Tag Archive: xe


Dân cả đời cày dưới ruộng, giữa đường, giữa chợ, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Quan chức thì suốt ngày ở trong phòng lạnh, xe lạnh, trong nhà hàng, trên sân gôn. Trái tim họ nguội lạnh dần theo đồng tiền, theo lợi ích nhóm. Đó là nguyên nhân đẻ ra biết bao văn bản, chính sách làm nhân dân rối bời và khổ sở trong những ngày tháng qua.

Tiếp tục đọc

Mọi người chú ý khi vào uống cafe dọc tuyến Đồng Nai – Vũng Tàu

 

CAFE CHẾT MÁY

Thời gian gần đây, trên đường đoạn từ Đồng Nai về Vũng Tàu có rất nhiều quán “Cafe Chết Máy”. Hiện tượng như sau: Khi khách hàng tấp vào một quán nước ven đường nào đó, sau khi uống nước xong, ra lấy xe thì đề máy không nổ nữa, mặc dù trước đó xe hoàn toàn bình thường. Và mới chiều qua, ngày 28/04, tôi cũng là nạn nhận của mô hình cafe chết người này…

Chuyện xảy ra khoảng 4h chiều, ngày 28/4, đang cùng bà xã đi trên đoạn từ Đồng Nai về Tp. HCM, đến đoạn thuộc xã Long Phước thì trời chuyển mưa to. Thấy vậy tôi cho xe ghé vào một quán nước bên đường để uống nước và trú mưa. Gọi một trái dừa ra và nằm trên chiếc võng, tôi quay mặt vô còn vợ thì ngồi quay ra đường. Không lâu sau thì trời cũng bớt giông, tôi lên xe và đề máy nhưng đề mãi vẫn không nổ. Tôi vẫn tiếp tục đề thử lại nhiều lần vì trước giờ xe tôi chưa bao giờ có hiện tượng lạ như vậy. Đang loay hoay có một thanh niên đứng gần đó bước lại hỏi:

– Hết xăng à, đề không nổ à?

Tôi: Ờ…

– Để xem nào.

Nói đế đây, anh thanh niên lạ mặt này tiến sát hơn tới chiếc xe của tôi và nắm hai tay vào tay cầm định đề giúp. Lúc này thì trực giác mách bảo tôi có chuyện không ổn. Những kinh nghiệm về body language cho tôi biết kẻ lạ mặt này không phải người tốt. Tôi lập tức phản ứng:

– Thôi được rồi, không cần anh giúp đâu.

Vừa nói, tôi vừa hất tay hắn ra không cho chạm vào xe tôi, bạn cũng lưu ý, đây là quyết định hết sức quan trọng, bạn đừng bao giờ dại dột cho người lạ mặt nào cầm vào tay lái xe mình, có thể họ sẽ chạy mất trong vòng 1 giây. Thấy thái độ hơi khó chịu của tôi, hắn diễn tiếp:

– Không cần giúp thì thôi, làm gì ghê vậy.

Bà xã tôi cũng hết sức bất ngờ trước phản ứng của tôi.

Lúc này, tôi có dịp quan sát hắn kỹ hơn, cách ăn mặc của hắn đúng là rất giống một tên cướp, lại chạy một chiếc ecxiter, và đi cùng một thanh niên khác đứng gần đấy như sẵn sàng hỗ trợ.

Tôi quay sang hỏi bà xã: “Nãy giờ em có thấy có người nào đi lại gần chiếc xe mình không?”

Chắc do mất bình tĩnh, bã xã tôi chẳng nghĩ ra được gì cả.

Nói xong, tôi quyết định dắt bộ. Ngay cạnh quán nước là một tiệm sửa xe, chỉ cần vài bước là tới. Nhưng tôi dắt đi luôn mà không ghé tiệm này.

Bà xã tôi lại một phen bất ngờ:

– Ơ, sao anh không dắt vô tiệm này sửa?

Tôi giải thích:

– Xe chết máy một cách bất thường, sau đó thì xuất hiện hai thanh niên lạ mặt, dấu hiệu rất khả nghi, lại nhiệt tình giúp đỡ người lạ sửa xe, rồi ngay cạnh quán lại có sẵn một cái tiệm sửa xe nữa chứ. Em nghĩ, đây có phải là một kịch bản không?

Bà xã tôi nghe xong nhưng chắc là chưa hiểu lắm nhưng cũng ậm ừ nghe theo. Thường những lúc thế này bx luôn tôn trọng những quyết định của tôi.

Thế là tôi quyết định dắt xe đi tiếp, vừa đi tôi vừ suy nghĩ. Chợt tôi thấy chính hai người thanh niên kia chạy hai chiếc xe ngang qua mình. Tôi nghĩ chúng lại đón đầu và bày sẵn một kịch bản khác đây. Chưa biết giải quyết thế nào nhưng tôi cứ đi và nghĩ tiếp. Đi được một đoạn thì thấy trời bắt đầu chuyên mưa trở lại. Bà xã tôi mới ghé vô một tiệm tạp hóa ven đường để mua áo mưa. Còn tôi thì dừng xe lại và đi một vòng, rồi hai vòng quanh chiếc xe mình. Vừa đi tôi vừa quan sát thật kỹ chiếc xe xem có dấu hiệu gì lạ không. Đến vòng thứ ba thì mọi chuyện đã phơi bày các bạn ạ.

Nhìn kỹ vào phía sau chiếc Atila, tôi thấy có một góc nhỏ gần bình xăng, có vài sợi dây điện lòi ra. Cuối người xuống chút nữa, tôi thấy rất rõ, có hai cái chốt điện nhưng mà một trong hai cái bị rơi hẳn ra. Nhìn kỹ hơn thì đó chính là cục đề. Oh My God!!!

Đây chính là nguyên nhân, và hai tên kia chính là thủ phạm. Đến đây thì tôi cũng chẳng thèm gắn lại, đợi bà xã mua áo mưa ra tôi biểu diễn:

– Bà xã xem nè – tèng téng teng…

Vừa nói tôi vừa lấy tay cắm cái chốt còn lại vô cục đề. Rồi tôi đề máy.

Bùm bùm bùm… Xe nổ máy ngon lành, chưa bao giờ tôi nghe tiếng máy xe tôi nó thân thương như vậy.

Bà xã tôi hết sức vui mừng rồi hí hửng kể lại một câu chuyện khác, một bí mật khác.

– Hồi nãy, em vô mua áo mưa, sẵn tiện em hỏi chị chủ quán xem có tiệm sửa xe nào gần đây không. CHị chủ quán hỏi xe em hư thế nào? Em nói là bị sao mà đề không được nữa. Chị ấy bảo, có phải em mới ghé uống nước ở quán nước gần đây không? Em nói dạ đúng rồi. Vậy là em bị bọn lừa đảo phá xe rồi. Ở đây chúng hoạt động khá nhiều, nhất là ở các quán nước. Lúc trước cũng có vài quán bị công án bắt rồi nhưng chưa hết. Kịch bản của chúng là:

“Làm hư xe khách, sau đó giả vờ giúp đỡ, rồi có thể lấy xe khách chạy mất, hoặc hên lắm thì chúng sẽ kêu dắt vô tiệm kế bên sửa (cũng là tiệm của hắn). Thế chúng sẽ chém đẹp mỗi xe vài trăm đến vài triệu chứ chẳng chơi. Chúng giả vờ thay cái cục đề khác, mà cục lô nữa chứ, rồi lấy cục jean của khách để bán lại để kiếm tiền tiếp”

Đến đây thì mọi chuyện đã sáng tỏ, hai vợ chồng lên xe về mà cứ suy nghĩ mãi về chuyện này, cũng thầm cảm ơn ông trời còn thương người hiền, và cũng cảm ơn cái trực giác của mình vẫn luôn làm việc chính xác. Và đến lúc này, bà xã tôi mới nhớ ra, lúc vào quán nước, bà xã có thấy một thanh niên lạ mặt chạy xe vô rồi dựng kế bên và che mất một phần tầm nhìn chiếc xe của tôi rồi giả vờ sửa xe của mình. Đây cũng là lúc chúng hành sự.

Cũng trên đường về, tôi tự hứa sẽ kể lại câu chuyện này, nhằm giúp cho những ai không may trở thành nạn nhân của chúng biết đường mà tránh. Cũng hy vọng cơ quan công an sớm dẹp sạch các quán CAFE CHẾT MÁY kiểu này!

Các bạn đọc được câu chuyện này hãy bấm chia sẻ để bạn bè mình biết tránh sập bẫy bọn lừa đảo này nhất là những dịp lễ sắp tới các bạn nhé!

HUỲNH MINH THUẬN – 29/04/2013

Chưa là Quốc bảo, cụ Rùa đã lại ‘nổi lên’

 

Sự thiếu tự tin trong lĩnh vực văn hóa còn là hệ quả của những đứt gãy văn hóa, mà sự đổ vỡ hôm nay là một phần của hành vi chối bỏ quá khứ. Thật trớ trêu, thay vì sửa chữa và làm thăng hoa nó ở lĩnh vực văn hóa, tâm linh, thì người ta lại dùng lý luận hiện thực để phủ bác ngay cả những huyền thoại ít nhiều gắn bó với lịch sử dân tộc.

Mấy ngày nay cụ Rùa Hồ Gươm” lại được “nổi lên” trên sóng dư luận khi Phó GS.TS Hà Đình Đức và GS Vũ Đức Vượng đề nghị cụ trở thành “bảo vật quốc gia”.

Mâu thuẫn và thiếu thuyết phụcThế nào thì được gọi là “bảo vật quốc gia”?

Tiêu chí đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa ra, nhưng cũng không phải đã hết tranh cãi. Bởi nếu áp dụng tiêu chí ấy, thì Việt Nam chả có mấy thứ được gọi là “bảo vật quốc gia”, dù Thủ tướng Chính phủ vừa ký quyết định công nhận đợt một cả thảy 30 “bảo vật quốc gia” từ cổ đến kim.

Cụ thể những báu vật có niên đại gần đây nhất là “Pháo cao xạ 37mm M1939”, “Máy bay MiG-21F96, số hiệu 5121”, “Sổ trực ban Chiến dịch Hồ Chí Minh”, “Xe tăng T-54B, số hiệu 843”, “Xe tăng T-59, số hiệu 390”.

Việc cụ Rùa Hồ Gươm có được công nhận là “bảo vật quốc gia” hay không, chẳng thuộc thẩm quyền của những người đề nghị. Song người viết chỉ thấy cách mà một số người phản đối đưa cụ lên tầm “quốc bảo” là khá mâu thuẫn và thiếu thuyết phục.

Ông Dương Trung Quốc nói: “Tôi đồng ý Rùa Hồ Gươm mang giá trị đặc biệt về văn hóa, tâm linh, khoa học. Nhưng nếu đưa nó trở thành bảo vật quốc gia thì chắc là chưa cần thiết…“.

Thử hỏi, ở Việt Nam có bao nhiêu con người, con vật, đồ vật được mang giá trị đặc biệt về văn hóa, tâm linh, khoa học như ông Dương Trung Quốc nói? Vậy đến bao giờ thì “cần thiết” để đưa những giá trị đặc biệt như vậy vào danh mục “bảo vật quốc gia”?

GS Ngô Đức Thịnh, Ủy viên Hội đồng Di sản quốc gia nói: Làm gì có chuyện vua Lê Lợi đi trên hồ Hoàn Kiếm. Đấy chỉ là huyền thoại. Đồng nhất huyền thoại với lịch sử là sai. Tất nhiên huyền thoại mượn một số tình tiết trong lịch sử nhưng nó vẫn không phải lịch sử.

Xin hỏi, truyền thuyết Hồng Bàng, Lạc Long Quân, liên quan đến chuyện tiên rồng phối ngẫu đẻ ra trăm trứng, để bây giờ người Việt tự hào xưng mình là con Lạc, cháu Hồng, với ngót nghét 4.000 lịch sử, thì có gì không phải lịch sử như ông Ngô Đức Thịnh nói hay không? Chẳng lẽ cùng là những giá trị tinh túy, sống động của truyền thuyết dân gian như nhau, nhưng cũng có phân biệt đối xử?

GS Trần Lâm Biền thì cho rằng: Cũng phải nhìn lại nguồn gốc văn hóa của rùa. Rùa hay con giải và rắn là thủy quái gây lũ lụt…Có một truyền thuyết ở vùng Chèm, Hà Nội. Theo đó, người giữ đê trên đó đã phải đi bắt con giải – vốn thường xuyên phá đê. Cụ thò tay xuống khuấy nước rồi sau đó chặt nó làm ba. Dấu tích của ba phần con giải đó giờ là ba cái gò xung quanh. Tích truyện về con rùa – con giải là như thế.

