Tag Archive: VĂN


Máu Trường Sa vẫn chảy

Cuộc hải chiến bi hùng 25 năm trước trên đảo Gạc Ma vẫn chưa đi vào dĩ vãng. Những giọt máu Trường Sa vẫn chảy và những giọt nước mắt đất liền vẫn chảy để giữ chủ quyền dân tộc.

 

“Quê ơi! Về nhé”

Các liệt sĩ đang nằm trên đảo Nam Yết.

Những chiến sĩ hy sinh trên quần đảo Trường Sa đều được đưa về an nghỉ tại nghĩa trang trên đảo Nam Yết. Tại nghĩa trang này có 4 ngôi mộ còn nồng mùi vôi mới: Đinh Thanh Bình (quê Quảng Bình, hy sinh năm 2011); Nguyễn Văn Hà (quê Nghệ An, hy sinh năm 2010); Lại Huy Công (quê Thái Bình, hy sinh năm 2012) và Nguyễn Văn Cường (quê Hưng Yên, hy sinh năm 2012).

Chiều về trên Nam Yết, sắp đến giờ cơm mà bên 4 ngôi mộ này vẫn còn mấy tốp chiến sĩ ngồi nhặt cỏ và trò chuyện với mấy tấm bia mộ dựng vội bằng xi măng. Kẻng báo giờ cơm buổi chiều, tốp chiến sĩ ấy mới thì thầm với người nằm xuống: “Quê ơi! Về nhé”.

Mỗi khi đi qua đảo Gạc Ma, các tàu Hải quân ta luôn có lễ thả hoa tưởng niệm cho những người đã ngã xuống vì chủ quyền. Bây giờ những con tàu đánh cá Việt Nam khi ra khơi, khi qua vùng biển này, ngư dân cũng đã có thói quen thả hoa tưởng niệm những người anh hùng đã và đang bảo vệ bức tường Trường Sa.

Thì ra họ là những tốp đồng hương với các liệt sĩ, ngày mai họ lên tàu trở về đất liền, để lại bạn giữa muôn trùng sóng gió.

Trên Trường Sa, đồng hương với nhau khi nói chuyện không dùng đến các đại từ nhân xưng phức tạp như: Chú, bác, anh, em, họ chỉ thủ thỉ “Quê ơi”. Đêm ấy, những người bạn đồng hương của các liệt sĩ được chỉ huy đảo đặc cách cho ở cùng với bạn đến tận giờ đi ngủ.

Nguyễn Huy Chung – chiến sĩ cùng huyện Kim Động, Hưng Yên với liệt sĩ Nguyễn Văn Cường tay mân mê con ốc: “Mấy bữa nay biển động. Tớ chỉ kiếm được con ốc này thôi. Tớ sẽ mang đến cho em gái cậu. Mai tớ về, cậu ở lại rồi khi nào được về quê, tớ sẽ sang thăm”.

Về chuyện này, Chung kể: “Trước lúc hy sinh, em không biết Cường. Cường hy sinh bên đảo Chìm, lúc đưa về đây an táng được một tuần thì từ bên đảo Chìm điện sang hỏi thăm, khi biết em là đồng hương cùng huyện, các anh bên đó nhờ em chăm lo cho phần mộ của Cường và dặn: Cường viết thư về nhà có hứa mang về cho em gái mình con ốc biển. Vì thế, em thay bạn mang quà về quê”.

Giờ chia tay, trước những ngôi mộ nằm nghiêm trang giữa biển, đại tá Nguyễn Bá Ngọc – Phó Tư lệnh Vùng 4 Hải quân xúc động: “Xin các anh linh liệt sĩ thứ lỗi. Đất nước còn khó khăn, thiếu thốn, chưa có điều kiện đưa các đồng chí về nhà ngay với gia đình. Chúng tôi xin hứa, ngay khi có điều kiện sẽ đưa anh em về đất liền quê hương”.

Không thể có điều kiện để ngay sau khi hy sinh có thể đưa thi thể các liệt sĩ về đất liền nên những chiến sĩ ngã xuống trên Trường Sa phải chờ rất lâu để được về nhà. Cát biển, nước biển mặn chát khiến thời gian để hài cốt của họ được sạch sẽ rất lâu, có thể mất đến 7 – 8 năm.

Và nước mắt đất liền vẫn chảy

Trong các liệt sĩ tại Trường Sa, Lại Huy Công và Nguyễn Văn Cường là những người hy sinh gần đây nhất. Tại quê hương xã Hùng Cường, Kim Động, Hưng Yên, bà Hoàng Thị Tuyết – mẹ liệt sĩ Nguyễn Văn Cường lặng lẽ khóc khi chúng tôi hỏi thăm.

Cường là con trai lớn, dưới có cô em gái. Phút xúc động qua đi, bà Tuyết chỉ nói như tự an ủi mình: “Cũng may, em nó được nằm giữa bạn bè, có người thỉnh thoảng nói chuyện chắc nó cũng đỡ tủi”.

Bà kể, tháng 6.2012, sau khi Cường hy sinh được 4 tháng, Bộ Tư lệnh Hải quân có đưa bà ra Trường Sa thăm mộ con. Và đến giờ bà vẫn còn xót xa cho người cùng cảnh ngộ, bà kể: “Hai anh em Lại Huy Công, Nguyễn Văn Cường hy sinh cùng nhau nhưng tôi còn khỏe, còn ra thăm con được, mẹ anh Công yếu quá, không ra được thăm con, thật tội”.

Vào ngày 2.2.2012 định mệnh ấy, khi Cường gặp nguy hiểm, Lại Huy Công đã anh dũng lao tới cứu mạng cho Cường nhưng không thành, cả hai hy sinh cùng lúc và giờ họ lại nằm bên nhau giữa Trường Sa.

Dù vô cùng nuối tiếc khi cậu con trai duy nhất không còn nhưng bà Tuyết bảo: “Thôi thì Cường nhà tôi có một thân, một mình, mất đi còn đỡ, anh Công đã có vợ, con vẫn còn bé nên càng thấy xót xa. Hôm đi Trường Sa về, tôi có đến nhà Công báo tin cho bố mẹ anh ấy để họ yên tâm, nhưng bố Công đã yếu lắm rồi, không biết có chờ được ngày đón con về hay không”.

Vào dịp tháng 6 năm ngoái, trong đợt ra thăm Trường Sa, lúc ấy, ông Lại Vĩnh Thành, bố của Công đang ốm, con thì còn quá bé nên không ai đi được. Và đúng như bà Tuyết tiên liệu, ông Thành vừa mới ra đi mà không được chứng kiến ngày con mình được đưa về quê. Bà Nguyễn Thị Nhật (thị trấn Diêm Điền, huyện Diêm Điền, Thái Bình) – mẹ của liệt sĩ Lại Huy Công – trong vòng hơn một năm đón nhận luôn hai nỗi đau lớn nhất đời: Mất con, mất chồng…

Qua điện thoại, bà chỉ nghẹn ngào: “Tôi mong từng ngày để được đưa Công về quê nằm cùng cha nó”.

64 người ngã xuống ở Gạc Ma 25 năm trước đủ thấy cái giá của chủ quyền dân tộc là vô cùng lớn. Để có được cuộc sống thanh bình ta đang có, những giọt máu Trường Sa vẫn chảy và những giọt nước mắt đất liền vẫn chảy.

Nam Hải [danviet.vn]

Toàn văn Báo cáo giải trình và trả lời chất vấn Quốc hội trực tiếp của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng

(Chinhphu.vn) – Tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIII vừa qua, sau khi đọc Báo cáo giải trình (xem toàn văn Báo cáo tại đây), Thủ tướng Chính phủ đã tiếp tục trả lời các câu hỏi chất vấn của đại biểu Quốc hội tại hội trường. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ xin trân trọng giới thiệu toàn văn trả lời trực tiếp của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

 

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng báo cáo, giải trình trước Quốc hội
Ảnh VGP/Nhật Bắc

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Tôi rất cám ơn và xin trình bày về ý kiến chất vấn của các vị đại biểu Quốc hội.

– Về ý kiến chất vấn của đại biểu Đàng Thị Mỹ Hương:

1. Ý kiến chất vấn của đại biểu về những giải pháp cơ bản giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ (đại biểu Thích Thanh Quyết cũng chất vấn về nội dung này). Tôi xin trình bày như sau:

Khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu tác động rất nặng nề, tiêu cực đến nền kinh tế nước ta. Trước tình hình có nhiều khó khăn thách thức, Chính phủ luôn theo sát, thấu hiểu, hết sức lo lắng và rất chia sẻ với cộng đồng doanh nghiệp. Chính phủ luôn trăn trở tìm mọi giải pháp tháo gỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp vượt qua khó khăn, duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh. Đây không chỉ là lợi ích của doanh nghiệp mà còn là lợi ích của cả nền kinh tế – của cả đất nước.

Chính phủ đã đề ra nhiều cơ chế chính sách, nhiệm vụ giải pháp đang được triển khai thực hiện và đã có những kết quả nhất định. Nhưng như đại biểu vừa nêu, cộng đồng doanh nghiệp chúng ta, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn đang đứng trước rất nhiều khó khăn cần phải chung sức để khắc phục, vượt qua.

Trong Báo cáo trước Quốc hội tại phiên khai mạc và Báo cáo giải trình vừa trình bày, thay mặt Chính phủ tôi đã đề cập những giải pháp có ý nghĩa vừa trực tiếp trước mắt, vừa cơ bản lâu dài để giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn thách thức duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh. Tôi xin trình bày khái quát lại mấy nhóm giải pháp cơ bản sau đây:

Nhóm giải pháp thứ nhất là phải tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô. Kinh tế vĩ mô có nhiều nội dung nhưng đặc biệt là phải kiềm chế cho được lạm phát, không để lạm phát cao. Nếu lạm phát cao thì lãi suất cao, đồng tiền Việt Nam mất giá, tỷ giá biến động… chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ tăng cao. Lạm phát cao thì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ rất khó khăn, rất khó duy trì, phát triển sản xuất kinh doanh.

Đồng thời phải duy trì tăng trưởng hợp lý. Không duy trì được tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế thì sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng sẽ hết sức khó khăn. Muốn duy trì được tăng trưởng của nền kinh tế phải tăng tổng cầu và tăng sức mua, bao gồm cả tăng dư nợ tín dụng, tăng đầu tư công và đầu tư toàn xã hội phù hợp.

Phải tìm mọi biện pháp thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài và mở rộng thị trường xuất khẩu, khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu và đẩy mạnh xuất khẩu để vừa bảo đảm được hợp lý cán cân thanh toán của nền kinh tế, vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp duy trì phát triển sản xuất kinh doanh và góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.

Nhóm giải pháp cơ bản thứ hai là thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, gắn với thực hiện đồng bộ, hiệu quả 3 đột phá chiến lược, tạo thuận lợi trước mắt và cơ bản lâu dài cho doanh nghiệp. Vừa qua chúng ta đã tập trung triển khai tái cơ cấu đầu tư công; tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trong đó trọng tâm là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước; tái cơ cấu hệ thống tài chính, trọng tâm là các ngân hàng thương mại. Đồng thời triển khai thực hiện 3 đột phá chiến lược là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường; đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao và đẩy mạnh đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội.

Nhóm giải pháp cơ bản thứ ba là khẩn trương giải quyết hàng tồn kho, xử lý nợ xấu, tháo gỡ đóng băng của thị trường bất động sản, đây cũng là những giải pháp vừa bức xúc trước mắt, vừa cơ bản lâu dài để giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn, duy trì và phát triển kinh doanh. Chính phủ coi đây là một nhiệm vụ trọng tâm và phải được xử lý khẩn trương, đồng bộ.

Nhóm giải pháp thứ tư là cải cách hành chính. Chính phủ đã và đang làm nhưng cần phải thực hiện tốt hơn, thiết thực hơn. Cải cách hành chính bao gồm cả cải cách thể chế và thủ tục hành chính để có một nền kinh tế thị trường đầy đủ, bình đẳng, minh bạch, tạo điều kiện cơ bản cho doanh nghiệp hoạt động thuận lợi, hiệu quả. Chúng tôi hết sức quan tâm đến cải cách những thể chế liên quan trực tiếp đến doanh nghiệp như thể chế về thuế, về phí, về tiếp cận nguồn vốn, về tiếp cận đất đai và các thủ tục liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp như đăng ký kinh doanh, điều kiện thành lập doanh nghiệp, phá sản doanh nghiệp… mà hiện nay đang còn nhiều vướng mắc.

Tóm lại, để tạo điều kiện cho doanh nghiệp vượt qua khó khăn thách thức, duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh thì phải thực hiện đồng bộ các giải pháp mà Đảng, Nhà nước ta đã đề ra. Trong đó tập trung vào các nhóm giải pháp nêu trên, các nhóm giải pháp này phải được thực hiện đồng thời, nhưng phải có trọng tâm, trọng điểm trong từng lĩnh vực, trong từng thời gian để đem lại kết quả, hiệu quả thiết thực.

Nhưng thưa Đại biểu, chỉ có Chính phủ hành động thì chưa đủ. Rất mong cộng đồng doanh nghiệp, cũng như từng doanh nghiệp phải nỗ lực, sáng tạo vươn lên cơ cấu lại sản xuất kinh doanh, cơ cấu lại quản trị điều hành, nâng cao năng suất hiệu quả sức cạnh tranh để doanh nghiệp vượt qua khó khăn bằng chính nội lực và khả năng của mình. Chính phủ sẽ luôn đề cao trách nhiệm, đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp để cùng nhau vượt qua khó khăn thách thức, duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh thực hiện bằng được mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, duy trì tăng trưởng hợp lý, bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội cho mọi người dân.

2. Về nội dung đại biểu chất vấn Thủ tướng đã nhận trách nhiệm, nhận lỗi trước Quốc hội, trước toàn Đảng, toàn dân. Thủ tướng có giải pháp gì để khắc phục những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm của Chính phủ (đại biểu Nguyễn Bá Thuyền cũng chất vấn về nội dung này). Tôi xin trình bày mấy ý kiến như sau:

Thưa đại biểu. Như tôi đã báo cáo tại phiên khai mạc kỳ họp Quốc hội, với trọng trách được Đảng, Nhà nước và nhân dân tin cậy giao phó, là Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ, tôi nghiêm túc nhận trách nhiệm chính trị lớn của Người đứng đầu Chính phủ và xin thành thật nhận lỗi trước Quốc hội, trước toàn Đảng, toàn dân về tất cả những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm của Chính phủ trong lãnh đạo, quản lý, điều hành trên tất cả các lĩnh vực, nhất là hạn chế, yếu kém, khuyết điểm trong giám sát, kiểm tra hoạt động của các Tập đoàn kinh tế, của các Tổng công ty nhà nước. Đồng thời, thay mặt Chính phủ, tôi cũng đã khẳng định là Chính phủ sẽ nỗ lực làm hết sức mình để khắc phục những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm phấn đấu hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ, trọng trách mà Đảng, Nhà nước và nhân dân tin cậy giao phó.

Với tinh thần đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã và đang triển khai thực hiện nhiều nhiệm vụ giải pháp đồng bộ để khẩn trương khắc phục những hạn chế yếu kém khuyết điểm, nâng cao năng lực lãnh đạo quản lý điều hành, trong đó tập trung vào các nhóm nhiệm vụ giải pháp sau:

Thứ nhất, nâng cao năng lực, chất lượng xây dựng, hoàn thiện thể chế, cơ chế, luật pháp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong thực thi thể chế, cơ chế, luật pháp. Đây là lĩnh vực còn nhiều hạn chế, yếu kém, khuyết điểm. Nhiều cơ chế, thể chế, luật pháp do Chính phủ xây dựng trình Quốc hội ban hành hay do chính Chính phủ ban hành còn không ít những nội  dung chưa phù hợp, không sát cuộc sống, phải sửa đổi, bổ sung ngay sau khi vừa có hiệu lực thực hiện. Hay những thể chế, cơ chế, luật pháp đã ban hành rồi, nhưng chờ nghị định, thông tư hướng dẫn nên chậm đi vào cuộc sống, thậm chí có trường hợp khi hướng dẫn lại không phù hợp với tinh thần thể chế, luật pháp đã ban hành. Hoặc thể chế, luật pháp đã có hiệu lực nhưng tổ chức thực thi kém hiệu quả. Có những nội dung ban hành trước đây là đúng nhưng thực tiễn cuộc sống đã vượt qua, không còn phù hợp, nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung. Hay thực tế cuộc sống đòi hỏi phải có thể chế, cơ chế, luật pháp để quản lý, để thúc đẩy phát triển hoặc ngăn chặn những tiêu cực, nhưng muốn xây dựng được một thể chế, cơ chế để quản lý thì rất chậm chạp, khó khăn.

