Tag Archive: vua


Trung Quốc đừng dại thử lòng yêu nước của dân tộc Việt

(ĐVO) – Lòng yêu nước của dân tộc Việt, về góc độ xã hội, lịch sử được gọi là Truyền thống, về góc độ khoa học được gọi là Gen di truyền. Cho nên, thế giới có đổi thay, vương triều có đổi thay nhưng truyền thống đó hay gen di truyền đó không bao giờ thay đổi.

Không rõ tinh thần yêu nước của dân tộc Trung Hoa như thế nào, bởi vì từ xưa Trung Quốc chỉ đi xâm lược, mở rộng lãnh thổ, nhưng khi bị các quốc gia khác tới xâm lược như Nguyên Mông, Anh, Nhật Bản thì họ đều thúc thủ và ý chí của họ thể hiện trong “Vạn lý trường thành”, trong cuộc biểu tình chống Nhật Bản mới đây…thì có lẽ chỉ họ mới hiểu, đánh giá được thực chất, sức mạnh kết nối lòng yêu nước của dân tộc họ.

Dân tộc Việt, lòng yêu nước được biểu hiện theo cách khác, đơn giản là “Sông núi nước Nam, vua Nam ở” nó đã “rành rành định sẵn” rồi. Kẻ nào, dù hung hãn đến đâu, xâm phạm là phải và bị đánh đuổi, đơn giản thế thôi. Về ý chí thì “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm 20 năm hoặc lâu hơn…”, “dù có đốt cháy dãy Trường Sơn cũng phải giành độc lập”…

   Chủ quyền của Tổ quốc luôn thiêng liêng trong mỗi người Việt Nam
Chủ quyền của Tổ quốc luôn thiêng liêng trong mỗi người Việt Nam

Duy nhất một lần dưới triều Nguyễn, nhưng lịch sử thời đó vẫn còn vang vọng những cái tên hào hùng lẫm liệt của Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, còn đó lời bất hủ của Nguyễn Trung Trực…và hơn 90 năm sau, năm 1954, dân tộc Việt đã vùng lên bằng trận Điện Biên Phủ chấn động địa cầu.

Mỹ thua Việt Nam có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân đầu tiên là Mỹ không hiểu dân tộc Việt. Chỉ đến năm 1972 khi Nixon bắt tay Mao Trạch Đông ở Thượng Hải thì người Mỹ mới tin rằng Việt Nam dân chủ cộng hòa và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam đánh Mỹ là vì lý do thống nhất đất nước chứ không phải đánh Mỹ bởi tác động của Trung Quốc hay Liên Xô.

Máu xương của thế hệ ông, cha, anh đổ xuống để có hôm nay, cho con cháu một Việt Nam liền một dải, không như bán đảo Triều Tiên hiện giờ là quý báu biết chừng nào và đương nhiên chỉ ai là con cháu Lạc Hồng mới cảm nhận được.

Lòng yêu nước của dân tộc Việt, về góc độ xã hội, lịch sử được gọi là Truyền thống, về góc độ khoa học được gọi là Gen di truyền. Cho nên, thế giới có đổi thay, vương triều có đổi thay nhưng truyền thống đó hay gen di truyền đó không bao giờ thay đổi.

Động thái hung hăng, ngang ngược, đe dọa gây hấn trên Biển Đông của Trung Quốc đòi độc chiếm 80%, xâm phạm đến chủ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt đang ngày càng được người Việt Nam trong và ngoài nước ý thức rất rõ ràng.

Sự việc đường “lưỡi bò” trên bản đồ; đèn lồng in chữ “Tam Sa”; sách vở in sai, có cờ Trung Quốc; siêu thị Big C bán nho…được sự “quan tâm” sát sao của dân cả nước là dấu hiệu của lòng tự tôn dân tộc, lòng yêu nước đang phát tiết mà không cần hô hào phát động.

Hành động rất nguy hiểm của Trung Quốc mới đây trên Biển Đông, dùng súng bắn cháy ca bin tàu đánh cá của ngư dân Việt trong vùng biển chủ quyền Việt Nam là hành động ngang ngược, độc ác, vô nhân đạo và chúng không hiểu được sức mạnh lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam.

 Ca bin tàu bị Hải giám TQ bắn cháy nhưng quyết không để cháy cờ Tổ quốc
Ca bin tàu bị Hải giám TQ bắn cháy nhưng quyết không để cháy cờ Tổ quốc

Hạm đội 7 của Hoa Kỳ ngày xưa (là niềm mơ ước của hạm đội Nam Hải-Trung Quốc ngày nay) khi Hải quân Việt Nam là con số “không” mà còn không dọa được Việt Nam thì vài chục con tàu giả dạng Hải giám, đằng sau có vài con tàu chiến tập trận, đã tỏ ra hung hăng, xua đuổi phi pháp tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam là có thể dễ dàng tác quái trên Biển Đông của Việt Nam ư? Họ đã lầm vì dân tộc Việt luôn yêu chuộng hòa bình, muốn là bạn với láng giềng một cách thân thiện, hữu nghị nhưng lòng yêu nước, bảo vệ từng tấc đất, tấc biển của Việt Nam thì ngàn đời không thay đổi. Họ chỉ tổ tốn dầu và hao máy mà thôi. Hành động ngang ngược, ác độc, vô nhân đạo của Trung Quốc đã kích hoạt lòng yêu nước của dân tộc Việt.

Lịch sử vốn không bao giờ lặp lại, nhưng khi đã lặp đi lặp lại nhiều lần thì chứng tỏ điều đó đã trở thành quy luật khách quan, mà khi đã là quy luật thì đừng dại dột làm trái với nó.

Chỉ có kẻ điên mới mong có sóng thần để thử độ vững của đê chắn sóng.

  • Lê Ngọc Thống

Đi tìm sự thật về nhà thờ của gia đình Thủ tướng

Xung quanh thông tin Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xây dựng ngôi “nhà thờ họ” nguy nga ở Kiên Giang, suốt lâu nay đã được loan truyền râm ran và trở thành một đề tài nóng thu hút sự quan tâm của công luận. Sự thật ra sao?

Nguồn tin khởi đầu được tung ra bởi một số mạng thông tin không chính thống. Rồi tiếp tục xuất hiện cả một số đơn thư được lan truyền đã len lỏi tới đông đảo công chúng; càng khiến dư luận không ngớt xì xầm, bàn tán.

Theo các thông tin được mô tả thì: Ngôi nhà thờ này là một lâu đài đồ sộ, sang trọng gấp nhiều lần nhà thờ họ Hồ ở Nghệ An; nguy nga hơn cả đền thờ vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực; được tọa lạc trên khuôn viên rộng tới hơn 4.000m2 với quy mô rất hoành tráng, số tiền đầu tư xây dựng trị giá tới hơn 40 tỉ đồng. Đặc biệt, khuôn viên hơn 4.000m2 này là đất thu hồi của người dân địa phương.

 

Cổng chính ngôi nhà số 1108

 

 

“Nhà thờ họ” này đã và đang trở thành “bia miệng” trong dân chúng Việt Nam… Sức nóng của dư luận đã khiến không ít cán bộ lão thành cách mạng phẫn nộ, dân chúng hoài nghi và có người đã phải thốt lên rằng: “Ai đời đương kim Thủ tướng mà lại làm cái việc xa hoa đến thế!”.

Nhà báo vốn có đặc tính là luôn “săm soi” các nguồn tin nên tôi đã được chứng kiến không ít cuộc luận bàn xung quanh câu chuyện “nhà thờ họ” của đương kim Thủ tướng. Bản thân tôi đã có lúc thấy rất hoài nghi và thiếu tin cậy về những thông tin loan truyền ấy. Có một số người cũng nói với tôi rằng đó chỉ là sự đồn thổi, bịa đặt: “Làm gì có lâu đài, biệt điện nào! Chẳng qua chỉ là chuyện thêu dệt nhằm bôi đen lãnh đạo, gây mâu thuẫn trong nội bộ Đảng và kích động lòng dân…”.

Nhưng sự hoài nghi trong tôi lại lập tức bị tan biến bởi có không ít lời khẳng định như đinh đóng cột với tôi rằng họ đã trực tiếp mắt thấy tai nghe: “Không tin ông cứ đến TP. Rạch Giá, gặp bất cứ ai, từ anh xe ôm cũng đều đàm tiếu vanh vách!”.

Là người cầm bút, trước một sự việc tuy đang rất “bán tín bán nghi” – nhưng quả thực nó tác động mạnh đến dư luận xã hội, đến tâm trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân là điều có thật – đã thực sự làm tôi trăn trở. Và chính vì điều đó đã thôi thúc khiến tôi quyết định phải thực hiện một cuộc hành trình để kiếm tìm sự thật. Vào đầu tháng 12 năm 2012, nhân có chuyến vào TP. Hồ Chí Minh công tác tôi đã quyết định “phi” xuống Kiên Giang để đích thân “mục sở thị” xem hư thực ra sao.

Sự thật ra sao?

Cách đây hơn 20 năm tôi đã có dịp về Kiên Giang công tác – lúc đó tôi đang là phóng viên báo Quân đội Nhân dân (khi ấy Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đang là Chủ tịch tỉnh. Đồng chí Thiếu tá Quỳnh – Trợ lý Tuyên huấn Tỉnh đội – đã bố trí cho tôi phỏng vấn Chủ tịch tỉnh về công tác quân sự địa phương và việc thực hiện chính sách hậu phương quân đội. Và cũng suốt từ ấy đến nay tôi không có một cuộc tiếp kiến nào khác với ông).

Hơn 20 năm sau trở lại Kiên Giang, tôi thấy nơi đây đã thay đổi quá nhiều. Rạch Giá thời đó còn là thị xã, ngày nay đã trở thành thành phố. Ngày ấy Rạch Giá chỉ có bến xe ôtô, bến tàu biển; bây giờ đã có cả sân bay. Từ bến xe đi về các ngả, lúc đó phương tiện chủ yếu là xe lôi và Honda ôm. Bây giờ ở bến nào cũng thấy taxi nườm nượp. Bất giác tôi bỗng thấy nao nao nhớ về ký ức xe lôi thời ấy. Ngắm nhìn đường phố sạch đẹp và thoáng đãng, tôi cảm nhận rõ một quang cảnh thật thanh bình.

Cùng đi với tôi là anh bạn thân ở Sài Gòn nhưng rất thông thạo Rạch Giá – Kiên Giang. Chúng tôi tìm đến số nhà 1108 đường Nguyễn Trung Trực một cách chẳng khó khăn gì. Đường Nguyễn Trung Trực trước đây chỉ là một con đường nhỏ nằm trong lòng Rạch Giá; bây giờ trở thành con phố đường đôi huyết mạch rộng rãi, phong quang. Đứng trước cổng số nhà 1108, quan sát toàn cảnh khuôn viên tôi thấy lòng đầy nghi hoặc. Có phải cái “lâu đài” đang lan truyền gây xôn xao dư luận ấy chính là đây? Không lẽ tôi đã có một sự lầm lẫn nào khác?…

Nhưng hoàn toàn không phải như sự ngờ vực của tôi. Số nhà 1108 này chính là địa chỉ ngôi nhà của người em trai út và thân mẫu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hiện đang sinh sống ở Kiên Giang miền quê nơi ông sinh trưởng. Bước chân vào khuôn viên, đảo hết một vòng, mang thông tin loan truyền ra đối chiếu, tôi bỗng thấy sửng sốt…

 

Phần mộ thân phụ Thủ tướng tại nghĩa trang liệt sĩ Kiên Giang

 

 

Toàn bộ khuôn viên này theo con mắt ước tính của tôi chỉ cỡ năm sáu trăm mét vuông là “kịch đường tàu”, chứ không phải tọa lạc trên diện tích tới hơn 4.000 m2 như đồn thổi! Qua xác minh tôi được biết, vào khoảng những năm 1980, nơi đây vốn là một xưởng sản xuất nước mắm của tư nhân rất ô nhiễm. Con lộ khang trang nơi mặt tiền bây giờ, ngày ấy chỉ là một con đường xấu xí và nhỏ hẹp. Lúc bấy giờ, Thủ tướng ngày nay đang là Bí thư ở huyện Hà Tiên. Mẹ và em trai của Thủ tướng là Tư Thắng đã mua mảnh đất này với thời giá lúc đó “rẻ như bèo” và được cấp đầy đủ quyền sử dụng. Như thế là thông tin mảnh đất này là đất thu hồi từ đất ruộng của dân rồi qui hoạch… thật sự chỉ là sự thêu dệt!

