Tag Archive: vinh


Vừa mắt nhắm mắt mở bước vào ngày đầu tuần thì nhân được một “đơn đặt hàng” của độc giả có cái nickname khá rắc rối tan12ckt1980“Đề nghị bạn Thanh Tùng nghiên cứu và có bài viết phản bác lại cái này cho anh em nhé: Sự cùng quẫn của tờ báo Đảng- Blogger JB Nguyễn Hữu Vinh.”. Nhấn vào link thì gặp “bà buôn cải”, ngỡ đâu rằng anh chàng Ba sàm sau khi trang nhà mất thiêng nên lưu lạc sang đây đánh quả nhưng hóa ra không phải vậy. Đây là một anh chàng Nguyễn Hữu Vinh khác, xinh giai hơn và có cái “tai tồ” (title) JB gắn đằng trước tên chứ không phải “BS” như anh chàng kia. Thú thật trước giờ tôi chỉ thấy giới trẻ trên mạng hay vung vít 2 chữ “BJ” chứ “JB” thì tôi chẳng hiểu là gì cả, bạn nào biết thì giải thích giùm nhé! Đọc thêm một chút thì ngộ ra rằng JB này là một giáo dân đang đăng đàn hồ hởi chê bai, “vạch mặt” tờ báo Nhân dân. Tôi tự hỏi, báo Nhân dân là cơ quan ngôn luận của ĐCSVN, một trong những tờ báo lớn nhất Việt Nam với đội ngũ nhà báo dày dạn, bản lĩnh thì sao lại để hình ảnh của mình bị bôi xấu trên báo nước ngoài (dù rằng là loại báo “đâm bị thóc chọc bị gạo”) mà không phản ứng gì? sao bạn tan12ckt1980 không liên hệ với báo Nhân dân để nhắc nhở họ bảo vệ uy tín của mình mà lại “đặt hàng” tôi? Tuy nhiên đọc xong bài viết thì tôi cũng hiểu phần nào lý do: thứ nhất, bài viết đúng là thể hiện tư duy của một “con cừu” nên các nhà báo có lẽ chẳng thèm phản biện mà xem đó như câu chuyện hài làm quà mỗi dịp trà dư tửu hậu; thứ hai, “bà buôn cải” đăng bài bôi xấu báo khác nhưng thòng cái câu “Bài viết thể hiện quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả” để phủi trách nhiệm. Báo chí mà lẩn như lươn thế thì cần quái gì thằng biên tập nữa?

Thôi thì bạn đọc đã có lời, bài viết cũng đã mất công đọc, lại thêm món “lý luận của cừu” dường như vẫn còn thiếu trên blog này nên tôi sẽ cùng các bạn tìm hiểu xem “mùi vị” của nó thế nào.

Con chiên Vinh “văng miểng”

Chắc hẳn các bạn cũng như tôi đã từng nghe đến nhàm chán cái câu “Đại hội / kế hoạch / hội thảo / chiến dịch,.. đã thành công tốt đẹp”mà mấy cậu thư ký các cơ quan nhà nước “nhét vào mồm” các sếp?! Căn bệnh khoa trương thành tích của bộ máy hành chính có “công lao” không nhỏ từ các vị “quân sư quạt máy” này. Nhưng nếu các bạn mà xem qua bài viết của con chiên JB Nguyễn Hữu Vinh thì hẳn sẽ cười đến té ghế vì so với đẳng cấp “chém gió” của anh ấy, đám “quân sư” kia chỉ dám đứng đằng xa mà nhìn. Trong bản gốc tại blog của mình, anh ta viết về bản góp ý sửa đổi hiến pháp của hội đồng giám mục Việt Nam như sau:
“Như tiếng sấm giữa trời quang, bản văn của Hội Đồng Giám mục Việt Nam nhận định và góp ý vào bản Hiến pháp gửi tới Quốc hội đã làm rung chuyển nhiều thành phần trong xã hội. Không chỉ với người Công giáo Việt Nam, mà ngay cả với những công dân quan tâm đến tình hình đất nước, lo lắng cho tiền đồ dân tộc cảm thấy hân hoan, phấn khởi. Với bản văn mạch lạc, sáng suốt và đúng trọng tâm những gì đất nước này, dân tộc này đang cần để vượt qua bế tắc, tiến bước trên con đường phát triển. Trước đó, bản Kiến nghị của 72 nhân sĩ trí thức đã gây một tiếng vang lớn báo hiệu dân tộc Việt Nam đã có những dấu hiệu chuyển mình. Cơn chuyển mình vật vã, đau đớn để vượt qua sự sợ hãi vốn tạo thành thói quen của cả xã hội, thành phản xạ của mỗi công dân Việt Nam.”
Ôi, đẳng cấp cỡ này ngỡ đâu chỉ còn có ở đám rận vàng bên “mẫu quốc”, ngày đêm tung hô cho cái gọi là “quân lực VNCH vô địch” để tự ám thị mình dù đã chạy cách xa nửa vòng trái đất khỏi quê hương và gần 40 năm kể từ tháng 4 hào hùng năm 1975 ấy. Các bạn đọc của tôi, các bạn có thấy mình bị “rung chuyển” không vậy? Riêng tôi thì có, chỉ có điều là “rung rốn vì cười”!!! Có lẽ chúng ta nên tạm gọi anh chàng này là Vinh “văng miểng” để phân biệt với anh Vinh “sàm” kia.

Thế rồi, JB cho rằng uy lực của “tiếng sấm giữa trời quang” ấy đã khiến cho “nhà cầm quyền Hà Nội lúng túng và hoảng hốt”, dẫn đến những việc sử dụng “đòn bẩn”, “dựng chuyện và bịa đặt”, hệ thống truyền thông của Đảng và nhà nước, cụ thể là báo Nhân dân phải “cùng quẫn”. Ôi, nghe như thể vận mệnh chế độ đang đứng bên bờ vực của sự tồn vong vậy! Hãy xem những lý lẽ của con chiên này ra sao mà lại hùng hổ nổ nguyên băng hoành tráng đến thế.

Thực hư “những đòn bẩn”

“Đòn bẩn” thứ nhất, theo JB là “kéo dài thời gian góp ý đến cuối tháng 9/2013 thay vì kết thúc trong tháng Ba” vì “sau khi chi ‘hàng đống tiền dân’ từ ngân sách, nhà nước sẽ thu được một số lượng chữ ký áp đảo và coi như “đó là nguyện vọng nhân dân”. Trước giờ tôi chỉ biết rằng để có lợi thế thì người ta phải tổ chức trưng cầu ý kiến trong thời gian thật ngắn nhằm hạn chế những ý kiến chống đối (đêm dài lắm mộng!) chứ chẳng ai lại tự dưng kéo dài thời gian cho đối thủ nằm nghĩ ngợi thêm chiêu trò hay lôi kéo thêm nhiều người khác cả. “Chi ngân sách” thì cũng đã chi hầu hết trong 3 tháng đầu rồi, 6 tháng tiếp theo chỉ nằm chờ xem có thêm ý kiến nào khác thì bổ sung vào chứ liên quan gì đến việc “nhà nước sẽ thu một số lượng chữ ký áp đảo”? Người thông minh thì phải lợi dụng thời gian kéo dài này mà tuyên truyền ý tưởng của mình đến đông đảo người dân hơn nữa để lôi kéo thêm đồng minh về phía mình chứ sao lại than thở vì điều đó? Phải chăng khả năng càn quấy của JB và các đồng đạo chỉ đến vậy, để lâu sợ người ta phát hiện ra bản chất của mình hoặc“phong trào” sẽ “mất lửa”? Thật đúng là tư duy của cừu khác hẳn người thường!

“Đòn bẩn” thứ hai mà JB “tố” là “hệ thống tuyên truyền, truyền thông nhà nước còn ‘lôi đám nhân sĩ, trí thức’ ra ‘đánh hội đồng’ trước công luận nhưng lại không dám đưa ra cho người dân xem họ, những trí thức, nhân sỹ, đã thực sự nói gì?”. Câu này tự thân nó đã mâu thuẫn với nhau, chẳng khác nào bảo đưa 1 bị cáo ra trước tòa nhưng viện kiểm sát lại không cho người tham gia phiên tòa biết bị cáo đó bị truy tố vì tội gì. Tôi thậm chí đôi khi cũng bực với cái hệ thống tuyên truyền của nước mình, họ phản bác lại những luận điệu sai trái của đám “nhân sĩ trí thức” này nhưng chẳng “dám” nêu thẳng tên tuổi của họ ra mà chỉ “đánh” vào cái lý luận ngu ngơ của họ. Rõ là nhân đạo không phải lối! Đám “nhân sĩ trí thức” đó là những ai, nói những gì thì nhan nhản trên mạng, thậm chí họ là đối tượng được ưu ái trong blog Đôi mắt, chỉ khác cái là ở đây họ được gọi đúng với bản chất của họ, “rận sỹ chấy thức”.