Thứ hai, Nâng cao năng lực dự báo, phân tích đánh giá tình hình để đưa ra cơ chế chính sách – phản ứng chính sách – một cách kịp thời, phù hợp, hiệu quả trong điều kiện kinh tế thị trường rất năng động và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhiều bất trắc khó lường.

Thứ ba, Tập trung nâng cao năng lực xây dựng và hiệu lực, hiệu quả quản lý thực hiện quy hoạch, chiến lược, kế hoạch phát triển. Đây là lĩnh vực còn nhiều hạn chế yếu kém. Nhà nước quản lý bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, nhưng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển lại không sát với thực tế, không phù hợp, kém chất lượng thì sẽ dẫn đến tình trạng lãng phí đầu tư, cản trở tiến trình phát triển của đất nước, cản trở tiến trình cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Thứ tư, Để nâng cao năng lực lãnh đạo quản lý, khắc phục những hạn chế yếu kém, phải tăng cường kỷ luật kỷ cương, tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra và xử lý nghiêm, kịp thời các hành vi vi phạm. Không làm tốt việc này thì hiệu lực, hiệu quả trong lãnh đạo quản lý điều hành của Chính phủ sẽ không đáp ứng được. Đây cũng là một khuyết điểm lớn mà chúng tôi đang ra sức khắc phục, trước hết là giám sát, kiểm tra hoạt động của các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty nhà nước.

Thứ năm, Tập trung chỉ đạo hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy của Chính phủ và bộ máy hành chính các cấp với tinh thần tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Làm rõ chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức. Không để một lĩnh vực nào mà không có cơ quan quản lý nhà nước chịu trách nhiệm quản lý chính. Ví dụ hôm qua tôi nhận được chất vấn của Đại biểu về việc  Thủ tướng đã giao cho cơ quan nào chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Tôi đã kiểm tra và thấy rằng Chính phủ đã giao cho Viện Khoa học xã hội Việt Nam chăm lo việc này và đã lập Viện ngôn ngữ học để chuyên làm nhiệm vụ bảo vệ, giữ gìn, phát huy sự trong sáng của tiếng Việt. Tuy trực thuộc Chính phủ, nhưng Viện là tổ chức sự nghiệp, không có chức năng quản lý nhà nước. Do đó, cần phải có cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực này.

Tôi muốn trình bày là phải hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy của Chính phủ, của chính quyền các cấp, bảo đảm quản lý thống nhất trên tất cả các lĩnh vực như Hiến pháp đã quy định. Không để một lĩnh vực nào đó không có cơ quan chịu trách nhiệm quản lý hay trùng dẫm một việc mà hai, ba cơ quan cùng có trách nhiệm nhưng không rõ ai chịu trách nhiệm chính. Đồng thời phải rà soát, hoàn thiện lại việc phân công, phân cấp, giao quyền cho phù hợp để vừa đề cao được trách nhiệm, vừa phát huy được sự năng động sáng tạo của cấp dưới, đồng thời phải bảo đảm lãnh đạo quản lý tập trung thống nhất của cấp trên. Việc này đã làm nhưng còn nhiều khiếm khuyết. Chúng tôi sẽ tiếp tục thực hiện tốt hơn.

Thứ sáu, Chính phủ đang chỉ đạo thực hiện các giải pháp để đề cao trách nhiệm, nâng cao đạo đức phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ công chức, nhất là người đứng đầu các cấp, các cơ quan, các đơn vị trong thực thi công vụ, thực thi chức trách nhiệm vụ được giao và phải thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Đảng gắn với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh để bộ máy hành chính của chúng ta có đội ngũ cán bộ công chức có đạo đức phẩm chất, năng lực và trách nhiệm cao, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân.

Thứ bảy, Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy tốt nhất trách nhiệm của tập thể, đồng thời đề cao đầy đủ trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu trong thực thi chức trách nhiệm vụ. Nghiêm túc lắng nghe, nâng cao năng lực tiếp thu ý kiến của nhân dân, của cán bộ đảng viên, của chuyên gia trong hoạch định chính sách và trong tổ chức thực thi quản lý. Trong đó, hết sức chú ý phát huy dân chủ, tăng cường công khai minh bạch, chủ động cung cấp thông tin và nâng cao năng lực giải đáp, giải trình của người lãnh đạo các cấp, qua đó chịu sự giám sát của nhân dân.

Với tinh thần nêu trên, Chính phủ sẽ tập trung khắc phục những hạn chế yếu kém khuyết điểm, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý, kiểm tra giám sát hoạt động của các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty nhà nước. Đồng thời với việc cơ cấu lại để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty nhà nước như Kết luận chỉ đạo của Hội nghị Trung ương 6 khóa XI.

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Bên cạnh những việc làm được làm tốt đóng góp tích cực vào thành tựu chung, Chính phủ cũng còn nhiều hạn chế yếu kém khuyết điểm. Để khắc phục hạn chế yếu kém khuyết điểm, nâng cao năng lực hiệu lực hiệu quả lãnh đạo quản lý điều hành đáp ứng yêu cầu, thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, nhân dân tin cậy giao phó, Chính phủ sẽ làm hết sức mình, thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ giải pháp, trong đó tập trung vào các nhóm nhiệm vụ giải pháp nêu trên. Nhưng khó có thể hoàn thiện ngay trong một thời gian ngắn. Rất mong được các vị đại biểu Quốc hội giám sát, ủng hộ, giúp đỡ. Chính phủ sẽ phấn đấu cao nhất để cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thực hiện tốt nhiệm vụ còn lại của năm 2012, nhiệm vụ năm 2013 và kế hoạch 5 năm 2011 – 2015 mà Đại hội XI của Đảng và Quốc hội đã đề ra.

3. Về nội dung chất vấn giải pháp nào là quyết định nhất, cơ bản nhất và động lực nào là động lực bao trùm nhất, cơ bản nhất để tái cơ cấu nền kinh tế, để chuyển đổi mô hình tăng trưởng, để công nghiệp hóa hiện đại hóa, để đổi mới toàn diện đất nước thành công. Chất vấn này rất rộng. Tôi xin trình bày mấy ý kiến sau đây:

Thưa Đại biểu, theo tôi không có cách nào khác là phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, quán triệt và thực hiện đầy đủ các chủ trương nghị quyết của Đảng, của Nhà nước ta. Trong đó đặc biệt là quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả các quan điểm, mục tiêu, chỉ tiêu, định hướng phát triển, các nhiệm vụ giải pháp, nhất là 3 đột phá chiến lược để phát triển nhanh, bền vững mà Đại hội XI của Đảng đã đề ra.

Trong tổng thể và phải thực hiện đồng bộ, đồng thời đó thì giải pháp và động lực cơ bản, bao trùm, có ý nghĩa quyết định nhất chính là thực hành dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và chăm lo lợi ích chính đáng của nhân dân, là lòng dân, là sự đồng thuận của nhân dân. Như Bác Hồ và Đảng ta đã khẳng định là mọi quyền hành, mọi lực lượng, mọi lợi ích là ở dân, là vì dân và dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Đây là giải pháp và là động lực cơ bản, bao trùm, có ý nghĩa quyết định nhất để chúng ta thực hiện thành công sự nghiệp cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và đổi mới toàn diện đất nước.

Không có dân chủ thực sự trong hoạt động kinh tế, không có bình đẳng, công khai minh bạch trong hoạt động kinh tế thì không thể có kinh tế thị trường đầy đủ, không huy động và sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng, mọi nguồn lực của dân tộc ta, của đất nước ta – kể cả vật chất và con người, không thể nâng cao được hiệu quả sức cạnh tranh của nền kinh tế, không thể hội nhập có kết quả với kinh tế quốc tế và cũng không thể tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng thành công.

Không có dân chủ đầy đủ, thực sự thì không thể bảo đảm và phát huy quyền tự do chính đáng của người dân mà Hiến pháp, luật pháp đã quy định và cũng không thể tạo được sự đồng thuận xã hội, không thể tạo được sức mạnh tổng hợp của toàn dân, không thể tạo được sức mạnh làm nên lịch sử của nhân dân và không thể có đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết và thành công, thành công, đại thành công trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Không có dân chủ, công bằng, công khai, minh bạch thì không thể xây dựng được Đảng, Nhà nước ta, hệ thống chính trị của chúng ta trong sạch, vững mạnh và cũng không thể đấu tranh ngăn chặn được các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, lãng phí. Không có dân chủ thực sự cũng không thể lựa chọn được những cán bộ tốt, có đủ năng lực, phẩm chất để gánh vác việc dân, việc nước. Không có dân chủ cũng khó hoạch định được đường lối, chủ trương, chính sách một cách phù hợp, sát thực tế, sát cuộc sống.

Nhưng dân chủ của chúng ta là dân chủ xã hội chủ nghĩa. Dân chủ phải đi liền với kỷ luật, kỷ cương, pháp luật. Không thể lợi dụng dân chủ, tự do mà làm phương hại đến lợi ích của đất nước, cũng như lợi ích chính đáng của người khác.

– Về chất vấn của đại biểu Dương Trung Quốc:

4. Nội dung chất vấn của Đại biểu nêu khá dài, tôi đã cố gắng lắng nghe, không biết có chính xác không, nhưng tôi hiểu ý kiến của đại biểu là Thủ tướng Chính phủ nên từ chức… Về chất vấn này tôi xin trình bày như sau:

Đối với tôi, hôm nay còn 3 ngày nữa là tròn 51 năm tôi theo Đảng hoạt động cách mạng dưới sự lãnh đạo quản lý trực tiếp của Đảng. Trong suốt 51 năm qua, tôi không xin với Đảng cho tôi làm, cho tôi đảm nhiệm chức vụ này hay chức vụ khác. Mặt khác, tôi cũng không từ chối, không thoái thác bất cứ nhiệm vụ gì mà Đảng phân công, giao phó cho tôi.

Là một cán bộ đảng viên của Đảng, tôi đã luôn báo cáo với Đảng, với  Bộ Chính trị, với Ban Chấp hành Trung ương một cách nghiêm túc, đầy đủ, trung thực về bản thân mình. Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng đã hiểu rất rõ về tôi, cả về ưu điểm khuyết điểm, cả về phẩm chất đạo đức, cả về năng lực khả năng, cả về sức khỏe thương tật, cả về tâm tư nguyện vọng của tôi.

Đảng ta – Đảng cộng sản Việt Nam – là Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội, Đảng lãnh đạo quản lý trực tiếp tôi, Đảng hiểu rất rõ về tôi. Đảng đã quyết định phân công tôi ứng cử tiếp tục làm nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ và Quốc hội đã bỏ phiếu bầu tôi tiếp tục làm nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ. Tôi sẵn sàng chấp hành nghiêm túc mọi quyết định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và của Quốc hội – cơ quan quyền lực cao nhất – đối với tôi.

Tóm lại gần cả cuộc đời theo Đảng, hết lòng công tác chiến đấu vì nước vì dân, dưới sự lãnh đạo quản lý trực tiếp của Đảng. Tôi không có chạy, cũng không có xin và tôi cũng không thoái thác, từ chối bất cứ nhiệm vụ gì mà Đảng và Nhà nước quyết định phân công, giao phó cho tôi. Tôi xin khẳng định là sẽ tiếp tục thực hiện như tôi đã nghiêm túc thực hiện trong suốt 51 năm qua.

– Về chất vấn của đại biểu Nguyễn Bá Thuyền:

5. Về nội dung chất vấn những khó khăn, vướng mắc nhất trong thời gian qua trong công tác phòng chống tham nhũng là những vấn đề gì và Thủ tướng có đề xuất giải pháp gì để phòng chống tham nhũng có hiệu quả hơn trong thời gian tới. Tôi xin trình bày như sau:

Đấu tranh phòng chống tham nhũng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của cấp ủy Đảng và người đứng đầu các cấp, dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 của Đảng, công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng đã đạt được những kết quả nhất định nhưng chưa đạt yêu cầu là ngăn chặn, đẩy lùi. Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết của Trung ương 3 và Luật phòng chống tham nhũng. Ban cán sự Đảng Chính phủ đã báo cáo Bộ Chính trị, báo cáo Ban Chấp hành Trung ương. Tại Hội nghị lần thứ 5 (khóa XI) Ban Chấp hành Trung ương đã có Kết luận chỉ đạo về công tác phòng chống tham nhũng. Trong đó đã chỉ rõ những kết quả đạt được, những hạn chế yếu kém, nguyên nhân, bài học và mục tiêu nhiệm vụ giải pháp phải tiếp tục triển khai thực hiện để đấu tranh phòng chống tham nhũng trong thời gian tới. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã có Báo cáo với Quốc hội tại Kỳ họp này và đã trình Quốc hội xem xét sửa đổi bổ sung một số điều cần thiết trong Luật phòng chống tham nhũng.

Tôi xin không trình bày lại.

– Về chất vấn của đại biểu Thích Thanh Quyết:

6. Về nội dung chất vấn Chính phủ có những giải pháp cơ bản nào để khắc phục những khiếm khuyết bất cập của thủy điện đang gây bức xúc trong nhân dân.

Thưa đại biểu, trong kỳ họp Quốc hội lần này, Chính phủ đã có Báo cáo  về việc đầu tư phát triển thủy điện. Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng cũng đã có giải trình. Tôi xin trình bày thêm mấy ý kiến sau:

Thủy điện là nguồn năng lượng tái tạo, là tiềm năng lớn của đất nước. Chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là khai thác, sử dụng, phát huy tiềm năng lợi thế này để đáp ứng cho yêu cầu sản xuất, đời sống của nhân dân và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chúng ta đã đạt được kết quả rất quan trọng. Thủy điện đã đóng góp cho tổng sản lượng điện của cả nước là 41% và công suất phát điện của thủy điện đã chiếm 47% trong tổng công suất phát điện của cả nước. Những năm qua chúng ta đáp ứng đủ điện cho nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân trong đó có phần đóng góp rất quan trọng của thủy điện. Nhưng ở một số dự án thủy điện đã nảy sinh những khiếm khuyết, bất cập gây bức xúc trong nhân dân như đại biểu nêu.

Chính phủ đã đề ra các yêu cầu chủ yếu khi xây dựng các dự án thủy điện như sau:

Thứ nhất là phải đảm bảo an toàn, an toàn về hồ đập, an toàn về tính mạng của nhân dân, đây là yêu cầu cao nhất, dù hiệu quả tới đâu mà không đáp ứng được yêu cầu này thì không được làm. Thứ hai là khi xây dựng thủy điện phải đảm bảo cho được chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là di dân tái định cư đến nơi ở mới phải có điều kiện để người dân từng bước có cuộc sống tốt hơn. Thứ ba là phải đặc biệt chú trọng đến môi trường, xây dựng thủy điện nhưng không làm tác động lớn, tác động xấu đến môi trường sống. Thứ tư là phải bảo đảm hiệu quả tổng hợp của dự án thủy điện cả về hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường. Thứ năm là phải nghiêm túc thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong việc lập, thẩm định dự án, thi công xây dựng và vận hành công trình.

Để thực hiện tốt các yêu cầu nêu trên và sớm khắc phục các bất cập, khiếm khuyết của một số dự án thủy điện, Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ giải pháp cụ thể như sau:

(1) Khẩn trương rà soát lại toàn bộ quy hoạch thủy điện trong cả nước.  Căn cứ vào các yêu cầu nêu trên và các quy định hiện hành, qua 2 lần rà soát đã đưa ra khỏi quy hoạch 107 dự án (hôm qua đồng chí Bộ trưởng Bộ Công Thương đã trình bày với Quốc hội). Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu tiếp tục rà soát để điều chỉnh bổ sung hoàn thiện quy hoạch thủy điện trong cả nước trong năm 2013.