Rồi GS Trần Lâm Biền còn tiện thể “sáng tác” luôn cả truyền thuyết: Rùa (giải) và rắn gây lũ lụt. Cho nên cụ Lê Lợi mới dùng kiếm – biểu tượng của sấm chớp ném xuống, chém xuống. Như thế có nghĩa là để chống lầy chống lụt. Từ ý nghĩa đó nên mới có tích truyện trả kiếm cho rùa….

Xin hỏi các nhà khoa học, rùa và rắn có phải là loài thủy quái gây ra lũ lụt không? Tại sao GS Biền lại “ngây thơ” đến mức dùng một truyền thuyết để phủ nhận một truyền thuyết. Tiếc thay, từ phát biểu này của GS Trần Lâm Biền, cũng như qua câu ca dao “Tiếc thay thân phận con rùa/ Lên đình cõng hạc xuống chùa đội bia” mà một số người nghiễm nhiên… kết tội rùa là một con vật biểu trưng cho sự phá hoại, lũ lụt, phải lên chùa đội bia để chuộc lấy tội lỗi…

Rùa Hồ Gươm, Quốc Bảo, Hồ Gươm, Hà Đình Đức , du lịch VN
Cụ Rùa Hồ Gươm. Ảnh: VNE

Rùa là loài vật thiêng nằm trong hệ thống tứ linh (long, lân, quy, phụng). Cũng chẳng khó khăn gì để tìm hiểu giá trị văn hóa và tâm linh của loài rùa ở một số quốc gia châu Á. Rùa biểu tượng cho sự hài hòa, trường cửu, bụng rùa vuông phẳng tượng trưng cho đất, mai rùa tròn cong tượng trưng cho trời. Bản thân rùa cũng là loài có tuổi thọ cao vào bậc nhất trong các loài động vật, và chẳng phải ngẫu nhiên mà người Việt lại có thói quen gọi Rùa Hồ Gươm bằng “cụ”.

Tại sao người ta không đặt ra câu hỏi, vì sao dân gian (kể cả các vị mưu thần) thời xưa không bịa ra truyền thuyết “thần Kim Quy” hay “truyền thuyết Hồ Gươm” bằng những con vật thiêng khác mà cứ phải gắn với con rùa? Trong tâm thức dân gian, sự xuất hiện của rùa ít nhiều có tính “điềm báo”, và cho đến tận hôm nay, vẫn có người liên hệ đến các sự kiện rùa nổi để tiên đoán những điều lành dữ…

Do đó, cần phải nhìn cụ Rùa Hồ Gươm dưới góc độ văn hóa, tín ngưỡng tâm linh dân gian, để tìm ra những mô-típ chung quanh những sự kiện lịch sử của nó. Như vậy mới hiểu vì sao những “mưu thần” xưa phải tranh thủ hình ảnh Rùa Hồ Gươm, thêu dệt những câu chuyện ly kỳ để tạo hiệu ứng dư luận.

Nếu chọn một loài vật khác, tác dụng của dư luận sẽ như thế nào? Chắc chắn, những người giỏi về thuật thế “tung tin đồn” (dù được xem là “yếm trá” trong binh gia), cũng không dại gì đi chọn một con vật không có uy linh gì trong dân gian để mà thổi lên thành câu chuyện đậm chất huyền thoại như vậy.

Bụt chùa nhà không thiêng?

Bây giờ thì sao, ngay cả một nhân vật hư cấu trong tiểu thuyết như ông già Noel còn được không ít người biến thành biểu tượng trong mỗi dịp Giáng sinh, vậy mà ít ai quan tâm đến cái ảo nghiễm nhiên được “hóa thật” ấy. Trong khi đó, Rùa Hồ Gươm gắn với những truyền thuyết tốt đẹp, thì chúng ta lại máy móc đòi hỏi phải là “hiện thực” cân, đong, đo, đếm được. Tại sao chúng ta cứ phải thực dụng với cái đẹp, cái thiêng như thế? Tại sao chuyện gì cũng đổ hết cho vài từ “mê tín dị đoan” là coi như xong chuyện?

Những cách nhìn chưa toàn diện về văn hóa, đặc biệt là văn hóa dân gian, đang chỉ ra một sự thiếu tự tin trong lĩnh vực văn hóa, nên một số người Việt hiện nay sợ dư luận, sợ tất cả những thứ liên quan đến bình chọn “bảo vật”, hay “quốc hồn quốc túy” cho đất nước mình. Vì thế, có những giá trị văn hóa ít nhiều mang tính chất nội sinh thì bị phủi đi, trong khi vay mượn đủ trò từ bên ngoài, thì lại chẳng ý thức hết được về nó. Chẳng phải Bụt chùa nhà không thiêng đang là một nghịch lý trong đời sống ứng xử văn hóa hiện nay?

Tuy nhiên, sự thiếu tự tin trong lĩnh vực văn hóa còn là hệ quả của những đứt gãy văn hóa, mà sự đổ vỡ hôm nay là một phần của hành vi chối bỏ quá khứ. Thật trớ trêu, thay vì sửa chữa và làm thăng hoa nó ở lĩnh vực văn hóa, tâm linh, thì người ta lại dùng lý luận hiện thực để phủ bác ngay cả những huyền thoại ít nhiều gắn bó với lịch sử dân tộc.

Mỗi lần cụ Rùa Hồ Gươm nổi lên, cụ muốn “đòi lại” chúng ta điều gì? Có người bảo chẳng gắn với một điềm gì cả, chỉ là do môi trường nước bị ô nhiễm mà thôi. Ô hay, một cái hồ trong vắt thiêng liêng, gắn với biết bao tình cảm của người Việt, mà còn để cho ô nhiễm đến mức cụ Rùa không thể thở nổi, thì những thứ cha chung không ai khóc, những thứ thuộc về thiên nhiên kia, người ta không thẳng tay tàn phá, không gây ô nhiễm mới là lạ.

Chính bởi cứ nhìn “một mặt vấn đề” như thế, nên dễ hiểu vì sao nhiều giá trị văn hóa, tâm linh khó có thể cất cánh bay bổng được. Trong khi huyền thoại truyền thuyết vốn là một phần sống động thể hiện ước mơ và khát vọng của con người. Ước gì, mỗi khi động đất, mưa đá, lũ lụt, hạn hán, rùa nổi…, được hiểu như “điềm trời”, những người quản trị quốc gia lại thức tỉnh sửa mình, nghĩ nhiều hơn đến những việc hệ trọng của dân của nước, giảm bớt luật hình, cắt giảm thuế khóa, gìn giữ biên cương…

Người viết cho rằng quan niệm thế nào là “bảo vật quốc gia” cũng có tính lịch sử, bởi rõ ràng những đồ vật, con con vật ngày xưa mà chúng ta phải tiến cống cho phương Bắc đều là những thứ quý hiếm thuộc vào hàng quốc bảo, mà bản thân những kẻ xâm lược đó cũng đã “ngửi” ra để yêu sách, những vật càng gắn với huyền thoại càng gây hứng thú.

Quan niệm về vật báu quốc gia cũng dần thay đổi theo thời gian, nhưng đối với những loài vật khoác áo huyền thoại như rùa, dù chúng ta không bày ra cái chuyện tôn vinh là “bảo vật”, thì nghiễm nhiên cụ Rùa vẫn là một trong những loài vật linh thiêng trong văn hóa, tín ngưỡng truyền thống. Bây giờ chúng ta có tôn vinh cụ Rùa là bảo vật quốc gia, thì cũng chỉ là tái lập sự khẳng định đó trong tâm thức của người Việt từ nghìn đời nay mà thôi.

Hơn nữa, truyền thuyết rùa Hồ Gươm dâng kiếm cho Lê Lợi đánh tan giặc Minh xâm lược, đằng sau tên gọi Hoàn Kiếm còn là chuyện đề cao chữ tín, mượn thì phải trả. Hay ý nghĩa thời bình dùng văn, thời loạn dụng võ. Đó là chưa kể đến những ẩn ý khác, khi rùa phải ngoi lên nhắc chuyện trả gươm, thì phải biết gươm ấy chỉ nên dùng để đánh giặc ngoại xâm, chứ không nên dùng để thanh trừng nhau. Có gươm thiêng trong tay mà dùng sai mục đích, thì cũng đáng đòi lại lắm.

Bài thơ mà Đinh Liệt, một vị công thần nhà Lê viết ra cũng nói rõ cái ý ấy:Trong thuở hàn vi bừng sáng nghĩa/Hoà bình hạnh phúc dễ mờ nhân?/Cầm cân mà để cân sai lệch/Nát đạo cha con tối nghĩa thần.

Mỗi lần cụ Rùa Hồ Gươm nổi lên, cụ muốn “đòi lại” chúng ta điều gì? Có người bảo chẳng gắn với một điềm gì cả, chỉ là do môi trường nước bị ô nhiễm mà thôi. Ô hay, một cái hồ trong vắt thiêng liêng, gắn với biết bao tình cảm của người Việt, mà còn để cho ô nhiễm đến mức cụ Rùa không thể thở nổi, thì những thứ cha chung không ai khóc, những thứ thuộc về thiên nhiên kia, người ta không thẳng tay tàn phá, không gây ô nhiễm mới là lạ.

Đó chẳng phải là “điềm báo” rằng môi trường mà rùa thần có tuổi thọ lâu dài như thế còn bức bối không chịu nổi, thì con người biết phải sống ra sao với đủ thứ ô nhiễm môi trường và ô nhiễm lương tâm khác?

Thông điệp của cụ Rùa Hồ Gươm, từ quá khứ lịch sử cho đến nay vẫn bàng bạc khắp chốn, khắp nơi, nhưng người hiểu nó để sửa mình, tiếc thay lại ngày càng ít và hiếm!

Thái Nam Thắng
Nguồn: http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/116984/chua-la-quoc-bao–cu-rua-da-lai–noi-len-.html

15/04/2013 02:00 GMT+7

 

TT – Nhiều bạn đọc quan tâm đến việc sở hữu xe hợp pháp để tránh bị phạt nặng theo nghị định 71/2012 của Chính phủ. Vậy làm hợp đồng, thủ tục sang tên xe ra sao?

 

>> Không phạt người đi xe mượn

*  Ông Nguyễn Quang Thắng (phó chủ tịch thường trực Hội Công chứng TP.HCM):

– Theo Luật công chứng, các tổ chức hành nghề công chứng có thẩm quyền công chứng hợp đồng mua bán xe. Tại TP.HCM, người mua, bán xe có thể đến bất cứ tổ chức hành nghề công chứng nào (phòng công chứng nhà nước, văn phòng công chứng tư nhân) để yêu cầu chứng hợp đồng.

Tất cả tổ chức hành nghề công chứng hiện đã có sẵn biểu mẫu hợp đồng mua bán xe nên khách hàng chỉ cần điền thông tin, ký hợp đồng, mất 15-30 phút. Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, tài sản chung trong hôn nhân thuộc sở hữu của cả hai vợ chồng nên bên bán phải có cả vợ, chồng cùng ký tên trong hợp đồng bán xe, nếu độc thân phải có giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

Đối với xe máy, để tạo thuận lợi cho khách hàng, tổ chức công chứng cũng có thể để bên bán ký cam kết chịu trách nhiệm về việc đơn phương ký hợp đồng bán xe của mình. Riêng đối với ôtô, do giá trị xe lớn nên các tổ chức hành nghề công chứng đều buộc bên bán phải có đủ vợ chồng hoặc có xác nhận tình trạng hôn nhân.

Bên bán phải xuất trình giấy đăng ký xe, chứng minh nhân dân phù hợp với thông tin trên giấy đăng ký xe và hộ khẩu. Bên mua cũng phải xuất trình chứng minh nhân dân và hộ khẩu để xác định thông tin.

* Trường hợp xe đăng ký tại tỉnh thành khác, người mua sinh sống tại TP.HCM có thể đến các phòng công chứng tại TP để chứng hợp đồng không?

– Vì lý do an toàn pháp lý, các phòng công chứng, văn phòng công chứng tại TP không nhận chứng hợp đồng mua bán xe đăng ký tại tỉnh thành khác do không thể biết được xe đó có bị ngăn chặn tại địa phương khác không. Người mua xe đăng ký tại tỉnh thành khác nên đến tổ chức hành nghề công chứng tại tỉnh thành đó để ký hợp đồng mua bán xe nhằm tránh rủi ro.

* Mua bán xe phải chịu mức phí công chứng như thế nào, thưa ông?