Sau khi cho rằng chính quyền đã ra 2 “đòn bẩn”, con chiên này tiếp tục “tự sướng” về cộng đồng Ki tô giáo của anh ta: “Họ cũng thừa biết xưa nay, giáo dân Công giáo luôn đồng lòng, nhất trí với Hội đồng Giám mục một cách hầu như là tuyệt đối trong những vấn đề cơ bản đối với vận mệnh giáo hội và đất nước, vì con người. Do vậy, tiếng nói của Hội đồng luôn được sự ủng hộ to lớn. Chính vì thế, đánh vào khối này còn khó hơn ‘đục khối bê-tông’, càng đánh trực diện vào nó, càng khơi động tinh thần đoàn kết, hiệp thông. Điều đó đã được thử thách suốt mấy chục năm nay dưới chế độ Cộng sản nói riêng và suốt mấy trăm năm, qua nhiều thời kỳ lịch sử khốc liệt với giáo hội Công giáo. Do vậy, họ dùng nhiều chiêu trò khác tinh vi hơn nhưng cũng được cho là ‘bẩn thỉu’ hơn.”.
Đúng, trước giờ “giáo dân Công giáo luôn đồng lòng, nhất trí với Hội đồng Giám mục một cách hầu như là tuyệt đối”, đó là điều ai cũng biết. Thậm chí dùng từ “đồng lòng, nhất trí” là chưa thể hiện rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa giáo dân và hội đồng giám mục, mà phải nói là “phục tùng, tuân thủ, cung cúc nghe lời”. Đàn cừu thì làm sao có chuyện “đồng lòng, nhất trí” với chủ chăn được?! Và người ta cũng biết rằng cái “Hội đồng giám mục” ấy lại phải “phục tùng, tuân thủ, cung cúc nghe lời” các thế lực khác ngoài lãnh thổ Việt Nam, cụ thể là tòa thánh Vatican. Nhưng đó là một câu chuyện khác mà tôi sẽ kể sau này nếu có dịp. Câu hỏi vui cho mọi người suy nghĩ là: tại sao những người đã tự nguyện làm cừu cho người khác chăn mà lại tích cực “đấu tranh” cho “nhân quyền” vậy?

Tự tin với cái “khối bê tông” của mình, JB cho rằng chính quyền và hệ thống truyền thông của họ phải sử dụng những chiêu “bẩn thỉu hơn” nhằm “đục thủng khối bê tông” ấy. Những “chiêu bẩn” đó là: dùng người của Phật Giáo, Ki tô giáo để tuyên truyền cho chính sách của Đảng và Nhà nước; đội lốt các trang web Phật giáo để chống Ki tô giáo.

Con chiên này nói rằng: “Nếu như có một Hòa Thượng Thích Quảng Độ không được nhà nước ưa thích, thì lập tức có một vị Hòa thượng Thích Thanh Tứ lên diễn đàn Quốc hội ‘mạt sát’ được truyền hình cho cả nước xem. Nếu nhà nước không thích Bát Nhã, lập tức có các “ông sư, phật tử” nơi khác được điều đến thi tài trấn áp buộc họ phải rời nơi cứ trú. Nếu nhà nước muốn các phật tử vâng lời đảng, giữ nguyên nội dung điều 4 của Hiến pháp 1992, duy trì sự cai trị của Đảng CSVN và kiên quyết xóa bỏ quyền tư hữu đất đai của người dân, lập tức có các nhà sư như Thượng Tọa Thích Đức Thiện và Thích Thanh Dũng lên truyền hình tuyên truyền hộ về công lao của Đảng và rằng “xác định quyền tư hữu đất đai là trái với tinh thần từ bi của Đức Phật và bác ái của Chúa Giêsu”.
Trong tay của Đảng, dường như có thể có đủ mọi quân bài và mọi thành phần nhằm thực hiện đầy đủ “sự lãnh đạo sáng suốt và tuyệt đối”.

Thật là buồn cười khi JB cho rằng việc nhà nước sử dụng những người trong tôn giáo để nói chuyện về những vấn đề liên quan đến giáo phái của mình là việc “bẩn thỉu”. Có lẽ đầu óc cừu nên nghĩ vậy. Là một con người thì phải biết đó là cách giải quyết hợp tình hợp lý nhất. Mọi người, dù là giáo dân Ki tô giáo, Hồi giáo, Phật giáo,.. nếu đang sống trên đất nước này, là người Việt Nam thì trước hết họ là những công dân của đất nước. Là công dân thì họ phải tôn trọng và tuân thủ pháp luật (có lẽ trừ những giáo dân như JB là tự cho mình cái quyền làm trái điều hiển nhiên đó). Vậy thì khi nhà nước cần triển khai chính sách, thực thi một công vụ nào đó có liên quan đến một tôn giáo, các vị chức sắc tôn giáo đứng ra làm cầu nối giữa chính quyền và giáo dân là cực kỳ hợp lý và hiệu quả. Có lẽ những giáo dân như JB cho rằng nhà nước phải dùng xe tăng và lưỡi lê như Ngô Đình Diệm xưa kia đàn áp Phật giáo thì mới là “chiêu sạch”?!

Tư duy con cừu

Mang theo cái tư duy ngược đời đó, Vinh “văng miểng” chụp mũ tất cả những người Ki tô giáo có những bài viết, phát biểu không theo ý mình trên báo đài là “giả mạo”, “dàn dựng”,… Chưa cần biết cáo buộc đó là đúng hay sai nhưng nếu là một người hiểu biết, nhất là người “nhân danh dân chủ” thì phải hiểu một điều cơ bản rằng: Ai nói, ai viết không quan trọng mà điều quan trọng là những gì người ta nói, người ta viết đấy là đúng hay sai. Giả sử bây giờ giáo hoàng Francis có nói với tôi rằng “JB Vinh thực sự là một con cừu” thì tôi vẫn bảo đó là sai vì anh ta rõ ràng là không có sừng, không có lông xù, không đi bằng 4 chân dù rằng có thể anh ta có tư duy của một con cừu (bài viết này gọi “con cừu”, “con chiên” là tôn trọng sở nguyện của JB). Nhưng xem ra đối với những người vẫn tin rằng “mặt trời quay quanh trái đất” thì điều đó là đòi hỏi quá sức. Bởi lẽ đó, anh ta sẵn sàng cho tất cả những điều người khác nói mà không hợp ý anh ta và chủ chăn của anh ta là “ngây ngô” nên“không phải mất thời giờ để bàn về chuyện liệu những người như tác giả bài viết này có trình độ về lý luận hoặc hiểu biết ra sao”. Một trong những điều “ngây ngô”như anh ta quan niệm là: Đơn cử, tác giả của bài báo được tờ báo Nhân Dân của Đảng trân trọng, viết những câu như: “Tôi không biết chủ nghĩa Mác – Lê-nin là chủ nghĩa vô thần”. Con chiên này cho rằng bất cứ ai không biết “chủ nghĩa Mác – Lê-nin là chủ nghĩa vô thần” thì đều là “ngây ngô”! Vậy tôi sẽ phân tích để xem kẻ nào mới thực sự là “ngây ngô”.

Cái điều “cộng sản vô thần” mà các giáo dân như JB mang ra hù dọa lẫn nhau thực chất là một trong những chiêu trò tâm lý chiến của Mỹ ngụy và Ki tô giáo nhồi nhét cho con chiên từ hàng chục năm trước để tạo ra sự đối lập giữa cộng sản và tôn giáo nhằm tách họ ra khỏi sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Một người có suy nghĩ bình thường chí ít cũng phải đi tìm hiểu xem câu đó nghĩa là gì, đúng hay sai, từ đâu ra,.. chứ không nhắm mắt nghe theo mù quáng nhưng đàn cừu thì chỉ cần biết cứ chủ chăn nói ra thì là chân lý rồi. Một trong những lý lẽ mà những kẻ như JB hay rêu rao là Marx dạy rằng “tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” để từ đó suy diễn ra “tôn giáo là tệ nạn cần dẹp bỏ như thuốc phiện”. Đây là câu được cắt xén (nghề của “chàng” mà!) từ Lời nói đầu cuốn “Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hegel”. Nguyên văn Marx viết trong sách như sau:
“Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”.