Tiếp tục quan sát từ ngoài vào trong tôi thấy: Chiều dài mặt tiền của khuôn viên ước tính chỉ khoảng ba, bốn chục mét. Một bờ tường bao nơi mặt tiền cao trên dưới 3 mét, ốp vật liệu bình thường chứ không hề thấy một loại vật liệu quý nào. Phía ngoài tường bao là một rặng cau cao vút. Toàn bộ khuôn viên được chia dọc làm hai phần, từ đường nhìn vào thì bên tay trái là nhà ở, và bên phải là nhà thờ. Lối chính vào nhà là một cái cổng quá đơn sơ, lợp ngói thô. Một mảnh sân nho nhỏ ước chừng vài chục mét vuông không thấy có kiến trúc gì tạo dựng hay trang trí cảnh quan mang tính mĩ thuật. Căn nhà ở của gia đình được xây một trệt, một lầu, hết sức bình dị như trăm ngàn ngôi nhà khác trên khắp phố phường Việt Nam. Hoàn toàn không có một chút kiến trúc hay vật liệu gì quí giá theo hình mẫu, phong cách và dáng dấp của các loại biệt thự đương thời. Bước chân vào phòng khách tại tầng trệt, đi qua phòng của mẫu thân Thủ tướng rồi xuống nhà bếp của gia đình tôi thấy thật sự ngỡ ngàng. Phòng khách chỉ rộng chừng ba chục mét vuông, chỉ có một bộ sa-lông gỗ rất mộc mạc. Tôi đã từng đến nhiều phòng khách đẹp lộng lẫy của không ít anh em bè bạn. Trước khi bước vào phòng khách này tôi cũng mường tượng như vậy. Nhưng quả là nhầm to! Phòng khách đơn sơ tới mức vượt xa trí tưởng tượng của tôi. Thân mẫu của Thủ tướng năm nay đã 87 tuổi hiện đang sống trong căn nhà này. Tôi không thể ngờ rằng căn phòng đang sinh sống của thân mẫu Thủ tướng lại đơn sơ, mộc mạc và bình dị đến mức thật khó tin!

Kề bên căn nhà ở là nhà thờ của gia đình nằm chung trong một khuôn viên, có cổng riêng. Quan sát toàn cảnh nhà thờ tôi thấy: Đó là một ngôi nhà gồm 3 gian, 3 tầng mái truyền thống, tọa lạc cuối khuôn viên, được xây dựng trên cốt nền cao, gồm 9 bậc thềm, đá lát là loại đá xanh bình thường. Tôi sải bước đo chiều dài áng chừng chỉ 10m, chiều ngang sâu khoảng 5m. Nhẩm tính tổng diện tích ngôi nhà thờ chỉ vào khoảng 50m2. 3 gian trong nhà thờ, mỗi gian được đặt một ban thờ. Ban chính giữa là ban thờ gia tiên, trên cùng là thờ ảnh Bác, tiếp phía dưới là di ảnh phụ thân rồi đến di ảnh người chị của Thủ tướng. Thân phụ của Thủ tướng là ông Nguyễn Tấn Thử (tức Mười Minh), chính trị viên Tỉnh đội Kiên Giang, hi sinh trong một trận Mỹ ném bom B52 vào ngày 16/4/1969.

Ban thờ phía bên phải là Ban thờ Má chiến sĩ – tức Má Tư cùng 3 chiến sĩ cũng hi sinh trong trận bom ngày 16/4/1969 với ông Nguyễn Tấn Thử. Ban thờ phía bên trái là Ban thờ ông Phan Thái Quí (tức Chín Quí), Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Kiên Giang – đồng đội của thân phụ Thủ tướng – cũng hi sinh trong trận bom ngày 16/4/1969. Quan sát kĩ thêm tôi thấy: Ban chính phía trên nóc có một chùm đèn và dưới là một chiếc sập gỗ cũng quá đơn sơ mộc mạc. Hai bên phía hồi nhà thờ ngay lối cửa ra vào là 2 lọ lục bình lớn nom y hệt bằng đồng nhưng kỳ thực chỉ là 2 bình đất nung, sản vật của Vĩnh Long. Toàn bộ hệ thống cửa chính hoàn toàn là gỗ mộc, đã hư hỏng, xuống cấp. Quan sát hết lượt từ ngoài vào trong, từ trong ra ngoài tôi chẳng thấy có một vật dụng gì được cho là quí giá! Còn ở ngoài khuôn viên phía trước nhà thờ chỉ thấy toàn là cây cau, xoài, mít và vài cây đại nhỏ, không hề có một cây cảnh đắt tiền hay quí hiếm nào cả. Qua kiểm chứng, ngôi nhà thờ này được anh em trong gia đình Thủ tướng xây dựng vào khoảng năm 2000.

Như vậy là đích thân tôi đã “tai nghe, mắt thấy, tay sờ” và hoàn toàn không hề thấy có “lâu đài xa hoa” nào như dư luận loan truyền, đồn thổi! Đến đây thì bạn đọc đã hiểu đầy đủ rằng câu chuyện về “Nhà thờ Họ của Thủ tướng” tất cả chỉ là sự thêu dệt mà thôi! Và từ sự thêu dệt ấy đã được thổi phồng thành sự thật! Sau khi đã tìm hiểu rõ ngọn ngành, tôi thầm nghĩ, sự thật hiển nhiên đến như thế mà được tạo dựng thành chuyện “như có thật” thì có lẽ những thông tin thị phi khác về Thủ tướng và gia đình bấy lâu loan truyền trong công luận chỉ là xuyên tạc! Trong khoảng thời gian ở Kiên Giang tôi cũng đã đến thăm và thắp hương ở Đình thờ vị Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực. Đến đây tôi mới sáng tỏ rằng việc đồn thổi “nhà thờ họ” của Thủ tướng “nguy nga gấp nhiều lần đình thờ vị Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực” sự thật chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng và hư cấu! Tôi được biết, mới rồi nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã vào tận đây và cũng đã phải thốt lên rằng “Hóa ra tất cả chỉ là sự thêu dệt!”.

Sự thật nói lên điều gì?

Sau khi đã thực hiện xong cuộc thị sát tường tận, tôi rời Rạch Giá về Sài Gòn trên một chuyến xe khách tốc hành. Định bụng lên xe là “đánh” một giấc nhưng tiếc thay vớ phải chiếc vé nằm tầng 2, lại ở phía cuối xe nên cứ bị lay lắc như đánh võng. Suốt 6 tiếng đồng hồ trong cuộc hành trình không hề chợp mắt, tâm trí tôi cứ miên man suy nghĩ…

 

Bia thờ liệt sĩ tại khuôn viên nhà thờ

 

 

Trước khi thực hiện cuộc hành trình tìm kiếm sự thật, một anh bạn rất thân đã gay gắt phê phán tôi rằng: “Bao nhiêu việc lớn sao không quan tâm vào cuộc, hà cớ gì mà phải mất thời giờ cho một việc nhỏ nhoi như thế!” Nhưng lương tâm chức nghiệp đã mách bảo tôi rằng: “Việc tuy nhỏ nhưng nếu không minh bạch ắt đủ khiến lòng người ly tán!

Họa lớn âu cũng khởi nguồn từ những đốm lửa nhỏ! Bởi vậy, sự việc dẫu nhỏ hay lớn cũng đều cần tới sự quang minh!” Nói tới chuyện nhà thờ – thờ tự – tức là nói tới việc tâm linh. Phàm đã là việc tâm linh thì không thể nói không thành có hoặc nói có thành không được. Câu chuyện về “nhà thờ họ” của Thủ tướng đang được công luận loan truyền đã thực sự gây hoài nghi, bức xúc trong dư luận, vì thế rất cần được kiểm chứng, phân minh.

Tôi đã được trực tiếp chứng kiến sự thật! Và sự thật ấy đã khiến tôi phải ngỡ ngàng bởi nó hoàn toàn trái ngược với những thông tin được loan truyền trong đời sống dư luận suốt bấy lâu nay. Sự thật ấy đã nói lên điều gì và đã tác động ra sao trong đời sống xã hội? Không còn nghi ngờ gì nữa, xuất phát từ những thông tin xấu độc được bịa đặt, từ đồn đại đã được thêu dệt và thổi phồng tạo thành một “sự thật giả dối”! Trong mỗi chúng ta ai cũng đều nhận diện được chân lý nhưng không phải tất cả đều tỉnh táo. Cái “sự thật giả dối” ấy đã thực sự gây xúc động trong tâm lý xã hội, tạo sự hoài nghi trong công chúng, gieo rắc sự bất an trong đời sống… Hơn thế nữa, cái “sự thật giả dối” ấy đã bóp méo hình ảnh của người đứng đầu Chính phủ, gây nghi kỵ, phân hóa, chia rẽ, mất đoàn kết trong nội bộ Đảng và khiến lòng tin của nhân dân bị hao tổn. Nguy hiểm hơn nữa đó là, từ sự giảm sút niềm tin vào người lãnh đạo đất nước tới việc đánh mất niềm tin vào chế độ, ranh giới chỉ là “trong gang tấc”. Và càng trở nên nguy hiểm bởi trong khi đất nước đang cần trên dưới một lòng thì lại “mắc ngay vào bẫy” của các thế lực thù địch một cách vô cùng ấu trĩ…

Tôi vừa đọc một bài báo mới đây của nhà báo lão thành Hữu Thọ. Ông viết rằng: “Chiến đấu cho thông tin sự thật và nhanh chóng công bố thông tin là cuộc chiến đấu sinh tử trong cuộc cạnh tranh thông tin ngày càng gay gắt hiện nay. Thông tin sai là thua mà thông tin chậm, cũng là thua!”. Và “…Không chỉ nói sự thật mà phải tới sự “chân thật” – tức là sự thật phải được phản ánh “đúng hiện thực khách quan” – chân thật tức là bản chất của sự thật! Ông kết luận: “Thông tin sai sự thật có nhiều loại, có số ít do bịa đặt, thêm bớt là sai phạm nặng nề nhất về mặt đạo đức của người làm báo… Có trường hợp thông tin “sai sự thật” do suy diễn chủ quan dẫn đến sự thật bị thổi phồng, bóp méo cũng không còn là sự thật như nó vốn có, gây hiểu lầm tai hại trong xã hội” (theo Tạp chí Tuyên giáo số tháng 12/2012)…

Trước lúc trở về TP. Hồ Chí Minh tôi đã đến thắp nhang ở nghĩa trang liệt sĩ Kiên Giang. Mộ các liệt sĩ hàng hàng, lớp lớp quần tụ uy nghi. Người quản trang đã đưa tôi đến thắp hương trên mộ phần của thân phụ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Mộ của thân phụ Thủ tướng nằm đây, hết sức khiêm nhường hòa lẫn cùng hàng cùng lối với các liệt sĩ đang an giấc ngàn thu. Người quản trang kể với tôi rằng: Đã không ít lần lãnh đạo các khóa của tỉnh Kiên Giang có nguyện vọng muốn di dời mộ phần của thân phụ Thủ tướng vào khu an táng các quan chức lãnh đạo được qui hoạch ở một khu riêng gần đó, trước hết là để tỏ lòng thành kính; sau nữa là được khang trang hơn. Song cứ mỗi lần nhắc đến, Thủ tướng đều nhất quyết một mực rằng: “Bố tôi sống, chiến đấu cùng đồng đội, nay hãy cứ để yên cho ông được an nghỉ bên đồng đội của ông!”.

Giây phút đứng đây – tại nghĩa trang liệt sĩ này – tôi chợt nhớ tới lời hứa của Thủ tướng trên diễn đàn Quốc hội mới rồi: “… Chính phủ, Thủ tướng và từng thành viên sẽ nghiêm túc với mình, đoàn kết, hết lòng làm việc… tất cả vì Tổ quốc, nhân dân, vì Đảng, chế độ, vì sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước…”. Điều đó đã gieo vào tôi một niềm tin vững chãi, cũng như sự kỳ vọng của các tầng lớp nhân dân rằng: Sứ mệnh của Thủ tướng không có gì cao cả hơn ngoài việc một lòng một dạ phụng sự dân tộc và dốc lòng dốc sức tận tụy vì sự bình an của xã tắc sơn hà – tức chế độ này!

Theo Nhà báo và Công luận
http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/103097/di-tim-su-that-ve-nha-tho-cua-gia-dinh-thu-tuong.html

CỜ VÀNG CỰC ĐOAN – THEO VOI HÍT BÃ MÍA

(Treonline) – Trần Hưng Đạo trong Hịch Tướng sĩ “Sông Đằng một dải dài ghê, Sóng hồng cuồn cuộn tuôn về bể Đông. Những phường bất nghĩa tiêu vong, Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh!”

Việt Nam từ thuở các Vua Hùng dựng nước đến nay đã viết nên bao trang sử vẻ vang dựng nước và giữ nước. Thiên anh hùng ca về giữ nước thật oai hùng, nhưng cũng thấm đẫm bao nhiêu máu và nước mắt. Dân tộc Việt Nam chúng ta hiểu điều đó, và bởi vậy không khi nào chúng ta muốn chiến tranh. Dân tộc chúng ta khát khaohoà bình, và có lẽ không có dân tộc nào muốn có hoà bình lại phải trải qua mất mát, hy sinh to lớn đến như thế! Nhưng chính giữ nước trong hoàn cảnh lịch sử ngàn năm ấy dạy chúng ta biết khoan dung, biết khép quá khứ, hướng tới tương lai, đồng thời cũng cho chúng ta bài học biết cầm vũ khí đánh giặc và thắng giặc, giữ gìn độc lập, tự do cho dân tộc.