(2) Quản lý chặt chẽ việc xây dựng mới các dự án thủy điện. Các dự án thủy điện đã có trong quy hoạch nhưng trước khi quyết định đầu tư phải được thẩm định một cách chặt chẽ. Dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A có công suất phát điện khá lớn, đã được đưa vào quy hoạch nhưng phải được tiến hành thẩm định một cách nghiêm túc, đúng theo các quy định của pháp luật, nếu không đạt các yêu cầu nêu trên thì không được quyết định đầu tư xây dựng (hiện nay Bộ Tài nguyên và Môi trường đang tiến hành thẩm định đánh giá về tác động môi trường). Các cơ quan có chức năng thẩm định phải chịu trách nhiệm về kết quả thẩm định của mình. Cơ quan có thẩm quyền quyết định cho phép đầu tư xây dựng phải đảm bảo đúng các quy định của pháp luật và các yêu cầu mà Chính phủ đề ra và phải chịu trách nhiệm về việc quyết định cho phép của mình.

(3) Phải rà soát lại tất cả các dự án thủy điện hiện có. Tập trung rà soát các nội dung cụ thể sau: Một là hồ đập có an toàn không, phải sửa chữa gia cố ngay các sơ sót khiếm khuyết, nếu không an toàn là không được vận hành. Hai là phải rà soát lại việc tái định cư, xem người dân sống thực tế thế nào, nếu chưa đạt yêu cầu mà Đảng và Nhà nước đề ra thì phải đề xuất cơ chế chính sách, kể cả chính sách đặc thù để đồng bào ta có điều kiện sống tốt hơn. Ba là rà soát yêu cầu các chủ đầu tư trồng lại rừng như đã quy định, đã cam kết, kể cả việc thu tiền để trồng lại diện tích rừng đã mất ở nơi khác. Bốn là rà soát lại các quy trình vận hành hồ chứa của các hồ thủy điện. Nếu trên một dòng sông mà có nhiều đập thủy điện thì phải có quy trình vận hành liên hồ chứa. Phải bảo đảm được tiêu chí đề ra, nhất là các yêu cầu về góp phần chống lũ, ngăn mặn, điều tiết nước cho sản xuất và đời sống nhân dân… Quy trình vận hành hồ chứa nào chưa tốt thì phải bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp, hiệu quả.

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Tại kỳ họp này Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cũng đã thực hiện giám sát đối với công trình thủy điện Sông Tranh II và đã có báo cáo gửi đến các vị đại biểu Quốc hội. Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải và Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng, Bộ trưởng Trịnh Đình Dũng cũng đã giải trình về những chất vấn của đại biểu Quốc hội.

Đến hôm nay các chuyên gia chuyên ngành có trách nhiệm trong nước và công ty tư vấn hàng đầu của Nhật, Thụy Sỹ cũng báo cáo là đập thủy điện Sông Tranh II bảo đảm an toàn. Các Bộ và cơ quan chức năng như Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng, Bộ Khoa học và Công nghệ, Hội đồng nghiệm thu nhà nước, Viện Vật lý địa cầu thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam đều báo cáo đập thủy điện Sông Tranh II là an toàn. Tôi nhận được báo cáo của các cơ quan chức năng là như vậy. Nhưng để chắc chắn hơn, với mục tiêu an toàn cao nhất cho tính mạng của nhân dân, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu phải làm tiếp những việc sau:

Thứ nhất là chưa được tích nước phát điện để tiếp tục nghiên cứu đánh giá kỹ thêm về động đất. Vấn đề này đã được chấp hành nghiêm túc. Thứ hai là giao Hội đồng nghiệm thu nhà nước và các Bộ liên quan lập tổ công tác thường xuyên túc trực tại thủy điện Sông Tranh II để theo dõi tất cả các diễn biến của động đất để kịp thời tính toán phương án ứng phó với mục tiêu an toàn là cao nhất. Thứ ba là đồng thời cùng với các chuyên gia của chúng ta, phải thuê chuyên gia tư vấn hàng đầu của quốc tế như Nga, Nhật, Ấn Độ (một số chuyên gia này đã có mặt tại hiện trường) để khảo sát, đánh giá về động đất kích thích liên quan tới an toàn của đập. Thứ tư là công bố công khai đầy đủ thông tin cho nhân dân và hướng dẫn nhân dân ứng phó với động đất kích thích. Thứ năm là yêu cầu rà soát, bổ sung việc chi trả đền bù hỗ trợ đối với hộ dân có nhà bị hư hỏng do động đất (còn chính sách gì thêm nữa mà đại biểu của Quảng Nam đề nghị sẽ tiếp tục nghiên cứu cho phù hợp). Thứ sáu là giao Hội đồng nghiệm thu nhà nước chủ trì cùng với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công Thương, Viện Vật lý địa cầu… tiếp tục tiến hành hội thảo để tranh thủ trí tuệ, lắng nghe ý kiến của các chuyên gia chuyên ngành với tinh thần xây dựng, trách nhiệm cao và tất cả vì an toàn của nhân dân, vì lợi ích của đất nước.

Chính phủ sẽ làm tất cả những gì có thể để đạt được các mục tiêu yêu cầu như đã nêu trên. Rất mong các vị đại biểu Quốc hội theo dõi, giám sát.

Thưa Quốc hội, đến giờ này, thời gian trả lời chất vấn dành cho tôi đã hết. Tôi xin kết thúc phần báo cáo giải trình và trả lời chất vấn tại đây. Hai chất vấn còn lại của đại biểu Thích Thanh Quyết tôi sẽ trả lời đến Đại biểu và đăng trên website của Chính phủ. Các chất vấn khác của các vị Đại biểu tôi sẽ trả lời bằng văn bản. Thay mặt các thành viên của Chính phủ, tôi xin cám ơn các vị đại biểu Quốc hội, đồng bào cử tri cả nước đã theo dõi giám sát chất vấn đối với các hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các thành viên của Chính phủ. Chúng tôi rất mong tiếp tục nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ, giám sát của các vị đại biểu Quốc hội và đồng bào cả nước. Xin chúc các vị đại biểu Quốc hội, đồng chí đồng bào sức khỏe, hạnh phúc, thành đạt. Xin cám ơn Quốc hội.

*
*       *
Như đã hứa trước Quốc hội. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trả lời bằng văn bản về 2 nội dung chất vấn còn lại của đại biểu Thích Thanh Quyết. Cổng thông tin điện tử Chính phủ xin đăng toàn văn trả lời của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng:

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

– Tôi xin trình bày về 2 chất vấn còn lại của Đại biểu Thích Thanh Quyết:

7. Về nội dung chất vấn Chính phủ có những giải pháp gì để ngăn chặn, khắc phục tình trạng nhiều mạng Internet đã đăng tải những thông tin không đúng sự thật, truyền bá văn hóa đồi trụy, độc hại, trái với thuần phong mỹ tục tốt đẹp của dân tộc ta, đưa những thông tin bịa đặt, xuyên tạc, gây dư luận xấu, hoài nghi đối với lãnh đạo Đảng, Nhà nước và biện pháp xử lý đối với những người đưa thông tin không đúng sự thật trên mạng Internet.

Tôi xin trình bày như sau:

Công nghệ thông tin nói chung và Internet nói riêng đã mang lại sự đổi thay lớn trên thế giới. Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là phát triển mạnh mẽ Công nghệ thông tin, Internet phục vụ hiệu quả cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cho tiến trình đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cho nhu cầu đa dạng phong phú trong sản xuất và đời sống của nhân dân. Những năm qua Việt Nam chúng ta đã đạt được bước tiến quan trọng trên lĩnh vực này, đóng góp thiết thực vào thành tựu chung của đất nước.

Đặc điểm của thông tin từ mạng Internet là không biên giới, ảnh hưởng tức thì. Bên cạnh những mặt tích cực là chủ yếu thì Internet cũng bị kẻ xấu lợi dụng để truyền bá văn hóa đồi trụy độc hại trái với thuần phong mỹ tục tốt đẹp của dân tộc ta và đưa những thông tin bịa đặt, xuyên tạc, không đúng sự thật, gây dư luận xấu, gây hoài nghi đối với lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta như Đại biểu đã nêu.

Chính phủ đang tập trung chỉ đạo tăng cường hiệu lực hiệu quả quản lý trên lĩnh vực này. Một mặt là tiếp tục hoàn thiện thể chế, luật pháp, rà soát bổ sung chiến lược, quy hoạch để tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Thông tin Truyền thông và Internet phát triển mạnh mẽ hơn, phục vụ hiệu quả hơn cho phát triển kinh tế – xã hội, đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng, thiết thực trong sản xuất kinh doanh, trong đời sống của người dân; đồng thời hạn chế, ngăn chặn có hiệu quả những mặt tiêu cực, bất lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mặt khác là tăng cường thực hiện các giải pháp đồng bộ để đáp ứng nhu cầu thông tin lành mạnh, đặc biệt là chủ động cung cấp thông tin chính thức, kịp thời cho nhân dân.

Vừa qua, thực hiện tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI) về xây dựng Đảng. Có một số ý kiến góp ý phản ánh về những dư luận tiêu cực đối với lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta, trong đó có nhiều thông tin bịa đặt, xuyên tạc, vu khống lấy từ mạng Internet. Các đồng chí Lãnh đạo nhận được ý kiến góp ý phản ánh này đã nghiêm túc báo cáo giải trình cụ thể về từng thông tin liên quan tới bản thân và gia đình mình. Bộ Chính trị đã giao cơ quan chức năng tiến hành thẩm tra, xác minh, kết luận về từng vụ việc và đã báo cáo với Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Qua thẩm tra, xác minh đã kết luận những thông tin đó đều không đúng sự thật.

Chúng ta phải ứng xử thật khách quan, bình tĩnh, thận trọng và phải hết sức cảnh giác trước những thông tin xấu trên mạng Internet, trước những dư luận tiêu cực đối với mỗi con người, đối với mỗi đồng chí chúng ta. Nếu chỉ căn cứ vào dư luận, căn cứ vào thông tin trên mạng Internet mà suy diễn, mà quy kết là không khách quan. Đó cũng là điều mà những người tung tin xấu, tạo dư luận tiêu cực mong muốn. Khi xử lý đối với những thông tin này phải  thực hiện theo đúng quy định của Đảng và pháp luật nhà nước. Chúng ta có cả hệ thống cơ quan chức năng để giám sát, kiểm tra, thanh tra, thậm chí là điều tra để làm rõ các dấu hiệu, các thông tin tiêu cực và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm.

Mặt khác, những hành vi truyền bá văn hóa đồi trụy độc hại và đưa những thông tin không đúng sự thật, xuyên tạc, bịa đặt, vu khống… phải được xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

8. Về nội dung chất vấn Kết quả hoạt động an ninh quốc phòng năm 2012 và định hướng chính sách đối ngoại của Nhà nước ta, đặc biệt là đối với các nước lớn và các nước lân cận trong thời gian sắp tới. Tôi xin trình bày như sau:

Năm 2012, thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân tiếp tục được tăng cường. Lực lượng vũ trang nhân dân được tiếp tục xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại (một số lĩnh vực đi nhanh vào hiện đại). Tiềm lực quốc phòng và công nghiệp quốc phòng được nâng lên. Gắn kết chặt chẽ hơn phát triển kinh tế – xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh. Công tác đối ngoại đạt được nhiều kết quả tích cực. Bằng sức mạnh tổng hợp chúng ta đã bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, độc lập chủ quyền quốc gia, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội và cải thiện đời sống nhân dân. Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta phải làm tốt nhiệm vụ này trong năm 2013.

Trong thời gian tới chúng ta tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn là đối tác tin cậy, bình đẳng cùng có lợi và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, vì lợi ích đất nước, vì chủ quyền quốc gia, vì một nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa – dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và vì hòa bình hữu nghị, hợp tác phát triển trong khu vực và trên thế giới.

Tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác tốt đẹp với các nước láng giềng. Thúc đẩy giải quyết bằng biện pháp hòa bình các vấn đề còn tồn tại về biên giới, lãnh thổ, ranh giới biển và thềm lục địa với các nước liên quan trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển năm 1982 và các quy tắc ứng xử, các thỏa thuận của khu vực đã đạt được. Xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển.

Chủ động đóng góp tích cực và có trách nhiệm vào việc xây dựng Cộng đồng ASEAN. Đưa quan hệ với các đối tác đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả hơn. Chủ động tham gia tích cực và đóng góp hiệu quả tại các diễn đàn đa phương, khu vực và quốc tế góp phần vào hòa bình, ổn định, hợp tác phát triển của khu vực và trên toàn thế giới.

Xin cám ơn các vị đại biểu Quốc hội./.

http://thutuong.chinhphu.vn/Home/Toan-van-Bao-cao-giai-trinh-va-tra-loi-chat-van-Quoc-hoi-truc-tiep-cua-Thu-tuong-Nguyen-Tan-Dung/201212/17381.vgp

Nghi vấn về tham nhũng ngay trong lực lượng chống tham nhũng

Dẫn lại ví dụ vụ Dương Chí Dũng (ảnh) bỏ trốn, bà Nga đồng tình với đề nghị áp dụng biện pháp điều tra bí mật với tội phạm tham nhũng của bộ trưởng Công an Trần Đại Quang.

Có bốn hình thức công bố kết luận thanh tra nhưng thường người ra quyết định thanh tra lại chọn hình thức có phạm vi hẹp nhất, dẫn đến, ngay đại biểu Quốc hội muốn tiếp cận kết luận còn khó nói chi công chúng.

 

Phát biểu trước Quốc hội về công tác phòng chống tội phạm, phó chủ nhiệm uỷ ban Tư pháp Lê Thị Nga nhận định, các vụ án trật tự trị an càng kéo dài, càng mở rộng điều tra thì càng phát hiện nhiều đối tượng, chứng cứ được củng cố chặt chẽ hơn nhưng án tham nhũng thì ngược lại: càng kéo dài thời gian xử lý thì càng thu hẹp đối tượng, tài liệu chứng cứ bị mất, bị thay đổi theo hướng có lợi cho đối tượng phạm tội, sau đó không xử lý được.

Ví dụ tiêu biểu được bà Nga dẫn ra là vụ việc Võ Nhật Duy (công ty cao su Sơn La) bị cáo buộc nhận hối lộ 300 triệu đồng nhưng do sơ suất của điều tra viên nên biên bản phạm tội quả tang không đủ căn cứ pháp lý. Theo bà, đây là điều “không thể chấp nhận được” vì là lỗi sơ đẳng mà ngay đến điều tra viên cấp huyện còn ít mắc phải chứ nói gì đến cơ quan điều tra cấp Trung ương. “Tình trạng này nói lên điều gì, đó là dấu hiệu tham nhũng trong lực lượng chống tham nhũng? Đề nghị bộ trưởng Công an, chánh án Toà án tối cao, viện trưởng Viện Kiểm sát tối cao trả lời”, bà Nga bức xúc.

Dẫn lại ví dụ vụ Dương Chí Dũng bỏ trốn, bà Nga đồng tình với đề nghị áp dụng biện pháp điều tra bí mật với tội phạm tham nhũng của bộ trưởng Công an Trần Đại Quang. Vì theo bà, nếu thủ tục điều tra tiến hành như bình thường thì khả năng đối tượng tham nhũng – vốn có chức quyền – sẽ tận dụng lợi thế đó để xoá dấu vết, tiêu huỷ vật chứng, thậm chí biến mất sau khi bị phát hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên “nếu trao quyền mà thiếu cơ chế kiểm soát thì khả năng lạm dụng có thể xảy ra nên phải xác định nguyên tắc, điều kiện chặt chẽ, đối tượng để áp dụng”, bà Nga lưu ý.