– Theo quy định, phí công chứng căn cứ trên giá trị xe mua bán. Xe máy trị giá dưới 50 triệu đồng phí công chứng là 50.000 đồng (cộng thêm tiền đánh máy hợp đồng, dịch vụ công chứng, hiện các tổ chức hành nghề công chứng thường thu khoảng 100.000 đồng/hợp đồng). Nếu xe có giá 50-100 triệu đồng thì phí công chứng là 100.000 đồng, xe có giá từ 100 triệu đến 1 tỉ đồng thì thu phí 0,1% trị giá xe; hợp đồng mua bán xe trị giá từ 1-3 tỉ đồng thì phí là 1 triệu đồng + 0,06% của phần giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch vượt quá 1 tỉ đồng…

* Thượng tá Trần Thanh Trà (phó Phòng cảnh sát giao thông đường bộ đường sắt (PC67) Công an TP.HCM):

 

Ảnh: Sơn Bình

– Theo quy định tại thông tư số 36/2010 của Bộ Công an về đăng ký sang tên xe trong cùng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, người dân nên đến nơi đăng ký xe gần nhất, mang theo một số giấy tờ quan trọng như chứng minh nhân dân (hoặc sổ hộ khẩu), giấy đăng ký xe, giấy chứng nhận đăng ký xe, các chứng từ chuyển nhượng như quyết định bán (cho, tặng). Khi đăng ký sang tên thì xe giữ nguyên biển số cũ và chủ xe mới được cấp giấy chứng nhận đăng ký xe.

 

* Trường hợp người dân mua lại xe máy nhưng không biết chủ sở hữu xe do xe đã được mua bán qua nhiều đời chủ thì làm sao để sở hữu xe hợp pháp?

– Theo quy định, người dân không sở hữu hợp pháp xe có thể bị xử phạt khi bị cơ quan chức năng kiểm tra, phát hiện nên phải tìm được chủ xe trước đó để làm thủ tục đăng ký sang tên. Trường hợp do mua bán qua nhiều người, mà người chủ sở hữu xe đã qua đời, thì người đang sử dụng xe phải tìm được người thừa kế tài sản của chủ sở hữu xe (có thể là vợ, con của người này…) để làm thủ tục đăng ký sang tên.

* Người dân sống ở quận này nhưng mua xe ở quận khác hoặc sống ở tỉnh này nhưng mua xe ở tỉnh khác thì thủ tục đăng ký sang tên như thế nào?

– Thủ tục sang tên đã được quy định cụ thể như đã nêu trên, tuy nhiên trường hợp sang tên xe máy khác quận (huyện) trong cùng thành phố (tỉnh) thì đến cơ quan đăng ký xe nơi chủ xe cư trú hoặc có trụ sở để làm thủ tục sang tên. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày làm giấy tờ mua bán (cho, tặng, thừa kế), người mua hoặc bán xe phải đến cơ quan đăng ký làm thủ tục sang tên, di chuyển, thay đổi đăng ký xe. Nghiêm cấm mọi hành vi giả mạo hồ sơ, đục xóa số máy, số khung để đăng ký.

Cũng theo thông tư 36/2010 của Bộ Công an, đối với trường hợp khác tỉnh thành, người mua hoặc người bán xe phải xuất trình giấy tờ quy định như thủ tục đăng ký sang tên (không phải đưa xe đến kiểm tra), giấy chứng nhận đăng ký xe và biển số xe, hai giấy khai sang tên di chuyển, chứng từ chuyển nhượng xe theo quy định. Trường hợp di chuyển nguyên chủ đi tỉnh khác, chủ xe phải có quyết định điều động công tác hoặc sổ hộ khẩu thay cho chứng từ chuyển nhượng xe.

CHI MAI – SƠN BÌNH thực hiện

 

Mức thu phí đăng ký và cấp biển số xe

– Trường hợp cấp mới giấy đăng ký kèm theo biển số đối với ôtô con dưới 10 chỗ ngồi, không hoạt động kinh doanh vận tải hành khách thì mức thu phí từ 2-20 triệu đồng cho khu vực 1 (TP.HCM và Hà Nội); sơmi rơmoóc đăng ký rời hoặc rơmoóc thì mức phí từ 100.000-200.000 đồng. Riêng xe máy tính theo lệ phí trước bạ, nếu trị giá xe từ 15 triệu đồng trở xuống mức thu 500.000-1 triệu đồng; trị giá xe trên 15 triệu đồng đến 40 triệu đồng, thu phí 1-2 triệu đồng; trị giá xe trên 40 triệu đồng, thu phí 2-4 triệu đồng. Trường hợp cấp lại hoặc đổi giấy đăng ký xe kèm theo biển số đối với các loại xe tương tự như trên, mức thu phí thấp nhất là 30.000 đồng và cao nhất là 150.000 đồng.

S.BÌNH

[http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/520633/Thu-tuc-sang-ten-xe-ra-sao.html]

CHÍNH PHỦ
——–

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————-

Số: 71/2012/NĐ-CP

Hà Nội, ngày 19 tháng 09 năm 2012

 

NGHỊ ĐỊNH

SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 34/2010/NĐ-CP NGÀY 02 THÁNG 4 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật giao thông đường bộ ngày 13 tháng 11 năm 2008;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải;

Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ,

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ cụ thể như sau:

1. Sửa đổi, bổ sung Điều 8 như sau:

“Điều 8. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe ô tô và các loại xe tương tự ô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm a, Điểm h, Điểm i, Điểm k Khoản 2; Điểm a, Điểm đ, Điểm e Khoản 3; Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm i, Điểm k Khoản 4; Điểm a, Điểm c, Điểm d Khoản 5; Điểm a Khoản 6; Điểm a Khoản 7 Điều này;

b) Chuyển hướng không nhường quyền đi trước cho: Người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ; xe thô sơ đang đi trên phần đường dành cho xe thô sơ;

c) Chuyển hướng không nhường đường cho: Các xe đi ngược chiều; người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật đang qua đường tại nơi không có vạch kẻ đường cho người đi bộ;

d) Khi dừng xe, đỗ xe không có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết;

đ) Khi đỗ xe chiếm một phần đường xe chạy không đặt ngay báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe theo quy định, trừ trường hợp đỗ xe tại vị trí quy định được phép đỗ xe;

e) Không gắn biển báo hiệu ở phía trước xe kéo, phía sau xe được kéo; không nối chắc chắn, an toàn giữa xe kéo và xe được kéo khi kéo nhau; xe kéo rơ moóc không có biển báo hiệu theo quy định;

g) Không giữ khoảng cách an toàn để xảy ra va chạm với xe chạy liền trước hoặc không giữ khoảng cách theo quy định của biển báo hiệu “Cự ly tối thiểu giữa hai xe”, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm i Khoản 4 Điều này;

h) Không tuân thủ các quy định về nhường đường tại nơi đường bộ giao nhau, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm d, Điểm đ Khoản 2 Điều này;

i) Bấm còi hoặc gây ồn ào, tiếng động lớn làm ảnh hưởng đến sự yên tĩnh trong đô thị và khu đông dân cư trong thời gian từ 22 giờ ngày hôm trước đến 5 giờ ngày hôm sau, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định;

k) Người điều khiển, người ngồi hàng ghế phía trước trong xe ô tô có trang bị dây an toàn mà không thắt dây an toàn khi xe đang chạy;

l) Chở người ngồi hàng ghế phía trước trong xe ô tô có trang bị dây an toàn mà không thắt dây an toàn khi xe đang chạy.

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Chuyển làn đường không đúng nơi cho phép hoặc không có tín hiệu báo trước, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm i Khoản 4 Điều này;

b) Điều khiển xe chạy tốc độ thấp mà không đi về bên phải phần đường xe chạy;

c) Để người ngồi trên buồng lái quá số lượng quy định;

d) Không giảm tốc độ và nhường đường khi điều khiển xe chạy từ trong ngõ, đường nhánh ra đường chính;

đ) Không nhường đường cho xe xin vượt khi có đủ điều kiện an toàn; không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên, đường chính từ bất kỳ hướng nào tới tại nơi đường giao nhau;

e) Xe được quyền ưu tiên khi đi làm nhiệm vụ không có tín hiệu còi, cờ, đèn theo đúng quy định;

g) Dừng xe, đỗ xe trên phần đường xe chạy ở đoạn đường ngoài đô thị nơi có lề đường rộng; dừng xe, đỗ xe không sát mép đường phía bên phải theo chiều đi ở nơi đường có lề đường hẹp hoặc không có lề đường; đỗ xe trên dốc không chèn bánh; mở cửa xe, để cửa xe mở không bảo đảm an toàn;

h) Dừng xe không sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi hoặc bánh xe gần nhất cách lề đường, hè phố quá 0,25 mét; dừng xe trên đường xe điện, đường dành riêng cho xe buýt; dừng xe trên miệng cống thoát nước, miệng hầm của đường điện thoại, điện cao thế, chỗ dành riêng cho xe chữa cháy lấy nước, nơi có biển cấm dừng; rời vị trí lái, tắt máy khi dừng xe; dừng xe, đỗ xe không đúng vị trí quy định ở những đoạn có bố trí nơi dừng xe, đỗ xe; dừng xe, đỗ xe trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường;

i) Quay đầu xe trái quy định trong khu dân cư;

k) Quay đầu xe ở phần đường dành cho người đi bộ qua đường, trên cầu, đầu cầu, gầm cầu vượt, ngầm, đường hẹp, đường dốc, đoạn đường cong tầm nhìn bị che khuất, nơi có biển báo “cấm quay đầu xe”;

l) Lùi xe ở đường một chiều, ở khu vực cấm dừng, trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường, nơi đường bộ giao nhau, nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt, nơi tầm nhìn bị che khuất; lùi xe không quan sát hoặc không có tín hiệu báo trước.

3. Phạt tiền từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 05 km/h đến dưới 10 km/h;

b) Bấm còi, rú ga liên tục; bấm còi hơi, sử dụng đèn chiếu xa trong đô thị, khu đông dân cư, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định;

c) Chuyển hướng không giảm tốc độ hoặc không có tín hiệu báo hướng rẽ;

d) Quay đầu xe tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; không tuân thủ các quy định về dừng xe, đỗ xe tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; dừng xe, đỗ xe trong phạm vi an toàn của đường sắt;

đ) Dừng xe, đỗ xe tại vị trí: Bên trái đường một chiều; trên đoạn đường cong hoặc gần đầu dốc nơi tầm nhìn bị che khuất; trên cầu, gầm cầu vượt, song song với một xe khác đang dừng, đỗ; nơi đường bộ giao nhau hoặc trong phạm vi 05 mét tính từ mép đường giao nhau; điểm dừng đón, trả khách của xe buýt; trước cổng hoặc trong phạm vi 05 mét hai bên cổng trụ sở cơ quan, tổ chức có bố trí đường cho xe ô tô ra vào; nơi phần đường có bề rộng chỉ đủ cho một làn xe; che khuất biển báo hiệu đường bộ;

e) Đỗ xe không sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi hoặc bánh xe gần nhất cách lề đường, hè phố quá 0,25 mét; đỗ xe trên đường xe điện, đường dành riêng cho xe buýt; đỗ xe trên miệng cống thoát nước, miệng hầm của đường điện thoại, điện cao thế, chỗ dành riêng cho xe chữa cháy lấy nước; đỗ xe nơi có biển cấm dừng hoặc biển cấm đỗ; đỗ, để xe ở hè phố trái quy định của pháp luật;

g) Không sử dụng đủ đèn chiếu sáng về ban đêm hoặc khi sương mù, thời tiết xấu hạn chế tầm nhìn; sử dụng đèn chiếu xa khi tránh nhau;

h) Xe không được quyền ưu tiên sử dụng tín hiệu còi, cờ, đèn của xe ưu tiên;

i) Xe ô tô kéo theo từ hai xe ô tô khác trở lên; xe ô tô đẩy xe khác; xe ô tô kéo xe thô sơ, mô tô, xe gắn máy hoặc kéo lê vật trên đường; xe kéo rơ moóc, sơ mi rơ moóc kéo theo rơ moóc hoặc xe khác;

k) Chở người trên xe được kéo, trừ người điều khiển.

4. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Chạy trong hầm đường bộ không sử dụng đèn chiếu sáng gần; lùi xe, quay đầu xe trong hầm đường bộ; dừng xe, đỗ xe, vượt xe trong hầm đường bộ không đúng nơi quy định;

b) Đi vào đường cấm, khu vực cấm, đi ngược chiều của đường một chiều; trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp theo quy định;

c) Điều khiển xe không đi bên phải theo chiều đi của mình; đi không đúng phần đường hoặc làn đường quy định;

d) Điều khiển xe chạy dưới tốc độ tối thiểu trên những đoạn đường bộ có quy định tốc độ tối thiểu cho phép;

đ) Dừng xe, đỗ xe, quay đầu xe trái quy định gây ùn tắc giao thông;

e) Dừng xe, đỗ xe, mở cửa xe không bảo đảm an toàn gây tai nạn;

g) Không nhường đường hoặc gây cản trở xe ưu tiên;

h) Không thực hiện biện pháp bảo đảm an toàn theo quy định khi xe ô tô bị hư hỏng ngay tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt;

i) Không tuân thủ các quy định khi vào hoặc ra đường cao tốc; điều khiển xe chạy ở làn dừng xe khẩn cấp hoặc phần lề đường của đường cao tốc; dừng xe, đỗ xe trên phần đường xe chạy trên đường cao tốc; quay đầu xe, lùi xe trên đường cao tốc; chuyển làn đường không đúng nơi cho phép hoặc không có tín hiệu báo trước khi chạy trên đường cao tốc; không tuân thủ quy định ghi trên biển báo hiệu về khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước khi chạy trên đường cao tốc;

k) Không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông.

5. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 10 km/h đến 20 km/h;

b) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa tới mức vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 1, Điểm a Khoản 8 Điều này;

c) Vượt trong các trường hợp cấm vượt; vượt bên phải xe khác trong trường hợp không được phép; không có báo hiệu trước khi vượt;

d) Tránh xe không đúng quy định; không nhường đường cho xe đi ngược chiều theo quy định tại nơi đường hẹp, đường dốc, nơi có chướng ngại vật;

đ) Không tuân thủ hướng dẫn của người điều khiển giao thông khi qua phà, cầu phao hoặc nơi ùn tắc giao thông; không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển giao thông hoặc người kiểm soát giao thông.

6. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 20 km/h đến 35 km/h;

b) Gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường; bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn.

7. Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 35 km/h; điều khiển xe đi ngược chiều trên đường cao tốc, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp theo quy định;

b) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở;

c) Điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy;

d) Điều khiển xe lạng lách, đánh võng; chạy quá tốc độ đuổi nhau trên đường bộ;

đ) Không chú ý quan sát, điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định gây tai nạn giao thông; tránh, vượt không đúng; quy định gây tai nạn giao thông hoặc không giữ khoảng cách an toàn giữa hai xe theo quy định gây tai nạn giao thông.

8. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở;

b) Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người kiểm soát giao thông hoặc người thi hành công vụ.

9. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm d Khoản 7 Điều này mà gây tai nạn hoặc không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của người thi hành công vụ hoặc chống người thi hành công vụ.

10. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:

a) Vi phạm Điểm h Khoản 3 Điều này bị tịch thu còi, cờ, đèn sử dụng trái quy định;

b) Vi phạm Điểm h Khoản 3; Điểm b, Điểm c, Điểm i, Điểm k Khoản 4; Điểm b Khoản 5; Điểm a Khoản 6 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

c) Vi phạm Điểm i Khoản 3; Điểm a, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 4; Điểm c, Điểm đ Khoản 5; Điểm b Khoản 6; Điểm a, Điểm b, Điểm d, Điểm đ Khoản 7; Khoản 8 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày. Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều này mà gây tai nạn giao thông nhưng chưa tới mức nghiêm trọng thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày: Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 1; Điểm a, Điểm b, Điểm d, Điểm g, Điểm h, Điểm i, Điểm k, Điểm l Khoản 2; Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 3; Điểm b, Điểm c, Điểm i, Điểm k Khoản 4; Điểm b Khoản 5;

d) Vi phạm Điểm c Khoản 7, Khoản 9 Điều này hoặc tái phạm Điểm d Khoản 7 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn. Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều này mà gây tai nạn giao thông từ mức nghiêm trọng trở lên thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn: Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 1; Điểm a, Điểm b, Điểm d, Điểm g, Điểm h, Điểm i, Điểm k, Điểm l Khoản 2; Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h, Điểm i Khoản 3; Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm e, Điểm h, Điểm i, Điểm k Khoản 4; Điểm b, Điểm đ Khoản 5; Điểm b, Điểm đ Khoản 7; Khoản 8.”

2. Sửa đổi, bổ sung Điều 9 như sau:

“Điều 9. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ

1. Phạt tiền từ 60.000 đồng đến 80.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm a, Điểm đ, Điểm h Khoản 2; Điểm c, Điểm đ, Điểm h Khoản 3; Điểm c, Điểm d, Điểm e, Điểm g, Điểm i Khoản 4; Điểm a, Điểm c, Điểm d Khoản 5; Điểm đ Khoản 6; Điểm d Khoản 7 Điều này;

b) Không có báo hiệu xin vượt trước khi vượt;

c) Không giữ khoảng cách an toàn để xảy ra va chạm với xe chạy liền trước hoặc không giữ khoảng cách theo quy định của biển báo hiệu “Cự ly tối thiểu giữa hai xe”;

đ) Chuyển hướng không nhường quyền đi trước cho: Người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ; xe thô sơ đang đi trên phần đường dành cho xe thô sơ;

đ) Chuyển hướng không nhường đường cho: Các xe đi ngược chiều; người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật đang qua đường tại nơi không có vạch kẻ đường cho người đi bộ;

e) Lùi xe mô tô ba bánh không quan sát hoặc không có tín hiệu báo trước;

g) Dùng đèn chiếu xa khi tránh nhau;

h) Người đang điều khiển xe sử dụng ô, điện thoại di động, thiết bị âm thanh, trừ thiết bị trợ thính; người ngồi trên xe sử dụng ô.

2. Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Chuyển làn đường không đúng nơi được phép hoặc không có tín hiệu báo trước;

b) Điều khiển xe chạy dàn hàng ngang từ 3 (ba) xe trở lên;

c) Không sử dụng đèn chiếu sáng về ban đêm hoặc khi sương mù, thời tiết xấu hạn chế tầm nhìn;

d) Không nhường đường cho xe xin vượt khi có đủ điều kiện an toàn; không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên, đường chính từ bất kỳ hướng nào tới tại nơi đường giao nhau;

đ) Tránh xe không đúng quy định; không nhường đường cho xe đi ngược chiều theo quy định tại nơi đường hẹp, đường dốc, nơi có chướng ngại vật;

e) Bấm còi trong thời gian từ 22 giờ ngày hôm trước đến 5 giờ ngày hôm sau, sử dụng đèn chiếu xa trong đô thị, khu đông dân cư, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định;

g) Xe được quyền ưu tiên khi đi làm nhiệm vụ không có tín hiệu còi, cờ, đèn theo đúng quy định;

h) Quay đầu xe tại nơi cấm quay đầu xe.

3. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Dừng xe, đỗ xe trên phần đường xe chạy ở đoạn đường ngoài đô thị nơi có lề đường;

b) Không giảm tốc độ hoặc không nhường đường khi điều khiển xe chạy từ trong ngõ, đường nhánh ra đường chính;

c) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 05 km/h đến dưới 10 km/h;

d) Điều khiển xe chạy tốc độ thấp mà không đi bên phải phần đường xe chạy gây cản trở giao thông;

đ) Dừng xe, đỗ xe ở lòng đường đô thị gây cản trở giao thông; tụ tập từ 3 (ba) xe trở lên ở lòng đường, trên cầu, trong hầm đường bộ; đỗ, để xe ở lòng đường đô thị, hè phố trái quy định của pháp luật;

e) Bấm còi, rú ga liên tục trong đô thị, khu đông dân cư, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định;

g) Xe không được quyền ưu tiên sử dụng tín hiệu còi, cờ, đèn của xe ưu tiên;

h) Không thực hiện đúng các quy định về dừng xe, đỗ xe tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; dừng xe, đỗ xe trong phạm vi an toàn của đường sắt; dừng xe, đỗ xe trên đường xe điện, điểm dừng đón trả khách của xe buýt, trên cầu, nơi đường bộ giao nhau, trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường; dừng xe nơi có biển cấm dừng; đỗ xe tại nơi có biển cấm dừng hoặc biển cấm đỗ;

i) Người điều khiển, người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm hoặc đội mũ bảo hiểm không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ;

k) Chở người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm hoặc đội mũ bảo hiểm không cài quai đúng quy cách, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 06 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật;

l) Chở theo 2 (hai) người trên xe, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 14 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật.

4. Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Chuyển hướng không giảm tốc độ hoặc không có tín hiệu báo hướng rẽ;

b) Chở theo từ 3 (ba) người trở lên trên xe;

c) Không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông;

d) Điều khiển xe chạy dưới tốc độ tối thiểu trên những đoạn đường bộ có quy định tốc độ tối thiểu cho phép;

đ) Điều khiển xe thành đoàn gây cản trở giao thông;

e) Điều khiển xe đi vào đường cao tốc, trừ xe phục vụ việc quản lý, bảo trì đường cao tốc;

g) Điều khiển xe không đi bên phải theo chiều đi của mình; đi không đúng phần đường, làn đường quy định hoặc điều khiển xe đi trên hè phố;

h) Vượt bên phải trong các trường hợp không được phép;

i) Đi vào đường cấm, khu vực cấm; đi ngược chiều của đường một chiều, trừ trường hợp xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp theo quy định;

k) Người điều khiển xe hoặc người ngồi trên xe bám, kéo, đẩy xe khác, vật khác, dẫn dắt súc vật, mang vác vật cồng kềnh; người ngồi trên xe đứng trên yên, giá đèo hàng hoặc ngồi trên tay lái; xếp hàng hóa trên xe vượt quá giới hạn quy định; điều khiển xe kéo theo xe khác, vật khác;

l) Chở hàng vượt trọng tải thiết kế được ghi trong Giấy đăng ký xe đối với loại xe có quy định về trọng tải thiết kế.

5. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 10 km/h đến 20 km/h;

b) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở;

c) Vượt xe trong những trường hợp cấm vượt, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm h Khoản 4 Điều này;

d) Chạy trong hầm đường bộ không sử dụng đèn chiếu sáng gần; dừng xe, đỗ xe, vượt xe trong hầm đường bộ không đúng nơi quy định; quay đầu xe trong hầm đường bộ;

đ) Không tuân thủ hướng dẫn của người điều khiển giao thông khi qua phà, cầu phao hoặc nơi ùn tắc giao thông; không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển giao thông hoặc người kiểm soát giao thông; không nhường đường hoặc gây cản trở xe ưu tiên.

6. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Sử dụng chân chống hoặc vật khác quệt xuống đường khi xe đang chạy;

b) Điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy;

c) Không chú ý quan sát, điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định gây tai nạn giao thông; vượt xe hoặc chuyển làn đường trái quy định gây tai nạn giao thông;

d) Gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn;

đ) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 20 km/h;

e) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở;

g) Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người kiểm soát giao thông hoặc người thi hành công vụ.

7. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Buông cả hai tay khi đang điều khiển xe; dùng chân điều khiển xe; ngồi về một bên điều khiển xe; nằm trên yên xe điều khiển xe; thay người điều khiển khi xe đang chạy;

b) Điều khiển xe lạng lách hoặc đánh võng trên đường bộ trong, ngoài đô thị;

c) Điều khiển xe chạy bằng một bánh đối với xe hai bánh, chạy bằng hai bánh đối với xe ba bánh;

d) Điều khiển xe thành nhóm từ 2 (hai) xe trở lên chạy quá tốc độ quy định.

8. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 14.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm Khoản 7 Điều này mà gây tai nạn hoặc không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của người thi hành công vụ hoặc chống người thi hành công vụ.

9. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:

a) Vi phạm Điểm g Khoản 3 Điều này bị tịch thu còi, cờ, đèn sử dụng trái quy định;

b) Vi phạm Điểm b, Điểm c, Điểm i Khoản 4; Điểm b Khoản 5; Điểm đ Khoản 6 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

c) Vi phạm Điểm đ Khoản 5; Điểm a, Điểm c, Điểm đ, Điểm e, Điểm g Khoản 6; Khoản 7 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày; tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần Khoản 7 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn, tịch thu xe. Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều này mà gây tai nạn giao thông nhưng chưa tới mức nghiêm trọng thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày: Điểm a, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 1; Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm h Khoản 2; Điểm a, Điểm b, Điểm đ, Điểm g, Điểm h Khoản 3; Điểm a; Điểm b, Điểm c, Điểm e, Điểm g, Điểm i, Điểm k Khoản 4; Điểm b, Điểm đ Khoản 5;

d) Vi phạm Điểm b Khoản 6, Khoản 8 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn. Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều này mà gây tai nạn giao thông từ mức nghiêm trọng trở lên thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn: Điểm a, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 1; Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm h Khoản 2; Điểm a, Điểm b, Điểm đ, Điểm g, Điểm h Khoản 3; Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm e, Điểm g, Điểm i, Điểm k Khoản 4; Điểm b, Điểm d, Điểm đ Khoản 5; Điểm a, Điểm c, Điểm e, Điểm g Khoản 6.”

3. Sửa đổi, bổ sung Điều 15 như sau:

“Điều 15. Xử phạt cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm về sử dụng, khai thác trong phạm vi đất dành cho đường bộ

1. Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với người bán hàng rong hoặc bán hàng hóa nhỏ lẻ khác trên lòng đường đô thị, trên vỉa hè các tuyến phố có quy định cấm bán hàng, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm c Khoản 3, Điểm e Khoản 4 Điều này;

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Sử dụng, khai thác tạm thời trên đất hành lang an toàn đường bộ vào mục đích canh tác nông nghiệp làm ảnh hưởng đến an toàn công trình và an toàn giao thông;

b) Trồng cây trong phạm vi đất dành cho đường bộ ở đoạn đường ngoài đô thị làm che khuất tầm nhìn của người điều khiển phương tiện giao thông.