Người có khả năng đọc hiểu sẽ dễ dàng hiểu rằng ở đây Marx muốn nhấn mạnh đến chức năng xã hội và tính 2 mặt của tôn giáo: là “thuốc giảm đau” trước những vấn đề bức bối của cuộc sống nghèo nàn và bị áp bức nhưng cũng là “chất gây nghiện” cho những người lạm dụng, khiến họ quên đi thực tại và cam chịu thay vì đấu tranh cho quyền lợi của mình. Như vậy, chính những kẻ lợi dụng tôn giáo để bịt mắt nhân dân nhằm phục vụ cho lợi ích của riêng mình mới chính là kẻ thù của tôn giáo đích thực, nhân quyền đích thực. Chủ nghĩa cộng sản (CNXH khoa học) như mọi ngành khoa học tiến bộ khác thì đều là “vô thần”, tức không tin hoặc không lấy yếu tố thần thánh siêu nhiên làm căn cứ cho nghiên cứu của mình, chứ không có nghĩa là “kẻ thù” của tôn giáo. Trong một đất nước thì có người theo đạo này, đạo kia và người không theo tôn giáo nào cả (lương dân). Vậy theo cái lý lẽ của con chiên JB thì những lương dân ấy, tức người “vô thần”, cũng là kẻ thù của tôn giáo à? Do đó, chỉ có những kẻ lợi dụng tôn giáo, sợ ánh sáng khoa học làm mọi người nhận ra bản chất của mình nên mới cuống quýt chụp mũ cho khoa học (CNXHKH, thuyết tiến hóa của Darwin,…) là kẻ thù của mình với ảo tưởng kêu gọi những cuộc thánh chiến vào thành trì của khoa học. Nhưng khổ nỗi, “thời oanh liệt” nay còn đâu!

CNCS của Marx là một ngành khoa học nghiên cứu về bản chất, sự vận động của kinh tế – chính trị và xã hội loài người, từ đó đưa ra đường lối, phương thức quản lý, xây dựng xã hội. Điều này là hiển nhiên đối với con người hiểu biết, dù đồng tình hay không với những quan điểm của Marx. Vậy mà con cừu (cứ cho là có hiểu biết) JB lại quan niệm rằng “trẻ con cũng không khỏi phải ‘bật cười’ về” nhận thức “chủ nghĩa Mác-lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ tư tưởng quản lý xã hội và đảng cầm quyền chỉ lấy tư tưởng quản lý xã hội chứ không “đóng khung” tư tưởng của người dân”. Thử hỏi “chế độ cộng sản vô thần” này có bắt các con chiên phải từ bỏ chủ chăn của mình để trở về làm con người “vô thần” không hay chỉ thấy các giáo dân (theo lệnh của chủ chăn) sử dụng hôn nhân để ép buộc người ngoại đạo gia nhập đạo mình, sử dụng tình cảm huyết thống để ngăn cản những người không theo ý chủ chăn? Vậy ai là kẻ thực sự “đóng khung tư tưởng” người dân?

Ai là giáo gian?

Trong bài viết của mình, Vinh “văng miểng” cáo buộc một số người là giả mạo giáo dân, do hệ thống truyền thông của nhà nước “dàn dựng” bằng những lời lẽ chung chung như “bị giáo dân ‘bóc mẽ’, sự bịa đặt bị phê phán là ‘trắng trợn nhớp nháp’ này đã bị ‘vạch trần’ trước muôn dân và dư luận quốc tế”, “gán ghép sượng sùng đã bị lật tẩy nhanh chóng sau đó”. Nếu chỉ tư duy một cách logic thì cũng hiểu rằng những giáo dân mà muốn lách ra khỏi những giáo lý và áp đặt của chủ chăn để thể hiện chính kiến của mình (khác với mong muốn của chủ chăn và những con chiên như JB) thì cũng phải chịu rất nhiều áp lực từ gia đình, công hội, đồng đạo (ngày xưa còn phải đối mặt với giàn thiêu nữa) nên họ phải bí mật là điểu đương nhiên. Nhưng khi có những người can đảm vượt qua những rào cản đó thì JB lại cho rằng họ là những kẻ “mạo danh” hoặc “đầu óc không bình thường”. Đó là 2 trường hợp gần đây nhất mà chúng ta sẽ xem xét ngay sau đây.

Trường hợp 1 – ông Nguyễn Quốc Hiếu: Vinh “văng miểng” viết rằng “Đài truyền hình dùng cách dựng ra một “Linh mục ở Bắc Ninh”. Màn kịch này nhanh chóng bị giáo dân ‘bóc mẽ’, sự bịa đặt bị phê phán là ‘trắng trợn nhớp nháp’ này đã bị ‘vạch trần’ trước muôn dân và dư luận quốc tế”.
Sự thực là thế nào?
Chương trình thời sự tối ngày 26 tháng 3 năm 2013 của đài truyền hình Trung ương VTV1 có đoạn phóng sự “Chức sắc tôn giáo góp ý sửa đổi Hiến Pháp 1992”, trong đó phỏng vấn ông Nguyễn Quốc Hiếu, với dòng chữ chú thích “Linh mục Nguyễn Quốc Hiếu, Chủ tịch Ủy ban đoàn kết Công giáo tỉnh Bắc Ninh”. Hai ngày sau, tòa giám mục Bắc Ninh ra thông báo xác nhận “Giáo phận Bắc Ninh Không Có Linh mục Nguyễn Quốc Hiếu”. Vậy là các con chiên dạng như JB vặn loa hết cỡ để lu loa với thiên hạ rằng “VTV dàn dựng linh mục ở Bắc Ninh”. Thiếu điều bắn pháo hoa ăn mừng vì “chiến tích” này! Nhưng bản chất sự việc có đúng như họ nói vậy không? Bất cứ ai ngoại đạo mà không có hứng thú tìm hiểu về ngóc ngách Ki tô giáo thì cũng chẳng để ý đến cha cố, cha xứ, linh mục, cha đạo, phó tế, giám mục,.. khác nhau thế nào. Do đó, việc ông Nguyễn Quốc Hiếu được chú thích là “linh mục” thì cũng có thể hiểu là do sự hiểu biết có hạn của nhân viên nhà đài về cơ cấu giáo hội, nhất là khi ông này có cái chức danh khá kêu “Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết công giáo tỉnh Bắc Ninh“. Chức danh này của ông Hiếu là thật và ông Hiếu cũng là một người theo Ki tô giáo nên không thể nói nhà đài “dựng” ông ấy lên.

Vậy “Ủy ban đoàn kết công giáo” là gì mà tại sao một người có chức danh như vậy lại bị con chiên JB và chủ chăn của mình “tẩy chay”? Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam là một tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, có mục đích “đoàn kết rộng rãi mọi người Công giáo, cùng toàn dân xây dựng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hoà bình, được xác quyết theo tinh thần Thư chung 1980 của Hội đồng Giám mục Việt Nam “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào” và nhiều Thư chung sau đó”, trong đó có những phong trào thi đua “Kính Chúa – yêu nước” và “sống tốt đời, đẹp đạo…“. Tiền thân của tổ chức này là Ủy ban Liên lạc những người Công giáo Việt Nam yêu Tổ quốc, Yêu hòa bình, gọi tắt là Ủy ban Liên lạc Công giáo toàn quốc, là tập hợp những người Công giáo “dám” chống lại sắc chỉ “không cộng tác với cộng sản” của Giáo hoàng Pio XII (1949) để cùng nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Pháp (trong khi phần còn lại theo Pháp chống lại Việt Minh!). Trong kháng chiến chống Mỹ, tại miền Nam cũng có một tổ chức tương tự là Hội Những người Công giáo kính Chúa yêu nước, sát cánh cùng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, chống lại ngụy quyền Việt Nam cộng hòa (một chính phủ mà chóp bu cũng toàn là con chiên của giáo hội La Mã). Ủy ban Đoàn kết tôn giáo Việt Nam hiện nay là tổ chức được hình thành dựa trên sự hợp nhất của 2 tổ chức công giáo yêu nước trên (1983).
Như vậy có thể hiểu được vì sao mà thành phần “chỉ yêu nước Chúa” như JB lại hằn học với những giáo dân chân chính “kính Chúa – yêu nước Việt”, rêu rao rằng Ủy ban Đoàn kết Công giáo là “cánh tay nối dài của Cộng sản” mà không thèm quan tâm đến việc quê cha đất tổ mình đã có từ ngàn đời trước khi “cánh tay nối dài của giáo hội La Mã” vươn đến đây. Miệng họ leo lẻo “cộng sản vô thần” nhưng cũng chính họ chụp mũ những người công giáo chân chính là “tay sai cộng sản”. Thật tình tôi không hiểu vì sao cái “chế độ cộng sản tàn bạo, vô thần” này lại cứ để cho những kẻ có truyền thống chống tổ quốc, hại nhân dân như vậy được yên ổn “hành nghề chống chế độ” như vậy? Thật là “tàn bạo” quá đi!