Đối với lực lượng thanh tra, bà Nga cho rằng, để đảm bảo phát huy hiệu quả của thanh tra trong phòng chống tham nhũng và khắc phục việc quá lệ thuộc của ngành thanh tra vào chủ thể quản lý, năm 2010 Quốc hội đã sửa đổi luật Thanh tra theo hướng đảm bảo sự độc lập cần thiết của hoạt động thanh tra, tuy nhiên thực tế nhiều vụ việc thanh tra không tuân thủ nghiêm, như các cuộc thanh tra do Thanh tra Chính phủ thực hiện tại Vinashin và ngân hàng Phát triển. Cụ thể các vi phạm, theo đại biểu này, là thời hạn ra kết luận thanh tra (có vụ vi phạm gấp mười lần thời hạn cho phép); người ra kết luận thanh tra có xu hướng phụ thuộc chủ thể quản lý; trưởng đoàn thanh tra chưa thực hiện trách nhiệm kiến nghị của mình, góp phần dẫn đến người có thẩm quyền thuyên chuyển công tác đối tượng thanh tra (như trong vụ việc ở Vinalines); nội dung kết luận thanh tra không xác định đầy đủ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có vi phạm dẫn đến trách nhiệm chỉ có lãnh đạo doanh nghiệp chứ không hề thấy trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước.

Soi công thức được quốc tế thừa nhận: (tham nhũng = độc quyền + bưng bít thông tin – trách nhiệm giải trình) vào thực tiễn của Việt Nam trong công khai kết luận thanh tra, bà Nga nói: Có bốn hình thức công bố kết luận thanh tra nhưng thường người ra quyết định thanh tra lại chọn hình thức có phạm vi hẹp nhất, dẫn đến, ngay đại biểu Quốc hội như bà muốn tiếp cận kết luận còn khó nói chi công chúng. “Việc hạn chế công chúng tiếp cận kết luận thanh tra đã ảnh hưởng rất lớn đến công tác chống tham nhũng”, bà Nga bày tỏ. Hay như vai trò của Kiểm toán Nhà nước trong chống tham nhũng, theo bà là chưa được đề cao, địa vị còn nửa vời, bà Nga nói; kiểm toán là công cụ để Quốc hội giám sát Chính phủ nhưng đây không phải là cơ quan của Quốc hội cũng không phải cơ quan của Chính phủ, tổng kiểm toán Quốc hội muốn bầu cũng phải có sự thống nhất của Thủ tướng. Kết luận kiểm toán chưa có giá trị bắt buộc thi hành, chưa bao giờ tổng kiểm toán báo cáo báo tình hình ngân sách hàng năm trước Quốc hội… làm giảm hiệu quả phát hiện tham nhũng, nhất là trong chi ngân sách và đầu tư công.

CHÍ HIẾU (SÀI GÒN TIẾP THỊ)

[http://sgtt.vn/Thoi-su/171891/Tham-nhung-ngay-trong-luc-luong-chong-tham-nhung.html]

Các nhà khoa học Hungari vừa đưa ra một giả thuyết mới để giải thích chuyện vì sao con ngựa vằn lại có những vằn đen và trắng luân phiên, từng làm cho Charles Darwin vĩ đại mất ăn mất ngủ. Theo giả thuyết mới này thì nguyên nhân xuất hiện loài ngựa đã làm các nhà sinh học “bí” hóa ra lại liên quan đến côn trùng. 

Những vằn đen trắng trên mình những chú ngựa vằn giúp chúng chống lại những côn trùng hút máu. Ảnh: Getty.

Giáo sư Adam Egri thuộc Trường ĐH Lorand Eotvos (Hungaria) cùng các đồng nghiệp đã nghiên cứu vấn đề này và đi đến kết luận rằng những vết vằn xen kẽ nhau trên thân ngựa vằn là để bảo vệ cho nó khỏi bị các côn trùng hút máu tấncông.

Họ quyết định kiểm tra lại một gỉa thuyết cách nay đã 80 năm cho rằng ngựa vằn làm các con mòng hút máu chú ý đến ít hơn nhiều so với những con ngựa một màu.

Điều này liên quan đến những đặc tính về thị giác của côn trùng. Chính sự xen kẽ giữa các vạch đen và trắng làm côn trùng “tha cho” đến ngựa vằn vì hiệu ứng phân cực ánh sáng.

Các vạch trắng và đen phản chiếu ánh sáng tới theo các độ phân cực khác nhau. Do thị giác kém phát triển, không bóc tách được các tia trong một chùm sáng khiến côn trùng bị rối trí, mất sự định hướng không gian và không thể bay đến đúng mục tiêu để đốt.

Để kiểm tra giả thuyết này bằng thực nghiệm, các nhà nghiên cứu đã dùng các khay chứa bả độc, để bẫy loài mòng hút máu. Họ đặt bẫy ở các trang trại chăn nuôi gần Budapest. Những khay đen được phủ các dải băng có hoa văn trắng, mảnh hoặc dày, song song hoặc giao nhau.

Các thí nghiệm chứng tỏ rằng, mòng ít thích các băng mảnh hơn băng dày, và khay có băng song song bẫy được ít mòng hơn những băng giao nhau. Điều quan trọng nhất mà các nhà nghiên cứu phát hiện ra là chính các khay đặt các dải băng càng giống với bộ da ngựa vằn bao nhiều thì càng ít bẫy được mòng bấy nhiêu.

Những con vật bị mòng đốt thường bị truyền những bệnh chúng mang theo và thường làm con vật bị mòng đốt bị chết. Rõ ràng là ở châu Phi có một thực tế là những con vật có bộ da loang lổ dễ dàng sống sót hơn những loài bộ da chỉ một màu. Các nhà khoa học Cộng hòa Séc cũng cho rằng giả thuyết liên quan đến côn trùng không chỉ giải thích cho cơ hội sống sót của ngựa vằn mà còn của nhiều loài vật khác nữa.

Còn có nhiều lý thuyết khác để giải thích sự xuất hiện các vết vằn vện trên da ngựa vằn. Một giả thuyết cho rằng sự vằn vện để giúp lòai ngựa này dễ ngụy trang, hòa mình vào các trảng cỏ mọc cao hàng thước.

Giả thuyết khác lý giải các vạch trên da ngựa vằn tạo ảo ảnh quang học để đánh lừa các loài ăn thịt. Giả thuyết thứ ba cho rằng ngựa vằn dùng các vằn vện để điều chỉnh nhiệt độ, song tất cả những giả thuyết ấy đều không thể chứng minh một cách logic.

Bảo Châu [VietNamNet.vn]

Là một tôn giáo lớn trên thế giới, đạo Tin lành đã có mặt ở Việt Nam hơn 100 năm. Trong quá trình tồn tại và phát triển ở Việt Nam, Tin lành đã chọn lựa các hình thức hoạt động mềm dẻo, giáo lí và lễ nghi được đơn giản hoá, quần chúng hoá.

Ở nhiều nơi đạo Tin lành đã thích nghi dễ dàng với phong tục tập quán của người địa phương, số lượng tín đồ đạo Tin lành ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, những ảnh hưởng của nó tới đời sống chính trị xã hội, tâm lý lối sống, phong tục tập quán… đang đặt ra nhiều vấn đề khá phức tạp và nhạy cảm.

Dưới đây là bài viết khái quát một số đặc điểm lịch sử về đạo Tin lành ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra hiện nay.

1. Sự hình thành đạo Tin lành và một số đặc điểm nhận biết

1.1 Sự hình thành đạo Tin lành

Nếu so sánh với các tôn giáo lớn trên thế giới như Phật giáo, Công giáo hay Hồi giáo thì Đạo Tin lành ra đời muộn hơn cả. Tuy nhiên, kể từ khi ra đời cho đến nay, đạo Tin lành đã phát triển rất mạnh, trở thành một tôn giáo quốc tế với khoảng 550 triệu tín đồ, gần 300 hệ phái tổ chức khác nhau và có mặt trên nhiều quốc gia.

Vào khoảng đầu thế kỷ XVI ở Châu Âu diễn ra sự phân biệt trong đạo Ki tô, dẫn tới việc ra đời của đạo Tin lành. Thực chất đó là cuộc cải cách tôn giáo và chính trị xã hội sâu sắc. Đạo Tin lành là kết quả của sự khủng hoảng đến mức trầm trọng về uy tín của Công giáo do những tham vọng quyền lực trần thế, sự sa sút về đạo đức của hàng giáo phẩm; là kết quả của sự lúng túng, bế tắc của nền thần học kinh viện thời trung cổ; là kết quả đầu tiên mà giai cấp tư sản mới ra đời giành được trong cuộc đấu tranh chống  lại giai cấp phong kiến mà chỗ dựa tư tưởng của giai cấp này là đạo công giáo.

Phong trào cải cách tôn giáo nổ ra đầu tiên ở Đức. Người khởi xướng và trở thành lãnh tụ nổi tiếng của phong trào này là Matin Luther. Ông là người đã bỏ dở chương trình Đại học Luật Erfurt để quyết định “dâng mình cho Chúa” rồi tu tại dòng Oguxtino. Sau đó Luther trở thành giáo sư, tiến sĩ thần học của truờng Đại học tổng hợp Wittenberg. Khi có dịp sang Rôma, Luther đã hoàn toàn thất vọng vì tận mắt chứng kiến đời sống xa hoa trần tục của số đông giáo sỹ. Với sự kiện này ông đã nhen nhóm những ý tưởng cải cách tôn giáo. Sau đó Luther đã công bố 95 luận đề với nội dung phê phán kịch liệt việc lợi dụng danh thánh để bóc lột dân chúng, lên án chức vụ giáo hoàng và giáo quyền Rôma…

Những quan điểm của Luther đã được đông đảo các tầng lớp nhân dân Đức ủng hộ, nhất là các công hầu quý tộc. Đến năm 1532, trước sự lớn mạnh của phong trào này, hoàng đế Đức đã phải thừa nhận sự tự do hoạt  động của đạo Tin lành.

Thụy Sĩ cũng là trung tâm lớn thứ hai của cuộc cải cách tôn giáo gắn với tên tuổi của Jean Calvin. Ông là người Pháp, đã từng theo học thần học và luật học  bằng học bổng của giáo hội Công giáo nhưng do hưởng ứng phong trào cải cách của Luther nên bị trục xuất khỏi Pháp và sinh sống ở Thuỵ Sĩ. Calvin đã nghiên cứu và hình thành một giáo thuyết riêng đồng thời cải cách về lễ nghi, giáo hội làm chuẩn mực cho phần lớn các hệ phái Tin lành đi theo…

Từ trung tâm Đức và Thuỵ Sĩ, phong trào cải cách tôn giáo phát triển nhanh chóng sang Pháp, Scotlen, Ireland, Hà lan, Anh , Nauy, Đan mạch… Đến cuối thế kỷ XVI đã hình thành một tôn giáo mới tách hẳn khỏi đạo Công giáo. Trong quá trình phát triển của mình, đạo Tin lành đã hình thành rất nhiều hệ phái khác nhau như Trưởng lão, Menhônai, Moóc Mông, Ngũ tuần, Giám lý, Thanh giáo và Giáo hội cộng đồng, Cơ đốc Phục lâm, Giáo hội thống nhất, Môn đệ đấng Chrits, Hội  Liên hiệp Phúc âm truyền giáo…

1.2. Đặc điểm nhận biết của đạo Tin lành

Đạo Tin lành có nhiều tổ chức hệ phái mặc dù có những dị biệt về giáo thuyết, nghi thức hành đạo và cách tổ chức giáo hội nhưng nhìn chung đều thống nhất ở những nội dung, nguyên tắc chính. Có thể khái quát và so sánh với đạo Công giáo:

Trước hết về thần học: Đạo Tin lành là một nhánh của Kitô giáo nên cũng lấy kinh thánh Cựu ước và Tân ước làm nền tảng giáo lý. Khác với Công giáo, Tin lành đề cao vị trí kinh thánh, coi đó là chuẩn mực căn bản duy nhất của đức tin và sự hành đạo, nhưng không coi kinh thánh là cuốn sách của riêng giáo sĩ mà tất cả các tín đồ, giáo sĩ đạo Tin lành đều đọc, sử dụng, nói và làm theo kinh thánh.

Đạo Tin lành cũng thờ Thiên chúa và thừa nhận chúa 3 ngôi: Cha, Con, Thánh thần; tin muôn vật đều do thiên chúa tạo dựng. Nhưng trong tín điều về Đức Bà hoài thai chúa GiêSu một cách mầu nhiệm, đạo Tin lành cho rằng Chúa chỉ mượn lòng bà Maria làm nơi sinh thành chứ Maria không thể là mẹ của Chúa dù theo bất cứ nghĩa nào, thậm chí sau khi sinh ra GiêSu, Maria không còn đồng trinh nữa và còn sinh rất nhiều con cái: Giacôp, Giôdep, Ximôn, Gruđa… Chính vì thế họ phản đối mọi sự thờ phụng bà Maria.

Là một tôn giáo đặc biệt đề cao lý trí trong đức tin. Do đó, luật lệ, lễ nghi, cách thức hành đạo của Tin lành đơn giản, không cầu kỳ rườm rà. Đạo Tin lành không thờ các tranh ảnh, hiện tượng cũng như dị vật phản đối việc hành hương đến các thánh địa. Trong 7 phép bí tích của đạo Công giáo, đạo Tin lành chỉ thừa nhận và thực hiện phép rửa tội và phép thánh thể. Nếu tín đồ đạo Công giáo xưng tội trong toà kín với linh mục là hình thức chủ yếu nhất thì tín đồ đạo Tin lành khi xưng tội và cầu nguyện có thể đứng giữa nhà thờ, đám đông để sám hối hoặc nói lên ý nguyện  của mình một cách công khai. Thánh đường của đạo Tin lành thường có kiến trúc hiện đại, đơn giản. Trong thánh đường chỉ có duy nhất cây thập giá, biểu tượng của Chúa GiêSu bị nạn.

Về nhân sự, đạo Tin lành cũng có giáo sĩ như công giáo. Giáo sĩ đạo Tin lành có hai chức: mục sư và giảng sư, không áp dụng luật độc thân như giáo sĩ đạo Công giáo. Và có một điều đặc biệt là giáo sĩ Tin lành có nhiều người là nữ. Các giáo sĩ tuy cũng được coi là người chăm sóc linh hồn cho tín đồ nhưng không có quyền thay mặt Chúa để ban phúc hay tha tội cho con chiên.

Về phương diện tổ chức, đạo Tin lành không lập ra tổ chức giáo hội mang tính chất phổ quát cho toàn đạo mà đi theo hướng xây dựng các giáo hội riêng rẽ, độc lập với những hình thức khác nhau theo từng hệ phái, từng quốc gia. Trong tổ chức giáo hội, các hệ phái Tin lành chủ trương giao quyền tự trị cho các giáo hội cơ sở, chi hội, các cấp giáo hội bên trên hình thành phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cho phép. Giáo hội Tin lành không cấu thành bởi các vị giáo sĩ một cách cố định như Công giáo mà cả tín đồ, giáo sĩ tham gia thông qua bầu cử một cách dân chủ…

Nhìn chung, có thể thấy sự cải cách của Tin lành về cách thức hành đạo cũng như tổ chức giáo hội chịu ảnh hưởng đậm nét của tư tưởng dân chủ và khuynh hướng tự do cá nhân, giảm thiểu và bớt đi sự linh thiêng về luật lệ, lễ nghi, cơ cấu tổ chức của đạo Công giáo. Sinh hoạt tôn giáo không lệ thuộc nhiều vào việc lễ bái, nơi thờ tự, chức sắc… Người ta khó có thể đánh giá mức độ và nhu cầu tín ngưỡng của tín đồ Tin lành qua việc họ có đến nhà thờ tham dự các sinh hoạt tôn giáo hay không. Đối với tín đồ Tin lành, nếu có đức tin thì ở tại gia đình với quyển kinh thánh, họ có thể chu toàn bổn phận của một tín đồ.