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Xây dựng nhà ở trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ ở đoạn đường ngoài đô thị;

b) Dựng lều quán, cổng ra vào, tường rào các loại, công trình tạm thời khác trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm đ Khoản 4, Điểm a Khoản 5 Điều này;

c) Họp chợ, kinh doanh dịch vụ ăn uống, bày, bán hàng hóa, sửa chữa xe, rửa xe, đặt, treo biển hiệu, biển quảng cáo, làm mái che trên lòng đường đô thị, hè phố hoặc thực hiện các hoạt động, dịch vụ khác trái phép trên lòng đường đô thị, hè phố gây cản trở giao thông, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g Khoản 4, Điểm c Khoản 5, Điểm a Khoản 6 Điều này;

d) Chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố dưới 05 m2 làm nơi trông, giữ xe.

4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Đổ, để trái phép vật liệu, chất phế thải trong phạm vi đất dành cho đường bộ ở đoạn đường ngoài đô thị;

b) Tự ý đào, đắp, san, lấp mặt bằng trong hành lang an toàn đường bộ;

c) Tự ý gắn vào công trình báo hiệu đường bộ các nội dung không liên quan tới ý nghĩa, mục đích của công trình đường bộ;

d) Sử dụng trái phép đất của đường bộ hoặc hành lang an toàn đường bộ làm nơi tập kết hoặc trung chuyển hàng hóa, vật tư, vật liệu xây dựng, máy móc, thiết bị, các loại vật dụng khác;

đ) Dựng lều quán, công trình tạm thời khác trái phép trong khu vực đô thị tại hầm đường bộ, cầu vượt, hầm cho người đi bộ;

e) Bày, bán máy móc, thiết bị, vật tư, vật liệu xây dựng hoặc sản xuất, gia công hàng hóa trên lòng đường đô thị, hè phố;

c) Chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố từ 05 m2 đến dưới 10 m2 làm nơi trông, giữ xe.

6. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Xây dựng nhà ở trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ ở đoạn đường trong đô thị;

b) Trồng cây xanh trên đường phố không đúng quy định;

c) Chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố từ 10 m2 đến dưới 20 m2 làm nơi trông, giữ xe.

6. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố từ 20 m2 trở lên làm nơi trông, giữ xe;

b) Dựng biển quảng cáo trên đất hành lang an toàn đường bộ không được cơ quan quản lý đường bộ có thẩm quyền đồng ý bằng văn bản;

c) Mở đường nhánh đấu nối trái phép vào đường chính.

7. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi xây dựng công trình kiên cố khác trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ.

8. Ngoài việc bị phạt tiền, cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm quy định tại các Khoản 2, 3, 4, 5, 6 và Khoản 7 Điều này còn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây: Buộc phải dỡ bỏ các công trình xây dựng, biển quảng cáo, di dời cây trồng trái phép, thu dọn vật liệu, chất phế thải, hàng hóa và khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra.”

4. Sửa đổi, bổ sung Điều 19 như sau:

“Điều 19. Xử phạt người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự ô tô vi phạm quy định về điều kiện của phương tiện khi tham gia giao thông

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với hành vi điều khiển xe không có kính chắn gió hoặc có nhưng vỡ, không có tác dụng (đối với xe có thiết kế lắp kính chắn gió).

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Điều khiển xe không có đủ đèn chiếu sáng, đèn soi biển số đèn báo hãm, đèn tín hiệu, cần gạt nước, gương chiếu hậu, dụng cụ thoát hiểm, thiết bị chữa cháy, đồng hồ báo áp lực hơi, đồng hồ báo tốc độ của xe hoặc có những thiết bị đó nhưng không có tác dụng, không đúng tiêu chuẩn thiết kế (nếu có quy định phải có những thiết bị đó);

b) Điều khiển xe không có còi hoặc có nhưng còi không có tác dụng;

c) Điều khiển xe không có bộ phận giảm thanh hoặc có nhưng không đúng quy chuẩn kỹ thuật.

3. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Điều khiển xe không đủ hệ thống hãm hoặc có nhưng không đúng tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật;

b) Hệ thống chuyển hướng của xe không đúng tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật;

c) Điều khiển xe không gắn đủ biển số hoặc gắn biển số không đúng vị trí; biển số không rõ chữ, số; biển số bị bẻ cong, bị che lấp, bị hỏng;

d) Điều khiển xe không lắp đủ bánh lốp hoặc lắp bánh lốp không đúng kích cỡ hoặc không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật;

đ) Tự ý thay đổi kích thước thành thùng xe; tự ý lắp thêm ghế trên xe vận chuyển khách.

4. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không có Giấy đăng ký xe, đăng ký rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc theo quy định;

b) Không gắn biển số (nếu có quy định phải gắn biển số);

c) Không có Giấy chứng nhận hoặc tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (nếu có quy định phải kiểm định) hoặc có nhưng đã hết hạn (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc);

d) Điều khiển xe lắp đặt, sử dụng còi vượt quá âm lượng theo quy định;

đ) Điều khiển xe lắp thêm đèn chiếu sáng về phía sau xe.

5. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Xe đăng ký tạm hoạt động quá phạm vi, thời hạn cho phép;

b) Điều khiển xe quá niên hạn sử dụng tham gia giao thông (nếu có quy định về niên hạn sử dụng);

c) Điều khiển loại xe tự sản xuất, lắp ráp (bao gồm cả xe công nông thuộc diện bị đình chỉ tham gia giao thông);

d) Điều khiển xe gắn biển số không đúng với Giấy đăng ký xe hoặc biển số không do cơ quan có thẩm quyền cấp;

đ) Sử dụng Sổ chứng nhận kiểm định, Giấy chứng nhận, tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, Giấy đăng ký xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc sử dụng Giấy đăng ký xe không đúng số khung, số máy (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc).

6. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Vi phạm Khoản 1; Khoản 2; Điểm c, Điểm d, Điểm đ Khoản 3 Điều này bị buộc phải lắp đầy đủ hoặc thay thế thiết bị đủ tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật, tháo bỏ những thiết bị lắp thêm không đúng quy định;

b) Vi phạm Điểm a, Điểm b Khoản 3 Điều này buộc phải khôi phục lại tính năng kỹ thuật của thiết bị hoặc thay thế thiết bị đủ tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật; bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

c) Vi phạm Điểm d, Điểm đ Khoản 4 Điều này bị tịch thu đèn lắp thêm, còi vượt quá âm lượng và buộc phải lắp còi có âm lượng đúng quy chuẩn kỹ thuật;

d) Vi phạm Khoản 4 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

đ) Vi phạm Điểm d, Điểm đ Khoản 5 Điều này bị tịch thu Sổ chứng nhận kiểm định, Giấy chứng nhận, tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, Giấy đăng ký xe, biển số không do cơ quan có thẩm quyền cấp; bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

e) Vi phạm Điểm b, Điểm c Khoản 5 Điều này bị tịch thu phương tiện và bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày.”

5. Sửa đổi, bổ sung Điều 24 như sau:

“Điều 24. Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về điều kiện của người điều khiển xe cơ giới

1. Phạt cảnh cáo người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự mô tô hoặc điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô.

2. Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 120.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy không có hoặc không mang theo Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực;

b) Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy không mang theo Giấy đăng ký xe, Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (nếu có quy định phải kiểm định);

c) Người điều khiển xe mô tô không mang theo Giấy phép lái xe.

3. Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Người điều khiển xe mô tô, các loại xe tương tự mô tô không có Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (nếu có quy định phải kiểm định) hoặc có nhưng đã hết hạn;

b) Người điều khiển xe ô tô, máy kéo không mang theo Giấy đăng ký xe, Giấy phép lái xe, Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (nếu có quy định phải kiểm định).

4. Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 50 cm3 trở lên;

b) Người điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô không có hoặc không mang theo Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực;

c) Người điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô có Giấy phép lái xe nhưng đã hết hạn sử dụng dưới 6 (sáu) tháng.

5. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với người điều khiển xe mô tô không có Giấy phép lái xe hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 7 Điều này.

6. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô.

7. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với người điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 175 cm3 trở lên, xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Có Giấy phép lái xe nhưng không phù hợp với loại xe đang điều khiển hoặc đã hết hạn sử dụng từ 6 (sáu) tháng trở lên;

b) Không có Giấy phép lái xe hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa.

8. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển phương tiện vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây: Vi phạm Khoản 5, Điểm b Khoản 7 Điều này bị tịch thu Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa.”

6. Sửa đổi, bổ sung Điều 26 như sau:

“Điều 26. Xử phạt người điều khiển xe ô tô chở hành khách, ô tô chở người vi phạm quy định về vận tải đường bộ

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không hướng dẫn hành khách ngồi đúng vị trí quy định trong xe;

b) Không thực hiện đúng quy định về tắt, bật sáng hộp đèn “TAXI”.

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng trên mỗi người vượt quá quy định được phép chở của phương tiện đối với người điều khiển xe ô tô chở hành khách, ô tô chở người (trừ xe buýt) vi phạm hành vi: Chở quá từ 02 người trở lên trên xe đến 9 chỗ ngồi, chở quá từ 03 người trở lên trên xe 10 chỗ ngồi đến xe 15 chỗ ngồi, chở quá từ 04 người trở lên trên xe 16 chỗ ngồi đến xe 30 chỗ ngồi, chở quá từ 05 người trở lên trên xe trên 30 chỗ ngồi, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 4 Điều này.

3. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 800.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không đóng cửa lên xuống khi xe đang chạy;

b) Để người ngồi trên xe khi xe lên, xuống phà, cầu phao hoặc khi xe đang ở trên phà (trừ người già yếu, người bệnh, người khuyết tật);

c) Không chạy đúng tuyến đường, lịch trình, hành trình vận tải quy định;

d) Để người mắc võng nằm trên xe hoặc đu bám ở cửa xe, bên ngoài thành xe khi xe đang chạy;

đ) Sắp xếp chằng buộc hành lý, hàng hóa không bảo đảm an toàn; để rơi hành lý, hàng hóa trên xe xuống đường;

e) Chở hành lý, hàng hóa vượt quá trọng tải theo thiết kế của xe hoặc quá kích thước bao ngoài của xe; để hàng hóa trong khoang chở hành khách;

g) Vận chuyển hàng có mùi hôi thối trên xe chở hành khách;

h) Xe vận chuyển khách du lịch, xe vận chuyển hành khách theo hợp đồng không có danh sách hành khách, hợp đồng vận chuyển theo quy định;

i) Vận chuyển hành khách theo tuyến cố định không đúng tuyến xe chạy, không có “Sổ nhật trình chạy xe” hoặc có nhưng không có xác nhận của bến xe hai đầu tuyến theo quy định;

k) Xe vận chuyển hành khách không có nhân viên phục vụ trên xe đối với những xe quy định phải có nhân viên phục vụ;

l) Xe vận chuyển khách du lịch, xe vận chuyển hành khách theo hợp đồng bán vé cho hành khách;

m) Không sử dụng đồng hồ tính tiền cước hoặc sử dụng đồng hồ tính tiền cước không đúng theo quy định khi chở khách.

4. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng trên mỗi người vượt quá quy định được phép chở của phương tiện đối với người điều khiển xe ô tô chở hành khách chạy tuyến có cự ly lớn hơn 300 km vi phạm hành vi: Chở quá từ 02 người trở lên trên xe đến 9 chỗ ngồi, chở quá từ 03 người trở lên trên xe 10 chỗ ngồi đến xe 15 chỗ ngồi, chở quá từ 04 người trở lên trên xe 16 chỗ ngồi đến xe 30 chỗ ngồi, chở quá từ 05 người trở lên trên xe trên 30 chỗ ngồi.

5. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Để người lên, xuống xe khi xe đang chạy;

b) Sang nhượng hành khách dọc đường cho xe khác mà không được hành khách đồng ý; đe dọa, xúc phạm, tranh giành, lôi kéo hành khách; bắt ép hành khách sử dụng dịch vụ ngoài ý muốn;

c) Xuống khách để trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát của người có thẩm quyền;

d) Xếp hàng trên xe làm lệch xe;

đ) Đón, trả hành khách không đúng nơi quy định trên những tuyến đường đã xác định nơi đón trả khách;

e) Đón, trả hành khách tại nơi cấm dừng, cấm đỗ, nơi đường cong tầm nhìn bị che khuất.

6. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Điều khiển xe tham gia kinh doanh vận tải không gắn thiết bị giám sát hành trình của xe (nếu có quy định phải gắn thiết bị) hoặc gắn thiết bị nhưng thiết bị không hoạt động, không đúng quy chuẩn theo quy định;

b) Chở hàng cấm lưu thông,

7. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Vận chuyển hàng nguy hiểm, hàng độc hại, dễ cháy, dễ nổ hoặc động vật, hàng hóa khác có ảnh hưởng đến sức khỏe của hành khách trên xe chở hành khách;

b) Chở người trên mui xe, nóc xe, trong khoang chở hành lý của xe;

c) Hành hung hành khách;

d) Điều khiển xe ô tô liên tục quá thời gian quy định;

đ) Xe chở hành khách không có hoặc không gắn phù hiệu (biển hiệu) theo quy định hoặc có nhưng đã hết hạn.

8. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển phương tiện vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Vi phạm Khoản 2, Khoản 4 (trường hợp vượt trên 50% đến 100% số người quy định được phép chở của phương tiện); Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h, Điểm i Khoản 3; Khoản 5; Khoản 6 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày. Vi phạm Điểm b Khoản 6 Điều này bị tịch thu hàng hóa cấm lưu thông;

b) Vi phạm Khoản 7 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày; vi phạm Khoản 2, Khoản 4 Điều này (trường hợp vượt trên 100% số người quy định được phép chở của phương tiện) bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn;

c) Vi phạm Khoản 2, Khoản 4 Điều này (trường hợp chở hành khách) phải bố trí phương tiện khác để chở số hành khách vượt quá quy định được phép chở của phương tiện.”

7. Sửa đổi, bổ sung Điều 27 như sau:

“Điều 27. Xử phạt người điều khiển xe ô tô tải, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô vận chuyển hàng hóa

1. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Vận chuyển hàng trên xe phải chằng buộc mà không được chằng buộc chắc chắn; xếp hàng trên nóc buồng lái; xếp hàng làm lệch xe;

b) Chở hàng vượt quá trọng tải thiết kế được ghi trong Giấy đăng ký xe hoặc Sổ chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường mà chưa đến mức vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 2, Điểm a Khoản 4 Điều này.

2. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Chở hàng vượt trọng tải thiết kế được ghi trong Giấy đăng ký xe hoặc Sổ chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường từ 10% đến 40% đối với xe có trọng tải dưới 5 tấn và từ 5% đến 30% đối với xe có trọng tải từ 5 tấn trở lên (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc);

b) Xếp hàng trên nóc thùng xe; xếp hàng vượt quá bề rộng thùng xe; xếp hàng vượt phía trước, phía sau thùng xe trên 10% chiều dài xe;

c) Chở người trên thùng xe trái quy định; để người ngồi trên mui xe, đu bám bên ngoài xe khi xe đang chạy;

d) Điều khiển xe tham gia kinh doanh vận tải hàng hóa không mang theo hợp đồng vận tải hoặc giấy vận chuyển theo quy định, trừ xe taxi tải.

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Điều khiển xe taxi tải không lắp đồng hồ tính tiền cước hoặc lắp đồng hồ tính tiền cước không đúng quy định;

b) Điều khiển xe tham gia kinh doanh vận tải hàng hóa không gắn thiết bị giám sát hành trình của xe (nếu có quy định phải gắn thiết bị) hoặc gắn thiết bị nhưng thiết bị không hoạt động, không đúng quy chuẩn theo quy định;

c) Chở hàng cấm lưu thông; vận chuyển trái phép hoặc không thực hiện đầy đủ các quy định về vận chuyển động vật hoang dã;

d) Chở hàng vượt quá chiều cao xếp hàng cho phép đối với xe ô tô tải thùng hở (không mui); chở hàng vượt quá chiều cao theo thiết kế của xe hoặc thiết kế cải tạo đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt đối với xe ô tô tải thùng kín (có mui).

4. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Chở hàng vượt trọng tải thiết kế được ghi trong Giấy đăng ký xe hoặc Số chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường trên 40% đối với xe có trọng tải dưới 5 tấn và trên 30% đối với xe có trọng tải từ 5 tấn trở lên (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc);

b) Điều khiển xe liên tục quá thời gian quy định;

c) Điều khiển xe không có phù hiệu hoặc có nhưng đã hết hạn đối với loại xe quy định phải có phù hiệu.

5. Ngoài việc bị phạt tiền, người có hành vi vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Vi phạm Điểm a, Điểm b Khoản 2; Điểm d Khoản 3; Điểm a Khoản 4 Điều này bị buộc phải hạ phần hàng quá tải, dỡ phần hàng vượt quá kích thước quy định; vi phạm Điểm c Khoản 3 Điều này bị tịch thu hàng hóa cấm lưu thông, động vật hoang dã vận chuyển trái phép;

b) Vi phạm Điểm a, Điểm b Khoản 2; Điểm a, Điểm b Khoản 3 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

c) Vi phạm Điểm c Khoản 2; Điểm c, Điểm d Khoản 3; Khoản 4 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày.”

8. Sửa đổi, bổ sung Điều 33 như sau:

“Điều 33. Xử phạt chủ phương tiện vi phạm quy định liên quan đến giao thông đường bộ

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự mô tô tự ý thay đổi nhãn hiệu, màu sơn của xe không đúng với Giấy đăng ký xe.

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự ô tô vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Lắp kính chắn gió, kính cửa của xe không phải là loại kính an toàn;

b) Tự ý thay đổi màu sơn của xe không đúng với màu sơn ghi trong Giấy đăng ký xe; không thực hiện đúng quy định về biển số, quy định về kẻ chữ trên thành xe và cửa xe; trừ hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 41 của Nghị định này.

3. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với chủ xe mô tô, xe gắn máy; các loại xe tương tự mô tô vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Tự ý đục lại số khung, số máy;

b) Tẩy xóa, sửa chữa hoặc giả mạo hồ sơ đăng ký xe;

c) Tự ý thay đổi khung, máy, hình dáng, kích thước của xe;

d) Khai báo không đúng sự thật hoặc sử dụng các giấy tờ, tài liệu giả để được cấp lại biển số, Giấy đăng ký xe;

đ) Giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật điều khiển xe tham gia giao thông;

e) Không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định;

g) Không mua hoặc nộp phí cho phương tiện khi tham gia giao thông theo quy định.

4. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự ô tô vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Tự ý đục lại số khung, số máy;

b) Tẩy xóa hoặc sửa chữa Giấy đăng ký xe, hồ sơ đăng ký xe, Giấy chứng nhận hoặc tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường hoặc các loại giấy tờ khác về phương tiện;

c) Không chấp hành việc thu hồi Giấy đăng ký xe; biển số xe; sổ chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ theo quy định;

d) Vẽ, dán quảng cáo trên xe không đúng quy định;

đ) Không làm thủ tục đổi lại Giấy đăng ký xe khi xe đã được cải tạo;

e) Giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật điều khiển xe tham gia giao thông;

g) Khai báo không đúng sự thật hoặc sử dụng các giấy tờ, tài liệu giả để được cấp lại biển số, Giấy đăng ký xe.

5. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Thuê, mượn linh kiện, phụ kiện của xe ô tô khi kiểm định;

b) Đưa xe cơ giới, xe máy chuyên dùng không có Giấy chứng nhận hoặc tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường theo quy định ra tham gia giao thông.

6. Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự ô tô vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Tự ý thay đổi tổng thành khung; tổng thành máy; hệ thống phanh; hệ thống truyền động; hệ thống chuyển động hoặc tự ý cải tạo kết cấu, hình dáng, kích thước của xe không đúng thiết kế của nhà chế tạo hoặc thiết kế cải tạo đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; tự ý thay đổi tính năng sử dụng của xe;

b) Cải tạo các loại xe ô tô khác thành xe ô tô chở khách;

c) Không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định;

d) Không mua hoặc nộp phí cho phương tiện khi tham gia giao thông theo quy định.

7. Ngoài việc bị phạt tiền, người có hành vi vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Vi phạm Khoản 1, Điểm b Khoản 2 Điều này buộc phải khôi phục lại nhãn hiệu, màu sơn ghi trong Giấy đăng ký xe hoặc thực hiện đúng quy định về biển số, quy định về kẻ chữ trên thành xe và cửa xe;

b) Vi phạm Điểm b, Điểm d Khoản 3; Điểm b, Điểm g Khoản 4 Điều này bị thu hồi biển số, Giấy đăng ký xe (trường hợp đã được cấp lại), tịch thu hồ sơ, các loại giấy tờ, tài liệu giả mạo;

c) Vi phạm Điểm a Khoản 2, Điểm a Khoản 6 Điều này buộc phải khôi phục lại hình dáng, kích thước hoặc tình trạng an toàn kỹ thuật ban đầu của xe; vi phạm Điểm b Khoản 6 Điều này bị tịch thu phương tiện;

d) Vi phạm Điểm g Khoản 3, Điểm d Khoản 6 Điều này bị buộc phải mua hoặc nộp phí theo quy định.”

9. Sửa đổi, bổ sung Điều 36 như sau:

“Điều 36. Xử phạt người điều khiển xe bánh xích; xe quá tải trọng, quá khổ giới hạn của cầu, đường (kể cả xe ô tô chở hành khách)

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện đúng quy định trong Giấy phép lưu hành, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm b, Điểm d, Điểm đ Khoản 3 Điều này.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi điều khiển xe mà tổng trọng lượng của xe hoặc tải trọng trục xe (bao gồm cả hàng hóa xếp trên xe, người đuợc chở trên xe) vượt quá tải trọng cho phép của cầu, đường từ 10% đến 20%, trừ trường hợp có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng.

3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không chấp hành việc kiểm tra tải trọng, khổ giới hạn xe khi có tín hiệu, hiệu lệnh yêu cầu kiểm tra tải trọng, khổ giới hạn xe; chuyển tải hoặc dùng các thủ đoạn khác để trốn tránh việc phát hiện xe chở quá tải, quá khổ;

b) Điều khiển xe có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng nhưng tổng trọng lượng của xe hoặc tải trọng trục xe (bao gồm cả hàng hóa xếp trên xe nếu có) vượt quá quy định trong Giấy phép lưu hành;

c) Điều khiển xe mà tổng trọng lượng của xe hoặc tải trọng trục xe (bao gồm cả hàng hóa xếp trên xe, người được chở trên xe) vượt quá tải trọng cho phép của cầu, đường trên 20%, trừ trường hợp có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng;

d) Chở hàng vượt khổ giới hạn của cầu, đường ghi trong Giấy phép lưu hành;

đ) Điều khiển xe bánh xích tham gia giao thông không có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng theo quy định hoặc lưu thông trực tiếp trên đường;

e) Điều khiển xe vượt quá khổ giới hạn của cầu, đường hoặc chở hàng vượt khổ giới hạn của cầu, đường tham gia giao thông, trừ trường hợp có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng.

4. Ngoài việc bị phạt tiền, người điền khiển phương tiện vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Vi phạm Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3 Điều này bị đình chỉ lưu hành cho đến khi thực hiện đúng quy định hoặc bị buộc phải hạ tải ngay phần quá tải, dỡ phần quá khổ; nếu gây hư hại cầu, đường phải khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra;

b) Vi phạm Khoản 1, Khoản 2 Điều này còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) 30 (ba mươi) ngày;

c) Vi phạm Khoản 3 Điều này còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) 60 (sáu mươi) ngày.”

10. Sửa đổi, bổ sung Điều 37 như sau:

‘‘Điều 37. Xử phạt người đua xe trái phép, cổ vũ đua xe trái phép

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Tụ tập để cổ vũ, kích động hành vi điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định, lạng lách, đánh võng, đuổi nhau trên đường hoặc đua xe trái phép;

b) Đua xe đạp, đua xe đạp máy, đua xe xích lô, đua xe súc vật kéo, cưỡi súc vật chạy đua trái phép trên đường giao thông.

2. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với người cổ vũ, kích động đua xe trái phép mà cản trở hoặc chống người thi hành công vụ.

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với người đua xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện trái phép.

4. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với người đua xe ô tô trái phép.

5. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Người đua xe ô tô, xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện, xe đạp máy mà chống người thi hành công vụ;

b) Tổ chức đua xe trái phép.

6. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển phương tiện vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây: Vi phạm Điểm b Khoản 1 Điều này bị tịch thu xe (trừ xe bị chiếm đoạt, súc vật kéo, cưỡi); vi phạm Khoản 3, Khoản 4, Điểm a Khoản 5 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn và tịch thu xe (trừ xe bị chiếm đoạt).”

11. Sửa đổi, bổ sung Điều 38 như sau:

“Điều 38. Xử phạt người có hành vi cản trở việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ hoặc đưa hối lộ người thi hành công vụ

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi môi giới, tiếp tay, chỉ dẫn cho người điều khiển phương tiện trốn tránh việc kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ.