Thời nào mà chẳng có “phường bất nghĩa”, “lũ bất trung”, phường “cõng rắn cắn gà nhà” “theo voi hít bã mía”. thời nào chẳng có kẻ “trung thần” ! Và lịch sử đã chứng minh, ai sẽ được “lưu danh” và kẻ nào sẽ bị “tiêu vong” điều đó đã rõ trong sử sách. Cờ vàng chống cộng cực đoan cũng đã đi vào lịch sử của dân tộc việt bằng con đường lưu danh một cách ô nhục nhất , nó đã trượt dài trên con đường ôm chân ngoại bang , “rước voi về dày mả tổ”, cờ vàng cực đoan là “đỉnh cao” nhất trong mọi thời đại của dân tộc Việt về sự phản phúc.
Sau mấy chục năm vác cờ, “chuyển lửa” về tổ quốc cờ vàng CCCĐ nhận thấy những phương pháp đó không mang lại mảy may kết quả nào, chỉ chuốc lấy sự phản ứng của dư luận nhân dân trong nước và người Việt ở hải ngoại . Dựa hơi BU (Mỹ), được sự chỉ bảo tận tình của các tổ chức không có thiện cảm đối với đất nước VN phương hướng chống phá đất nước cũng “uyển chuyển” cho phù hợp với trào lưu quốc tế, cờ vàng cũng “đầu tư” suy nghĩ tìm cách phát huy tối đa dã tâm bán nước đã ăn sâu vào não bộ nô lệ của cờ vàng.

 

 

Tư duy của cờ vàng CCCĐ
Cờ vàng CCCĐ sống được cho đến ngày hôm nay là nhờ luồng “sinh khí” lúc nào cũng được “hâm nóng” và “saochế” các sự kiện xảy ra ở trong nước, thiếu cái chiêu này thì chắc chắn cờ vàng sẽ lăn đùng ra chết giống như kẻ bị trúng gió độc vậy. Cũng bám vào những sự kiện và vấn đề thời sự trong nước, tập trung đào bới, cắt xén, chế biến làm sao cho “bốc mùi” chống cộng.
Thời gian qua, trên nhiều trang mạng và đài phát thanh của hải ngoại đã xuất hiện những bài viết, những cuộc phỏng vấn, “bình loạn” công kích, xuyên tạc, bóp méo, bôi đen… sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc VN, cờ vàng CCCĐ dựng chuyện bêu xấu nhằm làm mất uy tín của những người đang nắm giữ vận mệnh quốc gia, phủ nhận những thành tựu mà toàn dân tộc VN vươn lên từ hoang tàn của cuộc chiến tàn khốc nhất trong lịch sử dân tộc.
Trong cuộc chiến trước năm 1975 đòn “mã hồi thương” về chiến tranh chính trị đã làm cho cờ vàng ngấm đòn , bắt chước những người cộng sản cờ vàng cũng “tập trung” xoi mói vào cái gọi là “tử huyệt” của cộng sản . Rất dễ dàng nhận thấy chiêu thức mà cờ vành đưa ra là việc tuyên truyền, kích động của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị vẫn nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của chính phủ VN đối với công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc . Lợi dụng các vấn đề liên quan đến Biển Đông và chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam để bôi nhọ, hạ uy tín, kích động, chia rẽ mối quan hệ giữa nhà nước với dân, công kích chính sách đối ngoại của VN, đặc biệt những vấn đề liên quan đến quan hệ Việt Nam – Trung Quốc…
Cờ vàng CCCĐ có hiểu được rằng dân tộc Việt trải qua biết bao nhiêu cuộc chiến bảo vệ cương thổ quốc gia mà vũ khí bách chiến , bách thắng là gì không ? Xin thưa cho các vị được rõ đó là sự đoàn kết , điều thật dản dị mà các nền đệ nhất , đệ nhị cộng hoà không một chút hơi hướng gì trong những người lãnh đạo quốc gia của cờ vàng có được. Cờ vàng CCCĐ có hiểu được lịch sử cha ông không ? chắc sẽ không hiểu rõ được tại sao quân dân đời Trần có thể ba lần đánh tan những đạo quân xâm lược hung bạo, muốn lấy thịt đè người, nếu không hiểu được cội nguồn của thắng lợi kỳ diệu là tinh thần dân tộc được khởi động và dâng cao để do đó mà “vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức”.
Cờ vàng dùng thủ đoạn xuyên tạc sự thật, bóp méo, bôi đen nhằm mục đích lôi kéo, kích động những phần tử cực đoan, bất mãn, những người nhẹ dạ, cả tin… nghi ngờ vào đường lối, chủ trương, chính sách của Nhà nước VN , chiêu này cũng chẳng mới mẻ gì. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian này, sự tuyên truyền của họ diễn ra theo hệ thống từ trước, tạo nên một “chiến dịch” kích động, lôi kéo với mức độ ngày càng rầm rộ hơn.
Nếu
nhìn suốt những bước thăng trầm của lịch sử đất nước ta luôn nằm trong vị thế địa lý – chính trị “trứng chọi đá” thì khối đại đoàn kết dân tộc là sự đúc kết giữ nước của ông cha ta. Kể từ thời Khúc Hạo (năm 907-917) với cương lĩnh dựng nước “Chính sự cốt chuộng khoan dung, giản dị, nhân dân đều được yên vui” . Trải qua các chặng đường giữ nước “từ Đinh, Lê, Lý,Trần gây nền độc lập; cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương”, thời nào cũng có những kẻ phản dân tộc, tìm mọi cách gây rối đến nền anh ninh xã tắc, họ không tiếp thu những tinh hoa về lòng yêu nước mà ngược lại là sự vọng ngoại ôm chân ngoại bang , bản chất cờ vàng là như vậy.
Ở trong nước, một số kẻ cơ hội chính trị lợi dụng biến động quốc tế cũng mưu toan lợi dụng vấn đề tranh chấp Biển Đông để dùng kế “Nhất tiễn song điêu” – vừa chia rẽ, phá hoại quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, vừa thực hiện chiến lược xóa bỏ chế độ chính trị, xóa bỏ Nhà nước CHXHCN Việt Nam do Đảng CS lãnh đạo.
Có những tên giặc lộng ngôn kêu gọi phải “đồng hành quân sự với Hoa Kỳ”, xem đây là “mệnh lệnh của thời đại”. “Táo tợn” hơn, họ còn đưa ra “ý tưởng” Đánh đổi Chế độ xã hội XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo lấy sự cam kết của của một số cường quốc phương Tây, làm đối trọng với Trung Quốc ??. Hỡi ơi ! những kẻ dốt nát về chính trị , hoang tưởng về đầu óc mới nghĩ như vậy ,thử hỏi cờ vàng vậy tại sao Hoa Kỳ phải bỏ Việt Nam để lại di chứng cuộc chiến cho đến tận ngày hôm nay ? Cờ vàng CCCĐ sau 37 năm vẫn hận BU, thế vì lẽ gì mà đã quên béng mất điều đó vậy?
Hội nghị Diên Hồng
Ta hãy nghe cờ vàng lập luận như sau: Việt Nam là một quốc gia nhỏ yếu, để có đủ khả năng chống lại sự xâm lược của Bắc Kinh, phải liên minh với một số nước lớn có tiềm lực về chính trị, quân sự, kinh tế đủ mạnh bằng cách có được “một cam kết chặt chẽ, trung thành với nhiều đồng minh song hoặc đa phương, vốn là cường quốc phát triển, văn minh và có tiềm lực như Mỹ, Nhật Bản, Đức, Anh và nhiều nước khác làm đối trọng”. Muốn vậy Việt Nam phải “chớp thời cơ, thực hiện cải cách chính trị, thay đổi thể chế, chuyển đổi tư tưởng… thì mới hy vọng tranh thủ được sự hậu thuẫn vững mạnh của phần còn lại của thế giới… nhằm thoát khỏi sự độc tài, sự hung hãn, lấy thịt đè người của láng giềng Trung Quốc”…?? .
Nghe đến đây thì chúng ta cũng hiểu được bản chất vong bản, ỉ lại và trốn tránh trách nhiệm mà nó hằn sâu vàotâm thức của các anh cờ vàng CCCĐ này, từ hai nền cộng hoà nó đã làm thối rữa lòng tự trọng và nhân cách của họ, có đời nào mà BU lại vì Việt Nam nã đạn vào Trung Quốc không ? Có bao giờ vì VN mà BU bỏ tất tật quyền lợi kinh tế sống còn của một cường quốc mà càng ngày càng gắn kết sống còn với nhau không ?? Xin thưa với các vị là không bao giờ. Về lịch sử cờ vàng cố tình lờ đi một điều rằng: sau mỗi chiến thắng quân xâm lược phương bắc thì cũng ngay lập tức các vị vua đất Việt phải nghĩ ngay đến việc cầu hoà , cống nạp , xin sắc phong không ? Vì sao vậy ? Cờ vàng có hiểu không ? Đó là kế sách cương nhu mà tổ tiên sử dụng nhuần nhuyễn để tránh cảnh binh đao kéo dài làm hoang tàn đất nước, để hồi phục sức dân.
Cờ vàng có biết mới ngày hôm qua (21/5/2012) Trung Quốc cảnh báo Philippin lôi kéo Mỹ vào việc tranh chấp về bãi đá cạn (Hoàng Nham) – scarborough. Tình hình nóng hổi từng ngày ở khu vực này . Hãy nghe BU nói với đồng minh này: Mỹ chỉ cung cấp cho Philippin một số vũ khí thôi, chứ không can thiệp nếu có đụng độ xảy ra. Nghe rõ chưa các “ngài” cờ vàng. Trong khi đó Manila là đồng minh đó nghe .Nghe cờ vàng nói “đồng hành” với BU sao mà dễ thế, các nhà lãnh đạo VN đâu đến nỗi không tiên liệu được chuyện gì xảy ra nếu liên kết với BU chống lại Trung Quốc, chỉ có đầu óc nô lệ của cờ vàng là chọn con đường huỷ diệt dân tộc đó .
Giữ chủ quyền quốc gia mà nhờ người khác hy sinh giùm cho mình khi có ngoại xâm thật là điều ngược đời, các vị cờ vàng CCCĐ hãy nghe chuyện trong cuộc khánh chiến chống Mỹ cứu nước , trong hoàn cảnh khó khăn nhất người “anh em” phương bắc đã đề nghị Chủ Tịch Hồ Chí Minh là hãy để cho họ đưa quân vào tham chiến cùng với bộ đội VN, nghe có sướng không ? nếu là người lãnh đạo của cờ vàng chắc một điều là các vị sẽ rú lên vì vui mừng, “hồ hởi” chào đón đội quân đó vì có kẻ chết thay cho mình, Ok- là giải pháp tối thượng phải không ?.
Cờ vàng chống cộng hãy nghe Chủ tịch Hồ chí Minh nói về vấn đề này “chúng ta có thể nợ cái gì rồi cũng có thể trả được chứ nợ máu thì không bao giờ trả được “, sự sáng suốt đó cho ta thấm thía được rằng nếu để cho “ông kẹ” tham lam ấy vào nhà thì làm sao mời ổng về khi mà dân tộc ta đang nợ cả tiền lẫn máu ? Cờ vàng có biết rằng chính các vị cũng đang là con nợ khủng khiếp đối với nhân dân Mỹ không ? Tiền và máu của 58 ngàn binh sĩ để xây dựng và bảo vệ cái VNCH của các vị đấy. Bây giờ các vị chỉ có cái mạng trành, ăn bám và phá rối đất nước mà cờ vàng đang là con nợ khủng khiếp, hay là hát bài “cùi không sợ lở”. Tầm chiến lược của các nhà lãnh đạo VNCH chỉ là nhằm vào cái túi của BU có bao nhiêu tiền rồi lên kế sách móc túi, thế thôi, chấm hết.
Cái cớ để cờ vàng CCCĐ bám vào “khai thác” nhiều nhất để thực hiện mưu đồ đen tối ”đục nước béo cò” đó là vấn đề Biển Đông và việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Chúng ta hãy nghe dàn hợp xướng của những kẻ khoác tấm áo “yêu nước” nói gì ? Họ rêu rao rằng, Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quân đội nhân dân Việt Nam “nhu nhược” trước các hành động gây hấn trên Biển Đông của Trung Quốc và kêu rú ầm lên “Tổ quốc lâm nguy”, kêu gọi, kích động người dân “Dậy mà đi”, xuống đường biểu tình quy mô lớn… Thậm chí một số cái loa của tổ chức phản động khủng bố Việt Tân còn coi đây là thời cơ “ngàn năm có một” để xuống đường đấu tranh lật đổ chế độ !!.
�”i! nghe đến đây sao mà cảm động về lòng “yêu nước” khí thế “hừng hực” của cờ vàng đến thế, Họ còn lớn tiếng kêu gọi nhà cầm quyền VN mở “hội nghị diên hồng”! điều này chỉ lừa gạt được một số người mà nhận thức về chính trị còn non kém, chưa nhìn rõ tâm địa ôm chân ngoại bang, “theo voi hít bã mía”, “rước voi về dày mả tổ” là bản chất của cờ vàng CCCĐ. các vị cờ vàng CCCĐ hãy nhìn vào lịch sử của của dân tộc VN trong thời gian gần nhất mà đảng CSVN lãnh đạo toàn dân đã làm nên lịch sử chói ngời chủ nghĩa anh hùng của dân tộc Việt. Và kết quả là gì ? các vị đương nhiên tự trả lời. Có muốn giở trò lấp liếm cũng không được .
Có dân tộc nào vừa thoát khỏi tay phát xít Nhật lại lọt vào tay thực dân Pháp để phải làm cuộc trường kỳ kháng chiến 9 năm mới có hoà bình trên một nửa nước như Việt Nam không?! Tưởng rằng, chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy địa cầu góp phần chấm dứt chủ nghĩa thực dân cũ sẽ đến ngày Tổng tuyển cử Bắc Nam thống nhất, Việt Nam hoà bình, độc lập tự do, nhưng chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ lại làm cho nhân dân Việt Nam phải trải qua một cuộc chiến tranh dài nhất, ác liệt nhất thế kỷ XX. nên tính huỷ diệt bởi vũ khí hiện đại của hai phe đã đẩy chiến tranh tàn khốc không kém chiến tranh thế giới lần thứ hai. Vậy thì Đảng , chính phủ , quân đội VN trong quá khứ có hèn nhát như các vị cờ vàng không ? Có tháo chạy bỏ mặc dân chúng hoảng loạn trên bom dưới đạn không ? Chính phủ cầm quyền ở Việt Nam có được lòng dân không ? nếu không có tại sao có kết quả chói lọi đó ? Cờ vàng CCCĐ có hiểu rằng lòng dân là động lực tiên quyết để làm nên sự thần kỳ đó.
Cờ vàng CCCĐ có biết trong lịch sử thời đoạn lịch sử thời vua Lê, chúa Trịnh báo hiệu sự khủng hoảng trầm trọng của chế độ phong kiến. Việt Nam Sử lược chép về thời Lê Chiêu Thống như sau : “Người bấy giờ bàn riêng với nhau rằng: “Nước Nam ta từ khi có đế vương đến giờ, không thấy vua nào hèn hạ đến thế. Tiếng là làm vua mà phải theo niên hiệu vua Tàu, việc gì cũng phải bẩm đến quan Tổng đốc, thế thì có khác gì là đã nội thuộc rồi không?”.
Đã vậy thì những “thần dân” của vua đã biết cách hưởng ứng lời kêu gọi của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đứng lên đánh giặc cứu nước là điều dễ hiểu. Sử chép: Ngày 29 tháng 11 năm Mậu Thân (26 tháng 12 năm 1788), dừng chân ở Nghệ An hơn 10 ngày để tuyển quân và củng cố lực lượng, nâng quân số lên tới 10 vạn ! Thử hỏi không có sức dân ấy, không có lòng dân theo về, thì làm sao có được chiến thắng thần tốc ấy!
Xung quanh vấn đề giải quyết tranh chấp trên Biển Đông và cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, cờ vàng CCCĐ phải hiểu được rằng lập trường, quan điểm và chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã rõ ràng, thế nhưng Họ lại xem đây là cơ hội để kiếm chác, hòng “đục nước, béo cò”, theo đuổi những toan tính chính trị. Cờ vàng CCCĐ trắng trợn vu cáo: “Cộng sản Việt Nam” chủ trương giải quyết tranh chấp Biển Đông “trên bàn đàm phán” là “một vụ dàn dựng của cả Bắc Kinh lẫn Hà Nội trong việc giúp cho Trung Quốc từng bước thôn tính Việt Nam”; rằng “Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam chỉ lên tiếng phản đối đơn giản, lấy lệ”, “không dám đối đầu với Bắc Kinh để bảo vệ đất nước”, “thông đồng với kẻ cướp” v.v…Thật nực cười vào cái suy nghĩ quái gỡ này, các vị cờ vàng CCCĐ hãy nghe tiếp tiền nhân đã nói :
Nếu “trông thấy quốc sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc, mà không biết tức, tai nghe nhạc để hiến ngụy sứ, mà không biết căm” thì làm sao người người đủ dũng khí khắc trên cánh tay hai chữ “Sát Thát”? Trên cánh tay khắc hai chữ đó vì trong đầu đã hằn sâu một sự thật lịch sử: “Bởi giặc Nguyên cùng ta, là kẻ thù không đội trời chung”. Nếu “cứ điềm nhiên không nghĩ đến việc báo thù… khác nào như quay ngọn giáo mà đi theokẻ địch, giơ tay không mà chịu thua quân giặc”.
Thiên tài quân sự của vị Quốc công Tiết chế thống lĩnh toàn quân có ý nghĩa cực kỳ lớn lao, song thiên tài ấy chỉ có thể phát huy khi dưới trướng của Ngài là những “tướng sĩ một lòng phụ tử”. Nói về họ, những danh tướng như Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão… thì đã quá rõ, lịch sử còn đặc biệt nhắc lại lời Hưng Đạo nói về các gia thần dũng mãnh và trung thành của mình như Yết Kiêu, Dã Tượng : “chim hồng hộc muốn bay cao .
Cờ vàng CCCĐ có biết được vai trò của Đảng CSVN trong hai cuộc chiến tranh dành độc lập cho dân tộc không ? Họ đã làm rất tốt công việc của họ trong vai trò lãnh đạo , chưa có một đảng phái nào khác trong lịch sử VN làm tốt hơn , ngày nay và có thể vài chục năm nữa cũng không có một đảng nào khác làm tốt hơn họ , có đúng vậy không các “ngài” cờ vàng ? , cái đảng “phở bò” khủng bố Việt Tân chỉ có một việc cỏn con là tập hợp sự ủng hộ của một nhúm người cực đoan ở Bolsa mà bao năm nay làm không xong vậy mà đòi lớn tiếng thay thế Đảng CSVN ư ? thật là một lũ ngông cuồng và dốt nát .
Cơ sở của mọi cam kết với bất cứ quốc gia nào, dù là nước lớn hay nước nhỏ, dù đó là chế độ chính trị là gì… rút cuộc đều vì lợi ích của mỗi nước và của các bên. Nói cách khác, bất cứ cam kết quốc tế nào chỉ có thể dựa trên sự thống nhất về lợi ích của cả hai phía. Không được quên đã có không ít những cuộc “mặc cả, mua bán, đổi chác” giữa các nước lớn “trên lưng” các nước nhỏ. Điều này đã được lịch sử thế giới xác nhận. Và Việt Nam là một trong những nạn nhân đó.
Giả thử làm theo ý của cờ vàng là thay đổi thể chế chính trị để được sự ”ủng hộ”, nếu có sự đánh đổi đó thì điều gì sẽ diễn ra và ai là người được hưởng lợi? Cờ vàng sẽ được lợi có phải vậy không ? lúc đó vì quyền lợi giữa các bên sẽ biến cả dân tộc này thành những chiến binh tiên phong chết kẹt giữa hai làn đạn, tổ quốc trở thành bãi chiến trường thử nghiệm vũ khí tàn khốc.
Xưa nay chưa bao giờ có một tinh thần yêu nước nào, chủ nghĩa yêu nước nào lại không mang dấu ấn quan điểm chính trị, cũng như chưa bao giờ có ai thừa nhận mình là người bán nước. Cờ vàng CCCĐ với đầu óc của những kẻ thiểu năng trí tuệ làm sao hiểu được nghệ thuật dựng nước và giữ nước mà Đảng CSVN cùng toàn dân Việt tiếp thu được những tinh hoa của cha ông để lại.
Ta chiến thắng trước tiên bởi ta chính nghĩa. Một dân tộc mà theo đạo lý nhân sinh phải được sống trong hoà bình, độc lập và tự do! Một nước ” vốn xưng nền văn hiến đã lâu, núi sông bờ cõi đã chia”, biên giới, lãnh thổ “rành rành định phận tại sách Trời” đứng lên quyết giữ vững độc lập tự do của mình là điều chính nghĩa không thể chối cãi. Một dân tộc có truyền thống lâu đời với ý chí sắt đá ” thà làm quỷ nước Nam chứ không làm vương đất Bắc”; ” thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lê.”; ”Không có gì quý hơn độc lập tự do”! Dân tộc ấy không có sức mạnh nào khuất phục được.
Với những nguyên nhân khách quan và chủ quan như đã nói, nhân dân Việt Nam không tránh được các cuộc chiến tranh xâm lược, nhưng đã biết chiến đấu ngoan cường viết lên trang sử giữ nước vẻ vang của dân tộc. Từ phá Tống, bình Nguyên, kháng Minh, đạp Thanh đến đánh Pháp, đuổi Nhật, chống Mỹ để giải phóng dân tộc, những chiến công hiển hách đó kết lại thành truyền thống bất diệt của dân tộc Việt Nam. �”n lại truyền thống đó không chỉ nhắc nhở những ai còn mơ màng về bài học lịch sử ngàn năm nước Việt, mà còn để thế hệ Việt Nam hôm nay hiểu rõ kinh nghiệm xương máu của cha ông trong đấu tranh giữ nước.
Houston 5-22-2012
Amari Tx

