm xong thì lại đi…xếp hàng để…ôm tiếp.” Huyền mỉm cười kể lại “Khi dạy cho những đứa trẻ ấy cách viết ước mơ của mình lên tờ giấy, rất nhiều em đã viết sau này lớn lên muốn cưới chị Chip.”


Trong hành trình của mình, Huyền đã được rất nhiều người tốt bụng cho đi nhờ xe. Trong hình là lúc cô xin quá giang từ Ethiopia qua Kenya, trên một trong những con đường nguy hiểm nhất ở Châu Phi.

“Ở Việt Nam, sẽ không ai yêu tôi”

Tự nhận mình là “gái xấu” với tóc xù, mặt tròn, da đen cháy, Huyền cười xòa khi nói chuyện với tôi ” Mẹ tôi giận suốt vì sợ tôi sẽ…ế chồng. Ở Việt Nam, người ta đánh giá nhau bằng tài sản, bằng bằng cấp, bằng việc có một người chồng hay vợ tử tế. Tôi bây giờ, bằng cấp không có, thu nhập bằng 0 và không có cả đến một người bạn trai nào. Chắc vì thế nên mẹ bảo, sau hai năm ngao du thiên hạ, tôi bây giờ còn tệ hơn trước đây.”

 


Câu cá ở Lamu, Kenya

Nhưng nếu có đủ thời gian để trò chuyện với cô gái trẻ này, bạn sẽ nhận ra rằng điều thú vị toát ra từ con người Huyền nằm trong sự khác biệt và dám khác biệt.

Nếu sau khi tốt nghiệp chuyên Toán của khối THPT chuyên Đại học Khoa học Tự nhiên, Huyền quyết định chọn học trong một trường đại học danh giá, chắc chắn cô đã không đi làm ngay sau khi tốt nghiệp cấp 3, và được mời làm cho những công ty tiếng tăm ở Việt Nam và Malaysia.


Huyền trên dãy Himalaya.

Nếu không quyết định “đi bụi”, giờ này có lẽ Huyền đã trở thành kế toán, lấy một anh chàng hiền lành nào đó cùng quê làm chồng. Thế nhưng giờ đây, cô có cơ hội sống tự do với tuổi trẻ của mình giữa những vùng đất lạ, nhìn thế giới bằng đôi mắt của chính cô.

Và nếu không khác biệt, Cô gái nhỏ nhắn đam mê leo núi, kickboxing và võ thuật này đã không chọn Châu Phi làm nhà trong chín tháng trời.


“Tôi chưa đi Châu Âu vì cho rằng nơi này không có nhiều thử thách lắm với dân đi bụi. Châu Phi giờ vẫn là một điểm đen trên thế giới và nó thôi thúc tôi đến đây”, Huyền nói.

Nếu như tôi không thực hiện những quyết định trên, có lẽ đến giờ tôi vẫn là một cô bé thôn quê bẽn lẽn, không biết dùng máy tính, không nói được tiếng Anh, không biết thế giới bên ngoài là thế nào.” Huyền nói với đôi mắt tự tin. “Trong một năm đi bụi tôi thấy mình học được nhiều hơn chừng đó năm ở Việt Nam. Chuyến đi ấy cho tôi hiểu rõ vị trí của mình trên thế giới này. Tôi sống thực tế hơn. Giờ đây, tôi vẫn còn trẻ và không biết sẽ đi đến đâu trong cuộc sống này, nhưng biết mình đang đến gần hơn bao giờ hết với mục đích sống của đời mình.”


Huyền cùng nhóm bạn cắm trại qua đêm sau chuyến đi xe máy vòng quanh Nepal. Trong hai năm trời rong ruổi, cô đã có rất nhiều bạn thân.

 

“Ước gì tất cả các bạn trẻ Việt Nam đều có cơ hội”

Thừa nhận nếu không thử thách mình bằng chuyến đi đầy can đảm này, có lẽ giờ Huyền sẽ rất ấm ức khi đọc nhật ký hành trình của ai đó, và nghĩ rằng người ta chắc phải may mắn lắm mới có thể đi như thế. Cô luôn khao khát rằng tất cả những bạn trẻ Việt Nam cũng sẽ có cơ hội để đi.


Trước thác Victoria, biên giới giữa Zambia và Zimbabwe

Từng phải “vật lộn” để thu thập hàng tấn thông tin, từ chuyện xin visa cho người Việt, cách đi từ Việt Nam đến các nước, cũng như sự khác biệt về văn hóa giữa Việt Nam và các quốc gia khác ra sao, Huyền ôm ấp hoài bão xây dựng một cổng thông tin và viết một cuốn hướng dẫn du lịch ngang tầm Lonely Planet cho người Việt. Cuốn sách sẽ cung cấp thông tin cơ bản và chi tiết cho người Việt để đi đến hầu hết các nước.


Cùng với bạn bè tại Lễ hội Lag BaOmer, Israel

Huyền cũng đang trong quá trình đi và viết. Khi hoàn thành, cuốn sách mang tên “Xách ba-lô lên và đi” chắc chắn sẽ là sản phẩm được Huyền nung nấu trong thời gian dài.

“Tôi không phải là hot girl và đó chắc chắn không phải là lí do để bán sách. Bạn bè thậm chí còn đùa: xấu như tôi mà cũng đòi viết sách. Tôi chỉ muốn qua cuốn sách ấy, mình có thể chia sẻ khát vọng cho nhiều người, phần nào giúp ích cho các bạn trẻ Việt Nam có khát khao nhìn ra thế giới.” Huyền nói.