2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Cản trở hoặc không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ về: Các giấy tờ liên quan đến người và phương tiện, điều kiện hoạt động của phương tiện, hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải, đào tạo, sát hạch lái xe, đăng kiểm phương tiện;

b) Có lời nói, hành động đe dọa, lăng mạ, xúc phạm danh dự hoặc chống lại người thi hành công vụ, xúi giục người khác không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ, sử dụng uy tín của cá nhân, tổ chức để gây áp lực, cản trở người thi hành công vụ, trừ các hành vi vi phạm quy định tại: Điểm b Khoản 8, Khoản 9 Điều 8; Điểm g Khoản 6, Khoản 8 Điều 9; Khoản 2, Điểm a Khoản 5 Điều 37 của Nghị định này;

c) Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người kiểm soát giao thông hoặc người thi hành công vụ, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 8 Điều 8, Điểm g Khoản 6 Điều 9 của Nghị định này;

d) Đưa tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác cho người thi hành công vụ để trốn tránh việc xử lý vi phạm hành chính.

3. Ngoài việc bị phạt tiền, người vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp sau đây:

a) Vi phạm Điểm d Khoản 2 Điều này còn bị tịch thu số tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;

b) Vi phạm Khoản 2 Điều này nếu người vi phạm là người điều khiển phương tiện thì còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển ô tô, mô tô, máy kéo, các loại xe tương tự ô tô, các loại xe tương tự mô tô), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) 60 (sáu mươi) ngày.”

12. Sửa đổi, bổ sung Điều 41 như sau:

“Điều 41. Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về đào tạo, sát hạch lái xe

1. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với giáo viên dạy lái xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Giáo viên dạy thực hành để học viên không có phù hiệu “Học viên tập lái xe” lái xe tập lái hoặc có phù hiệu nhưng không đeo khi lái xe tập lái;

b) Giáo viên dạy thực hành chở người, hàng trên xe tập lái trái quy định;

c) Giáo viên dạy thực hành chạy sai tuyến đường, thời gian quy định trong Giấy phép xe tập lái; không ngồi bên cạnh để bảo trợ tay lái cho học viên thực hành lái xe;

d) Không đeo phù hiệu “Giáo viên dạy lái xe” khi giảng dạy;

đ) Không có giáo án của môn học được phân công giảng dạy theo quy định.

2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Cơ sở đào tạo lái xe không bố trí giáo viên dạy thực hành ngồi bên cạnh để bảo trợ tay lái cho học viên thực hành lái xe; bố trí giáo viên không đủ tiêu chuẩn để giảng dạy;

b) Cơ sở đào tạo lái xe sử dụng xe tập lái không có “Giấy phép xe tập lái”, biển xe “Tập lái”, không ghi tên cơ sở đào tạo, cơ quan quản lý trực tiếp ở mặt ngoài hai bên cánh cửa hoặc hai bên thành xe theo quy định;

c) Cơ sở đào tạo lái xe sử dụng xe tập lái không trang bị thêm bộ phận hãm phụ hoặc có nhưng không có tác dụng;

d) Cơ sở đào tạo lái xe tuyển sinh học viên không đủ điều kiện quy định về độ tuổi, sức khỏe, thâm niên, số Km lái xe an toàn tương ứng với từng hạng đào tạo;

đ) Cơ sở đào tạo lái xe không có đủ số lượng giáo viên dạy thực hành lái xe các hạng để đáp ứng với lưu lượng đào tạo ghi trong Giấy phép đào tạo lái xe;

e) Cơ sở đào tạo lái xe không lưu trữ đầy đủ hồ sơ các khóa đào tạo theo quy định;

g) Khai báo không đúng sự thật hoặc sử dụng các giấy tờ, tài liệu giả để được học, kiểm tra, sát hạch cấp mới, cấp lại Giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ hoặc nhận lại Giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ khi bị tước quyền sử dụng.

3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với cơ sở đào tạo lái xe, trung tâm sát hạch lái xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Cơ sở đào tạo lái xe tổ chức tuyển sinh, đào tạo không đúng hạng Giấy phép lái xe được phép đào tạo; đào tạo vượt quá lưu lượng quy định trong Giấy phép đào tạo lái xe;

b) Cơ sở đào tạo lái xe tổ chức đào tạo lái xe ngoài địa điểm được ghi trong Giấy phép đào tạo lái xe;

c) Cơ sở đào tạo lái xe tuyển sinh, đào tạo lái xe mà không có Giấy phép đào tạo lái xe hoặc có Giấy phép đào tạo lái xe nhưng đã hết hạn;

d) Cơ sở đào tạo lái xe đào tạo không đúng chương trình, giáo trình theo quy định; bố trí số lượng học viên tập lái trên xe tập lái vượt quá quy định;

đ) Cơ sở đào tạo lái xe không có đủ hệ thống phòng học; phòng học không đủ trang thiết bị, mô hình học cụ;

e) Cơ sở đào tạo lái xe không có sân tập lái hoặc sân tập lái không đủ điều kiện theo quy định;

g) Cơ sở đào tạo lái xe không có đủ số lượng xe tập lái các hạng để đáp ứng với lưu lượng đào tạo ghi trong Giấy phép đào tạo lái xe;

h) Cơ sở đào tạo lái xe cấp Giấy chứng nhận tốt nghiệp hoặc chứng chỉ sơ cấp nghề cho học viên sai quy định;

i) Trung tâm sát hạch lái xe không đủ điều kiện, quy chuẩn theo quy định;

k) Trung tâm sát hạch lái xe tự ý thay đổi hoặc sử dụng phần mềm sát hạch, thiết bị chấm điểm, chủng loại xe ô tô sát hạch khi chưa được sự chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền;

l) Trung tâm sát hạch lái xe để phương tiện, trang thiết bị chấm điểm hoạt động không chính xác trong kỳ sát hạch; để các dấu hiệu, ký hiệu trái quy định trên sân sát hạch trong kỳ sát hạch;

m) Trung tâm sát hạch lái xe không niêm yết mức thu phí sát hạch, phí các dịch vụ khác theo quy định; thu phí sát hạch, phí các dịch vụ khác trái quy định.

4. Giáo viên dạy thực hành để học viên thực hành lái xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại Điều 8 của Nghị định này, bị xử phạt theo quy định đối với hành vi đó.

5. Ngoài việc bị phạt tiền, cá nhân, tổ chức vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Cơ sở đào tạo lái xe vi phạm Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 2; Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 3 Điều này bị đình chỉ tuyển sinh cho đến khi có đủ điều kiện theo quy định hoặc khắc phục xong vi phạm;

b) Trung tâm sát hạch lái xe vi phạm Điểm i, Điểm k, Điểm l Khoản 3 Điều này bị đình chỉ tổ chức sát hạch lái xe cho đến khi có đủ điều kiện theo quy định hoặc khắc phục xong vi phạm;

c) Vi phạm Điểm g Khoản 2 Điều này bị tịch thu các giấy tờ, tài liệu giả mạo.”

13. Sửa đổi, bổ sung Mục 7 Chương II như sau:

“Mục 7. ÁP DỤNG THÍ ĐIỂM ĐỐI VỚI MỘT SỐ VI PHẠM TRONG KHU VỰC NỘI THÀNH CỦA CÁC THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG

Điều 43. Xử phạt người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự ô tô vi phạm một số hành vi áp dụng riêng trong khu vực nội thành của các thành phố trực thuộc Trung ương

1. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm a, Điểm h Khoản 1 Điều 8 Nghị định này.

2. Phạt tiền từ 600.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm h, Điểm i, Điểm k Khoản 2 Điều 8 Nghị định này.

3. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.400.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 3 Điều 8 Nghị định này.

4. Phạt tiền từ 1.400.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm k Khoản 4 Điều 8 Nghị định này.

5. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm đ, Điểm e Khoản 5 Điều 26 Nghị định này.

6. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Vi phạm Điểm h Khoản 2; Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 3; Điểm a, Khoản 4 Điều 8 Nghị định này (trong trường hợp dừng xe, đỗ xe trái quy định) bị buộc phải đưa phương tiện ra khỏi nơi vi phạm;

b) Vi phạm Điểm h, Điểm i, Điểm k Khoản 2; Điểm đ, Điểm e Khoản 3; Điểm b, Điểm c, Điểm đ, Điểm k Khoản 4 Điều 8 Nghị định này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

c) Vi phạm Điểm đ, Điểm e Khoản 5 Điều 26 Nghị định này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

d) Vi phạm Điểm a, Điểm e, Điểm g Khoản 4 Điều 8 Nghị định này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày. Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều 8 Nghị định này mà gây tai nạn giao thông nhưng chưa tới mức nghiêm trọng thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày: Điểm a, Điểm h Khoản 1; Điểm h, Điểm i, Điểm k Khoản 2; Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 3; Điểm b, Điểm c, Điểm k Khoản 4;

đ) Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều 8 Nghị định này mà gây tai nạn giao thông từ mức nghiêm trọng trở lên thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn: Điểm a, Điểm h Khoản 1; Điểm h, Điểm i, Điểm k Khoản 2; Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 3; Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm e, Điểm k Khoản 4.

Điều 44. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm một số hành vi áp dụng riêng trong khu vực nội thành của các thành phố trực thuộc Trung ương

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm a Khoản 1; Điểm a Khoản 2 Điều 9 Nghị định này.

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm đ, Điểm h Khoản 3 Điều 9 Nghị định này.

3. Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 800.000 đồng đối với người điều khiển, người ngồi trên xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm c, Điểm g, Điểm i, Điểm k, Điểm l Khoản 4 Điều 9 Nghị định này.

4. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:

a) Vi phạm Điểm c, Điểm i Khoản 4 Điều 9 Nghị định này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

b) Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều 9 Nghị định này mà gây tai nạn giao thông nhưng chưa tới mức nghiêm trọng thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày: Điểm a Khoản 1; Điểm đ, Điểm h Khoản 3; Điểm c, Điểm g, Điểm i, Điểm k Khoản 4;

c) Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều 9 Nghị định này mà gây tai nạn giao thông từ mức nghiêm trọng trở lên thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn: Điểm a Khoản 1; Điểm đ, Điểm h Khoản 3; Điểm c, Điểm g, Điểm i, Điểm k Khoản 4,

Điều 45. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe đạp, xe đạp máy, xe thô sơ khác vi phạm một số hành vi áp dụng riêng trong khu vực nội thành của các thành phố trực thuộc Trung ương

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với người điều khiển, người ngồi trên xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại:

a) Điểm a, Điểm c, Điểm d, Điểm g Khoản 1; Điểm a, Điểm b, Điểm d, Điểm g Khoản 2; Điểm b, Điểm c Khoản 3 Điều 11 Nghị định này;

b) Khoản 1 Điều 21 Nghị định này.

2. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều 21 Nghị định này còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tịch thu xe.

Điều 46. Xử phạt người đi bộ vi phạm một số hành vi áp dụng riêng trong khu vực nội thành của các thành phố trực thuộc Trung ương

1. Phạt tiền từ 60.000 đồng đến 80.000 đồng đối với người đi bộ vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm b, Điểm c Khoản 1 Điều 12 Nghị định này.

2. Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 120.000 đồng đối với người đi bộ vi phạm một trong các hành vi quy định tại Khoản 2 Điều 12 Nghị định này.”

14. Sửa đổi, bổ sung Khoản 3, Khoản 4 Điều 47 như sau:

“3. Cảnh sát trật tự, Cảnh sát phản ứng nhanh, Cảnh sát cơ động, Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng Công an cấp xã trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao có liên quan đến trật tự an toàn giao thông đường bộ có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định tại các Điểm, Khoản, Điều của Nghị định này như sau:

a) Điểm đ, Điểm i Khoản 1; Điểm g, Điểm h Khoản 2; Điểm b, Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 3; Điểm a, Điểm b, Điểm d, Điểm đ, Điểm h Khoản 4; Điểm b, Điểm đ Khoản 5; Điểm b, Điểm c, Điểm d Khoản 7; Khoản 8; Khoản 9 Điều 8;

b) Điểm e Khoản 2; Điểm a, Điểm đ, Điểm e, Điểm h, Điểm i, Điểm k Khoản 3; Điểm b, Điểm c, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm i, Điểm k Khoản 4; Điểm b, Điểm d, Điểm đ Khoản 5; Điểm b, Điểm e, Điểm g Khoản 6; Khoản 7; Khoản 8 Điều 9;

c) Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm h, Điểm i Khoản 2; Điểm b, Điểm đ, Điểm h Khoản 3; Điểm d, Điểm e, Điểm g Khoản 4; Điểm b, Điểm c Khoản 5; Điểm a Khoản 6; Khoản 7 Điều 10;

d) Điểm c, Điểm g, Điểm h, Điểm i Khoản 1; Khoản 2; Khoản 3; Khoản 4 Điều 11;

đ) Điều 12, Điều 13, Điều 14, Điều 15;

e) Khoản 1, Khoản 2, Khoản 4, Khoản 5 Điều 18;

g) Điều 21, Điều 23;

h) Điểm b Khoản 3; Điểm b, Điểm c, Điểm đ, Điểm e Khoản 5; Điểm c Khoản 7 Điều 26;

i) Điều 29, Điều 32;

k) Khoản 3, Khoản 4 Điều 34; Điều 35, Điều 37, Điều 38.