Với lối sống đạo nhẹ nhàng đơn giản, không rườm rà và ràng buộc khắt khe như đạo Công giáo, lại đề cao tinh thần dân chủ trong các hoạt động về tổ chức nên đạo Tin lành là một tôn giáo có màu sắc mới mẻ, thích hợp với lối sống của giai cấp tư sản, tiểu tư sản, công chức thị dân nói chung trong xã hội công nghiệp. Ngày nay, người ta dễ dàng nhận thấy những nước có nền công nghiệp tiên tiến là những nước có đông người theo đạo Tin lành như Thụy Điển, Nauy, Đan Mạch, Đức, Anh, Hà Lan, Mỹ…

Bên cạnh đó, cũng có thể  nhận thấy rằng  Tin lành ra đời khi các tôn giáo lớn đã tạo được nhiều hình ảnh ở những địa bàn nhất định. Ví dụ như Phật giáo ở Châu Á, Công giáo ở Châu Âu, Hồi giáo ở Trung cận đông… Trước thực tế đó, Tin lành một mặt nỗ lực lôi kéo Công giáo ở Châu Âu, mặt khác tìm đến vùng xa xôi hẻo lánh để phát triển đạo. Ở những vùng này, đạo Tin lành không chỉ khai thác lợi thế là một tôn giáo có lối sống đạo đơn giản, đề cao dân chủ và vai trò cá nhân mà còn nghiên cứu rất kỹ đặc điểm văn hoá tâm lý, lối sống của từng dân tộc ở những vùng này để có phương thức phù hợp. Đặc biệt những nơi có phong tục tập quán lạc hậu, Tin lành xuất hiện với những điều mới lạ và tiến bộ lôi kéo người tin theo và trong những trường hợp đó đạo Tin lành phát triển rất nhanh. Vậy đối tượng tín đồ của Đạo Tin lành ngoài tầng lớp trí thức thị dân còn là dân tộc thiểu số.

Mặc dù được đánh giá là một tôn giáo “tiến bộ”, “năng động” và dễ thích nghi nhưng vì đạo Tin lành đề cao vai trò của kinh thánh, thậm chí có một số hệ phái Tin lành tỏ ra rất bảo thủ, không chấp nhận những điều gì trái với kinh thánh nên dẫn đến sự phản ứng đối kháng với văn hoá tín ngưỡng truyền thống của các tín đồ ở những nơi đạo Tin lành truyền bá.

2. Đạo Tin lành ở Việt Nam

2.1. Đặc điểm lịch sử

Với những đặc điểm riêng về địa lý, lịch sử, văn hoá, dân cư… Việt Nam là một quốc gia có nhiều tôn giáo và loại hình tín ngưỡng. Trước khi đạo Tin lành được truyền vào, Việt Nam đã có các tôn giáo lớn như Phật giáo, Lão giáo, Công giáo. Đạo Tin lành có mặt ở  Việt Nam vào những năm cuối thế kỷ XIX do tổ chức Tin lành Liên hiệp phúc âm và truyền giáo Mỹ (CMA) truyền vào. Tổ chức này đã cử nhiều mục sư sang Việt Nam để tìm hiểu và thăm dò: Mục sư Tiến sĩ A.B Sumpsm (1887); D.Leclacher (1893); C.H Reves (1897); R.A Jaffray (1899); S.Dayan (1901)… Đến năm 1911, CMA đã cử R.A.Jaffray, Paul.M.Husel, G.LoyHugher đến Đà Nẵng lập Hội thánh đầu tiên. Đây là sự kiện đánh dấu mốc cho sự truyền bá đạo Tin lành vào Việt Nam. Từ cơ sở ở Đà Nẵng, các giáo sĩ hội truyền giáo mở thêm một số cơ sở khác ở những vùng lân cận như: Hội An, Tam kỳ, Đại Lộc… và cử người dân đi truyền đạo ở Bắc kỳ và Nam kỳ với các hoạt động chủ yếu là: dịch kinh thánh, lập nhà in và mở trường đào tạo mục sư truyền đạo.

Tuy nhiên, chính quyền Pháp ở Việt Nam không ưa đạo Tin lành, họ lo ngại ảnh hưởng của Mỹ thông qua việc phát triển đạo Tin lành. Do đó đạo Tin lành trong thời kỳ này hoạt động rất khó khăn. Khi chiến tranh thế giới thứ nhất xảy ra, thực dân Pháp cho rằng các giáo sĩ Tin lành làm gián điệp cho Đức nên đã ra lệnh đóng cửa nhà thờ Tin lành và cấm các giáo sĩ Tin lành hoạt động. Ngoài ra người Pháp còn dựa vào Hoà ước 6/6/1884 chỉ cho phép Thiên chúa giáo được truyền bá vào Việt Nam. Toàn quyền Đông dương đã cho đóng cửa nhà thờ, trục xuất giáo sỹ truyền giáo CMA. Phải tới năm 1927, khi phong trào dân chủ Pháp lên cao thì những lệnh cấm này mới được huỷ bỏ. Thế nhưng trong sự cấm đoán đó, đạo Tin lành vẫn tìm mọi cách để phát triển. Tới năm 1918, CMA đã lập được 5 chi hội ở Bắc kỳ, 6 chi hội ở Trung kỳ và 5 chi hội ở Nam kỳ. Tất cả các chi hội Tin lành lúc đó đều được giấy phép hoạt động cả của khâm sứ 3 kỳ và đều lấy tên là : “Hội thánh Tin lành Đông Pháp” (MEI).

Từ năm 1924 đến năm 1927, đã có 4 Đại hội đồng của Đạo Tin lành được tổ chức. Đại hội đồng lần thứ IV ở Đà Nẵng đã bầu ra Ban Trị sự Tổng liên Hội thánh Tin lành Việt Nam do mục sư Hoàng Trọng Thừa làm Hội trưởng đầu tiên.

Trong thời kỳ chiến tranh Thế giới thứ 2, phát xít Nhật vào Đông Dương, tình hình chính trị xã hội phức tạp, Uỷ ban truyền giáo của CMA New York đã có lệnh triệu hồi tất cả các giáo sĩ rời Đông Dương. Hội thánh Tin lành Việt Nam rơi vào tình trạng suy thoái, các sinh hoạt tín ngưỡng của tín đồ cũng bị xáo trộn. Chiến tranh kết thúc, các giáo sĩ trở lại Việt Nam và các sinh hoạt của đạo Tin lành ở cả 3 miền được phục hồi.

Trải qua một quá trình truyền bá và phát triển, đến năm 1954, đạo Tin lành có khoảng 60.000 tín đồ với gần 100 mục sư truyền đạo. Trụ sở chung của giáo hội Tin lành Việt Nam được đặt tại Hà nội.

Sau Hiệp định Giơnevơ (1954), đạo Tin lành ở hai miền Nam – Bắc có sự khác nhau. Ở Miền Bắc số đông tín đồ giáo sĩ bị đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch kích động nên đã di cư vào Nam. Những người ở lại miền Bắc đã lập tổ chức giáo hội riêng lấy tên gọi là Hội thánh Tin lành Việt Nam thường gọi là Tổng hội Tin lành miền Bắc với những hoạt động bình thường, phạm vi ảnh hưởng không lớn, số lượng tín đồ cũng tăng một cách không đáng kể. Ở miền Nam, những năm 1954 – 1975, lợi dụng cuộc chiến tranh xâm lược, đế quốc Mỹ, CMA đã lập ra Tổng liên hội thánh Tin lành Việt Nam thường gọi là Hội thánh Tin lành Việt Nam.

Giai đoạn này, đạo Tin lành ở miền Nam phát triển mạnh mẽ. Tin lành ra sức củng cố, mở rộng hệ thống tổ chức cơ sở tôn giáo, các cơ sở kinh tế văn hoá xã hội, mở rộng phạm vi truyền đạo ra nhiều địa bàn, nhất là ở Tây Nguyên. Hội thánh Tin lành miền Nam đã cho tách riêng hai “hạt” vùng dân tộc ít người ra khỏi người Kinh và lập ra “cơ quan truyền giáo người Thượng” dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các giáo sĩ Tin lành Mỹ, đồng thời, mở cửa cho các hệ phái Tin lành, các tổ chức xã hội văn hoá, nhân đạo, từ thiện của Mỹ vào truyền đạo và xây dựng cơ sở khắp miền Nam. Hội thánh Tin lành miền Nam rất chú trọng đào tạo mục sư và truyền đạo, nâng “Trường kinh thánh” thành “Viện kinh thánh thần học” toàn miền Nam, đầu tư mở hai trường kinh thánh trung cấp cho Tây nguyên. Hội thánh Tin lành còn đưa nhiều mục sư và truyền đạo ra nước ngoài đào tạo. Giáo hội Tin lành đã thành lập hệ thống tuyên uý trong quân đội nguỵ từ Bộ Tổng tham mưu đến quân đoàn, quân khu và những đơn vị đặc biệt. Họ đã tuyển chọn và đưa gần 100 mục sư và truyền đạo vào ngụy quân.

Bên cạnh CMA, ở miền Nam còn có hệ phái Tin lành cũng từ Mỹ du nhập vào từ những năm 30 của thế kỷ XX, phát triển chủ yếu sau những năm 50, đó là phái Cơ đốc Phục lâm. Đây là phái lớn thứ hai sau CMA, có hệ thống giáo hội với hơn 10.000 tín đồ, gần 40 mục sư, 34 nhà thờ và một số cơ sở tôn giáo xã hội khác. Hội thánh cơ đốc Phục lâm còn có hơn 20 hệ phái vào truyền giáo và xây dựng cơ sở ở miền Nam như: Baptism, Pentecostim (Ngũ tuần), (Nhân chứng Giêhôva), Jehovah’s Witnesses…

Sau 1975, đất nước được hoà bình thống nhất, giáo sĩ người nước ngoài rút khỏi Việt Nam, một số giáo sỹ người Việt di tản, phạm vi và mức độ hoạt động của đạo Tin lành ở miền Nam thu hẹp lại. Hội thánh Tin lành Miền Nam còn khoảng 450 giáo sĩ, 487 nhà thờ. Các hoạt động của đạo Tin lành ở hai miền Nam Bắc vẫn tiếp tục phát triển tới năm 1990 đã có 300.000 người theo đạo Tin lành.

Những thập kỷ gần đây, các giáo phái Tin lành đã đẩy mạnh hoạt động như phục hồi các hình thức tôn giáo, phát triển tín đồ, củng cố giáo hội… Nhiều hoạt động như vận động lập lại các tổ chức cũ, quan hệ với bên ngoài… Cơ quan cứu trợ và phát triển Cơ đốc Phục lâm gần đây có thực hiện một số dự án viện trợ  nhân đạo trong lĩnh vực y tế, giáo dục, thuỷ lợi, ngư nghiệp…

Điểm lại diễn biến 100 năm đạo Tin lành vào Việt Nam, chúng ta có thể ghi nhận rằng quá trình này chịu sự tác động quá lớn của các sự kiện chính trị xã hội, nhất là khi đất nước bị chia cắt. Hội thánh Tin lành Việt Nam ngay từ đầu là một tổ chức chung nhưng sau đó lại bị chia rẽ  bởi hai tổ chức giáo hội ở hai miền với những tính chất chính trị và quy mô khác nhau. Tuy vậy, đạo Tin lành đã có cơ sở trong quần chúng ở nhiều vùng trên đất nước ta, thực tế hiện nay đã có khoảng hơn 1,2 triệu tín đồ. Đặc biệt là khoảng 10 năm trở lại đây, đạo Tin lành phát triển đột biến ở Tây Nguyên, Tây Bắc và một số vùng dân tộc thiểu số khác đang đặt ra một số vấn đề nhạy cảm, phức tạp cần được giải quyết, tháo gỡ.

2.2. Một số vấn đề đặt ra hiện nay

Có thể thấy đạo Tin lành là vấn đề nổi trội đột xuất trong các vấn đề tôn giáo ở Việt Nam.Sự hiện diện của cộng đồng Tin lành ở Việt Nam gần đây đã trở nên những điểm nóng khá phức tạp, nhạy cảm.

Trước hết đó là sự va chạm, xung đột với các tập tục gia đình, xã hội, tín ngưỡng cổ truyền và các tôn giáo khác ở Việt Nam. Đối với mỗi người Việt Nam, thờ cúng ông bà, tổ tiên, thành hoàng và những người có công với làng, nước… là sự thiêng liêng, thậm chí đã thành tiêu chí hàng đầu về đạo đức của mỗi thành viên trong gia đình, họ tộc, làng xóm. Những tập tục xuất phát từ trong  nghi lễ chịu ảnh hưởng của Nho giáo, thể hiện lòng hiếu thảo của con cái đối với ông bà, cha mẹ như giỗ chạp, ma chay, cưới xin đã góp phần vào nết đẹp văn hoá mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

Trong khi đó, đạo Tin lành là một tôn giáo độc thần, chỉ thờ phụng một đức Chúa Trời duy nhất. Tin lành vốn chủ trương triệt để phản đối việc thờ tranh ảnh, tượng thánh và nâng lên một bước nữa là chống lại việc thờ hình tượng. Điều kiện để trở thành tín đồ chính thức của đạo Tin lành là: không dự vào việc hương hoả, cúng cấp cùng các sự dị đoan, không nên dùng hoặc buôn bán các vật không hợp với tôn chỉ của đạo Tin lành như: thuốc phiện, rượu, các vật phẩm thờ cúng hình tượng.

Đạo Tin lành còn có những lí lẽ biện giải để chống đối với các tập tục gia đinh, tín ngưỡng cổ truyền như: Các ông thờ lạy tổ tiên được mấy đời? Thờ trong nhà chẳng qua được hai, ba, đời; thờ trong họ chẳng qua được đôi mươi đời, trước đôi mươi đời há không phải tổ tông xa nữa sao? Cho nên chúng tôi chỉ thờ một mình đức chúa Trời là tổ tông của chúng ta. Khi Tin lành du nhập vào Việt Nam, các nhà truyền giáo đã ra sức bài bác, tuyên chiến với hệ thống tín ngưỡng của người Việt như: xem địa lí,chọn ngày, thờ thổ công, thờ bà chúa Liễu Hạnh…

Vậy, cùng với sự phát triển của đạo Tin lành là sự thay đổi lối sống, tâm lý, tình cảm, sự phân giới về xã hội, văn hoá, tín ngưỡng  dân tộc.  Nó cũng tạo nên sự chia rẽ trong nội bộ gia đình, dòng họ, lưu tồn định kiến hoài nghi cộng sản, làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và  nghiêm trọng hơn là các tín đồ Tin lành dễ bị các phần tử xấu lôi kéo chống đối chính quyền, nổi loạn….Đây quả thật là những thách đố đối với chúng ta.

Hơn nữa, hiện nay các thế lực thù địch và lực lượng chống đối muốn thông qua đạo Tin lành để thực hành chủ nghĩa li khai, giải lãnh thổ. Ở Việt Nam, điều này đã trở thành hiện thực khi người ta thấy Tin lành lan toả một cách nhanh chóng ở những vùng đất “phên dậu” của tổ quốc: miền núi phía Bắc, Tây Nguyên..

Đặc biệt, sự phát triển của đạo Tin lành trong các đồng bào dân tộc thiểu ở Tây Nguyên vừa là hệ quả vừa là tác nhân của những diễn biến chính trị phức tạp trên địa bàn này thời gian gần đây. Đạo Tin lành có mặt ở Tây nguyên từ những thập kỷ 20 của thế kỷ trước, kể từ đó, nó đã kiên trì, bền bỉ chiếm cả không gian, xã hội cao nguyên, xâm thực vào buôn làng, văn hoá truyền thống và thâm nhập vào các nhóm xã hội mới xuất hiện theo đà chuyển đổi của nền kinh tế theo hướng thị trường hoá. Thí dụ: nhà thờ Tin lành thay thế cho nhà Rông trong việc đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cộng đồng của con người Tây nguyên. Lễ Noen, Phục sinh thay thế cho lễ Cơm mới, lễ Năm mới cổ truyền…

Số lượng tín đồ của đạo Tin lành ở vùng đất đỏ ba gian này ngày càng gia tăng và luôn chiếm ½ số tín đồ Tin lành cả nước. Các thế lực thù địch trên cơ sở này luôn ra sức kích thích, nuôi dưỡng chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, biệt lập li khai trong một bộ phận tầng lớp trên của các dân tộc Tây Nguyên, đồng thời lôi kéo các lực lượng này vào các phong trào bạo loạn nhằm khuynh đảo thể chế chính trị ở nước ta.