CNTB đang làm gì nếu không phải là giãy chết?

Chủ nghĩa tư bản là một thứ không đứng yên, nó phát triển và tiến với tinh thần cách mạng về phía trước, nhưng nó cũng tất yếu sụp đổ và luôn gắn liền với những khủng hoảng quy mô khác nhau và có thể hết sức khốc liệt.

 

 

Nhà sử học Marxist đương đại nổi tiếng, ông Eric Hobsbawm, vừa qua đời ở tuổi 95. Dưới đây là bài phỏng vấn ông do tuần báo Stern thực hiện trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới bắt đầu từ mùa Hè 2007, kéo theo các khủng hoảng ngân hàng, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng nợ công ở châu Âu mà hậu quả cho đến nay còn chưa lường hết.

– Thưa ông Hobsbawm, ông đã chứng kiến sự ra đi của nhiều hệ thống: Cộng hòa Weimar tiêu vong, chủ nghĩa phát xít tan vỡ, Cộng hòa Dân chủ Đức lụi tàn, chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, và bây giờ…

– Nghe ông liệt kê ra thế, tôi thấy mình sắp thành một hiện vật bảo tàng mất rồi. Lúc tôi còn bé, vua nước Anh đồng thời là hoàng đế Ấn Độ, phần lớn thế giới là các nền quân chủ, vương quốc và thuộc địa. Hầu hết đều đã đi tiêu.

– Và bây giờ biết đâu ông còn được chứng kiến điều này nữa: sự cáo chung của chủ nghĩa tư bản.

– Ồ, tôi không tin là mình còn sống đến cái ngày đáng mừng đó. Nhưng là một sử gia, tôi biết rằng không có giải pháp nào là vĩnh cửu. Chủ nghĩa tư bản cũng thế, nó có sống dai đến đâu, có hiển hiện trong đầu óc người ta như một cái gì không thể thay đổi tới mức nào, rồi nó cũng sẽ biến mất, sớm hay muộn mà thôi.

– Tất nhiên ông phải có quan điểm như vậy.

– Vì sao?

– Ông là một nhà marxist kì cựu, lại sống tại London, chỉ cách mộ Karl Marx một đoạn ngắn.

– Xin chớ giễu cợt. Tôi trở thành người marxist từ những kinh nghiệm đích thân trải qua trong những năm 30, trong cơn Đại Suy thoái.

– Và bây giờ chúng ta lại đang đứng ở một điểm ngoặt của lịch sử?

– Vâng, tôi nghĩ thế. Ngày 15 tháng Chín năm 2008, ngày mà nhà băng Lehman phá sản, sẽ thay đổi tiến trình của lịch sử hơn nhiều so với ngày 11 tháng Chín năm 2001, khi tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới sụp đổ.

– Ông thử đoán tương lai xem sao.

– Sử gia chúng tôi không phải là những nhà tiên tri. Tôi chỉ có thể nói rằng: Ngày Phán xử Cuối cùng thì chắc chúng ta chưa phải đối mặt, nhưng một số phần của thế giới có thể tiêu vong.

– Vì sao lại thế?

– Trước hết: Tôi, người đã trải qua cơn Đại Suy thoái, vẫn chịu không thể hiểu nổi vì sao cuối những năm 70 rồi sang thập niên 80 và 90 thế kỉ trước, các nhà tư tưởng của nền kinh tế thị trường thả phanh lại có thể trở lại khuynh loát, mặc dù thế hệ tiền bối của họ từng góp phần gây ra một tai họa khủng khiếp: nghèo đói, khốn cùng, thất nghiệp, và rốt cục cả cuộc chiến tranh thế giới nữa.

– Ông thử giải thích xem.

– Trí nhớ của con người ta ngắn tới mức không thể tin nổi. Sử gia chúng tôi ghi lại những tội ác và sự điên rồ của nhân loại, chúng tôi nhắc cho người ta nhớ những điều nhiều người không muốn nhớ. Nhưng gần như chẳng có gì từ lịch sử được rút thành bài học. Hậu quả thế nào thì bây giờ đã thấy. Trong 30, 40 năm gần đây, người ta đã khước từ một cách hệ thống việc đánh giá chủ nghĩa tư bản theo tinh thần duy lý.

– Nhưng chúng ta đang có bao nhiêu chuyên gia và các nhà kinh tế học suốt ngày chỉ làm mỗi việc ấy.

– Không, họ trước hết là những nhà thần học của tôn giáo thị trường với một đức tin ấu trĩ rằng thị trường sẽ tự động điều chỉnh được mọi thứ. Họ nhắm chặt mắt trước hiện thực, đó là điều khiến họ trở thành nguy hiểm cho nhân loại. Trong những năm qua họ còn không thèm nhận ra những báo hiệu của khủng hoảng. Họ mù quáng. Họ bất chấp.

