Tag Archive: xác


Ký ức phía sau “cánh gà” trường bắn

Ông trùm phu mộ Ba Son bao năm qua vẫn thế, bất cứ có vị khách  nào đến nhà tìm kiếm đều hết sức dè chừng, cảnh giác. Những va chạm giữa cuộc sống đời thường buộc người đàn ông ngoài 60 tuổi này phải đề phòng bất trắc. Ngay cả chúng tôi, lúc đầu tìm đến căn nhà có tường vây lưới B40, chiếc khóa cổng lách cách, cửa kéo kèn kẹt, Ba Son nhìn qua đầy ngờ vực, mãi lúc sau mới dám tin tưởng mời vào nhà trò chuyện.

Trong căn nhà hẹp, xây theo kiểu phòng trọ, phòng nhỏ, không gian tối, cảm giác lành lạnh cảm giác thâm u, bụi, mạng nhện bám đầy, mọi vật dụng hoặc là cũ, hoặc là hỏng hay bị vỡ một phần… tất cả được ông sắp xếp không theo bố cục nhất định nào. Dưới nền đất vài con chó Nhật xuề xòa cáu bẩn nằm vạ vật.

Phút trầm tư của Ba Son khi nghĩ về ký ức nơi trường bắn Long Bình

Ba Son ở trần, dáng người rọm rẹm, da nhăn nheo, mấy vết xăm trên mình, phải tưởng tượng mãi tôi mới hình dung đó là một vài con hổ, con rồng phượng gì đó, đại loại là biểu tượng cho uy quyền. Khuôn mặt ông xương xẩu, dữ tợn, mấy chiếc răng rụng không đều, khiến nụ cười ông thêm nham nhở.

Điểm đặc biệt nhất ở con người Ba Son  là mái tóc dài. Hàng chục năm nay không cắt, mà để thõng, thắt củ tỏi phía sau lưng, tay đeo hay chiếc nhẫn, cổ 1 chiếc dây chuyền lớn. Tất cả bằng inox, ông ưa trang sức ngay cả lúc tuổi bóng xế. Người ta bảo ông khá lập dị là như thế.

Ba Son mang phong thái của một gã lãng tử, pha chất bụi giang hồ. Giờ rửa tay gác kiếm, ông bảo, tất cả những bí mật của cái nghề kỳ quái của mình ông tung hê hết, chẳng giấu thứ gì.

Lý do để ông không muốn bo bo giữ kín sau hàng chục năm, là vì bây giờ không còn cảnh tử tù bị trói tay, bịt mắt, tựa cột nữa. Và, ông cũng chẳng còn sung sức để làm cái nghề “đêm đêm móc xác chạy phăng phăng”. Ông bộc bạch để thấy nhẹ nhõm hơn, đó cũng là dịp Ba Son xả những ký ức nặng nề ở thế giới đầy tà khí.

Hơn 30 năm ngụp lặn nơi trường bắn, Ba Son giờ đã rửa tay gác kiếm

Làm cái nghề kinh dị này gần nửa cuộc đời, chừng ấy cũng đủ để ông trở thành “từ điển” pháp trường mà không ai vượt  qua. Cảnh vòng trong tử tù gục xuống, vòng ngoài pháp trường chộn rộn tiếng bước chân. Đôi lúc cảnh đó bẽ bàng như lũ cú diều chực chờ xác chết đến móc rỉa, ông không lạ gì.

Ở đâu có công việc được tôn vị lợi, ở đó có lưu manh, trong hơn 30 năm hành nghề bốc mộ, từ một kẻ tinh thần thượng võ, Ba Son nhận mình đã biến thành kẻ cơ hội, với nhiều mánh khóe. Vì gần như đó là con đường không thể khác hơn, ởtrường bắn, người ta có thế bất chấp tất cả, miễn là có được tiền.

Theo như Ba Son thổ lộ, kiếp người “ký sinh” bên xác chết thì chẳng ai kết thúc có hậu cả. Nhiều người đi bốc mộ, hít nhiều tử khí, một thời gian xơ gan, phềnh bụng, ung thư chết tiệt. Người không bị chết thì cũng điên điên, khùng khùng, sống lập dị, bị người đời xa lánh. Và, như một mặc định, ăn của người chết, sống cũng chắc phúc phận gì.

Cuối đời lẻ bóng

Bây giờ trường bắn ngừng hoạt động trên phạm vi cả nước, hình thức tử hình bằng thuốc độc thay thế, được xem là bước hoàn thiện của pháp luật. Tất nhiên, người làm nghề hốt xác ở trường bắn cũng không thể mưu sinh bằng nghề này nữa. Rồi đây những câu chuyện buồn “sau tiếng súng” cùng những phận người sẽ dần đi vào dĩ vãng, khép lại những ký ức một thời không muốn kể.

Một thời sống “ký sinh” bên xác chết, giờ ông lui về nhà cô quạnh với nỗi cô đơn giày xéo. Vợ chết sớm, con cái không ai chịu ở chung, tiền kiếm được thì “vào lỗ hà, ra lỗ hốc”, ông ném tất cả vào những cuộc ăn chơi, cuối cùng trắng tay.