Hiện nay hùa theo chiến dịch: nhân quyền và tự do tôn giáo của chính giới Mỹ, Ksorkơk và các phần tử chính trị phản động gốc Tây Nguyên lưu vong ở Mỹ cho ra đời cái gọi là “Hội thánh Tin lành Đềga”, đòi lập nhà nước Đềga  của người Thượng. Đây là một chiêu thức lưu manh chính trị nguy hiểm lôi kéo một số tín đồ không nhỏ của Hội thánh Tin lành miền Nam, tạo nên một vụ áp phe chính trị đội lốt tôn giáo vào đầu năm 2001 và năm 2004.

Vấn đề đạo Tin lành hiện nay vẫn còn là một chủ đề “chứa chất nhiều tiềm năng” đối với các thế lực thù địch Việt Nam và các phần tử cơ hội chủ nghĩa trong chính giới Mỹ để họ khai thác trong các chiến dịch nhân quyền và tự do tôn giáo.

Với tinh thần đảm bảo và tôn trọng quyền phát triển tự do tín ngưỡng tôn giáo của công dân, nhà nước Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc giải quyết các vấn đề tôn giáo, đặc biệt là đối với đạo Tin lành. Nhà nước Việt Nam đã công nhận tư cách pháp nhân của Tổng Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) từ năm 1958 và Tổng Liên hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) từ đầu năm 2001. Vậy có nghĩa là chúng ta thừa nhận sự tồn tại khách quan của đạo Tin lành ở Việt Nam, từng bước đưa đạo Tin lành vào thể chế luật pháp tôn giáo để khai thác những mặt tích cực, nhưng kiên quyết ngăn chặn chống lại bất cứ một nhóm người nào lợi dụng đạo Tin lành để phá hoại sự nghiệp đoàn kết toàn dân làm hại đến nền văn hoá lành mạnh của dân tộc.

Là một tôn giáo lớn trên thế giới, đạo Tin lành đã có mặt  ở Việt Nam hơn 100 năm. Trong quá trình tồn tại và phát triển ở Việt Nam, Tin lành đã chọn lựa các hình thức hoạt động mềm dẻo, giáo lí và lễ nghi được đơn giản hoá, quần chúng hoá, ở nhiều nơi đã thích nghi dễ dàng với phong tục tập quán của người địa phương, số lượng tín đồ đạo Tin lành ngày càng gia tăng. Điều cốt yếu là tín đồ đạo Tin lành không tách rời với điều kiện lịch sử mới, tìm được nhiều phương sách đúng đắn để hoà nhập trong cộng đồng dân tộc, không đi ngược lại lợi ích của dân tộc. Chúng ta có quyền hy vọng vào một cộng đồng Tin lành ở Việt Nam “kính chúa, yêu nước” “sống phúc âm…” như đường hướng hoạt động của Hội thánh Tin lành miền Bắc và miền Nam đề ra.

_____________________________

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Xuân Hùng, Về nguồn gốc và sự xuất hiện tên gọi đạo Tin lành tại Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, Số 3, 2001.

2. Nguyễn Xuân Hùng, Tìm hiểu những hệ quả của việc truyền giáo Tin lành đối với văn hoá truyền thống và tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, Số 1, 2001.

3. Phạm Đăng Hiển, Góp một góc nhìn về vấn đề đạo Tin lành ở Tây nguyên, Tạp chí Dân tộc học, Số 5, 2003.

4. Nguyễn Thanh Xuân, Bước đầu tìm hiểu đạo Tin lành trên thế giới và ở Việt Nam, NXB Tôn giáo, Hà Nội, 2002.

5. Nguyễn Văn Trung, Một số hiểu biết về tôn giáo ở Việt Nam, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1993.

TRẦN THANH GIANG (ĐH VĂN HÓA HÀ NỘI)

[Reds.vn]

(REDS.VN) các bài báo “sex” nhuốm màu sắc hư cấu đang đầy rẫy trên báo chí Việt Nam hiện nay có thể coi là một loại hình văn học khiêu dâm được hợp thức và công khai hoá dưới hình thức báo chí.

Bài viết của độc giả Lê Hùng (TP HCM) viết riêng cho REDS.VN. Bài cùng tác giả: BBC Việt ngữ rẻ tiền đến mức nào?)

Buổi tối nay, tôi lướt Facebook, thấy cả chục bạn trẻ trong Friendlist đồng loạt chia sẻ bài viết có tiêu đề “Thầy giáo yêu 20 cô gái không ai còn trinh trắng”.

Nội dung bài viết có thể tóm gọn trong phần giới thiệu đầu bài báo như sau: “Với kinh nghiệm yêu đương trong 2 năm, vào nhà nghỉ với khoảng 20 cô, tôi khẳng định 99% con gái bây giờ không còn trinh trắng, 1% còn lại không dở hơi, thần kinh thì cũng chả ra gì”, anh Nguyễn Trung Kiên (30 tuổi, giáo viên một trường tiểu học trên địa bàn quận Thanh Xuân, HN) chia sẻ.

Phía dưới bài viết, tôi thấy các bạn sôi nổi “ném đá” nhân vật giáo viên trong bài viết bằng những lời lẽ nặng nề nhất.

Và tôi cho rằng các bạn đã “ném đá” nhấm đối tượng.

Trong câu chuyện này, tôi không thể không đặt ra một số câu hỏi.

Thật sự có nhân vật như vậy, câu chuyện như vậy không, hay nhà báo “sáng tác” ra?

Với câu hỏi này, chỉ có người viết mới đưa ra được câu trả lời chính xác. Tôi không dám đưa ra kết luận, dù theo cảm tính, tôi thấy nó sặc mùi hư cấu, như rất nhiều bài báo tương tự xuất hiện trên chuyên mục “Đời sống”, “Tình yêu”, “Tâm sự” v..v của các trang mạng thời gian qua.

Điểm chung của các bài báo này là nhấn mạnh yếu tố “sex”, với những tình tiết rất “kích động”, thể hiện ngay ở cái title. Ví dụ như: “Chồng ngoại tình vì chê “cô bé” của tôi nhỏ”; “Vợ tôi thủ dâm bằng một bóng đèn quả nhót”; “Phát hiện chồng hiến tinh trùng… trực tiếp”; “Xin lỗi, em không cướp chồng chị!”; “Tôi lừa gạt tình để trả thù anh”; “Đừng bắt tôi phải ngoại tình!”; “Vào nhà nghỉ với bồ, bố gặp con đi cùng tình trẻ”; “Chồng tôi thề chỉ thử xem ôsin còn hay mất trinh”; “Lần đầu tiên tôi ăn vụng đã làm cô ấy có thai”; “Dân văn phòng gần như ai cũng… ngoại tình!”; “Thỏa mãn cùng lúc với 3 người, tôi ghê tởm chính mình”; “Kết cục bi thảm vì “quan hệ” với em vợ”; “Tôi đang mang thai đứa con của anh rể”; “Mẹ van xin con gái cho được ngoại tình”; “Hứng tình, mẹ mạnh tay chi tiền cho “trai bao””; “Em cứ sexy quá đà, anh chết mất!”; “Tôi bị con riêng của mẹ kế cưỡng hiếp… v..v

Những bài viết dạng này thường có nội dung lâm ly, bi đát, và không thể nào kiểm chứng được mức độ chân thực.

Liệu có bao nhiêu phần trăm trong số đó không phải là chuyện bịa? Tôi không nghĩ rằng có nhiều người rỗi hơi đến mức đi tâm sự hết những nỗi niềm sâu kín của mình với lều báo.

Báo chí chỉ là báo chí khi có người thật, việc thật, nếu không thì nhà báo chỉ là những kẻ dối trá, và sản phẩm của họ là rác rưởi văn hoá.

Đăng những bài viết kiểu như vậy để làm gì?

Tự đặt mình vào vị trí của người làm báo, tôi dễ dàng tìm ra câu trả lời muôn thuở: câu khách, tăng view, hút quảng cáo, làm phồng túi tiền.

Trong thời buổi khủng hoảng kinh tế, tôi hoàn toàn thông cảm cho điều này. Nhưng tôi chân thành khuyên quý toà soạn hay đăng các bài báo như vậy chớ có nhảy chồm chồm lên bày tỏ sự tự ái mỗi khi bị ai đó nói là báo lá cải.

Đã làm đĩ để kiếm tiền thì bị người đời thị phi là chuyện đương nhiên.

Những bài viết đó có gây hệ luỵ gì cho xã hội?

Như tôi đã đề cập, những bài viết trên chỉ xoáy vào ba chủ đề chính: sex, sex và sex. Sex được săm soi dưới đủ mọi khía cạnh sống sượng, thô tục, từ ngoại tình cho đến loạn luân, như muốn nhổ toẹt vào các giá trị đạo lý và văn hoá dân tộc mà chúng ta đang ngày đêm rao giảng.

Chúng không có bất cứ một giá trị gì khác ngoài tính “giải trí” đơn thuần. Ở điểm này, tôi thấy hoàn toàn có thể xếp chúng ngang hàng với các tác phẩm thuộc thể loại “cô giáo Thảo” (dòng văn học khiêu dâm ở miền Nam trước 1975) mà bọn học sinh chúng tôi chuyền tay nhau lén lút khi còn ngồi trên ghế nhà trường.

Theo quan điểm cá nhân của tôi, các bài báo “sex” nhuốm màu sắc “sáng tác”, trên phương diện nào đó có thể coi là một loại hình văn học khiêu dâm được hợp thức và công khai hoá dưới hình thức báo chí. Và hệ luỵ mà nó gây ra còn lớn hơn là văn học khiêu dâm đích thực.

Đọc “cô giáo Thảo”, ai cũng biết đó chỉ là chuyện hư cấu. Nhưng khi đọc trên báo, độc giả sẽ mặc nhiên coi câu chuyện là “người thật việc thật”. Việc tràn lan những “chuyện thường ngày” như vậy sẽ vẽ nên một bức tranh dơ dáy về xã hội, cũng như khiến con người trở nên chai sạn trước những chuyện đáng kinh tởm. Đó chính là cánh cửa dẫn đến sự tha hoá.

Ngay cả khi những câu chuyện trong bài báo là có thật đi chăng nữa, thì việc phơi bày chúng trên mặt báo dưới những hình thức li kỳ, khêu gợi, gây khoái trá trong độc giả vẫn xứng đáng bị coi là việc làm tội lỗi.

Trong mối quan hệ tương tác với báo chí, mỗi độc giả cũng cần phải tỉnh táo để không trở thành dạng độc giả “tò mò và rỗi hơi”, để lều báo dắt mũi vào những câu chuyện phản nhân văn (và có thể là hoàn toàn là bịa đặt).

LÊ HÙNG [ REDS.vn]

Tham nhũng mà được bao che thì rất nguy hiểm. Không thể quy kết rằng, do thu nhập thấp, đời sống khó khăn mà tham nhũng.

Báo chí vừa đưa tin các đại biểu Hội đồng Nhân dân (HĐND) thành phố Hà Nội đã được trang bị máy tính bảng iPad 2. Và dự án công nghệ thông tin hiện đại này cho các dân biểu thủ đô như thông tin trên tờ Tuổi trẻ, tốn khoảng 6,04 tỉ đồng. Trước thắc mắc việc thay vì trang bị máy tính xách tay bằng máy tính bảng iPad 2 cho các đại biểu, khi máy tính bảng là thiết bị giải trí, hiệu quả công việc như soạn thảo văn bản không thể bằng máy tính xách tay, một vị lãnh đạo HĐND thành phố cho rằng, iPad 2 vẫn “đáp ứng đầy đủ chức năng của máy tính và rất tiện lợi cho việc trao đổi thông tin giữa đại biểu và Trung tâm Thông tin của HĐND”. Xin nhớ rằng, đa số đại biểu HĐND là thủ trưởng các cơ quan, đơn vị và chắc rằng đã có máy tính xách tay để làm việc. Phóng viên dự kỳ họp kể rằng, máy tính bảng iPad 2 được cấp đúng hôm chất vấn UBND nên có vẻ như các đại biểu bận nghiên cứu máy tính bảng nên ít chất vấn. Phải “học” cách dùng iPad 2, với các đại biểu lớn tuổi chắc không dễ dàng, nhưng đây là chế độ mà, nếu “cụ” không dùng được thì cho cháu mượn chơi games cũng tốt chứ sao!? Nếu bây giờ cả 63 tỉnh đều “chịu chơi” trang bị iPad 2 cho các dân biểu theo chế độ thì ngân sách sẽ gánh thêm bao nhiêu tiền, chắc sẽ là 300 tỉ đồng.

Câu chuyện máy tính bảng iPad 2 cho dân biểu Hà Nội, nếu có gì đáng bàn thì bất quá cũng chỉ là “chút chút” đầu tư công không đáng là bao. Tất cả đã có trong chế độ quy định! Mà đã là chế độ thì miễn bàn nhé!

 

Không có thông tin nên không biết đầy đủ các chế độ lương, phụ cấp của dân biểu Hà Nội chuyên trách và các khoản phụ cấp khi họp hành, làm việc, đi lại của các đại biểu kiêm nhiệm để biết các dân biểu có đủ sống hay không?

Còn nhớ mới đây, cựu Thứ trưởng Bộ Nội vụ Thang Văn Phúc đã tâm sự thật lòng rằng, lương thứ trưởng cũng không đủ sống! Có người bật cười mà rằng, hình như ở câu này in thiếu chữ. Câu nói của ông cựu Thứ trưởng phải hiểu là với mức lương thứ trưởng, các quan chức ở ta cũng không thể nào sống sung túc, sang trọng. Xin nhớ rằng, mức lương thứ trưởng chỉ gấp 9-10 lần lương tối thiểu, nhưng các vị có phụ cấp chức vụ, có xe công vụ (mà thực chất thì được sử dụng như xe riêng, lại không mất tiền xăng, lương lái xe và chi phí cho xe), được mua nhà giá ưu đãi, chữa bệnh không mất tiền và ốm đau nặng có thể được đi chữa ở nước ngoài… Cho nên thu nhập thực tế của các vị là “khủng”, chứ không phải “còm”.

Trong cuộc chiến chống tham nhũng hiện nay, vấn đề lương bổng, thu nhập và tham nhũng lại được đặt ra. Trước hết, hiện tượng những công chức, viên chức cấp thấp ở các cơ quan công quyền, hưởng mức lương thấp không đủ sống nên phải tìm cách kiếm thêm thu nhập qua những phong bì “bồi dưỡng” của công dân, doanh nghiệp khi có công việc liên quan. Đây là dạng tham nhũng vặt nhưng quy ra thóc cũng đủ nâng cao mức sống. Tham nhũng vặt đã được mặc nhiên chấp nhận theo kiểu “sống chung với lũ” dù tác hại lương tâm cao hơn lương thực!

Ai đó cho rằng, nâng lương cho công chức, viên chức lên gấp 2-3 lần hiện nay thì sẽ chống được tham nhũng vặt là không tưởng. Một khi còn người muốn được việc cho mình nên chấp nhận chi phong bao thì chừng đó vẫn còn tham nhũng vặt. Hôm nay cấp thấp tham nhũng vặt, nay mai lên chức cao hơn sẽ tham nhũng nhiều hơn, bạo liệt hơn. Thực tế, trong thời gian qua đã có nhiều vụ án tham nhũng được đưa ra xét xử mà người lĩnh án tù, thậm chí án tử hình, đâu có mấy kẻ nghèo túng, thu nhập thấp! Ai dám bảo ông phó giám đốc sở, ông chủ tịch quận, ông giám đốc chi nhánh ngân hàng… ra tòa vì can tội tham nhũng do thu nhập thấp?

Các chuyên gia cho rằng, lòng tham của những con người đó là vô hạn. Họ đã giàu rồi nhưng lại luôn muốn được giàu thêm. Quyền lực tạo ra một khoản thu nhập cho người có nó nên không ít trường hợp phải chạy chọt để có chức, quyền và đã phải chi phí không ít. Đó là một khoản “đầu tư” và khi đã có chức, có quyền, người ta phải tìm cách thu hồi.

Như vậy, có thể thấy thu nhập thấp không phải là nguyên nhân chính của nạn tham nhũng. Nói như vậy không có nghĩa là không quan tâm gì đến thu nhập, đời sống của cán bộ, công chức. Bởi không thể hô hào một người cống hiến khi họ không có thu nhập để trang trải những nhu cầu ở mức trung bình của xã hội.