Trường hợp 2 – Ông Nguyễn Trọng Nghĩa: tác giả của bài viết Góp Ý Của Giáo Dân về Bản “Nhận Định Và Góp Ý Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp 1992 (Sửa Đổi Năm 2013) Của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam – Các Giám Mục Công Giáo Việt Nam”đăng trên sachhiem.net và được báo Nhân dân đăng lại với cái tên Nhiều điều chưa sáng trong một bản góp ý.
Sau khi đọc bài viết này của ông Nghĩa, con chiên “văng miểng” cho rằng “buộc phải nghi ngờ về sức khỏe tâm thần của ông” vì “trong đất nước Việt Nam này, hẳn không ai không biết (ngoại trừ những người cộng sản vô thần) rằng chưa có một giáo dân nào dám hỗn xược xưng “tôi” trước một linh mục chứ chưa nói đến với Giám mục hoặc Hội đồng Giám mục Việt Nam. Điều đó không chỉ là quy định, mà là sự tôn kính tối thiểu cần có đã thấm vào máu của mỗi giáo dân” (sic) và “ở Giáo hội Công giáo không có quan niệm hỗn mang kiểu “đồng chí cha, đồng chí con, đồng chí vợ, đồng chí chồng”. Bức thư phần đầu xưng “Tôi”, phần sau xưng “Con” như một sự ‘hoang tưởng’ của một người có đầu óc không bình thường”.
Đọc qua những dòng trên, quả thật tôi cũng “buộc phải nghi ngờ về sức khỏe tâm thần của” ông chiên JB, bởi lẽ anh ta đã “hoang tưởng” đến mức cho rằng “trong đất nước Việt Nam này, ngoại trừ những người cộng sản vô thần” thì ai cũng phải biết về lề lối xưng hô, tôn ti trật tự của giáo hội. Không biết Phật giáo, Cao Đài, Hồi giáo, Hòa Hảo,… có “huấn luyện” giáo dân của họ về điều đó hay không nhưng tôi thấy lương dân như tôi cũng không phải là ai cũng biết điều mà anh ta cho rằng “không ai không biết” ấy. Đương nhiên là trong giáo hội công giáo sẽ không có cái danh xưng“đồng chí cha, đồng chí con, đồng chí vợ, đồng chí chồng” mà chỉ có “cừu cha, cừu con, cừu vợ, cừu chồng” nên JB tỏ ra rất phấn khích khi đọc được chữ “tôi” trong bài viết của ông Nguyễn Trọng Nghĩa. Nếu chịu khó suy nghĩ và chịu khó hiểu thì chúng ta thấy rằng bài viết này chia làm 2 phần: phần trình bày ý kiến của ông Nghĩa về bản góp ý của Hội đồng giám mục gửi cho Sách hiếm nên xưng “tôi” và một phần gửi gắm tới các vị chức sắc giáo hội để giải thích cho hành vi “phạm thượng” này trong trường hợp họ đọc được bài viết nên xưng “con” (mục “Tại Sao Phải Góp Ý Bản Góp Ý Của Các Vị Giám Mục”).
Để củng cố giả thiết của mình, anh Vinh “văng miểng” mời thêm vài “diễn viên quần chúng” ra làm bình phong: “Người dân địa phương cho biết ông có hiện tượng đầu óc bị ‘man mát’, hay không bình thường về thần kinh, sức khỏe tâm thần. Gặp gỡ linh mục Chánh xứ, ông nội của ông Nghĩa đã than phiền về sự mâu thuẫn giữa ông Nghĩa với ông nội và cha mẹ ruột, người ông nội cũng cho hay đã không gặp gỡ và tỏ ra lo lắng cho ông Nghĩa về mặt nhân cách và đạo đức.”
rồi reo lên sung sướng:
“Thế có vẻ là đã quá rõ. Một người không còn giữ các lề luật Giáo hội, không tham gia, không còn liên hệ với giáo hội đã chục năm nay, bỗng nhiên được Báo Nhân Dân gọi là “Công dân theo Thiên Chúa giáo”?”

Thật là “cười rung cả rún” với con chiên “văng miểng” này. Tác giả bài viết tự xưng là“giáo dân giáo xứ Cao Lãnh”, báo Nhân dân đăng là “Công dân theo Thiên chúa giáo” thì có gì là sai mà con chiên JB cứ làm như thể tờ báo này tự ý gắn cái mác đó cho tác giả vậy. Giả sử cáo buộc của JB rằng ông Nghĩa đã “không còn giữ các lề luật Giáo hội, không tham gia, không còn liên hệ với giáo hội đã chục năm nay” là đúng thì không lẽ tờ báo này phải có trách nhiệm về Cao Lãnh để điều tra xem tác giả có phải là một giáo dân hay không thì mới được đăng bài? Không lẽ danh xưng “giáo dân” là một cái gì đó ghê gớm đến mức phải được xác minh trước khi ý kiến của họ được đưa ra cộng đồng? Ôi thế thì còn gì là “tự do ngôn luận” nữa!!!
Chưa hết, đến cả việc cho rằng ông Nghĩa “đã không còn liên hệ, không tuân phục những nguyên tắc, quy định” “nghĩa là anh đã tự đứng ra ngoài hàng ngũ công giáo” thì xem ra con chiên này đã tự ý tạo ra giáo luật cho riêng mình. Theo giáo luật của Giáo hội Ki-tô giáo La Mã hiện nay thì một giáo dân chỉ bị vạ tuyệt thông khi:

  1. Người bội giáo, lạc giáo hay ly giáo, sẽ bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết.
  2. Ai ném bỏ Bánh Thánh, lấy hoặc giữ với mục đích phạm thánh, bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh.
  3. Người nào hành hung Đức Thánh Cha sẽ mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh.
  4. Ai thi hành việc phá thai, và việc phá thai có kết quả, sẽ mắc vạ tuyệt thông tiền kết.
  5. Tư tế hành động ngược lại các quy định ở điều 977, sẽ bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh.
  6. Linh mục giải tội nào vi phạm trực tiếp ấn bí tích, phải bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh.
  7. Giám mục nào không có ủy nhiệm thư giáo hoàng mà phong chức giám mục cho người khác, cũng như người nào được thụ phong do giám mục ấy sẽ mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh.

Vậy thì, với những gì mà JB kể lể, rõ ràng ông Nguyễn Trọng Nghĩa vẫn chưa từng bị rút phép thông công bởi giáo hội, hay nói cách khác là ông vẫn đang trong tình trạng“hiệp thông” với giáo hội. Còn tại sao ông Nghĩa không liên hệ với giáo hội hoặc mâu thuẫn với gia đình (nếu là thật) thì hoàn toàn dễ hiểu bởi những gì ông ấy đã làm, đã thể hiện (với khát khao không là một con chiên mù quáng) là trái với chủ trương“đóng khung tư tưởng cừu” của giáo hội. Mà trái với ý của những người nhân danh Chúa thì đương nhiên phải là những kẻ “đầu óc bị ‘man mát’, hay không bình thường về thần kinh, sức khỏe tâm thần” chứ còn gì!!! Nếu “bình thường” như các con chiên khác thì ông Nghĩa đã không có những câu hỏi “phạm thượng”, “móc họng” các bề trên thế này: Khi Đức Tin Bị Thử Thách Ta Phải Làm Gì? Vì không“bình thường” như các con chiên khác nên ông Nghĩa không thể an phận đờ đẫn vểnh tai mà nghe những giáo huấn thế này:

Trích tuyên ngôn chính thức của đạo Tin Lành tại Việt Nam.
1) “ Mọi giao ước mà các thế hệ trước của dân tộc Việt Nam đã lập với (quỉ – tqd) Sa-tan, từ nay đã bị hủy bỏ hoàn toàn. Amen”.
2) “Nhân danh Đức Chúa Giê-xu Christ, chúng tôi công bố: nước Việt Nam và mọi người Việt Nam, vốn là tài sản của Đức Chúa Trời, nay đã được dâng trả lại cho Ngài, tùy ý Ngài sử dụng cho vinh hiển của Ngài”.
3) “…với tư cách làm chức thầy tế lễ của Đức Chúa Trời, một dân thánh biệt riêng cho Ngài, ngay bây giờ hiệp làm một như một người, đại diện cho thân thể của Đấng Christ tại Việt Nam, đại diện cho dân tộc Việt Nam ở trước mặt Đức Chúa Trời”.