Thú vui lớn nhất của Ba Son lúc này là ôm cần câu đi rong ruổi các kênh rạch, ao hồ ngồi giết thời gian. Ông cũng thuộc loại “sát cá”, cả ngày ngồi lì bên cần câu, ông có thể thu về cả chục cân cá. Số cá ấy, ông không đem bán, cũng chẳng mang về ăn, tất cả được đem cho hàng xóm.

Ông bảo, đó chính là khoảng thời gian mình được tĩnh tâm nhiều hơn, nghĩ suy lại cuộc đời chìm nổi. Chẳng biết lời nói của một kẻ phu mộ có đáng tin hay không, và ông có thật sự day dứt với bản thân khi những năm tháng ngụp lặn, quật mộ, bốc thuê hay” ăn xác”, với đủ các kiểu làm luật ngay trên thể xác tử tù. Nhưng giờ theo hàng xóm nhìn nhận thì ông đã thay đổi rất nhiều, không có chất máu giang hồ thuở nào nữa.

Mỗi tối, ông vẫn một mình ngồi cà phê vỉa hè ở các ngóc ngách xung quanh gần khu dân cư ở trường bắn, ngắm nhìn dòng người ngược xuôi đi qua…..

 

GIANG UYÊN

Theo Infonet

Kỳ 4: “Bằng chứng khảo cổ” mập mờ và thiếu chính xác của Trung Quốc

 

Để củng cố lý lẽ về chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa, người TQ sử dụng cả các luận cứ về khảo cổ. Người TQ cho là đã tìm thấy vết tích tiền cổ và vật dụng cổ có từ thời Vương Mãng (năm thứ ba trước Công nguyên cho đến năm 23 sau Công nguyên) trên các quần đảo.

>> Kỳ 3: Sử liệu Trung Quốc nói gì?

Chang The-Kuang và S.Yeh viết rằng các đảo này có chứa “các tàn tích của khu dân cư, các vật dùng sành sứ, các dao sắt, các nồi gang và các vật dụng hằng ngày khác có niên đại từ thời Đường, Tống”. Báo cáo sơ bộ của chuyến khảo cổ học thứ hai trên quần đảo Tây Sa của tỉnh Quảng Đông ghi rằng “qua hai cuộc khảo sát, các nhà khảo cổ học đã khảo sát hầu hết các đảo, đá, bãi ngầm, các vũng của quần đảo Tây Sa và hầu như ở đâu họ cũng tìm thấy các đồ vật cổ và các lịch sử của quần đảo Tây Sa, bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc chúng ta từ ngàn đời nay”.

Vấn đề đặt ra ở đây là trong luật quốc tế không tồn tại một quy tắc nào cho phép tự quy thuộc chủ quyền cho một quốc gia trên một vùng đất mà tại đó các cổ vật thuộc nền văn minh của nước đó được tìm thấy. Các cổ vật này có thể thuộc các ngư dân TQ đi lại và bị đắm thuyền trong vùng biển này, cũng như có thể thuộc các ngư dân Philippines, Malaysia hoặc của các tàu thuyền Ả Rập, Bồ Đào Nha, Hà Lan bị trôi dạt mắc nạn vào đây. Không có gì chứng minh được rằng các ngư dân TQ là những người duy nhất có các hoạt động định cư thường xuyên trên các đảo không có nước ngọt này.

Trong khi đó, năm 2001, trong khuôn khổ dự án 10 năm điều tra cơ bản khảo cổ học Trường Sa – Tây Nguyên – Nam Bộ, các nhà khoa học Việt Nam đã khai quật và phát hiện nhiều di tích khảo cổ có giá trị trên quần đảo Trường Sa. Trên chứng chỉ khảo cổ học, các nhà sử học đã xác định được các cư dân người Việt sinh sống ở Trường Sa là rất sớm, chí ít cũng phải từ thời nhà Trần và liên tục định cư, sinh sống ở đây trong các giai đoạn thời kỳ sau. Qua các hiện vật thu được, dựa trên căn cứ sử học và văn hóa học, rất rõ ràng để nhận ra có một sợi dây liên kết chặt chẽ giữa cư dân trên đảo với cư dân đất liền từ thuở sơ khai đến nay. Có thể những cư dân đầu tiên Trường Sa là kết quả của các cuộc di dân, tìm đất mới thời cổ xưa. Hoặc là các ngư dân Việt đi biển ghé vào và ở lại lâu dài, khai phá đất đai, tạo lập cuộc sống mới.