– Có những người ở Mỹ cực kì hưng phấn nói về sự cáo chung của lịch sử. Sự lạc quan đó không có cơ sở nào hay sao?

– Không. 40% dân số thế giới sống bằng mức thu nhập 1 Dollar mỗi ngày. Đó không thể là cơ sở cho một trật tự xã hội ổn định. Lịch sử cáo chung cái nỗi gì. Khủng hoảng bên lề ngày càng lan rộng và ngày càng khốc liệt. Còn ở chỗ chúng ta trong trung tâm thì khủng hoảng thỉnh thoảng xuất hiện dưới dạng chứng khoán lao dốc rồi sau đó lại được điều chỉnh. Cuộc chơi lại tiếp diễn.

– Cuộc chơi nay đã chấm dứt.

– Đúng là phải nói như vậy. Cuộc khủng hoảng hiện tại có một chất lượng hoàn toàn mới. Điều duy nhất để các nhà chính trị có thể lấy làm định hướng là giai đoạn từ năm 1929 đến 1933.

– Tờ New York Times cho rằng cuộc khủng hoảng hiện nay thậm chí có thể khốc liệt hơn thời Đại Suy thoái, mà Đại Suy thoái khi ấy phải nhờ cuộc Đại chiến Thế giới mới giải quyết được.

– Chính sách Kinh tế Mới (New Deal) bây giờ được ca tụng của Roosevelt không thực sự chấm dứt được khủng hoảng, nó chỉ ngăn được bạo loạn chính trị và xã hội xảy ra ở Hoa Kỳ. Không ai chế ngự được cuộc khủng hoảng những năm 30. Và tuy lịch sử không lặp lại nhưng hôm nay tình thế cũng khốc liệt như thuở đó, không, hôm nay còn tệ hơn: Không một chính phủ nào biết mình phải làm gì.

– Ông nói sao? Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama bơm hàng ngàn tỉ Dollar vào kinh tế, Thủ tướng Angela Merkel và chính phủ Đức đưa ra những chương trình kích cầu trị giá hàng tỉ. Tại Hội nghị Thượng đỉnh G20, tất cả đều đồng thanh tuyên bố: Chúng ta sẽ sát cánh! Chúng ta biết rõ phải làm gì.

– Ông có cảm tưởng rằng họ thật sự biết phải làm gì à? Họ có đường lối nào, có phân tích nào hậu thuẫn không? Không! Họ hốt hoảng như các nữ y tá chạy vội đến giường bệnh của chủ nghĩa tư bản và làm như thể họ đang hành động gì đó.

– Họ không biết phải đi về đâu hay sao?

– Đúng như vậy, và thế nên vấn đề mới đáng sợ: họ tuyệt không biết phải làm gì. Như người mù đi giữa mê cung, họ dùng những chiếc gậy khác nhau gõ thử vào tường, đầy tuyệt vọng, và hi vọng một lúc nào đó sẽ tìm thấy lối ra. Nhưng công cụ của họ không có tác dụng.

– Cựu Thủ tướng Pháp Laurent Fabius lo ngại sẽ xảy ra “bạo động xã hội“, và ứng viên Tổng thống Đức của Đảng Dân chủ Xã hội, bà Gesine Schwan, cho rằng những bạo động đó có thể là một mối nguy cho nền dân chủ.

– Tất cả đều có thể xảy ra. Lạm phát. Giảm phát. Siêu lạm phát. Nếu không còn gì là an toàn nữa, nếu bị ném khỏi cuộc sống, nếu những dự tính cuộc đời của người ta bị hủy diệt tàn bạo thì con người sẽ phản ứng như thế nào? Kinh nghiệm lịch sử của tôi cho biết rằng chúng ta – tôi không thể loại trừ khả năng này – đang tiến đến một bi kịch. Máu sẽ đổ, mà còn hơn thế, máu sẽ đổ rất nhiều, nỗi thống khổ tăng lên, số người tị nạn cũng tăng lên. Và một điều nữa tôi cũng không muốn loại trừ, đó là chiến tranh, một cuộc chiến tranh rồi sẽ biến thành đại chiến thế giới – giữa Trung Quốc và Mỹ.

– Nghe quá phi lí!

– Không hề. Tôi thừa nhận là hiện thời kịch bản đó có vẻ rất khó xảy ra. Trung Quốc và Hoa Kỳ hiện đang bổ sung cho nhau, thậm chí còn chống đỡ lẫn nhau, gần như hai mặt của một thể thống nhất. Nhưng cuộc cạnh tranh đối đầu của hai thế lực này ở khu vực châu Á và Thái Bình Dương ngày càng quyết liệt. Không có nền tảng nào cho tình hữu nghị dài lâu giữa hai cường quốc đó.

– Xin ông đừng quá bi quan như thế!

– Có rất ít lí do để lạc quan nhìn về tương lai! Ở thế kỉ 19, người ta tin tưởng rằng mọi sự sẽ tiến lên, sẽ tốt đẹp hơn, con người sẽ văn minh hơn, có học thức hơn. Người ta học đọc, học viết. Người ta tin rằng sẽ tiến bộ lên, không chỉ về vật chất mà cả về đạo đức. Người ta đã lạc quan.

– Nhưng sau đó thì Đại chiến Thế giới xảy ra năm 1914.

– Và tất cả những thứ đó kết thúc. Một thời đại khủng khiếp, một thời đại cực đoan bắt đầu: chưa bao giờ số người bị giết trong chiến tranh hay bị giết theo chỉ thị và do nhà nước cho phép nhiều như trong thế kỉ 20. Tra tấn từng được xóa bỏ ở phương Tây – một tiến bộ vượt bực trong lịch sử nhân loại – lại được phục hồi! Và đầu thế kỉ 21 này Hoa Kỳ còn biến nó thành một phương tiện thẩm vấn! Sự mông muội đang tiến mạnh. Những giá trị được thừa nhận của nền văn minh bỗng nhiên bị chối bỏ.

– Nghe ông nói thì con người thật ngu xuẩn.

– Về vật chất thì với rất nhiều người, thế giới ngày nay đã được cải thiện. Người ta cao lớn hơn, thọ hơn, khỏe hơn. Nhưng về tinh thần, chính trị và đạo đức thì người ta không tiến kịp, hiện tại có lẽ còn đang thụt lùi. Vậy đâu là những giá trị của cuộc sống? Vì sao chúng ta sống trên đời? Sống để làm gì?

– Và câu trả lời của ông?

– Chà, tôi chỉ có thể hỏi rằng vì sao người ta cứ bám chặt vào một hệ thống thường xuyên sản sinh ra những tai họa khủng khiếp nhất như vậy? Một hệ thống bóc lột và phá hủy môi trường, cưa chính cái cành cây mà mình đang ngồi? Và bây giờ cành cây gãy răng rắc khắp nơi. Có lẽ nhân loại rồi sẽ ân hận vì không nghe theo Rosa Luxemburg: hoặc chủ nghĩa xã hội, hoặc trở về thời mông muội.

– Tôi xin ông, chính các bạn hữu chính trị của ông, những người thừa kế gia sản của Lenin, đã tàn phá dự án đối lập với chủ nghĩa tư bản, đã hủy hoại ý tưởng về một thiên đường mơ ước.

– Vâng, đúng như vậy. Và hậu quả đã hiện rõ. Vì bây giờ, khi chúng ta thật sự cần thì lại không có một dự án đối sách cho nhân loại. Thật tai họa.

– Có lẽ vì bản tính của con người là tham lam. Đơn giản chỉ có thế.

– Không. Không. Karl Marx chưa bao giờ lập luận chống lại các nhà tư bản tham lam. Ông ấy chỉ chống lại một hệ thống tất yếu đẻ ra lòng tham. Con người có thể thay đổi, tôi tin tưởng sâu sắc như vậy. Nhưng trong chế độ tư bản, ai cũng buộc phải chạy theo lợi thế cho bản thân, không làm thế là chết.

– Vậy ông cho rằng giới nhà băng không hề làm gì quá đáng?

– Họ tuyệt đối tuân theo quy luật nội tại của hệ thống. Lợi nhuận. Lời lãi. Tăng trưởng kinh tế tối đa. Các lí thuyết sùng bái thị trường tự do rất hay ho, chừng nào chúng ta bỏ qua thực tế. Người ta kiến tạo một hệ thống, đặt tên cho nó là tự do, và trên lí thuyết thì nó vận hành rất tốt: mọi người, mọi nhà, mọi doanh nghiệp đều tìm mọi cách kiếm lợi thế, cái lợi thế có thể hoạch tính bằng lí trí, và thị trường đứng trên mọi phán quyết của con người sẽ điều chỉnh mọi chuyện theo hướng lành mạnh. Thật là một hệ tư tưởng sơ khai. Khối tri thức của những người từng hiểu và mổ xẻ chủ nghĩa tư bản thì bị khinh thường và bỏ xó: Những người như Marx và Schumpeter biết rõ rằng chủ nghĩa tư bản là một thứ không đứng yên, nó phát triển và tiến với tinh thần cách mạng về phía trước, nhưng nó cũng tất yếu sụp đổ và luôn gắn liền với những khủng hoảng quy mô khác nhau và có thể hết sức khốc liệt.

– Nhưng Marx của ông nói rằng “mọi cuộc cách mạng cho đến nay chỉ chứng minh được một điều, rằng nhiều thứ có thể thay đổi, chỉ con người là không“.

– Đúng thế, nhưng Phương châm Hi vọng vẫn là một điều vĩ đại. Tuy theo Max Weber thì mô hình xã hội lí tưởng nằm ngoài khả năng của chúng ta, nhưng nếu không tin vào chính trị thì cũng không thể đạt được điều gì đáng kể trong chính trị. Con người vừa có bản tính Thiện, vừa có bản tính Ác – mà hành xử của con người thì chắc có thể thay đổi được! Để thế giới này vẫn còn là quê hương, hay rồi sẽ trở thành quê hương cho tất cả mọi người, mục tiêu ấy đẹp đấy chứ.

Theo PRO&CONTRA / STERN

[nguồn: REDS.vn]

Từ khi sinh ra, Lý Thái Tông sau gáy có đến 7 nốt ruồi tụ lại như chòm sao Bắc Đẩu, được xem là điềm báo xứng đáng nối ngôi thiên tử.

Lý Thái Tông tên húy Phật Mã, sinh năm Canh Tý (1000) ở chùa Duyên Ninh thuộc cố đô Hoa Lư. Ông là con trai trưởng của Vua Lý Thái Tổ và bà Lê Thị Phất Ngân, con gái Vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn) và Dương Vân Nga.

Tượng Lý Thái Tông tại đền Lý Bát Đế.

Tương truyền, ngay từ khi lọt lòng, Lý Phật Mã đã có những dấu hiệu lạ lùng. Lúc bé, chơi đùa với bọn trẻ trong cung, ông thường bắt chúng dàn hàng tả hữu trước sau để làm quân hầu hộ vệ cho mình. Ông cho một vị đạo sĩ cái áo. Đạo sĩ treo cái áo trong quán, nửa đêm thấy rồng vàng hiện ra, khiến người ta duy tâm đây là lời “sấm truyền” cho một đế vương.

Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) rất chú ý tới Phật Mã và có ý nuôi dạy ông kế vị. Năm Nhâm Tý (1012), lúc mới 13 tuổi, Lý Phật Mã đã được lập làm Đông cung Thái tử, rồi được phong làm Khai Thiện Vương, đồng thời nhiều lần được cử làm tướng cầm quân đi dẹp loạn và lập được công lớn. Vì thế, triều thần cũng như thần dân lúc bấy giờ rất tôn kính Phật Mã. Năm 1028, vua cha mất, Lý Phật Mã lên ngôi.

Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhận xét về Lý Thái Tông: “Vua là người trầm mặc, cơ trí, biết trước mọi việc, giống như Hán Quang Vũ đánh đâu được đấy, công tích sánh với Đường Thái Tông”. Ông là vị vua giỏi thời nhà Lý. Hơn 30 năm chinh chiến và trị quốc, ông đã củng cố nền cai trị của nhà Lý, chống lại những nguy cơ chia cắt, bạo loạn, xâm lấn, thu phục lòng dân, khiến cho nước Đại Cồ Việt trở nên vững mạnh.

Trần Nhân Tông: Có màu da như vàng ròng

Trần Nhân Tông tên thật là Trần Khâm, sinh ngày 11/11 năm Mậu Ngọ (1258), là con trưởng của Vua Trần Thánh Tông và Nguyên Thánh Hoàng thái hậu. Khi mới sinh toàn thân màu da như vàng ròng – sáng chói. Vua cha đặt tên là Phật Kim. Sách Thánh Đăng ngữ lục chép: “Đến khi vua ra đời, màu da như vàng ròng. Thánh Tông đặt tên là Kim Phật…”.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi: “Được tinh anh của Thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng ròng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng… Vai bên tả có một nốt ruồi đen, các nhà tướng số cho rằng: ngày sau sẽ gánh vác việc lớn”.

Ảnh thờ Vua Trần Nhân Tông.