Tuy nhiên, điều cần hơn là phải có sự công khai, minh bạch trong quản lý và điều hành. Chẳng hạn, rất cần công khai, minh bạch về thu nhập của cán bộ, công chức. Vì sao một công chức bình thường, một cảnh sát giao thông với quân hàm cấp úy… mức lương rất khiêm tốn nhưng lại dễ dàng mua nhà lầu, xe hơi đắt tiền hoặc chu cấp cho con đi du học nước ngoài mỗi năm tới hàng trăm ngàn đôla Mỹ?

Theo Phó thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật có thể khẳng định rằng, công tác chống tham nhũng nói chung và việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 nói riêng trong nhiệm kỳ qua chưa đạt mục tiêu “ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí” như đã đề ra. Tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, gây bức xúc trong xã hội. Ngoài ra, việc xử lý trách nhiệm người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng chưa được thực hiện nghiêm. Nhiều cấp ủy, chính quyền còn nể nang, né tránh trong việc xử lý. Việc kê khai tài sản, thu nhập tuy đã thực hiện ở nhiều nơi nhưng vẫn còn hình thức, tác dụng phòng ngừa tham nhũng còn rất hạn chế, hiệu quả thấp.

Vào các dịp lễ, tết, người ta lợi dụng phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc để biếu xén “trên mức tình cảm” vẫn diễn ra khá phổ biến. Hẳn vì vậy, nhiều Đảng bộ tỉnh, huyện đã có văn bản cấm biếu xén nhân dịp lễ, tết. Tuy nhiên, không có thông tin về xử lý các vi phạm quy định này. Một giám đốc doanh nghiệp kể rằng, ông chỉ chi “cò con” để chúc tết lãnh đạo địa phương có 3.000USD, thua xa các doanh nghiệp khác. Hãy nhẩm tính xem, nếu có vài chục doanh nghiệp chúc tết “cò con” thì một cái tết vị này thu được bao nhiêu “bổng”?

Tham nhũng khó chống còn bởi số vụ việc tham nhũng được phát hiện và xử lý qua công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm toán còn ít. Trong 5 năm qua, nhiều địa phương không phát hiện được vụ án tham nhũng nào qua kiểm tra, thanh tra… Pháp luật chưa nghiêm và một số cán bộ lãnh đạo quản lý ở các cấp, các ngành, lãnh đạo ở Trung ương chưa nêu gương về đạo đức, lối sống. Nhiều cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, giảm sút ý chí chiến đấu, quên đi trách nhiệm, bổn phận của mình.

Dư luận công dân cho rằng, hiện nay việc công khai minh bạch còn tù mù, đặc biệt là công khai các dự án thì làm sao nhân dân giám sát được. Có nơi, người tham nhũng thì được về hưu, còn người tố cáo thì bị trù dập. Tham nhũng mà được bao che thì rất nguy hiểm. Không thể quy kết rằng, do thu nhập thấp, đời sống khó khăn mà tham nhũng.

THỌ VINH (NĂNG LƯỢNG MỚI)

5 Ý NGHĨ SAI LẦM TRONG CUỘC SỐNG MÀ CHÚNG TA VẪN TIN
Tóc và lông sẽ mọc dày hơn sau khi bạn cạo nó. Đọc sách trong bóng tối dần dần sẽ làm mắt bạn kém đi. Đi tiểu vào nơi sứa đốt sẽ làm dịu cơn đau… Cách mà cơ thể chúng ta hoạt động vẫn luôn là một bí ẩn, và ham muốn mở khoá tất cả các bí ẩn đó đã dẫn đến việc xuất hiện rất nhiều thông tin sai lệch. Rất nhiều quan niệm trong số đó được biết đến rộng rãi, và được tin như một sự thật hiển nhiên. Chúng ta phải luôn nghi ngờ, và thực hiện những nghiên cứu để tìm ra sự thật ẩn chứa đằng sau đó. Và sau đây là những gì chúng ta cần phải chú ý.

Câu chuyện 1. Lông tóc trên cơ thể sẽ mọc dày hơn khi bạn cạo chúng.

Nếu bạn đã xem, chắc hẳn bạn sẽ nhớ, một đoạn trọng Seinfeld, khi Jerry quyết định cạo lông ngực của mình, bỏ qua những cảnh báo rằng nó sẽ mọc lại dày gấp đôi lúc trước. Dù trên ti vi là vậy, nhưng thực tế lại hoàn toàn khác. Nếu đúng như vậy, những người hói phải liên tục cạo đầu mình để ngăn không cho tóc rụng mất. Nhà nghiên cứu về trẻ em Rachel C. Vreeman và cộng sự Aaron E. Carrol đã bác bỏ quan điểm này.

Đầu những năm 1928, một thử nghiệm lâm sàng đã chứng tỏ rằng, cạo lông và tóc sẽ không làm ảnh hưởng gì đến độ dày hay tốc độ mọc lại của chúng. Hơn nữa, việc cạo bỏ chúng là loại bỏ phần “chết”, chứ không loại bỏ phần “sống” nằm dưới lớp da, do vậy có vẻ như không ảnh hưởng gì đến tốc độ phát triển lại của chúng. Lông và tóc mới mọc lại không có phần thon nhọn ở đầu như lúc trước khi cắt, nên làm cho ta có cảm giác chúng rất “thô”. Và tương tự, tóc mới mọc ít bị phơi nắng nhiều, và chưa bị ảnh hưởng bởi các loại hoá chất, vậy nên nhìn chúng sẽ đen hơn trước kia.

Tóm lại, về cơ bản, lông và tóc mới mọc lên rất thô, và bạn cảm giác là nó dày hơn. Thực tế là bạn đang tự lừa bản thân thôi, chúng chẳng thay đổi gì cả.

Câu chuyện 2: Lượng calo là vấn đề duy nhất cần quan tâm để điều chỉnh sức khoẻ và cân nặng

Bạn vẫn luôn tin rằng lượng calo ăn vào cân bằng với lượng calo thải ra là đủ để giữ cân nặng ở một mức nào đó, nhưng như vậy là bạn đã coi cơ thể của mình quá đơn giản. Tiêu thụ ít calo hơn có thể có một tác động nhất định nào đó, nhưng không phải tất cả các loại thức ăn đều có ảnh hưởng giống nhau khi ta tiêu hoá chúng. Nếu bạn có suy nghĩ đơn giản như trên, vậy hãy nghĩ thử xem về sự khác nhau giữa một thanh kẹo và một quả dưa chuột (với một lượng calo cung cấp bằng nhau). Chúng có vị khác nhau, có các thành phần dinh dưỡng khác nhau, và là hai thứ hoàn toàn khác nhau. Có vẻ không logic nếu chúng được cơ thể sử dụng theo cách giống nhau.

Vấn đề ở đây, là bạn đang coi “calo” là một loại vật chất nào đó. Thực tế, “calo” chỉ là một đơn vị đo nhiệt lượng, và nó cũng không phải là thứ đầu tiên bạn nghĩ tới khi nhắc đến thức ăn. Theo wikipedia, “một calo là năng lượng cần thiết để tăng nhiệt độ của một gam nước thêm 1 độ C”. Về cơ bản, calo là một đơn vị đo lường, không phải là “vật chất” giúp cơ thể tạo năng lượng. Cơ thể sử dụng những gì hấp thu được từ thức ăn. Bạn sẽ không trở nên gầy hơn nếu chỉ ăn đồ ăn ít calo.

Rất nhiều người đã tranh cãi về vấn đề này do xuất hiện chế độ ăn kiêng của Mark Haub, trong đó anh ta ăn với một chế độ giảm calo, hai phần ba khẩu phần ăn chỉ gồm những đồ ăn linh tinh chứa rất ít năng lượng. Nhưng có một vấn đề ở đây. Đây chỉ là một nghiên cứu riêng lẻ của một người, chứ không phải dành cho tất cả mọi người. Ngay cả Haub cũng tự đặt ra câu hỏi: điều này có nghĩa là gì? Đó có nghĩa là tôi khoẻ hơn hay không? Hay đó có nghĩa là cách chúng ta định nghĩa sức khoẻ theo quan điểm sinh học, chúng ta đã bỏ qua điều gì?

Haub đã giảm 800 calo trong khẩu phần ăn của anh ta mỗi ngày, đó là một lượng khá lớn. Sẽ không có câu hỏi nào về việc, lượng calo mà chúng ta ăn vào liên quan tới việc cơ thể dự trữ năng lượng và giảm cân, nhưng đơn giản là, lượng calo không cho ta thấy một bức tranh đầy đủ. Cách mà cơ thể chuyển hoá đường là một ví dụ tuyệt vời về việc tiêu hoá các loại thức ăn khác nhau sẽ được kết quả khác nhau. 

Bác sĩ Michael Eades đã chú ý vào hai nghiên cứu – một là thí nghiệm nhịn ăn của Ancel Keys và nghiên cứu của John Yudkin – cả hai đều là thử nghiệm các chế độ ăn kiêng ít calo với các thành phần dinh dưỡng khác nhau. Nghiên cứu của Keys sử dụng các thức ăn có lượng carbonhydrate cao hơn và lượng chất béo thấp hơn. Còn nghiên cứu của Yudkin thì ngược lại. Kết quả của hai nghiên cứu, cũng rất khác nhau. Nghiên cứu của Yudkin kết thúc với kết quả: người ăn kiêng hoàn toàn khoẻ mạnh còn nghiên cứu của Key thì ngược lại. Hơn nữa, nhà dinh dưỡng học Kari Hartel cũng đưa ra những ý kiến chính về việc các chất dinh dưỡng khác nhau sẽ được sử dụng như thế nào. Ví dụ, bà chỉ ra rằng “chất xơ không được tiêu hoá hoàn toàn, nên nó có lợi cho sức khoẻ hơn mà không làm tăng lượng calo trong khẩu phần ăn kiêng”. Ngoải ra, “cơ thể bạn sinh ra nhiều calo từ việc hấp thu và chuyển hoá protein hơn những chấc khác. Protein giúp làm chậm quá trình vận chuyển thức ăn từ dạ dày xuống ruột non, giúp bạn cảm thấy no lâu hơn.”.

Với ý kiến rằng cơ thể sẽ khoẻ mạnh nhờ việc ăn một lượng calo nào đó, thì thực tế lại cho thấy thức ăn và cơ thể bạn phức tạp hơn nhiều. Dù rằng giảm lượng calo có thể mang một ý nghĩa nào đó, nó không phải là yếu tố duy nhất. Cân nặng hiện tại của bạn, số cân nặng bạn muốn giảm, sự cân bằng dinh dưỡng trong chế độ ăn của bạn, lượng calo bạn tiêu thụ qua việc tập luyện, và lượng thời gian mà bạn chỉ ngồi một chỗ mỗi ngày là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức khoẻ của bạn cũng như sự giảm cân. Giảm lượng calo ăn vào là một cách nói ngắn gọn, nhưng bạn cũng phải đồng thời chú ý vào những yếu tố khác để đạt được sức khoẻ như mong đợi.

Câu chuyện 3. Bạn cần ngủ 8 tiếng mỗi ngày

Người ta thường nói là chúng ta phải ngủ 8 tiếng mỗi đêm, thì thực tế lý lẽ kia không phải đúng với tất cả mọi người. Tờ báo Hindustan Times đã chỉ ra rằng, một nghiên cứu ở châu Âu đã cho thấy những người có gen ABCC9 trong cơ thể thì cần ngủ ít hơn những người khác. Tìm thấy một gen tương tự ở ruồi giấm, các nhà khoa học nhận thấy khi thay đổi gen này cũng làm thay đổi lượng thời gian nghỉ ngơi của ruồi. Khi thực hiện một cuộc điều tra về số giờ ngủ của mỗi người, kết quả đạt được rất thú vị. Với một số, tám tiếng ngủ mỗi ngày là bắt buộc. Với một số khác, như vậy là quá nhiều.

Ngoài ra, Wired Magazine đã định danh một chất hoá học có tên Orexin A hoạt động như một chất thay thế giấc ngủ. Nó xuất hiện trong cơ thể con người với một lượng nhất định, và khi hàm lượng chất này giảm, con người sẽ cảm thấy mệt mỏi. Kể từ khi được tìm ra, Orexin A được sản xuất dưới dạng thuốc xịt mũi nhằm thử nghiệm tác dụng của chất này với chứng ngủ rũ – narcolepsy. Trong nghiên cứu của UCLA, một số nhà khoa học quyết định thử cho một số con khỉ đang mệt mỏi ngửi chất này. Những con khỉ đang thiếu ngủ 30 đến 36 tiếng chia thành 2 nhóm, một nhóm ngửi Orexin A, một nhóm được cho thuốc an thần (thuốc không có dược chất mà chủ yếu là trấn an về mặt tinh thần), sau đó cả 2 nhóm này được thực hiện một bài test về nhận thức. Những con khỉ nhóm 1 được cho Orexin A hoàn thành tốt bài test, trong đó nhóm 2 thì vẫn có vẻ lờ đờ và không vượt qua được bài kiểm tra. 

Dù sao thì, những thông tin về Orexin A vẫn chỉ đang trong quá trình thử nghiệm, nhưng người ta muốn nói rằng giấc ngủ không bắt buộc phải cố định như chúng ta nghĩ. Một cách khác, ngủ 8 tiếng mỗi ngày không phải là không tốt, nhưng không phải tất cả mọi người đều cần ngủ từng ấy thời gian.

Vấn đề 4. Đọc sách trong ánh sáng lờ mờ có thể làm hại mắt bạn

Đọc sách trong ánh sáng lờ mờ không tốt cho đôi mắt của bạn. Rất nhiều người nghĩ như vậy. Nếu bạn đọc sách ở một góc tối nào đó, người ta sẽ nhắc bạn bật đèn lên. Trong thực tế, nếu đọc sách trong điều kiện ánh sáng không đủ, bạn sẽ bị mỏi mắt; và theo nhà nghiên cứu về sức khoẻ trẻ em Rachel C. Vreeman và trợ giảng Aaron E. Carrol, điều này không nghiêm trọng gì và sẽ không gây nên những ảnh hưởng vĩnh viễn đến mắt của bạn.

Theo đa số ý kiến của chuyên khoa mắt, đọc sách trong ánh sáng lờ mờ sẽ không gây hại gì cho mắt của bạn. Mặc dù mắt bạn có thể bị mỏi, cùng với nhiều hiệu ứng không tốt tạm thời, nó sẽ không gây ảnh hưởng vĩnh viễn tới cấu trúc và chức năng đôi mắt của bạn. Như với những bệnh nhân bị hội chứng Sjögren (một bệnh tự miễn gây viêm các tuyến ngoại tiết và bề mặt mắt), sự suy giảm thị lực cùng với sự mỏi mắt khi đọc sách sẽ được cải thiện khi họ ngừng đọc. 

Một bài báo về tật cận thị đã kết luận rằng khi đọc sách bằng một bên mắt, hay đọc sách quá gần mắt, sẽ ảnh hưởng không tốt tới nhãn cầu và gây nên cận thị, chứ đọc sách trong ánh sáng yếu chưa hẳn là nguyên nhân gây nên cận thị. Một minh chứng khác, đó là sự gia tăng tỉ lệ bị cận thị ở những người học nhiều. Trong quá khứ, con người ta thường đọc sách trong điều kiện thiếu ánh sáng, ví dụ như ánh sáng của nến hay đèn lồng, mà tỉ lệ bị cận thị không cao, cho nên việc tăng tỉ lệ bị cận thị qua nhiều thế kỉ là bằng chứng cho thấy đọc trong điều kiện thiếu ánh sáng không hẳn là có hại. Ngoài ra, hiện nay có rất nhiều ý kiến cho rằng đọc sách trong điều kiện thiếu ánh sáng sẽ không gây hại cho đôi mắt của bạn.

Vấn đề 5. Đi tiểu lên vết sứa đốt sẽ làm dịu cơn đau

Trong show truyền hình Friends, có một kì có cảnh Monica bị sứa đốt, và sau đó Joey nghĩ ra rằng đi tiểu lên vết đốt đó sẽ giúp giảm đau nhanh chóng. Dù rằng đây chỉ là một show diễn trên truyền hình, nhưng nó cũng giúp lan truyền ý nghĩ rằng đi tiểu lên bạn của mình trong tình huống hợp lý là rất tốt. Thực ra không phải như vậy. Mark Leyner và Dr. Billy Goldberg, tác giả của Why Do Men Have Nipples?, đã đưa ra hướng dẫn có thể áp dụng trên hầu hết các vết đốt của sứa.