Sách hiếm, Giao điểm là tay sai của Cộng sản?

Mũi nhọn cuối cùng của con chiên “văng miểng” chĩa vào hệ thống truyền thông của Nhà nước và báo Nhân dân là cáo buộc 2 trang web Sách hiếm và Giao điểm là công cụ của Nhà nước để “mang danh Phật Giáo để đâm lưng Công giáo”. Cơ sở của cáo buộc này là “một ‘văn bản yêu cầu’ Tổng cục Hải Quan Việt Nam ‘hỗ trợ’ một Việt Kiều đưa 420 quyển tạp chí ‘Giao Điểm’ được in trong nước đưa ra nước ngoài để ‘phục vụ tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta'”.Đây là một chuyện đã xảy ra cách đây 5 năm và đã được các bên liên quan làm rõ tại đây: Phỏng Vấn Ông Bùi Hồng Quang Về Một Văn Thư của Cục An Ninh. Không biết có phải JB nghĩ rằng chuyện đã quá lâu, không ai biết nên “khai quật” lên để “nhát ma” thiên hạ?
Vì chuyện đã quá lâu và đã có giải thích của người trong cuộc nên tôi chỉ điểm sơ qua thế này:
– Giả sử những chứng từ kia là “đồ thật” thì việc hỗ trợ đó cũng là rất bình thường nếu không muốn nói là cần hoan nghênh. Cụm từ “phục vụ tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta” có thể hiểu rằng: 1) việc hỗ trợ Việt kiều in ấn / phát hành / truyền bá văn hóa trong nước ra nước ngoài nói riêng, các ngành nghề khác nói chung là chủ trương, là chính sách của Đảng và nhà nước, để từ đó kêu gọi Việt kiều yên tâm về nước đầu tư; 2) Vì đây là những ấn phẩm “thuần túy tôn giáo” nên có tác dụng tuyên truyền đường lối, chính sách về “tự do tôn giáo” của Đảng và nhà nước. Và thực tế nội dung của các ấn phẩm này (tạp chí Giao điểm số 65) chẳng có gì liên quan đến việc tuyên truyền cho CNCS cả.
– Tạp chí Giao điểm được thành lập từ 1990, trước cả khi Mỹ bỏ cấm vận đối với Việt Nam. Nếu quả thực đó là “tay sai của CSVN” thì chúng ta rất nên tự hào khi đã có một tạp chí thuần tôn giáo hình thành và phát triển “sâu gốc bền rễ” trong cộng đồng người Việt tại Mỹ. Đó là cái tát thích đáng vào những cái mồm leo lẻo rằng Việt Nam ngăn cấm tự do tôn giáo.

Con chiên Nguyễn Hữu Vinh với cái tư duy cừu của mình không thể hiểu được điều đó nên gân cổ lên rằng: “Người ta mệnh danh Phật giáo để ‘điên cuồng xuyên tạc’ và ‘chống phá Công giáo’. Việc ‘đánh phá Công giáo’ ở những trang này có thể coi là sự bất chấp sự thật, bất chấp lý lẽ, bất chấp luân thường đạo lý, miễn đúng như định hướng mà Đảng CSVN đã đưa ra. Người ta có vẻ không cần quan tâm đến những gì Đức Phật đã dạy, những nguồn gốc sự đau khổ của con người Việt Nam, miễn là làm ‘vừa lòng ông chủ’ và cơn ‘hận thù mù quáng’ của họ”.

Thứ nhất, với những gì tôi đọc trên trang Sách hiếm thì tất cả các bài viết mà JB cho là “chống phá Công giáo” đều có ký tên rõ ràng của người viết chứ không hề nhân danh Đức Phật hay Phật giáo hay thậm chí là Phật tử.

Thứ hai, theo tôi đọc thì những tác giả như GS Trần Chung Ngọc, GS Nguyễn Mạnh Quang,… trích dẫn ngay từ kinh thánh ra và có chú thích rõ ràng chứ chẳng hề “điên cuồng xuyên tạc” như con chiên JB vu cáo. Tôi cũng thấy có nhiều con chiên và chủ chăn khác vào đấu lý với các tác giả này và đều được “dắt tay chỉ dẫn” từng chỗ, từng chỗ trong thánh kinh.

Thứ ba, nếu muốn “chống phá Công giáo” thì Nhà nước Việt Nam đâu cần phải“mệnh danh Phật giáo” làm gì vì những bê bối của Ki-tô La Mã được liệt kê đầy rẫytrên các phương tiện truyền thông nước ngoài đó thôi: nào là 7 núi tội ác, nào là ấu dâm, nào là tham ô – bài bạc,… Trong khi đó, truyền thông của cái chế độ đang bị tố là“chống phá công giáo” lại chẳng hề mặn mà gì với việc phơi bày bản chất của các vị buôn thần bán thánh này, thậm chí còn ca ngợi và cổ vũ cho những người Công giáo chân chính sống tốt đời đẹp đạo. Thế mới lạ chứ!

Thứ tư, Nhà nước Việt Nam chẳng có lý do gì để chống Công giáo nếu tôn giáo này hoặc những người lợi dụng nó không làm những điều gây tổn thương đến lợi ích quốc gia vì có một thực tế là khi kinh tế – khoa học kỹ thuật càng phát triển thì người dân càng có xu hướng tự giải thoát mình khỏi thân phận con cừu cho người khác chăn. Theo số liệu từ World Christian Database thì số người theo Kitô giáo tại châu Âu (cái nôi của đạo này) đã giảm từ 38,5% dân số năm 1970 xuống còn 23,7% dân số năm  2012.

Thứ năm, con chiên JB cũng như những kẻ lợi dụng tôn giáo làm chính trị luôn lải nhải cái luận điệu ngu dốt “cộng sản vô thần, đàn áp tôn giáo” nhưng khi có vấn đề với các tôn giáo khác hoặc với chính những người trong tôn giáo của mình (Ủy ban đoàn kết tôn giáo) thì lại cáo buộc họ là “tay sai cộng sản”! Tại sao cộng sản lại chỉ “chống công giáo” mà không chống các tôn giáo khác?

Thứ sáu, JB cho rằng Sách hiếm, Giao điểm (đứng sau là Đảng CSVN) có “hận thù mù quáng” với Ki-tô giáo nhưng chẳng hề nói ra được đó là hận thù vì cái gì, như thế nào. Đây là một sự chụp mũ vô căn cứ vì khi đọc các trang web này, người đọc sẽ thấy các bài viết đều có chú thích rõ ràng nguồn gốc của thông tin (hầu hết là trích dẫn từ kinh thánh!) và mục đích của người viết dường như là để “giải độc tín ngưỡng”cho những người bị lợi dụng hoặc thiếu hiểu biết. Cũng may là con chiên JB đang sống dưới “ách cai trị của độc tài cộng sản” chứ sống ở “thế giới tự do Hoa Kỳ” thì chắc cũng sẽ chung cảnh ngộ với con chiên Thomas Nguyễn (Nguyễn Văn Thạch), người bị tòa án Mỹ tuyên phạt hơn 150 ngàn đô la Mỹ vì tội vu không Giao điểm là cộng sản.

Nói tóm lại, đọc qua bài viết của con chiên JB Vinh “văng miểng”, tôi chỉ thấy ở đó có sự cùng quẫn về lý lẽ, hiểu biết, tâm thức của một kẻ mắt không nhìn quá ngọn roi, tai không nghe quá được những mệnh lệnh chăn dắt của chủ chăn nhưng lại ôm mộng tưởng chống lại cả thế giới bên ngoài cái chuồng của mình.

[link gốc bài viết tại doimat]

Nội dung của Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ


Ngày 24-6-2004, Chủ tịch nước Việt Nam đã ký Lệnh số 16-2004/L/CTN công bố Nghị quyết về việc phê chuẩn “Hiệp định giữa nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa về phần định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong Vịnh Bắc Bộ”, đã được Quốc hội nước CNXHCN Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15-6-2004.

Ngày 30-6-2004 tại Hà Nội đã diễn ra lễ trao đổi văn kiện thư phê chuẩn Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ giữa hai nước.