Trần Khâm được vua cha Trần Thánh Tông nhường ngôi vào ngày 22/10 năm Mậu Dần (1278). Ông ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi, qua đời ở am Ngọa Vân núi Yên Tử, đưa về táng ở Đức lăng (nay thuộc tỉnh Thái Bình). Các sử gia thời Hậu Lê đã viết về Trần Nhân Tông: “Vua nhân từ hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng sáng ngời thuở trước, thực là bậc vua hiền của nhà Trần. Song để tâm nơi kinh Phật, tuy nói là để siêu thoát, nhưng đó không phải là đạo trung dung của thánh nhân”.

Lê Thái Tổ: Miệng rộng, mũi cao và bả vai có 7 nốt ruồi

Về lý lịch xuất thân của Lê Thái Tổ (Lê Lợi), sách Đại Việt thông sử chép: “Vua sinh giờ Tí (tức từ khoảng 23h đến 1h sáng) ngày mùng 6 tháng 8 năm Ất Sửu (1385), niên hiệu Xương Phù thứ 9 nhà Trần, tại làng Chủ Sơn, huyện Lôi Dương. Nguyên trước, xứ Du Sơn, thôn Như Áng Hậu thuộc làng này (Chủ Sơn), có một cây quế, dưới cây quế này có con hùm xám thường xuất hiện, nhưng nó hiền lành, vẫn thường thân cận với người mà chưa từng hại ai.

Từ khi Vua ra đời thì không thấy con hùm ấy đâu nữa. Người ta cho là một sự lạ. Ngày Vua ra đời thì trong nhà có hào quang đô chiếu sáng rực và mùi thơm ngào ngạt khắp làng. Khi lớn lên thì thông minh dũng lược, độ lượng hơn người, vẻ người tươi đẹp hùng vĩ, mắt sáng, miệng rộng, sống mũi cao, xương mi mắt gồ lên, bả vai bên trái có 7 nốt ruồi, bước đi như rồng như hổ, tiếng nói vang vang như tiếng chuông. Các bậc thức giả biết ngay là một người phi thường”.

Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế ở Đông Kinh, mở đầu triều Lê sơ, triều đại lâu dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

Lê Lợi sinh ra trong một gia đình “đời đời làm quân trưởng một phương”. Năm ông 21 tuổi cũng là năm nhà Minh đem 80 vạn quân sang xâm lược nước Việt. Cuộc kháng chiến chống Minh của vương triều Hồ thất bại, nước Đại Việt rơi vào ách thống trị tàn bạo của giặc Minh. Trước cảnh đất nước bị kẻ thù giày xéo, tàn phá, Lê Lợi đã nung nấu một quyết tâm đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi.

Đầu năm 1416, tại núi rừng Lam Sơn trên đất Thanh Hóa, Lê Lợi cùng với 18 người bạn thân thiết, đồng tâm cứu nước đã làm lễ thề đánh giặc giữ yên quê hương. Đó là hội Thề Lũng Nhai đã đi vào sử sách. Rồi sau một thời gian chuẩn bị chín muồi, đầu năm 1418, Lê Lợi xưng là Bình Định Vương, truyền hịch đi khắp nơi, kêu gọi nhân dân đứng lên đánh giặc cứu nước. Lê Lợi là linh hồn, là lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩa ấy.

Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế ở Đông Kinh, mở đầu triều Lê sơ, triều đại lâu dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Mặc dù ở ngôi ngắn ngủi được có 6 năm nhưng những việc làm của ông vua này có ý nghĩa đặt nền móng vững chắc cho cả một triều đại và nên độc lập phồn vinh của quốc gia Đại Việt. Việc làm đầu tiên của Lê Thái Tổ là bàn định luật lệnh. Và nhờ cố gắng đó, hai năm sau (1430), Lê Thái Tổ đă cho ban hành những điều luật đầu tiên của triều đại mình”.

Quang Trung: Mắt lập lòe như ánh điện

Nguyễn Huệ (1753 – 1792), còn được biết đến là Vua Quang Trung hay Bắc Bình Vương, là vị hoàng đế thứ hai của nhà Tây Sơn (ở ngôi từ 1788 tới 1792). Ông là một trong những lãnh đạo chính trị tài giỏi với nhiều cải cách xây dựng đất nước, quân sự xuất sắc trong lịch sử Việt Nam với những trận đánh nội chiến và chống ngoại xâm chưa thất bại lần nào.

Quang Trung – Nguyễn Huệ cũng được xem là người anh hùng áo vải của dân tộc Việt Nam.

So với các hoàng đế khác trong lịch sử Việt Nam, có lẽ Quang Trung – Nguyễn Huệ được các sử thần lưu lại những miêu tả chi tiết hơn về vóc dáng, thậm chí miêu tả cả đến làn da, mái tóc và đặc biệt là đôi mắt: “Quang Trung là người cao lớn, tóc quăn, da sần, tiếng nói sang sảng như chuông. Kỳ lạ nhất là cặp mắt sáng như chớp, có thể nhìn rõ mọi vật trong đêm tối, nó khiến nhiều người khi thấy đều run sợ, hãi hùng…“không một người nào dám nhìn thẳng vào mắt ông” (Hoàng Lê nhất thống chí). “Đôi mắt lập lòe như ánh điện” (Đại Nam chính biên liệt truyện), “con mắt nhỏ nhưng cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi không có đèn, ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu” (Tây Sơn thuật lược)…

Sách Những khám phá về Hoàng đế Quang Trung cũng trích dẫn tướng mạo của Hoàng đế Quang Trung theo mô tả của một quan viết sử dưới thời Nguyễn: “Huệ tóc quăn, mặt đầy mụn, có con mắt nhỏ, nhưng cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi không có đèn, ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu, lúc lâm trận thì thế thắng uy nghi, anh hùng lẫm liệt, cho nên mới bình định được phương Nam, dẹp phương Bắc, tiến đến đâu thì không ai hơn được… Óc thông minh đó sẽ làm nên sự nghiệp lớn, tiếng nói sang sảng như chuông sẽ là lệnh truyền hiệu nghiệm đầy sức thuyết phục. Với đôi mắt như ánh điện, thay được đèn soi sáng cả chiếu vào lúc ban đêm, có thể xuyên thấu mọi tâm can sâu thẳm của mỗi con người, của đối phương nên đã làm người người đều kinh sợ. Cái nhãn quang đó cùng bộ óc thông minh của ông đã làm nên sự nghiệp phi thường như lịch sử đã ghi lại”.

Ngoài ra, trong một phác họa chân dung vua Quang Trung in trên một tờ tiền giấy, hậu thế có thể thấy đôi mắt của vua là một đôi mắt đẹp đặc trưng kiểu người Việt Nam, nghĩa là đôi mắt to, hai mí lớn, nhãn cầu hơi lồi và ánh nhìn ngay thẳng, chính trực. Có lẽ do quá ấn tượng về nhân cách, tài trí vô song của vị vua áo vải này mà các sử gia đã phần nào “thần thánh hóa” đôi mắt của vua, nhằm cho đời sau cảm nhận được uy lực lạ lùng của đôi mắt ấy. Việc miêu tả chi tiết đôi mắt, làn da cũng như mái tóc của vua Quang Trung càng cho thấy sự gần gũi của vị vua có xuất thân dân dã này.

 

Theo Đất Việt [tiêu đề gốc: 

Tướng mạo dị thường của các ông vua Việt]

Ở Việt Nam mình thì sao? Trên 30 phút hay 1 tiếng ?… thì mới bị nói là trễ hẹn. Cặp danh hài Quang Minh và Hồng Đào có nói một câu cười châm biếm như sau: “Không đi trễ không phải là người Việt Nam”. Thật thấm thía vô cùng, không biết vui hay buồn đây?

Xã hội phát triển thì ý niệm về giờ giấc cũng phải thay đổi để thích ứng với hoàn cảnh mới. Giữ đúng giờ hẹn là một đức tính công nghiệp rất cần thiết trong xã hội văn minh, nó nói lên độ tin cậy và tinh thần tôn trọng những người chung quanh ta.

Người có tính đúng giờ là người biết xếp đặt công việc cho cuộc sống của mình, là người không lười biếng, là người có trách nhiệm và tôn trọng người khác. Có thể nói đức tính tôn trọng giờ hẹn nói lên trình độ văn minh của người đó.

So với nhiều dân tộc khác, người Nhật rất tôn trọng giờ hẹn, đi làm đúng giờ, đến dự tiệc hay tham dự 1 buổi họp cũng rất đúng giờ. Bởi vì người Nhật rất nghiêm khắc với việc trễ giờ.

Được biết 80 năm trước đây, vào những năm đầu thời vua Minh Trị (1867 – 1912), khi mà người Nhật phải thuê mướn kỹ sư ngoại quốc đến Nhật để dạy nghề cho kỹ sư và công nhân của mình. Người Nhật cũng đã từng bị chê bai là làm việc không tôn trọng tính đúng giờ.

Vào thời đó xã hội Âu châu đã sớm phát triển, đã hình thành ra những quy tắc đúng giờ và được coi như là một giá trị đạo đức của xã hội. Ông Jean Calvin, nhà thần học người Pháp nổi tiếng, đã tạo ra ý tưởng giáo dục này, gây ảnh hưởng sâu đậm và loan rộng ra khắp nơi bên Âu châu, đặc biệt là tại Thụy Sỹ, nơi mà ông đã dành gần hết cuộc đời của mình sống tại Geneva (1536-1538 và 1541-1564).

Thế nhưng, người Nhật đã khắc phục được tính đúng giờ là nhờ:

– Sớm áp dụng hệ thống thời gian hiện đại của Tây phương.

– Phổ biến đồng hồ và áp dụng luật đúng giờ.

– Áp dụng phương pháp quản lý khoa học của Mỹ.

– Quy định “Ngày kỷ niệm của Giờ”

– Bản tính dân tộc của người Nhật: điềm tĩnh

Ở Nhật, kể từ khi xe điên Shinkasen (Đường sắt cao tốc “Tân Cán Tuyến”) xuất hiện vào năm 1964 đến nay, nếu trễ hẹn trên 1 phút thôi là bị khiển trách ngay. Trong khi đó ở các nước khác như: ở Ý là trên 15 phút, ở Anh là trên 10 phút, ở Đức là trên 5 phút.

Còn ở Việt Nam mình thì sao? Trên 30 phút hay 1 tiếng ?… thì mới bị nói là trễ hẹn. Cặp danh hài Quang Minh và Hồng Đào có nói một câu cười châm biếm như sau: “Không đi trễ không phải là người Việt Nam”. Thật thấm thía vô cùng, không biết vui hay buồn đây?.

Chắc hẳn chúng ta ai cũng biết về tính không tôn trọng giờ giấc trong những buổi tiệc cưới hay những buổi sinh hoạt văn hóa của người Việt Nam mình. Đi trễ đã trở thành một thói quen, nhiều người nghĩ rằng đến trễ nói lên sự quan trọng của mình, để được những người đến trước chú ý đến mình hơn.

Một số người thành công trong cuộc sống, trở nên giàu có, bằng cấp cao, tự hào là người văn minh nhưng vẫn giữ nguyên thói xấu này là không tôn trọng tính đúng giờ. Đó là một trong những tính xấu mà con cái của chúng ta không kính phục, chúng cảm thấy xấu hổ khi mời bạn bè ngoại quốc tới tham dự các buổi tiệc hay các buổi sinh hoạt văn hóa của người Việt Nam mình.

Nếu có cơ hội sinh sống ở Nhật lâu, chúng ta đều thấy rằng người Nhật rất khiêm nhường, lễ độ, thành thật, có trách nhiệm, sạch sẽ và rất đúng giờ. Người Nhật luôn khiêm nhường khi làm việc chung, nghiêm túc về giờ giấc, làm tròn nhiệm vụ được giao phó và có trách nhiệm với việc làm của mình.

Theo KHÔN NGÔ TRÍ (VNEXPRESS)

Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa – Kỳ 11: Chiếm hữu đúng luật

12/08/2011 23:26

Nếu các chuyến đi đo đạc, vẽ hải trình được coi là các hành động nhận biết chung, thì việc cắm các bài gỗ theo lệnh vua đã tạo nên một hành vi không thể tranh cãi trong việc thiết lập quyền lực vương triều An Nam trên các đảo hoang không người.

>> Kỳ 10: Ý chí khẳng định chủ quyền Việt Nam

Năm 1833, vua lệnh cho Bộ Công:

“Dải Hoàng Sa trong hải phận Quảng Nghĩa (Quảng Ngãi – TN), xa trông trời nước một màu không phân biệt được nông hay sâu. Gần đây thuyền buôn thường bị nạn. Nay nên dự bị thuyền bè đến sang năm sẽ phái người tới dựng miếu, lập bia lại trồng nhiều cây cối. Ngày sau cây cối tươi xanh, người dễ nhận biết, có thể tránh được nhiều mắc cạn. Đó là việc lợi ích muôn đời vậy”.

Năm 1835, Suất đội thủy quân Phạm Văn Nguyên đem lính và giám thành cùng phu thuyền các tỉnh Quảng Nghĩa, Bình Định tới quần đảo “đến dựng miếu (cách tòa miếu cổ 7 trượng). Bên trái miếu dựng bia đá, phía trước miếu xây dựng bình phong”. Mong muốn của vua Minh Mạng khẳng định chủ quyền, bảo đảm an toàn hàng hải trong các vùng nước xung quanh các đảo đá được thể hiện rõ.