 
Một trang trong cuốn Hải ngoại kỷ sự (1695) của Thích Đại Sán, một nhà sư Trung Quốc đời Khang Hy, thuật lại chuyến du hành tới xứ Đàng Trong, thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Đại Việt – Ảnh: biengioilanhtho.gov.vn

Chủ quyền quốc gia đã được luật quốc tế định nghĩa về mặt pháp lý. Trương Hồng Tăng và các tác giả TQ khác lập luận rằng: “Dưới thời nhà Tống, nhiều sách vở đã ghi nhận rằng những ngư dân TQ thường tới đây bắt cá và thu lượm san hô (…). Theo Chư phiên chí (ghi chép về các nước chư hầu) của Zhao Rushi (Triệu Nhữ Quát) sống dưới thời nhà Tống cách đây 700 – 800 năm, người TQ đã biết rằng các quần đảo Tây Sa và Nam Sa là những vùng nguy hiểm cho hàng hải (…). Vào thế kỷ trước, chỉ có người TQ đã sống và khai thác một cách liên tục các quần đảo Tây Sa và Nam Sa (…)”.

Sau khi đã nghiên cứu sâu sắc các tài liệu TQ, ông Heinzig, một luật gia Đức đã rút ra kết luận chỉ bắt đầu từ thời nhà Tống (960) người TQ mới có thể tiếp cận với quần đảo Paracels (Hoàng Sa). Còn về việc hiện diện của người TQ trong khu vực Spratlys (Trường Sa) không có gì ghi nhận trước 1867, thời điểm một tàu nghiên cứu Anh gặp những ngư dân TQ tới từ đảo Hải Nam. Theo Heinzig, chỉ từ khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất người TQ mới bắt đầu gọi quần đảo Spratlys là “Đoàn Sa Trung Đảo”. ([1])

Sự tiếp xúc riêng rẽ của những cư dân TQ cá thể đối với Paracels liệu có đủ để thiết lập chủ quyền TQ tại đó không theo luật quốc tế? Các tác giả TQ khẳng định rằng TQ phát hiện ra Tây Sa và Nam Sa cách nay 2.100 năm, vào thời Hán Vũ Đế. Đối với họ, theo luật quốc tế và tập quán quốc tế thời kỳ đó: “Chủ quyền thuộc về người phát hiện” (Who discovers the territory, holds its sovereignty), đó là ngư dân TQ, và vì vậy TQ phải có chủ quyền trên đó”.

So sánh với các tiêu chuẩn thụ đắc lãnh thổ, các ghi chép mà TQ viện dẫn không đủ chứng minh rằng quyền phát hiện đã được xác lập. Một đảo hoặc một quần đảo có thể là đối tượng nhận biết từ lâu đời của các nhà hàng hải, các ngư dân, các nhà địa lý… nhưng chúng vẫn chỉ được coi là lãnh thổ vô chủ

res nullius một khi quốc gia của họ chưa tiến hành một hành động nhà nước nào tại đó. Phan Thạch Anh cố chứng minh rằng vào thế kỷ XV, XVI chỉ cần quyền phát hiện là đủ để tạo nên quyền sở hữu đất vô chủ. Sở dĩ ông ta lập luận như vậy là để chứng minh rằng các hoạt động của tư nhân TQ là đủ để tạo ra quyền phát hiện ([2]). Thế nhưng các hoạt động tư nhân của các ngư dân TQ không thể mang lại hiệu lực pháp lý của “quyền phát hiện” và nó không thể được đánh đồng với quyền chiếm hữu.

Các bằng chứng của quyền phát hiện các đảo này như đã nêu trên rất mập mờ và thiếu chính xác. Chúng ta có thể đồng ý rằng các hoạt động của ngư dân có thể kéo theo sự chú ý và ý định của nhà nước trên lãnh thổ vô chủ. Tuy nhiên, yếu tố ý chí này không đủ khi còn thiếu yếu tố vật chất của các hoạt động nhà nước trên thực địa. Người TQ sẽ chứng minh như thế nào đòi hỏi này của luật quốc tế vào thời kỳ đó?

TS Nguyễn Hồng Thao

_________

[1] Theo Nguyễn Quang Ngọc, Sđd, tr 41. Trước khi Lý Chuẩn ra Hoàng Sa năm 1909, bản đồ TQ vẫn thể hiện đảo Hải Nam là cực nam lãnh thổ TQ. Năm 1928 trường Đại học Trung Sơn tổ chức điều tra quần đảo Tây Sa, được coi là mốc đánh dấu sự hiểu biết của người TQ về quần đảo Tây Sa. Tuy nhiên, cho đến năm 1934, bản đồ TQ vẫn chưa vượt quá quần đảo Tây Sa và đảo Triton, cực nam của quần đảo, ở sát phía dưới vĩ tuyến 16 được gọi là đảo cực nam với lời giải thích đảo là cột mốc đánh dấu lãnh thổ cực nam của TQ. Trong khoảng năm 1935-1936 địa danh Nam Sa và Đoàn Sa xuất hiện trên bản đồ TQ. Nam Sa được đặt tên cho bãi ngầm Maccelesfield Bank còn Đoàn Sa để chỉ Spratleys. Từ năm 1939 tên Nam Sa mới được dùng để chỉ Trường Sa của Việt Nam, tên Đoàn Sa mất đi, còn Maccelesfield Bank được đặt tên là Trung Sa.

[2] Phan Thạch Anh, The ptropolitics of the Nansha islands-China’s indisputable legal case, Beijing, December 1995.

>> Kỳ 5: Độ chênh của lịch sử trong Sách trắng Trung Quốc