Đinh Hằnghttp:/dinhhang.tumblr.com/ )

http://img22.imageshack.us/img22/2690/orange.swf
http://img405.imageshack.us/img405/5162/1154790561.swf

http://img19.imageshack.us/img19/3262/067.swf

http://img188.imageshack.us/img188/620/51712.swf

http://img40.imageshack.us/img40/7581/51812.swf

http://img523.imageshack.us/img523/7701/rboke.swf

http://img193.imageshack.us/img193/4482/010.swf

http://img193.imageshack.us/img193/6030/613.swf

http://img196.imageshack.us/img196/5128/tokei02.swf

http://img248.imageshack.us/img248/5859/materialleft.swf

http://img191.imageshack.us/img191/62/612.swf

http://img39.imageshack.us/img39/5717/518.swf
http://img13.imageshack.us/img13/208/4201.swf
http://img22.imageshack.us/img22/2690/orange.swf
http://img2.imageshack.us/img2/5830/agehawpc.swf
http://img22.imageshack.us/img22/2690/orange.swf
http://img6.imageshack.us/img6/6519/4172.swf
http://img50.imageshack.us/img50/1084/widget110.swf
http://img523.imageshack.us/img523/7701/rboke.swf
http://img9.imageshack.us/img9/9687/072.swf

CÒN ĐÂy LÀ Lịch

http://img185.imageshack.us/img185/8258/972mc6.swf

http://img337.imageshack.us/img337/2249/8286bz5.swf

http://img360.imageshack.us/img360/2381/8231fl5.swf

http://img360.imageshack.us/img360/3240/8232wn5.swf

http://img352.imageshack.us/img352/118/8233sh2.swf

http://img232.imageshack.us/img232/3475/9186yv7.swf

http://img98.imageshack.us/img98/8546/9184ml8.swf

http://img98.imageshack.us/img98/1747/9183xz2.swf

http://img98.imageshack.us/img98/4223/9182cp7.swf

http://img187.imageshack.us/img187/5117/9181jb1.swf

http://img399.imageshack.us/img399/7381/s100278.swf

http://img377.imageshack.us/img377/7043/rfurimp0.swf

http://img79.imageshack.us/img79/4235/rhahaqv4.swf

Bài viết sử dụng nguồn từ ĐÂY

Khác biệt giữa HTML5 và Flash

Khi bàn về Flash và HTML5, những nhà phát triển thường hay công kích lẫn nhau. Nhưng thật ra HTML5 và Flash tại thời điểm này vẫn có điểm mạnh và điểm yếu, tùy thuộc vào từng mục tiêu, định hướng mà chúng ta sẽ chọn giải pháp nào. Flash và HTML5 có thể tồn tại song song với nhau chứ chưa thể loại trừ lẫn nhau. Sau đây là một vài điểm mạnh và điểm yếu cơ bản của Flash và HTML5:

Điểm mạnh - Điểm yếu của HTML5 và Flash

ĐIỂM MẠNH

Điểm mạnh của HTML5:

  • Phù hợp trên nhiều nền tảng: nhà phát triển chỉ cần lập trình một lần là có thể dùng được trên nhiều hệ thống, không như Flash hay các plug-in khác luôn cần có nhiều phiên bản khác nhau dành cho mỗi nền tảng.
  • Khả năng hỗ trợ API và DOM: điều này sẽ giúp các nhà phát triển tự do hơn trong việc sáng tạo các ứng dụng thân thiện hơn với người dùng khi mà không còn lệ thuộc vào phần mềm của bên thứ 3, ví dụ việc nhúng video, âm thanh, các bản vẽ chất lượng cao, biểu đồ và hình ảnh động và các loại khác nhiều nội dung phong phú mà không cần cài đặt thêm 1 plug-ins nào khác như flash player, windows media player, …
  • Tính nhất quán: HTML hỗ trợ các phần tử mới để khai báo cấu trúc website như: header, footer, … do vậy giúp cho nhà thiết kế hay người lập trình ngay lập tức hiểu được cấu trúc của website.

Điểm mạnh của Flash:

  • Tính phổ biến: flash là một Plug-in thành công và phổ biến nhất, 97% các máy tính và trình duyệt có hỗ trợ Flash.
  • Hỗ trợ tốt cho game: flash được sử dụng rất phổ biến trong việc phát triển game và flash cung cấp rất nhiều tính năng để tạo ra các game chất lượng.
  • “Nếu không hư hỏng thì không cần sửa”: một cách tổng quát thì flash rất dễ sử dụng, rất nhiều các lập trình viên đã quen thuộc sử dụng flash. Do vậy gắn bó với flash thay vì chuyển sang một công cụ khác sẽ tiết kiệm thời gian, tiền bạc và nhiều tài nguyên khác.

ĐIỂM YẾU

Điểm yếu của HTML5:

  • Ít trình duyệt hỗ trợ: chỉ có các trình duyệt mới gần đây mới hỗ trợ HTML5, do vậy việc sử dụng theo trào lưu, không theo mục đích sẽ dẫn đến một cái bẫy là phần lớn khách hàng sẽ không xem được.
  • Quá mới mẻ: vì được phát triển gần đây nên phần lớn lập trình viên vẫn chưa quen thuộc, chuyển đổi sang HTML5 có thể làm phát sinh thời gian, tiền bạc và tài nguyên. Một lần nữa chúng tôi khuyên hãy đưa ra quyết định dựa vào yêu cầu, mục tiêu, đừng bao giờ chỉ vì chạy theo trào lưu.

Điểm yếu của Flash:

  • Flash không làm việc tốt với Mac OSX, và các thiết bị di động của Apple không hỗ trợ nội dung Flash.
  • Gặp nhiều vấn đề về bảo mật.
  • Người phát triển ứng dụng trên nền tảng Flash phải tốn chi phí để mua các phần mềm như Flash Pro hoặc Flash Builder

Source: hienlth