 
Thả những chiếc thuyền nan tượng trưng cùng những hình nhân thế mạng ra biển – một nghi thức quan trọng trong lễ khao lề thế lính Hoàng Sa – Ảnh: Hiển Cừ

Việc chiếm hữu Hoàng Sa còn cho phép vua Nguyễn đánh thuế các tàu thuyền nước ngoài qua lại trong vùng. Theo Gutzlaff, một đồn hoặc đại đồn trú được đặt trên quần đảo nhiều tháng trong năm để theo dõi giao thông đi lại ngày càng tăng và bảo vệ quyền đánh cá trong vương triều An Nam. Các hoạt động cứu giúp thuyền nước ngoài bị nạn tại các vùng nước xung quanh Hoàng Sa cũng được ghi nhận. Chúng ta có thể nêu vài trường hợp.

Năm 1714, ba tàu buôn Hà Lan bị bão gần Hoàng Sa trên đường đi từ Nhật Bản về Batavia (Indonesia) và một chiếc trong số đó đã bị chìm. Người VN đã đưa những người còn sống sót về đất liền. Họ đã được chúa Nguyễn gặp, cung cấp tiền bạc và lương thực để tiếp tục hành trình.

Báo cáo của Trấn phủ Đà Nẵng, niên hiệu Minh Mạng năm thứ 11 (1830) cũng ghi nhận sự cứu giúp một tàu buôn Pháp bị đắm ở Hoàng Sa [1]. Năm 1836, Quốc triều chính biên toát yếu chép rằng: vào tháng 12 âm lịch, một tàu buôn của Anh bị đắm tại một bãi ngầm ở gần Hoàng Sa. Hơn 90 thủy thủ trôi dạt vào bờ biển Bình Định. Vua Minh Mạng đã giúp đỡ họ chỗ nương đậu và lương thực trước khi sai Nguyễn Tri Phương đưa họ về Hà Châu để hồi hương.

Bên cạnh nguồn tư liệu chính thức, các tư liệu dân gian thực địa cũng góp phần kiểm chứng các hoạt động trên. Ngày nay tại thôn An Vĩnh, xã Lý Vĩnh, huyện đảo Lý Sơn (cù Lao Ré) vẫn còn miếu Hoàng Sa (Âm Linh tự), nhà thờ Phạm Quang Ảnh và gia phả họ Phạm, các dấu tích hình nộm, người đất, nghĩa địa dùng trong lễ hằng năm khao quân tế sống lính đội Hoàng Sa lên đường làm nhiệm vụ. Văn khao thế lính Hoàng Sa một nửa chữ Nôm một nửa chữ Hán ghi rằng: “Ngày hôm nay (đêm nay hoặc sáng nay) có theo ý người ____ ở tỉnh____nước Đại Nam, xin cúng thế một cỗ thuyền mô hình, trôi theo đường thủy Hoàng Sa, mấy cỗ bàn, vàng bạc, đáp lễ thần quan, xin dâng lên khảo thủy đạo một tiệc, thành kính bày lễ la liệt… [2]

Những hình ảnh này còn được khắc họa trong thơ ca dân gian như “Hoàng Sa đi có về không. Lệnh vua sai phái quyết lòng ra đi”, hay “Trường Sa trời biển mênh mông. Người đi thì có người không thấy về”. Các bằng chứng trên từ các nguồn lịch sử VN và phương Tây đủ sức thuyết phục để minh chứng cho hành động và ý chí của nhà nước phong kiến VN vào thời kỳ đó. Các chuyến đi của thủy quân, việc xây miếu, cắm bài gỗ, trồng cây, bảo vệ ngư dân, thực hiện nghĩa vụ đối với các tàu thuyền nước ngoài bị chìm đắm… do tính chất của các hành động và do tư cách của tác giả các hành động đó là những hành vi đủ để đáp ứng các điều kiện thụ đắc lãnh thổ vô chủ (res nullius). Đó là sự thể hiện rõ ràng một quốc gia thực sự làm chủ các quần đảo này.

Tính đúng luật của việc chiếm cứ các đảo bởi người VN có thể bị tranh cãi bởi một quốc gia có cùng mối quan tâm – đó là TQ. Thế nhưng các sự kiện vào thời kỳ đó chứng tỏ TQ với tư cách nhà nước đã tỏ ra thờ ơ với số phận các quần đảo này.

TS Nguyễn Hồng Thao

[1] VN/ CT  1 Hán, M M  11/27  (MM Q43/57),  VN/ CT  3 Hán, MM 11/27.6 (MM 43/59).

[2] Tài liệu do ông Nguyễn Xuân Cảnh thôn Tây, xã Lý Hải, huyện Lý Sơn lưu giữ tại nhà thờ họ Võ, đề tài BĐHĐ-01 sưu tập và lưu giữ. KKK

>> Kỳ 12: Chiếm hữu bằng vũ lực là bất hợp pháp

Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa – Kỳ 10: Ý chí khẳng định chủ quyền Việt Nam

12/08/2011 0:28

Các bằng chứng do VN đưa ra cho thấy các hoạt động do các chúa và các vua nhà Nguyễn trên Hoàng Sa và Trường Sa thường tiến hành trên năm lĩnh vực sau:

>>  Kỳ 9: Tư liệu khách quan thừa nhận chủ quyền Việt Nam

1. Tổ chức khai thác có hệ thống các đảo.

2. Tổ chức công tác khảo sát đo đạc nhằm hiểu biết rõ lãnh thổ và đồng thời để kiểm tra, kiểm soát biển.

3. Xây dựng các miếu, đền, trồng cây như các dấu hiệu tượng trưng chủ quyền An Nam trên các đảo.

4. Tổ chức thu thuế tại chỗ.

5. Cứu trợ các tàu thuyền nước ngoài gặp nạn.

Về việc tổ chức các đội  Hoàng Sa và Bắc Hải nhằm khai thác các tài nguyên sản vật trên biển, Phủ biên tạp lục (1776) có ghi:

“Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng ba nhận giấy sai đi, mang lương ăn đủ sáu tháng, đi bằng chiếc thuyền tiểu câu ra biển ba ngày ba đêm thì đến các đảo ấy rồi ở  lại đó. Tha hồ kiếm lượm, bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hóa vật của tàu, như là gươm ngựa,  hoa  bạc, tiền bạc, vòng bạc, đồ đồng, thiếc khối, chì đen, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên cùng là kiếm lượm mai đồi mồi, mai hải ba, hải sâm, hột cốc hoa, rất nhiều.

Đến kỳ tháng tám thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp. Cân và định hạng xong mới đem bán riêng các thứ ốc hoa, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về… Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất hoặc người thôn Tu Chính ở Bình Thuận hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền tiểu câu ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm hóa vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản”([1]).

Với việc dựng các đội thủy quân đặc biệt để khai thác các đảo, các chúa và vua nhà Nguyễn đã tỏ rõ ý chí nhà nước. Hoạt động này được tiến hành hằng năm và được đặt dưới kỷ luật nhà nước. Các đội viên có quyền được cấp giấy sai đi, được miễn thuế sưu, tiền đò và được thưởng tiền. Ngược lại, ai không hoàn thành nhiệm vụ sẽ bị trừng phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của lỗi. Các chuyến đi và tuần tra các đảo được tổ chức thường xuyên. Mỗi khi hoàn cảnh đòi hỏi phải tạm hoãn, đều phải có chỉ dụ của nhà vua.


Tờ lệnh ban hành ngày 15 tháng 4 năm Minh Mạng thứ 15 (Giáp Ngọ – 1834) lệnh Bộ Binh và triều đình cử binh thuyền đi Hoàng Sa mà gia tộc họ Đặng ở Lý Sơn (Quảng Ngãi) gìn giữ hàng trăm năm nay – Ảnh: Hiển Cừ

Ngay cả dưới thời Tây  Sơn, triều đại ngắn ngủi, gián đoạn thời nhà Nguyễn, truyền thống đó vẫn được duy trì không ngắt đoạn.

Sách Đại Nam thực lục chính biên (1848) ghi nhận một loạt các hành động của vua Nguyễn để củng cố chính quyền của họ trên các đảo. Năm 1815, 1816, 1833, 1834, 1835, 1836, vua Gia Long và người kế nhiệm ông – vua Minh Mạng đều ra chiếu chỉ lệnh cho thủy quân và đội Hoàng Sa tới các đảo Hoàng Sa để ghi lại lộ trình. Quyển 165 viết:

“Năm Bính Thân, niên hiệu Minh Mạng thứ 17 (1836)… Bộ Công tâu: Xứ Hoàng Sa thuộc cương vực mặt biển nước ta, rất là hiểm yếu, từng sai vẽ bản đồ  nhưng vì tình thế xa rộng, nên mới chỉ vẽ được một nơi, lại cũng chưa biết nên làm thế nào. Hằng năm thường phái người đi xem xét cho khắp để thông thuộc đường biển. Xem từ năm nay về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, phái thủy quân, biền binh và giám thành đáp một chiếc thuyền ô nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Nghĩa (Ngãi – TN), giao cho hai tỉnh Quảng Bình, Bình Định thuê 4 chiếc thuyền của dân hướng dẫn ra xứ Hoàng Sa.

Không cứ là đảo nào, bãi nào, phàm khi thuyền đến nơi, tức là chiếu chỗ ấy chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, chu vi Việt Nam và nước biển bốn bên xung quanh nông hay sâu, có bãi  ngầm, đá  ngầm  hay  không, hình thế hiểm trở bình dị thế nào, phải xem xét, đo đạc kỹ càng, vẽ thành bản đồ. Lại chiếu ngày khởi hành, từ cửa biển nào ra khơi, nhằm phương hướng nào đi đến nơi  ấy, căn cứ vào thủy trình đã qua, tính ước được bao nhiêu dặm. Lại từ xứ ấy trông ra bờ biển, đối thẳng vào tỉnh hạt nào, phương hướng nào, đối chếch là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, ước lượng cách bờ biển chừng bao nhiêu dặm, đều nhất nhất phải nói rõ, lần lượt đem về dâng trình.

Vua y lời tâu, sai Suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền đi chuẩn bị mang theo 10 cái bàn gỗ, đến nơi dựng lên làm dấu ghi (mỗi bài gỗ dài 5 thước, rộng 5 tấc, dài 1 tấc, mặt bài khắc chữ: “Năm Minh Mạng thứ 17, Suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật vâng lệnh ra Hoàng Sa xem xét đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ”.

[1] Trích từ Sách trắng của Bộ Ngoại giao CHXHCN Việt Nam năm 1981, tr 9 – 11.

TS Nguyễn Hồng Thao

>> Kỳ 11: Chiếm hữu đúng luật 

10 loài sâu bọ khiến con người bối rối nhất

Chúng khiến cho con người bối rối vì khả năng thay hình đổi dạng quá siêu đẳng, đó là chưa kể vô số khả năng kỳ diệu khác…

1. Ngài đuôi đỏ (có tên khoa học là Dasychira pudibunda)

10 loài sâu bọ khiến con người bối rối nhất
Ngài đuôi đỏ phổ biến ở những khu rừng sồi Đan Mạch. Chúng thường xuất hiện vào tháng 6. Trung bình mỗi con cái có thể đẻ từ 300 đến 400 trứng gần nơi chúng hoá thành nhộng. Nhộng phát triển trong các cái kén nằm giữa những chiếc lá trên mặt đất.

Những ngài có rất nhiều lông và có thể dễ dàng được gió đưa đi. Vào cuối thu, những con nhỏ sẽ trưởng thành hoàn toàn, đạt chiều dài trung bình khoảng 5 cm và có màu sắc rất sặc sỡ.

2. Bọ ngựa hoa mặt quỷ (tên khoa học là Idolomantis Diabolica)
10 loài sâu bọ khiến con người bối rối nhất
Bọ ngựa hoa mặt quỷ đôi khi được biết đến là “vua của các loài bọ ngựa” do nó rất rất đẹp, có kích thước lớn và quý hiếm. Nó là một trong những loài có kích thước lớn nhất trong họ bọ ngựa và có khả năng giả dạng các loài hoa. 10 loài sâu bọ khiến con người bối rối nhất

3. Chuồn chuồn kim cánh rộng (Ischnura heterosticta)

10 loài sâu bọ khiến con người bối rối nhất
Chuồn chuồn kim nằm trong phân bộ Zygoptera thuộc bộ Odonata. Đặc điểm của chúng là có thân hình thon dài, mắt đa diện lớn, 2 mắt cách xa nhau, đồng thời có hai đôi cánh rộng khoẻ mạnh. Khi nghỉ ngơi, cánh của chúng đuợc xếp lại hoặc mở hờ phía bụng trên. Chúng thường bay nối đuôi nhau vào mùa giao phối. Đối với con nguời, chúng là đề tài phổ biến trong nghệ thuật và văn hoá ở nhiều quốc gia. Vẻ duyên dáng của chúng, đặc biệt là màu sắc và những hành vi kết đôi độc đáo đã tô điểm thêm cho vẻ đẹp của tự nhiên.