Dưới đây là toàn văn Hiệp định:

Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (dưới đây gọi là “hai Bên ký kết”);

Nhằm củng cố và phát triển mối quan hệ láng giềng hữu nghị truyền thống giữa hai nước và nhân dân hai nước Việt Nam và Trung Quốc, giữ gìn và thúc ấy sự ổn định và phát triển của Vịnh Bắc Bộ; Trên cơ sở các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi, cùng tồn tại hòa bình;

Trên tinh thần thông cảm, nhân nhượng lẫn nhau, hiệp thương hữu nghị và giải quyết một cách công bằng, hợp lý vấn đề phân định Vịnh Bắc Bộ; Đã thoả thuận như sau:

Điều I

1 . Hai Bên ký kết căn cứ vào Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, các nguyên tắc luật pháp và thực tiễn quốc tế được công nhận, trên cơ sở suy xét đầy đủ mọi hoàn cảnh hữu quan trong Vịnh Bắc Bộ, theo nguyên tắc công bằng, qua thương lượng hữu nghị đã phân định lãnh hài, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong Vịnh Bắc Bộ.

2. Trong Hiệp định này, Vịnh Bắc Bộ là vịnh nửa kín được bao bọc ở phía Bắc bởi bờ biển lãnh thố đất liền của hai nước Việt Nam và Trung Quốc, phía Đông bởi bờ biển bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam của Trung Quốc, phía Tây bởi bờ biển đất liền Việt Nam và giới hạn phía Nam bởi đoạn thẳng nối liền từ điểm nhô ra nhất của mép ngoài cùng của mũi Oanh Ca – đảo Hải Nam của Trung Quốc có tọa độ địa lý là vĩ tuyến 18 o 30 19″ Bắc, kinh tuyến 1080 41 17″ Đông, qua đảo Cồn Cỏ của Việt Nam đến một điểm trên bờ biển của Việt Nam có tọa độ địa lý là vĩ tuyến 160 57 40″ Bắc và kinh tuyến 107o 08 42″ Đông.

Hai Bên ký kết xác định khu vực nói trên là phạm vi phân định của Hiệp định này.

Điều II

Hai Bên ký kết đồng ý đường phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa giữa hai nước trong Vịnh Bắc Bộ được xác định bằng 21 điểm nối tuần tự với nhau bằng các đoạn thẳng, toạ độ địa lý của 21 điểm này như sau:

Điểm số 1:

Vĩ độ 210 28’12”.5 Bắc

Kinh độ 1080 06’04”.3 Đông

Điểm số 2:

Vĩ độ 210 28’0”.7 Bắc

Kinh độ 1080 06’01”.6 Đông

Điểm số 3:

Vĩ độ 210 27’50”.1 Bắc

Kinh độ 1080 05’57”.7 Đông

Điểm số 4:

Vĩ độ 210 27’39”.5 Bắc

Kinh độ 1080 05’51”.5 Đông

Điểm số 5:

Vĩ độ 210 27’28”.2 Bắc

Kinh độ 1080 05’39”.9 Đông

Điểm số 6:

Vĩ độ 210 27’23”.1 Bắc

Kinh độ 1080 05’38”.8 Đông

Điểm số 7:

Vĩ độ 210 27’8”.2 Bắc

Kinh độ 1080 05’43”.7 Đông

Điểm số 8:

Vĩ độ 210 16’32” Bắc

Kinh độ 1080 08’05” Đông

Điểm số 9:

Vĩ độ 210 12’35” Bắc

Kinh độ 1080 12’31” Đông

Điểm số 10:

Vĩ độ 200 24’5” Bắc

Kinh độ 1080 22’45” Đông

Điểm số 11:

Vĩ độ 190 57’33” Bắc

Kinh độ 1070 55’47” Đông

Điểm số 12:

Vĩ độ 190 39’33” Bắc

Kinh độ 1070 31’40” Đông

Điểm số 13:

Vĩ độ 190 25’26” Bắc

Kinh độ 1070 21’00” Đông

Điểm số 14:

Vĩ độ 190 25’26” Bắc

Kinh độ 1070 12’43” Đông

Điểm số 15:

Vĩ độ 190 16’4” Bắc

Kinh độ 1070 11’23” Đông

Điểm số 16:

Vĩ độ 190 12’55” Bắc

Kinh độ 1070 09’34” Đông

Điểm số 17:

Vĩ độ 180 42’52” Bắc

Kinh độ 1070 09’34”Đông

Điểm số 18:

Vĩ độ 180 13’49” Bắc

Kinh độ 1070 34’00” Đông

Điểm số 19:

Vĩ độ 180 07’08” Bắc

Kinh độ 1070 37’34” Đông

Điểm số 20:

Vĩ độ 180 04’13” Bắc

Kinh độ 1070 39’09”. Đông

Điểm số 21:

Vĩ độ 170 47’00” Bắc

Kinh độ 1070 58’00” Đông

Điều III

1 . Đường phân định từ điểm số 1 đến điểm số 9 quy định tại Điều II của Hiệp định này là biên giới lãnh hải của hai nước trong Vịnh Bắc Bộ.

2. Mặt thẳng đứng đi theo đường biên giới lãnh hải của hai nước quy định tại khoản 1 Điều này phân định vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải hai nước.

3. Mọi sự thay đổi địa hình đều không làm thay đổi đường biên giới lãnh hải hai nước từ điểm số 1 đến điểm số 7 quy định tại khoản 1. Điều này, trừ khi Hai Bên ký kết có thoả thuận khác.

Điều IV

Đường phân định từ điểm số 9 đến điểm số 21 quy định tại Điều II của Hiệp định này là ranh giới giữa vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong Vịnh Bắc Bộ.

Điều V

Đường phân định lãnh hải của hai nước quy định tại Điều II từ điểm số 1 đến điểm số 7 được thể hiện bằng đường mầu đen trên bản đồ chuyên đề cửa sông Bắc Luân tỷ lệ 1:10.000 do hai Bên ký kết cùng nhau thành lập năm 2000. Đường phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục điạ của hai nước từ điểm số 7 đến điểm số 21 được thể hiện bằng đường mầu đen trên Tổng đồ toàn diện Vịnh Bắc Bộ tỷ lệ 1:500.000 do hai Bên ký kết cùng nhau thành lập năm 2000. Các đường phân định này đều là đường trắc địa.

Bản đồ chuyên đề cửa sông Bắc Luân và Tổng đồ toàn diện Vịnh Bắc Bộ nói trên là bản đồ đính kèm Hiệp định. Các bản đồ trên sử dụng hệ tọa độ LTRF-96. Các tọa độ địa lý của các điểm quy định tại Điều II Hiệp định này đều được xác định trên các bản đồ nói trên. Đường phân định quy định trong Hiệp định này được thể hiện trên các bản đồ kèm theo Hiệp định chỉ nhằm mục đích minh hoạ.

Điều VI

Hai bên ký kết phải tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mỗi Bên đối với lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ được xác tính theo Hiệp định này.

Điều VII

Trong trường hợp có các cấu tạo mỏ dầu, khí tự nhiên đơn nhất hoặc mỏ khoáng sản khác nằm vắt ngang đường phân định quy định tại Điều II của Hiệp định này, hai Bên ký kết phải thông qua hiệp thương hữu nghị để đạt được thoả thuận về việc khai thác hữu hiệu nhất các cấu tạo hoặc mỏ khoáng sản nói trên cũng như việc phân chia công bằng lợi ích thu được từ việc khai thác.

Điều VIII

Hai Bên ký kết đồng ý tiến hành hiệp thương về việc sử dụng hợp lý và phát triển bền vững tài nguyên sinh vật ở Vịnh Bắc Bộ cũng như các công việc hợp tác có liên quan đến bảo tồn, quản lý và sử dụng tài nguyên sinh vật ở vùng đặc quyền kinh tế hai nước trong Vịnh Bắc Bộ.

Điều IX

Việc phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa hai nước trong Vịnh Bắc Bộ theo Hiệp định này không gây bất kỳ ảnh hưởng hoặc phương hại nào đến lập trường của mỗi Bên ký kết đối với các quy phạm luật pháp quốc tế về luật Biển.

Điều X

Mọi tranh chấp giữa hai Bên ký kết liên quan đến việc giải thích hoặc thực hiện Hiệp định này phải được giải quyết thông qua hiệp thương và đàm phán hữu nghị.

Điều XI

Hiệp định này phải được hai Bên ký kết phê chuẩn và có hiệu lực kể từ ngày trao đổi các văn luận phê chuẩn. Các văn kiện phê chuẩn được trao đổi tại Hà Nội.