Bạn cần phải bỏ hết những tua sứa còn sót lại, dùng găng tay sẽ tốt hơn. Đổ giấm lên vùng bị sứa đốt. Acid acetic có trong giấm sẽ giúp loại bỏ các tế bào sứa ở vết đốt đi, giúp bạn đỡ đau và ngứa. Nếu không có giấm, bạn có thể dùng nước muối. Trong phòng thí nghiệm, người ta thấy nước tiểu, amoniac và rượu đều làm nặng thêm vết sứa đốt, và sẽ chỉ khiến bạn cảm thấy đau hơn mà thôi. Vậy nên, bạn chỉ nên đi tiểu lên một ai đó cho vui thôi, chứ nếu bạn định đi tiểu lên vết sứa đốt thì sẽ phản tác dụng đấy!

Tham khảo GenK

Tại sao Mỹ vẫn lưỡng lự UNCLOS ? – Kỳ 2: Chờ đủ thiên thời, địa lợi, nhân hòa

Dù thiên thời và địa lợi đã có, nhưng Mỹ cần phải đạt được “nhân hòa” trong nội bộ nước này thì mới có thể tham gia UNCLOS.

>> Tại sao Mỹ vẫn lưỡng lự UNCLOS ?

Sau hai lần bị phủ quyết trước quốc hội vào năm 1994 và 1997, việc gia nhập Công ước LHQ về luật Biển (UNCLOS) 1982 chưa bao giờ được nhiều thành phần tại Mỹ ủng hộ như hiện nay. Ngoại trưởng Hillary Clinton, Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta cùng một số công ty lớn tại Mỹ đều đã lên tiếng hậu thuẫn. Đặc biệt, các công ty năng lượng Mỹ nhiệt tình ủng hộ Washington gia nhập UNCLOS. Tuy nhiên, nếu đặt góc nhìn về biển Đông, việc vượt sự ngăn cản của phe bảo thủ cần đảm bảo các yếu tố thiên thời, địa lợi và nhân hòa.

Sợ sức mạnh

Xét tổng thể, bất cứ nước nào liên can đến lợi ích trên biển Đông – dù trực tiếp hay gián tiếp – đều xoay vòng giữa hai xu thế: sức mạnh và từ chối sức mạnh. Thông thường, các cường quốc có xu hướng ỷ vào sức mạnh. Ngược lại, các nước nhỏ ưu tiên viện dẫn nguyên tắc pháp lý quốc tế. Bất đối xứng về sức mạnh dẫn đến bất đối xứng về hành vi. Tuy vậy, những gì diễn ra trên biển Đông lại không hoàn toàn tuân theo nguyên tắc trên. Trỗi dậy nhưng chưa phải vô địch, Trung Quốc đã trải qua nhiều năm theo đuổi chính sách “ẩn mình chờ thời” do nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình đề ra.

Chờ đủ thiên thời, địa lợi, nhân hòa
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta muốn nước này sớm tham gia UNCLOS – Ảnh: Reuters

Trong khi đó, mặc dù là cường quốc mạnh nhất nhì thế giới nhưng hiện tại đã qua thời Chiến tranh lạnh nên Mỹ cũng lựa chọn chính sách duy trì. Nhất là khi quyền lợi trực tiếp của Washington tại biển Đông không tập trung vào tranh chấp chủ quyền. Washington san sẻ quyền lợi tự do hàng hải, giữ trách nhiệm bảo vệ đồng minh nhằm tái khẳng định “trật tự Mỹ” tại châu Á – Thái Bình Dương, vốn được hình thành sau Thế chiến 2. Sự dính líu của Mỹ vào biển Đông vừa là định mệnh mà cũng vừa là lựa chọn bắt buộc.

Như vậy, cả hai đều mạnh nhưng cũng đều sợ sức mạnh. Trung Quốc có thời kỳ “trỗi dậy hòa bình” ngoạn mục trong hơn 1 thập niên qua kể từ năm 1997, nước này chấp nhận giới hạn sức mạnh và theo đuổi con đường “thể chế”. Biển Đông có thời gian tạm ổn định khi vòng đàm phán về Bộ quy tắc ứng xử (COC) bắt đầu và kết thúc bằng Tuyên bố về cách ứng xử giữa các bên ở biển Đông (DOC) năm 2002.

Tàu Philippines, Trung Quốc rút khỏi Scarborough

Ngày 5.6, Đài ABS-CBN News dẫn lời phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Philippines Raul Hernandez thông báo nước này và Trung Quốc vừa rút một số tàu khỏi bãi cạn Scarborough, nơi hai bên đang tranh chấp căng thẳng kể từ đầu tháng 4. Theo đó, 2 tàu tuần tra của Trung Quốc và 1 tàu thuộc Cục Thủy sản Philippines đều đã rời khỏi khu vực này, theo Đài ABS-CBN News. Tuy nhiên, phát ngôn viên Hernandez không nói rõ hai bên còn lại bao nhiêu tàu tại đây.

Văn Khoa

Mỹ được công nhận là siêu cường lãnh đạo, không phải do sự vượt trội về số lượng khí tài trên biển mà còn nhờ vào nỗ lực xây dựng trật tự thế giới theo một khung hành động theo pháp lý. Thế nhưng, trong cuộc chiến Iraq, Mỹ đơn phương từ chối các thể chế do chính nước này đề ra. Vì vậy, phong trào phản kháng Mỹ dưới trào Tổng thống George W.Bush trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Tương tự, Trung Quốc bị khủng hoảng về vị trí và hình ảnh “phát triển hài hòa” vì Bắc Kinh có những động thái hung hãn trên biển Đông. Theo đó, Mỹ lẫn Trung Quốc đều gặp chung một tình trạng: sự tràn thừa xu hướng sức mạnh.

Kiềng 3 chân

Sợ sức mạnh thì “thể chế” là giải pháp. Các cường quốc sẽ đạt được 3 điểm có lợi khi tự giới hạn hành động vào khuôn phép. Một là vẫn giữ được vị trí ưu tiên trong thể chế giúp đảm bảo quyền lợi tối thiểu trong trường hợp sức mạnh bị suy giảm. Hai là việc lạm dụng sức mạnh kéo theo nhiều tốn kém. Cuối cùng, đó là nguyên tắc bất di bất dịch bao đời nay: “Danh có chính thì ngôn mới thuận”. Luật và thể chế giúp các nước lớn theo đuổi quyền lợi của mình bằng con đường chính danh thông qua những cam kết đồng thuận giữa các bên.

Đối với Washington, thời của “thể chế” trên biển Đông bắt đầu bằng việc định nghĩa lại lợi ích của Mỹ trên đại dương, cụ thể nhất qua việc phê chuẩn UNCLOS. Trong bối cảnh cắt giảm chi phí quân sự và tái bố trí lực lượng, công ước trên sẽ giúp Mỹ tạo nền tảng pháp lý vững chắc để thực thi chính sách “chuyển dịch trọng tâm chiến lược” sang châu Á – Thái Bình Dương. Hiện tại, sự vượt trội về lực lượng quân sự và đồng minh của Mỹ tại khu vực này đều có xu hướng thay đổi khi Trung Quốc trỗi dậy. Vì thế, “liên minh pháp lý” đóng vai trò bàn đạp thứ ba của Mỹ tại châu Á – Thái Bình Dương. Điều này giúp Mỹ tham gia trực tiếp hơn tại biển Đông và không bị định kiến lạm dụng sức mạnh. Nói như ông Panetta thì: “Mạnh vì chơi theo luật chứ không phải chống lại luật”. Nhờ đó, Mỹ có thể hiện diện và khẳng định vai trò một cách chính danh hơn, khác với hình ảnh một cường quốc đang trỗi dậy nhưng thiếu sự công nhận từ cộng đồng quốc tế.

Tuy nhiên, yếu tố cốt lõi ảnh hưởng đến việc Mỹ tham gia UNCLOS lại phụ thuộc vào nội bộ nước này. Đặc biệt, đây là giai đoạn khá nhạy cảm khi cuộc bầu cử tổng thống diễn ra vào cuối năm nay. Hiện tại, những xu hướng chính trị cực tả hay cực hữu không thể nào vận động được hết đa số nên các ứng viên tổng thống Mỹ sẽ tìm cách dung hòa để mở rộng lực lượng ủng hộ. Giữa bối cảnh như thế, các đề tài gây tranh cãi như UNCLOS nhiều khả năng bị đem ra “đổi chác” trong quốc nội. Theo đó, rất khó để đoán định việc Mỹ có tham gia UNCLOS trong lần này hay không. Kết quả còn chờ vào yếu tố nhân hòa dù thiên thời và địa lợi đã có đủ.

Nguyễn Chính Tâm [Thanh niên]

Tại sao Mỹ vẫn lưỡng lự UNCLOS ?

Sự chống đối quyết liệt từ phe bảo thủ khiến Washington vẫn chưa thể tham gia Công ước LHQ về luật Biển.

Ngày 23.5, Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ khởi động phiên điều trần mới nhất về vấn đề liệu nước này có nên tham gia Công ước LHQ về luật Biển (UNCLOS) 1982. Vốn dĩ, UNCLOS được hình thành để tạo ra khuôn khổ pháp lý cần thiết cho các quốc gia nhằm ứng xử hiệu quả đối với nhiều vấn đề liên quan đến biển. Công ước này đồng thời cũng tạo ra rất nhiều cơ chế phục vụ cho việc giải quyết các tranh chấp và quản lý nguồn tài nguyên biển. Trong khi giới ngoại giao, quân sự và nhiều công ty lớn của Mỹ thúc giục quốc hội thông qua UNCLOS thì một số nhóm khác lại phản đối. Cụ thể hơn, lực lượng bảo thủ, vốn có xu hướng ủng hộ đường lối hoặc là thành viên đảng Cộng hòa, đã chống đối quyết liệt.

Những người bảo thủ ủng hộ các giá trị truyền thống, chính phủ gọn nhẹ, mức thuế thấp, giảm thiểu quy tắc ứng xử trong luật pháp và xã hội, hướng đến tự do kinh doanh. Về đối ngoại, họ ủng hộ việc mở rộng tầm ảnh hưởng của Mỹ ra toàn cầu, xây dựng một nền quốc phòng mạnh mẽ với một lực lượng quân sự đông đảo cộng với chính sách đối ngoại cứng rắn. Có thể nhận ra rằng hầu hết các lập luận chống lại UNCLOS đều dựa trên những nền tảng tư tưởng như trên. Quan điểm của những người phản đối dựa trên cơ sở của những lập luận khá vững chắc mà đáng chú ý nhất là niềm tin vào sức mạnh nước Mỹ, mất tự do hàng hải, ảnh hưởng tới bảo mật quân sự và kinh tế.

Washington đang sở hữu lực lượng hải quân tốt nhất mà thế giới từng chứng kiến
Học giả Steven Groves

Trong hai lần được trình trước quốc hội vào năm 1994 dưới thời Tổng thống Bill Clinton và năm 2007 dưới thời Tổng thống George W.Bush, UNCLOS đều bị ngăn chặn bởi những nhân vật bảo thủ có ảnh hưởng lớn. Vào phiên điều trần ngày 23.5, 2 nhân vật lên tiếng chống đối UNCLOS mạnh mẽ nhất là 2 thượng nghị sĩ Jim DeMint và James Inhofe cùng thuộc đảng Cộng hòa. Trong thượng viện Mỹ, đây là 2 nhân vật bảo thủ hàng đầu. Ngoài ra, một số chính trị gia và học giả khác có cùng quan điểm bảo thủ cũng cực lực phản đối UNCLOS.

Lý lẽ của phe bảo thủ

Lập luận của phe chống đối hầu hết đều dựa vào những quy tắc của chủ nghĩa quốc gia bảo thủ. Theo thượng nghị sĩ DeMint, đại diện phe phản đối, Mỹ đã là một cường quốc biển, hiện diện khắp mọi nơi trên thế giới và có quyền tự do hàng hải từ lâu đời. Tương tự, trang Heritage.org dẫn lời học giả Steven Groves thuộc Quỹ Heritage Foundation lập luận rằng Washington đang sở hữu “lực lượng hải quân tốt nhất mà thế giới từng chứng kiến”. Vì thế, ông Groves khẳng định Mỹ đủ sức đảm bảo tự do hàng hải trên các vùng biển mà chẳng bị ràng buộc bởi bất cứ công ước, cơ quan hay tổ chức nào.

Phe bảo thủ cho rằng Mỹ đang có lực lượng hùng hậu trên biển nên không cần tham gia UNCLOS - Ảnh: Marines.mil
Phe bảo thủ cho rằng Mỹ đang có lực lượng hùng hậu trên biển nên không cần tham gia UNCLOS – Ảnh: Marines.mil

Theo chuyên trang quân sự Globalfirepower, chỉ tính riêng lực lượng tàu sân bay thì Mỹ có 11 chiếc chạy bằng năng lượng hạt nhân và độ choán nước đều trên 90.000 tấn. Trong khi đó, 9 nước còn lại sở hữu tàu sân bay trên thế giới chỉ có tổng cộng 11 chiếc và tất cả đều có độ choán nước dưới 70.000 tấn. Ngoài ra, Mỹ có tổng cộng 2.384 tàu hải quân các loại và 18.234 máy bay, còn lực lượng hải quân thứ hai thế giới là Trung Quốc chỉ có 972 tàu hải quân và 5.176 máy bay, chưa kể mức độ hiện đại. Vì vậy, học giả Groves cho rằng nước Mỹ vẫn duy trì và bảo vệ được những lợi ích hàng hải từ trước khi UNCLOS ra đời nên Washington chẳng cần tham gia công ước này. Trang Heritage.org dẫn lời ông khẳng định quyền tự do hàng hải mà Mỹ có được là nhờ sự kết hợp giữa những nguyên tắc hợp pháp lâu đời và sự hiện diện liên tục của hải quân.

Thậm chí, phe phản đối còn cho rằng nước này sẽ tự hạn chế quyền tự do hàng hải nếu tham gia UNCLOS. Theo đó, Mỹ hiện nay có thể di chuyển đến bất kỳ nơi đâu trên thế giới (trừ vùng nội thủy của các nước khác) và vẫn có “quyền đi lại không gây hại” ở vùng lãnh hải của bất cứ quốc gia nào. Thế nhưng, nếu tham gia UNCLOS, Washington sẽ phải xin phép để được đi qua vùng đặc quyền kinh tế (EZZ) của các nước khác. Đây là việc mà một siêu cường như Mỹ khó có thể chấp nhận. Ngoài ra, điều này còn dẫn tới hậu quả Washington bị hạn chế khi duy trì lực lượng răn đe trên biển hay thực hiện biện pháp ngoại giao “đu đưa bên miệng hố chiến tranh” như từng điều tàu đến eo biển Hormuz hồi đầu năm 2012.

Hơn thế nữa, bảo mật quân sự của Mỹ cũng bị ảnh hưởng khi tham gia UNCLOS vì Washington phải chia sẻ thông tin tình báo, quân sự trên biển với Cơ quan Quản lý lòng biển quốc tế (ISA) nếu được yêu cầu. Đồng thời, Mỹ cũng sẽ phải thông báo và xin phép ISA khi đi qua các eo biển quốc tế. Chỉ riêng việc một tổ chức không phải của Mỹ có quyền yêu cầu Mỹ báo cáo các thông tin hàng hải, quân sự đã là một sự “sỉ nhục”. Xa hơn, việc ISA có quyền cho phép và thu thuế với các doanh nghiệp Mỹ thực hiện những hoạt động trên biển cũng sẽ là điều không thể chấp nhận.

Vì thế, lập luận xuyên suốt của phe bảo thủ là nước mạnh thì không cần luật. Và theo họ, Mỹ thể hiện đầy đủ tiêu chí là nước mạnh nhất toàn cầu. (Còn tiếp)

Vũ Thành Công – Nguyễn Thế Phương [ Thanh Niên]