4. Bướm ma Cecropia (Hyalophora cecropia)

10 loài sâu bọ khiến con người bối rối nhất
Loài này rất ít khi được nhìn thấy do chúng chỉ bay vào ban đêm và có vòng đời rất ngắn là 2 tuần. Còn được biết đến với cái tên “bướm đêm Robin”, Cecropia là loài bướm đêm lớn nhất ở Bắc Mỹ với sải cánh trung bình dài từ 13 đến 15 cm. Chúng phân bố xuyên suốt 2/3 lãnh thổ phía đông tới vùng đồng bằng núi Rocky.
10 loài sâu bọ khiến con người bối rối nhất
Chúng là thành viên của họ bướm ma Saturniidae. Ấu trùng của loài này thường đuợc tìm thấy tại những cây gỗ thích. Thức ăn của chúng là anh đào dại và gỗ gulô.

5. Tằm Calleta (Eupackardia calleta)

10 loài sâu bọ khiến con người bối rối nhất
Là một loài sâu bướm thuộc họ bướm ma Saturniidae. Được tìm thấy tại Mexico, Guatemala và vùng cực nam của Hoa Kỳ, đây là loài duy nhất trong chi Eupackardia.
10 loài sâu bọ khiến con người bối rối nhất

10 loài sâu bọ khiến con người bối rối nhất

6. Bọ ngựa phong lan (Hymenopus coronatu)

10 loài sâu bọ khiến con người bối rối nhất
Là một loài bọ ngựa thường sống trên các bông hoa, thường được tìm thấy ở Malaysia và Indonexia. Chúng cải trang và ẩn mình trong các bông hoa, chờ đợi những món côn trùng thơm ngon bị mắc bẫy.

7. Bọ cánh cứng lực sỹ (Hercules Beetle)

10 loài sâu bọ khiến con người bối rối nhất
Bọ cánh cứng lực sỹ, hay còn gọi là Dynastes Hercules, là loài bọ cánh cứng tê giác sống ở Nam Mỹ. Chúng có thể phát triển vượt chiều dài 15cm (tính cả phần sừng). Chúng đặc biệt nổi tiếng bởi sức mạnh của mình: bọ Hercules có khả năng mang một vật nặng gấp… 850 lần trọng lượng cơ thể trên lớp vỏ cứng. Loài bọ này thức ăn chủ yếu là thực vật và không hung hãn, ngoại trừ với các con bọ cánh cứng đực khi chúng phải chiến đấu để tranh giành các con cái.
8. Nhện lạc đà khổng lồ (Arachnid Solifugae)

10 loài sâu bọ khiến con người bối rối nhất

10 loài sâu bọ khiến con người bối rối nhất

Có thể chúng ta sẽ không bao giờ hoặc hiếm khi được nghe đến loài sinh vật này nếu không nhờ vào những câu chuyện và hình ảnh mà những nguời đã tham gia cuộc chiến vùng vịnh và Iraq mang về. Người ta kể rằng đã có một chú nhện lạc đà bò vào túi ngủ của một nguời lính và cắn anh ta trong lúc ngủ. May thay loài nhện có nguồn gốc Iraq này không hề có nọc độc. Chúng dùng càng để bắt mồi, thường là những loài nhỏ hơn. Chúng cũng đuợc biết đến vì sự nhanh nhẹn của mình, một con nhện lạc đà khổng lồ có thể di chuyển với vận tốc lên đến 10 dặm/giờ. Sinh vật này có tên thật là Arachnid Solifugae. (Arachnid Solifugae trong tiếng Latin có nghĩa là “chạy trốn mặt trời”).
9. Bọ nước khổng lồ (Belostomatidae)
10 loài sâu bọ khiến con người bối rối nhất
Belostomatidae đuợc biết đến với cái tên “bọ nước khổng lồ”. Phần lớn các loài thuộc họ Belostomatidae có kích thuớc tương đương nhau và gần đạt đến kích thước của loài bọ cánh cứng.
Tất cả chúng đều là những thợ săn nguy hiểm với kỹ năng rình mồi khéo léo. Thức ăn của chúng là động vật giáp xác, thuỷ sinh, cá và động vật lưỡng cư. Chúng thường nằm yên bất động dưới đáy nước, chăm chú theo sát con mồi và chờ chúng đến gần. Sau đó, chúng tấn công, tiêm một loại nước bọt tiêu hoá và hút ra chất lỏng từ con mồi. Vết cắn của chúng được xem là một trong những vết cắn độc và đau đớn nhất mà một con côn trùng có thể gây ra. Nước bọt của chúng có thể đốt cháy các cơ và thậm chí có thể gây nguy hiểm đến con nguời. Vì thế đừng bao giờ lơ là và đưa mặt đến gần những sinh vật này. Khi phải chạm trán với những kẻ thù to lớn hơn, bọ nước khổng lồ sẽ tiết ra một chất lỏng từ hậu môn làm cho chúng có vẻ bớt ngon lành đi. 10 loài sâu bọ khiến con người bối rối nhất
10. Bướm báo đốm (Hypercompe scribonia)
10 loài sâu bọ khiến con người bối rối nhất
Bướm báo đốm lớn hay bướm mắt hổ (Hypercompe scribonia) có những dấu tròn màu đen đặc thù, gợi nhớ đến những dấu vân tương tự trên mình báo gấm (leopard). Màu sắc đặc biệt không thể nhầm lẫn của loài bướm này là một dạng tín hiệu mang ý nghĩa cảnh báo đối với kẻ thù.

Những bí ẩn chưa thể giải mã của thế giới cổ đại

Sự mất tích của kho vàng Inca hay sự “bay hơi” của thành phố Atlantis là những bí ẩn có từ lâu nhưng vẫn chưa có lời giải.

Sự mất tích của vàng Inca

Truyền thuyết này bắt đầu từ thế kỷ 16, khi Đế chế Inca bị người châu Âu xâm lược. Tướng chỉ huy người Tây Ban Nha tên Francisco Pizarro bắt giữ một vị vua Inca tên Atahualpa. Tướng Pizarro hứa sẽ thả vua Atahualpa nếu nhà vua chịu đưa cho ông ta một số vàng ngoài sức tưởng tượng.

Thần dân của vua Atahualpa thu thập tất cả số vàng họ có thể tìm thấy. Một nửa số vàng được giao cho Pizarro nhưng trước khi giao một nửa còn lại, người dân yêu cầu tướng Pizarro phải giữ đúng lời hứa thả vua Atahualpa.

Nhiều nguồn tin cho rằng, những cận thần trung thành với vua Atahualpa chôn kho báu trong một hang núi và kho báu được cho là vẫn ở đó cho đến ngày nay.

Nhiều người cố gắng để tìm kiếm kho báu này. Vào năm 1886, Barth Blake tuyên bố rằng ông tìm thấy kho báu Inca huyền thoại. Ông viết: “Có hàng ngàn đồng tiền vàng cũng như những chế tác thủ công mỹ nghệ bằng vàng và bạc, những tác phẩm nghệ thuật đẹp nhất mà con người không thể tưởng tượng nổi”.

Ông cũng mô tả “những bình vàng đầy ắp ngọc lục bảo” và những bức tượng khổng lồ được làm hoàn toàn bằng vàng. Ông Blake lên kế hoạch sẽ gây quỹ cho một chuyến thám hiểm quy mô lớn trên vùng đất này nhưng thật không may ông đã chết trên biển trước khi có cơ hội thực hiện kế hoạch của mình. Kể từ đó, nhiều người tuyên bố nhìn thấy vùng đất huyền thoại này – nơi chôn giấu kho báu nhưng không có bằng chứng hữu hình nào tồn tại.

Thành phố vàng El Dorado

El Dorado là một thành phố Nam Mỹ huyền thoại được làm hoàn toàn bằng vàng. Truyền thuyết xuất hiện vào thế kỷ 16 và 17 cùng với sự phát triển của thế giới mới.

Nhiều người mạo hiểm đi vào vùng hoang dã của Nam Mỹ để tìm kiếm thành phố này nhưng hầu hết các cuộc thám hiểm đều kết thúc trong bi kịch. Một nhà thám hiểm mất con trai của mình trong khi tìm kiếm thành phố El Dorado huyền thoại. Sau đó, do mặc cảm tội lỗi về cái chết của con trai, ông cũng tự sát.

Trong thực tế, huyền thoại này không có nguồn gốc rõ ràng. Khi những nhà thám hiểm Tây Ban Nha lần đầu tiên đặt chân lên thế giới mới, họ được người dân trong các bộ tộc khác kể về một vị vua ném thần dân của mình cùng đồ trang sức quý giá xuống hồ Guatavita để xoa dịu vị thần sống trong hồ.

Người Tây Ban Nha cố gắng tát nước từ chính chiếc hồ đó và tìm thấy một ít vàng nhưng không thể tát cạn nước hồ để lấy được số vàng lớn được cho là nằm sâu dưới đáy nước.

Đây là một truyền thuyết lâu đời và nhiều người vẫn kể những câu chuyện xung quanh thành phố huyền thoại được làm bằng vàng này. Mặc dù những câu chuyện không hề logic nhưng nhiều người vẫn muốn tin rằng có một thành phố được làm bằng vàng.

Họ tin rằng, họ sẽ có cơ hội sống sót để tìm được sự giàu có vượt ra ngoài những giấc mơ ngông cuồng nhất của họ dựa vào một thành phố đã mất tích từ lâu.

Thành phố huyền thoại Atlantis

Câu chuyện về sự biến mất của Atlantis là một trong những truyền thuyết vẫn còn tồn tại trong nhiều thế kỷ. Nguồn gốc của các truyền thuyết về Atlantis bắt nguồn từ câu chuyện của nhà triết học Hy Lạp Plato.

Câu chuyện kể về một thành phố tuyệt vời được tạo ra bởi cuộc đua tranh giữa thần và người. Nơi đây là quê hương của các động vật hoang dã kỳ lạ và có nền văn minh rực rỡ nhất.

Plato kể câu chuyện tuyệt vời này vào năm 360 trước Công nguyên và câu chuyện vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.


Hầu hết các học giả tin rằng câu chuyện của Plato chỉ đơn thuần là câu chuyện triết học hay câu chuyện ngụ ngôn với ngụ ý xã hội văn minh không bao giờ thực sự chinh phục được thiên nhiên, nhưng một số người lại tin rằng Atlantis là có thực.

Có nhiều giả thuyết được đưa ra về vị trí chính xác của thành phố Atlantis, có thể là bắt đầu từ giữa Đại Tây Dương cho đến hết biển Địa Trung Hải.

Khả năng tồn tại của thành phố Atlantis cổ đại không phải là không thực tế, bởi lẽ các thành phố cổ đại cũng như các thành phố hiện đại ngày nay liên tục bị tàn phá bởi lũ lụt và các vụ phun trào núi lửa. Chính vì thế nên việc tồn tại một thành phố lớn như Atlantis có thể là có thực.

Đầu lâu pha lê

Huyền thoại có chút khác biệt so với các huyền thoại khác bởi vì những chiếc sọ pha lê là những hiện vật có thực, nhưng mục đích sử dụng của chúng vẫn còn là một bí ẩn.

Những chiếc sọ này thậm chí không phải là hiếm, nhưng những tàn dư còn sót lại này từ một nền văn minh cổ đại thì quả là bí ẩn.

Những hộp sọ được tìm thấy tất cả ở Mexico và một số nhà khảo cổ học cho rằng chúng đã được chạm khắc hàng chục ngàn năm trước bởi một nền văn minh Trung Mỹ cổ đại.


Những chiếc đầu lâu bí ẩn này là gì? Một số người tin rằng chúng là những đồ tạo tác từ Atlantis còn những người khác lại cho rằng các đầu lâu pha lê là bằng chứng về việc người ngoài hành tinh đến thăm trái đất trong quá khứ.

Nhiều người trong thời đại mới tin rằng chiếc sọ có năng lực siêu nhiên, có thể nâng cao khả năng tâm linh và chúng cũng có khả năng chữa bệnh.

Núi trường sinh bất lão

Nhiều nền văn hóa có truyền thuyết tương tự với câu chuyện về núi trường sinh bất lão. Có tin đồn cho rằng khi vua Alexander Đại đế cận kề cái chết, ông đã truy tìm một dòng sông huyền thoại mà có thể khiến con người trẻ lại.

Ngoài ra ở Châu Âu cũng còn tồn tại huyền thoại kể về một vị vua vĩ đại, người cai trị một vương quốc đem lại cho bạn sự trường sinh bất lão.

Với việc khám phá thế giới mới vào thế kỷ 16, nhiều người đã bị hấp dẫn bởi hàng loạt vùng đất mới này và các huyền thoại về núi trường sinh bất lão lại một lần nữa trở nên phổ biến.

Trong thời gian này, núi trường sinh bất lão được cho là nằm ở Châu Mỹ. Do vậy nhà thám hiểm người Tây Ban Nha Juan Ponce de Leon nổi tiếng đã tìm kiếm ngọn núi này ở nơi mà trở thành St Augustine, Florida ngày nay.

Điều kỳ lạ là không hề có hồ sơ ghi chép chi tiết về cuộc thám hiểm của Leon ở Florida. Điều này đã khiến nhiều học giả tin rằng câu chuyện huyền thoại này là do de Leon hoặc do một số người cùng thời với de Leon dựng lên.

Tuy nhiên, huyền thoại đó vẫn tồn tại và phổ biến hơn bao giờ hết. Tại Florida có một địa điểm thu hút khách du lịch được tuyên bố là núi trường sinh bất lão. Đáng buồn thay, những người uống nước ở đây lại không thể trở nên bất tử như trong huyền thoại.