Hiệp định này được ký tại Bắc Kinh, ngày 25 tháng 12 năm 2000 thành hai bản, mỗi bản bằng tiếng Việt và tiếng Trung, cả hai văn bản đều có giá trị như nhau.

Theo BÁO ĐIỆN TỬ ĐẢNG CỘNG SẢN

Kịch bản để mở đầu một cuộc chiến.

Photo: EPA
Câu nói “Cái mới chẳng qua là điều  xưa đã bị quên lãng” đã trở nên thông dụng 200 năm nay và nhiều lần khẳng định sự tồn tại của mình.
Chẳng hạn như thí dụ mới đây. Thượng viện Mỹ công bố gói tài liệu tiếp theo về thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Bình luận về các tài liệu này trên tạp chí New York Times vào tuần qua, nhà báo Mỹ Elizabeth Bumiller đã rút ra kết luận: “Những tài liệu này chứng tỏ, Nhà Trắng và Lầu Năm góc lừa dối các thượng nghị sĩ về sự kiện Vịnh Bắc Bộ năm 1964″.
Không ít người còn coi đây là một tin giật gân. Liệu có đúng như vậy?
Sự lơ đãng, với hình thức tồi tệ nhất là cố tình quên lãng, vốn là một trong những bản chất tính cách không những của con người, mà cả nhiều quốc gia. Nhưng ông Lê Đức Thọ, người được trao giải thưởng Nobel Hòa bình đã công bằng nhận xét “ai quên đi sai lầm của mình sẽ không tránh khỏi sự lặp lại”. Người đại diện của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tại các cuộc thương lượng với Henry Kisinger, trước lễ ký kết Thỏa thuận Paris 1973 về đình chiến ở Việt Nam, đã trả lời như vậy khi nhân vật đối thoại người Mỹ đề nghị hai nước quên đi mọi chuyện cũ và bắt đầu mối quan hệ từ trang giấy trắng.
Tìm cách quên lãng quá khứ là những ai cảm thấy đó điều bất lợi cho mình , Mới đây, trên một kênh truyền hình chiếu bộ phim về chiến tranh Việt Nam , có một cảnh làm  đó là cuộc tranh luận giữa hai người Mỹ, một già một trẻ, về nguyên nhân sự thất bại của Hoa Kỳ ở Việt Nam. Nhân vật đứng tuổi giải thích đó là bởi sự công minh trong tính chất đấu tranh của người Việt Nam, bởi chiến lược và chiến thuật quân sự tài tình của họ. Còn nhân vật trẻ tuổi giải thích đấy là nhờ vào hoạt động chống chiến tranh của những người theo chủ nghĩa hòa bình và trào lưu hippy tại chính nước Mỹ. Có thể thấy, không hề thừa khi chúng ta nhắc nhở cho các thế hệ trẻ về những điều bị quên lãng. Cả về nguyên nhân sự thất bại của Mỹ ở Việt Nam, cũng như lý do khởi đầu sự xâm lược của Mỹ.  Cụ thể, về sự kiện Vịnh Bắc Bộ mà Mỹ đã sử dụng như lý lẽ để khai màn cuộc chiến tranh trên không chống nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Ngày 05/08/1964, phát biểu trên đài truyền hình Mỹ, Tổng thống Johnson thông báo, tại vịnh Bắc Bộ ngày 02/08 tầu ngư lôi của Bắc Việt Nam đã tấn công tầu khu trục Mỹ, và đến ngày 04/08 thì đã hai tầu Mỹ là Maddox và Turner Joy bị phía Việt Nam tấn công. Vì những nguyên nhân này mà không quân Mỹ vừa tổ chức cuộc ném bom đầu tiên xuống lãnh thổ Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Chỉ sau đó vài giờ, dự thảo nghị quyết chuẩn y hoạt động chiến tranh qui mô tại Việt Nam đã được đưa vào Hạ nghị viện. Văn bản được gọi là “Nghị quyết vịnh Bắc Bộ” đã thông qua ngày 07/08 và trở thành cơ sở khởi đầu sự tham gia toàn diện của Mỹ trong các hoạt động chiến sự chống nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, không cần tới sự tuyên chiến chính thức.
Nhà sử học Makxim Siunenberg chuyên viên về nghiên cứu các mối quan hệ Việt Nam và Mỹ những năm 1950-1970  nói: “Ngay từ đầu, sự trung thực của cái gọi là sự kiện vịnh Bắc Bộ đã gây nên nhiều hoài nghi chính tại Mỹ cũng như từ các hạ nghị sĩ. Vào đầu năm 1968, các tạp chí Esquire và Times đã đăng những tài liệu  vạch trần toàn bộ sự dối trá trong nội dung giả thiết chính thức của Mỹ về sự kiện này”.
Cả hai ngày 2 và ngày 4 tháng 8, không một tầu khu trục nào của Mỹ đã bị trúng ngư lôi. Sau đó, như Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Robert McNamara thông báo vào tháng 2/1968, các tầu khu trục Mỹ đã có mặt  tại vịnh Bắc Bộ với mục đích “khiêu khích hoạt động của các thiết bị radar Bắc Việt Nam, nhằm ghi lại tần số các radar này”.
Và nếu ngày 02/08/1964, đúng là tầu hải quân Bắc Việt Nam có mặt ở khu vực Maddox, nhưng tại hải phận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thì ngày 04/08 hòa toàn không có một tầu nào tại đây.
“Toàn bộ là những hành động đáng ngờ”, – thuyền trưởng John Gerric, người nắm quyền điều kiển linh hoạt cả hai tầu khu trục, đã thông báo như vậy với ban chỉ huy Hải quân Mỹ ngày 05/08. Người này tỏ ra nghi ngờ sự đúng đắn các chỉ số của thiết bị định vị âm thanh trên khu trục hạm. “Tôi tin rằng, đây chỉ là những thông số ghi lại tiếng ầm của động cơ hai tầu khu trục”, – ông tuyên bố như vậy.
Bản thân thuyền trưởng Gerbert Ogayer của tầu Meddox đã cho biết, tầu của ông không hề bị tấn công. Ông thú nhận đã nhầm tiếng ồn của động cơ tầu mình với tiếng ồn của tầu phóng ngư lôi. Thuyền trưởng Bartnhart của Turner Joy cũng  phủ nhận là khu trục hạm bị tấn công.
Trung úy Connell, sĩ quan pháo trên tầu Maddox thì nói như sau: “Chúng tôi đã nã pháo loạn xạ. Không có một mục tiêu nào trên màn hình radar. Các máy bay được điều động từ hàng không mẫu hạm cũng không phát hiện thấy đối phương”.
Tháng 3/1968, Ủy ban đối ngoại Thượng nghị viện Mỹ đã điều tra đầy đủ sự kiện vịnh Bắc Bộ và kết luận, sự kiện này được “sáng tác từ đầu đến cuối”.  Những bằng chứng mới khẳng định điều này nằm trong các tài liệu thời chiến tranh Việt Nam, vừa được Ủy ban quan hệ quốc tế Thượng nghị viện Mỹ giải mật .
Hoa Kỳ cần tới sự kiện vịnh Bắc Bộ như một casus belli – lý do để tuyên chiến. Trong lịch sử thế giới đây không phải là trường hợp đầu tiên.

Vĩnh biệt Sihanouk – nhân chứng số 1 của lịch sử hiện đại Campuchia

Cựu hoàng Campuchia Norodom Sihanouk tại vị hơn 60 năm cho tới khi nhường ngôi cho con vào năm 2004 sau khi trải qua bao nhiều thăng trầm của lịch sử Campuchia hiên đại.

Ông là người đã chứng kiến Campuchia giành lại độc lập từ Pháp, trải qua thời kỳ Khmer Đỏ thảm khốc, cuộc chiến tranh du kích sau đó, rồi quốc gia Campuchia quân chủ lập hiến ngày nay.

Theo trang web chính thức của hoàng gia, sau khi ông thoái vị, Quốc hội Campuchia ra nghị quyết tôn vinh ông làm thái thượng hoàng với các nghi thức và đặc quyền giống như một vị quân vương tại vị.

Cựu hoàng Campuchia Norodom Sihanouk đã qua đời ở tuổi 90 vì cơn trụy tim trong một bệnh viện tại Bắc Kinh, Trung Quốc. Thông tin này do Phó thủ tướng Campuchia Nhik Bun Chhay xác nhận vào sáng 15-10.Campuchia sẽ tổ chức quốc tang và cả nước sẽ treo cờ rủ, theo người phát ngôn chính quyền Khieu Kanharith. Hồi tháng 1, ông Sihanouk đã di nguyện được hỏa táng theo nghi thức Phật giáo và truyền thống Campuchia.

Sinh ngày 31-10-1922, ông Sihanouk trải qua thời thơ ấu sung túc trong gia đình hoàng tộc và được người Pháp chọn lên ngai vàng năm 1941 với lòng tin rằng một hoàng tử trẻ sẽ dễ kiểm soát hơn.

Nhưng người Pháp là những người đầu tiên trong nhiều người đã sai lầm khi đánh giá thấp Sihanouk. Năm 1953 người Pháp đã phải trả lại độc lập cho Campuchia.

Hai năm sau Sihanouk thoái vị để tổ chức một đảng chính trị lớn và đưa Campuchia vào một giai đoạn trung lập không dễ dàng ở thời kỳ đỉnh điểm của Chiến tranh lạnh. Ông chấp nhận viện trợ có hạn từ Mỹ và xây dựng quan hệ với Trung Quốc cũng như góp phần sáng lập Phong trào Không liên kết.

Sihanouk là một chính trị gia đầy nhiệt tâm, tài năng, đồng thời cũng là một quân vương ngẫu hứng và đôi khi hành xử bột phát. Ông làm phim, vẽ tranh, sáng tác nhạc, thành lập một đội bóng của hoàng gia và một ban nhạc jazz của riêng ông. Ông cũng thích xe hơi, phụ nữ và nghệ thuật ẩm thực. Sihanouk kết hôn ít nhất năm lần và có 14 người con.

“Tôi là Sihanouk và mọi người Campuchia đều là con cái của tôi”, ông từng nói.

Năm 1960, Sihanouk trở thành quốc trưởng sau khi cha ông qua đời. Năm 1970, tướng Lon Nol được Mỹ ủng hộ tuyên bố tiến hành đảo chính khi ông Sihanouk đang thăm chính thức Liên Xô và hủy bỏ chế độ quân chủ.

Sihanouk lưu vong sang Trung Quốc để lãnh đạo một phong trào chống đối, còn tại Campuchia, Khmer Đỏ dần lên nắm quyền. Sau khi Pol Pot và đồng bọn nắm hoàn toàn quyền lực tháng 4-1975, những cuộc tàn sát và tử hình hàng loạt bắt đầu, các trại tập trung mọc lên và khoảng 1,7 triệu người Campuchia, tương đương một phần năm dân số, đã thiệt mạng.

Bản thân Sihanouk mất năm người con và 14 người cháu dưới tay Khmer Đỏ. Nhà vua được phép trở lại đất nước vào năm 1976 nhưng qua can thiệp của Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai, Sihanouk mới thoát án tử hình và bị quản thúc tại cung điện của ông cho tới khi Pol Pot bị lật đổ ba năm sau đó.

Sihanouk là “một nhà quân chủ kiểu phong kiến của thời dân chủ. Ông được người dân yêu mến nhưng những nỗ lực của ông nhằm đem lại sự ổn định sau nhiều thập kỷ bạo lực rối ren ở Campuchia thường là thất bại” – theo AP.

Giai đoạn 1979-1991, ông lại phải rời Campuchia, rồi trở về lãnh đạo nền cộng hòa mới. Năm 1993, khi Campuchia tổ chức những cuộc bầu cử quốc hội đầu tiên, quyền lực nhà vua được khôi phục và quốc gia Đông Nam Á này trở thành một nhà nước quân chủ lập hiến.

Đảng bảo hoàng FUNCINPEC của con trai Sihanouk, Norodom Ranariddh, giành thắng lợi trong cuộc bầu cử và thành lập liên minh với Đảng Nhân dân Campuchia (CPP) của ông Hun Sen.

Tháng 9-1993, Sihanouk lại lên ngôi quốc vương Campuchia. Cuộc đấu tranh quyền lực giữa CPP và FUNCINPEC kéo dài năm năm, đôi khi dẫn tới đổ máu và Sihanouk đã lựa chọn im lặng, cho tới khi tình hình có nguy cơ trở thành nội chiến và Sihanouk can thiệp để buộc Ranariddh chấp nhận một liên minh mới với Hun Sen.

Trong những năm cuối đời, nhiều người lớn tuổi ở vùng nông thôn Campuchia vẫn sùng kính ông, nhưng một bộ phận lớp trẻ chỉ coi ông là một hình bóng quá khứ, thậm chí phải chịu trách nhiệm một phần vì những bi kịch của đất nước.

Cựu hoàng chuyển sang viết blog và lui hẳn về sau hậu trường, dành phần lớn thời gian của ông ở Bắc Kinh, trong sự chăm sóc của các bác sĩ.

Hoàng thân Sisowath Thomico, một thành viên hoàng gia và là trợ lý riêng của ông Sihanouk, nói cựu hoàng qua đời vì cơn trụy tim trong một bệnh viện ở Bắc Kinh. “Việc ông qua đời là một tổn thất lớn với Campuchia”, ông Thomico nói, đồng thời khẳng định ông Sihanouk đã cống hiến đời mình “cho lợi ích quốc gia, dân tộc và người dân Campuchia”.

Người kế nhiệm của ông, Quốc vương Norodom Sihamoni, đã cùng Thủ tướng Campuchia Hun Sen sang Bắc Kinh ngày 15-10 để đưa thi hài cựu hoàng về nước, theo lời đại tá Chhay Bunna, phụ trách an ninh ở sân bay quốc tế Phnom Penh.

HẢI MINH (TUỔI TRẺ ONLINE)

 

 

[lấy bài từ REDS.vn]

Thăm ngôi trường mang tên Bác ở Ukraina

Trong chuyến công tác EURO 2012 này, chúng tôi đã có dịp đến thăm trường trung học mang tên Bác ở một khu dân cư đông đúc của thủ đô Kiev.

Ngôi trường không lớn, nhưng khang trang và ấm cúng, từ lâu đã đước biết đến trong cộng đồng người Việt ở Kiev nói riêng và Ukraina nói chung như một điểm sáng trong mối quan hệ giữa Việt Nam và Ukraina. Được thành lập đúng vào ngày 2/9/1985, trường trung học phổ thông mang số 251 này đã có vinh dự được đặt tên theo Chủ tịch Hồ Chí Minh vào năm 1990, sau một sắc lệnh của Hội đồng Bộ trưởng Ukraina.

Trường đã dạy nhiều thế hệ học sinh Việt Nam ở đây, giúp các cháu không quên tiếng mẹ đẻ, không quên lịch sử của dân tộc và nuôi dưỡng trong các cháu, chủ yếu là được sinh ra trong các gia đình Việt Nam sống, làm việc và kinh doanh tại Kiev, tình yêu Tổ quốc.

Trường 251 đã lập ra cả một bảo tàng thu nhỏ mang tên Hồ Chí Minh trong phòng truyền thống của trường. Ngoài ra, trường cũng lập một khu trưng bày ảnh và giới thiệu về lịch sử, đất nước và con người Việt Nam để giúp các cháu Việt Nam và Ukraina hiểu được về đất nước xa xôi cách họ hàng nghìn dặm này.

Mặt tiền của nhà trường vẫn còn nguyên những dấu ấn kiến trúc từ thời Liên Xô

Bà Valentina, giám hiệu nhà trường, người đã gắn bó rất lâu năm với trường số 251 và có một cảm tình đặc biệt với Việt Nam.

Phòng truyền thống của nhà trường không lớn, nhưng cũng lưu giữ và trưng bày hàng trăm hiện vật và ảnh liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó cả cuốn Nhật kí trong tù bằng tiếng Ukraina.

Bà Ekaterina, người phụ trách bảo tàng, đang thuyết minh cho chúng tôi về nguồn gốc của những hiện vật trưng bày.

Bà Ekaterina đang đứng bên cạnh một tủ kính, trưng bày nhiều bức thư của các nhà văn nổi tiếng Việt Nam, các sinh viên và nghiên cứu sinh Việt Nam, những người đã tham gia dịch các tác phẩm văn học nghệ thuật của Việt Nam và Ukraina.

Các học sinh Việt Nam theo học tại trường đang đọc tiểu sử của Bác Hồ.

Cô giáo Vũ Thị Hoàng Yến, người đã 11 năm nay dạy tiếng Việt cho học sinh Việt Nam ở trường, cùng với các học sinh giỏi nhất. Hiện có 30 học sinh người Việt Nam đang theo học tại trường này

Bảng thành tích của các em học sinh Việt Nam ở trường Hồ Chí Minh

ANH NGỌC (THỂ THAO & VĂN HÓA)