4. Thanh tra đường bộ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định về hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải tại các điểm dừng xe, đỗ xe trên đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ, trạm kiểm tra tải trọng xe, trạm thu phí, cơ sở kinh doanh vận tải đường bộ, khi phương tiện (có hành vi vi phạm) dừng, đỗ trên đường bộ; hành vi vi phạm quy định về đào tạo sát hạch, cấp Giấy phép lái xe, hoạt động kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật của công trình đường bộ và một số hành vi vi phạm khác quy định tại các Điểm, Khoản, Điều của Nghị định này như sau:

a) Điểm đ Khoản 1; Điểm g, Điểm h Khoản 2; Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 3; Điểm a, Điểm b, Điểm đ, Điểm h Khoản 4; Điểm b, Điểm đ Khoản 5; Điểm b Khoản 7; Khoản 8 Điều 8;

b) Điểm a, Điểm đ, Điểm h Khoản 3; Điểm d, Điểm đ Khoản 5 Điều 9;

c) Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h, Điểm i Khoản 2; Điểm b Khoản 3; Điểm e, Điểm g Khoản 4; Điểm b, Điểm c Khoản 5 Điều 10;

d) Điểm c, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 1; Điểm a, Điểm b Khoản 2; Điểm b Khoản 3 Điều 11;

đ) Điểm a Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4, Điểm b Khoản 5 Điều 14;

e) Điều 15, Điều 16, Điều 17, Điều 18;

g) Khoản 1; Khoản 2; Khoản 3; Khoản 4; Điểm b, Điểm đ Khoản 5 Điều 19;

h) Điều 22, Điều 23;

i) Điểm b Khoản 3; Điểm b, Điểm c Khoản 4; Khoản 6; Khoản 7 Điều 24;

k) Điều 25; Điều 26;

l) Khoản 1; Điểm a, Điểm b, Điểm d Khoản 2; Khoản 3; Khoản 4 Điều 27;

m) Điều 28, Điều 30, Điều 31;

n) Khoản 2; Điểm a, Điểm d, Điểm e Khoản 4; Khoản 5; Điểm a, Điểm b Khoản 6 Điều 33;

o) Điều 34, Điều 36, Điều 38, Điều 41, Điều 42.”

15. Sửa đổi, bổ sung Điều 54 như sau:

“Điều 54. Tạm giữ phương tiện, giấy tờ có liên quan đến người điều khiển và phương tiện vi phạm

1. Để ngăn chặn ngay vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt được phép tạm giữ phương tiện đến 10 (mười) ngày trước khi ra quyết định xử phạt đối với những hành vi vi phạm được quy định tại các Điều, Khoản, Điểm sau đây của Nghị định này:

a) Vi phạm Điểm g, Điểm k Khoản 4; Điểm b, Điểm đ Khoản 5; Điểm b, Điểm c, Điểm d Khoản 7; Khoản 8 Điều 8;

b) Vi phạm Điểm b, Điểm đ Khoản 5; Điểm b, Điểm e, Điểm g Khoản 6; Khoản 7; Khoản 8 Điều 9;

c) Vi phạm Điểm đ Khoản 3; Điểm d, Điểm g Khoản 4; Điểm a Khoản 6; Khoản 7 Điều 10;

d) Vi phạm Điểm d, Điểm đ Khoản 4 Điều 11 trong trường hợp người vi phạm là người dưới 16 tuổi và điều khiển phương tiện;

đ) Vi phạm Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d Khoản 4; Điểm d, Điểm đ Khoản 5 Điều 19;

e) Vi phạm Khoản 3 Điều 20;

g) Vi phạm Điểm a, Điểm đ Khoản 1 Điều 22;

h) Vi phạm Khoản 1; Điểm a, Điểm c Khoản 4; Khoản 5; Khoản 6; Khoản 7 Điều 24;

i) Khoản 2, Khoản 4 Điều 26 trong trường hợp xe kinh doanh vận chuyển hành khách chở vượt trên 50% số người quy định được phép chở của phương tiện; Điểm đ Khoản 7 Điều 26;

k) Khoản 3 Điều 36;

l) Vi phạm Điểm a, Điểm b, Điểm c Khoản 2 Điều 38 trong trường hợp người vi phạm là người điều khiển phương tiện.

2. Để bảo đảm việc xử phạt vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt còn có thể quyết định tạm giữ phương tiện, giấy tờ có liên quan đến người điều khiển và phương tiện vi phạm một trong các hành vi quy định tại Nghị định này theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Khi bị tạm giữ giấy tờ theo quy định tại Khoản này, nếu quá thời hạn hẹn đến giải quyết vụ việc vi phạm ghi trong biên bản vi phạm hành chính, người vi phạm chưa đến trụ sở của người có thẩm quyền xử phạt để giải quyết vụ việc vi phạm mà vẫn tiếp tục điều khiển phương tiện hoặc đưa phương tiện ra tham gia giao thông, sẽ bị áp dụng xử phạt như hành vi không có giấy tờ.

3. Khi phương tiện bị tạm giữ theo quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này, chủ phương tiện phải chịu mọi chi phí (nếu có) cho việc sử dụng phương tiện khác thay thế để vận chuyển người, hàng hóa được chở trên phương tiện bị tạm giữ.

4. Bộ Công an hướng dẫn cụ thể việc áp dụng biện pháp tạm giữ phương tiện quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này.”

16. Sửa đổi, bổ sung Khoản 4, Khoản 6, Khoản 7 Điều 57 như sau:

“4. Đối với người điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 8, Điểm h Khoản 2 Điều 10 Nghị định này, trong trường hợp đặt báo hiệu nguy hiểm không đúng quy định bị xử phạt kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013.

6. Quy định tại Mục 7 Chương II Nghị định này được thực hiện thí điểm trong thời gian 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày Nghị định có hiệu lực thi hành, Ủy ban nhân dân các thành phố trực thuộc Trung ương quy định cụ thể phạm vi khu vực nội thành để thực hiện việc thí điểm. Hàng năm, Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Ủy ban nhân dân các thành phố trực thuộc Trung ương báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện thí điểm; kết thúc thời hạn thí điểm, tổ chức tổng kết đánh giá việc thực hiện thí điểm và báo cáo Chính phủ đề xuất chủ trương thực hiện tiếp theo.

7. Về việc xử phạt đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành vi quy định tại Điểm a Khoản 6 Điều 26, Điểm b Khoản 3 Điều 27 Nghị định này được thực hiện từ ngày 01 tháng 7 năm 2013.”

Điều 2. Hiệu lực thi hành

1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10 tháng 11 năm 2012.

2. Bãi bỏ Nghị định số 33/2011/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ.

3. Các hành vi vi phạm quy định tại Nghị định này được phát hiện và lập biên bản trước ngày Nghị định này có hiệu lực, vẫn thực hiện theo quy định của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 và Nghị định số 33/2011/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2011.

Điều 3. Trách nhiệm thi hành

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

 Nơi nhận:
– Ban Bí thư Trung ương Đảng;
– Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP;
– VP BCĐ TW về phòng, chống tham nhũng;
– HĐND, UBND các tỉnh, TP trực thuộc TW;
– Văn phòng TW và các Ban của Đảng;
– Văn phòng Tổng Bí thư;
– Văn phòng Chủ tịch nước;
– Hội đồng Dân tộc và các UB của Quốc hội;
– Văn phòng Quốc hội;
– Tòa án nhân dân tối cao;
– Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
– Kiểm toán Nhà nước;
– UB Giám sát tài chính Quốc gia;
– Ngân hàng Chính sách Xã hội;
– Ngân hàng Phát triển Việt Nam;
– Ủy ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
– Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
– VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTCP, Cổng TTĐT, các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;
– Lưu: Văn thư, KTN (5b).

http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?_page=1&class_id=1&document_id=163786&mode=detail

 

 

Mới đây, tác giả bộ truyện tranh Sát thủ đầu mưng mủ từng gây xôn xao dư luận – Nguyễn Thành Phong đã cho ra mắt loạt sản phẩm mới về văn hóa giao thông.

Vẫn giữ nguyên cái “chất” của bộ truyện trước, Thành Phong khéo léo chỉ ra những vấn đề bức xúc trong giao thông ở nước ta hiện nay như: tình trạng tắc đường, phóng nhanh vượt ẩu, phố ngập thành sông.. qua các bức vẽ sinh động kèm “ranh ngôn”, “thơ con cóc” dí dỏm. Người xem tranh khi đọc được những câu từ: “chồng lái lụa, vợ góa bụa”, “còi to, máy rú là thú lái xe”… khó ai có thể nín nổi cười.

Tranh Thanh Phong

Xe Rolling Stone

Loại bỏ động cơ đầy khói bụi và thay thế bằng một gói mô tơ điện, bản concept độc đáo của nhà thiết kế Vitaly Kononov có thể trở thành chiếc xe lạ nhất thế giới nếu được sản xuất đại trà. Xe được trang bị 2 bánh khổ lớn, sử dụng công nghệ EV (động cơ điện) với pin có khả năng tái nạp bên trong.

Bên hông xe là những màn hình LED cỡ lớn, cho phép người dùng trưng bày hình ảnh hoặc video yêu thích của mình. Ngoài ra, nó còn được trang bị 2 bánh nhỏ để tăng thêm độ ổn định khi xe di chuyển. Chiếc xe này không được điều khiển bằng vô lăng mà bằng joystick lấy cảm hứng từ các trò chơi thực tế ảo.

Peugeot RD

Bản concept độc đáo của nhà thiết kế Carlos Arturo Torres Tovar từng giành giải nhất trong cuộc thi thiết kế do Peugeot tổ chức năm 2009, vượt qua hơn 2.500 mẫu xe khác. Đặc điểm ưu việt của mẫu xe 3 bánh này là khả năng di chuyển thuận lợi trên mọi địa hình, sử dụng động cơ điện thân thiện với môi trường và tạo cảm giác thoải mái cho người lái như đang ngồi trên một chiếc sedan. Đó là chưa kể đến thiết kế hầm hố mà bất cứ ai cũng phải ngước nhìn nếu bạn đi trên phố.

Xe hơi lội nước sQuba

Nhà thiết kế Rinspeed luôn muốn mang một chiếc xe kiểu James Bond vào trong đời thực, do đó ông này đã vẽ ra ý tưởng về một chiếc xe có khả năng lặn như tàu ngầm, lấy cảm hứng từ chiếc Lotus Elise.

Chiếc xe sở hữu một số đặc điểm cải tiến như sở hữu hai động cơ điện hoàn toàn mới, các linh kiện miễn nhiễm với nước biển và một hệ thống cảm biến bằng laser phục vụ cho người lái khi đi dưới đáy biển. Tất nhiên, nó không có khả năng cung cấp oxy cho người ngồi trong, do đó muốn được lặn ngụp dưới đáy biển trên chiếc xế hộp đặc biệt này, người lái chỉ còn cách đeo bình oxy.

Xe bay Terrafugia Transition

Không chỉ còn ở dạng thử nghiệm, xe bay Transition đang ở trong giai đoạn bay thử cuối cùng trước khi chính thức được đưa vào sản xuất đại trà. Xe được thiết kế bằng vật liệu sợi carbon, hợp kim nhôm và titan siêu nhẹ, cho tốc độ tối đa khoảng 170 km/h. Tuy nhiên, để được trải nghiệm sản phẩm này, người dùng sẽ phải sở hữu cả bằng lái máy bay và bằng lái ô tô, đó là chưa kể đến một hầu bao rủng rỉnh, bởi mức giá của nó lên đến 280.000 USD.

CityCar

CityCar ban đầu là một sản phẩm thí nghiệm của sinh viên thuộc phòng thí nghiệm Media Lab, Học viện Công nghệ Massachusetts. Sản phẩm này đang được xem xét để đưa vào sản xuất thực tế bởi tính hữu dụng của nó. Chiếc CityCar sở hữu cơ chế gập độc đáo, giúp tiết kiệm vô số diện tích khi dừng đỗ. Chiếc xe chạy điện, sở hữu bánh xe robot có tầm hoạt động khoảng 100 km và giá bán dự kiến là 12.500 euro.

HẢI ĐĂNG

Theo Infonet.vn

Cờ Tư lệnh

Với mong muốn đất nước ta có thêm một loại hình cờ mang màu sắc Việt Nam, Đại tá, nhà văn Nguyễn Quí Hải, Cựu chiến binh, từng là Tiểu đoàn trưởng pháo 130mm trong chiến dịch tiến công Quảng Trị năm 1972, đã sáng chế ra loại cờ mới: CỜ TƯ LỆNH.


Về luật chơi, hình thức con cờ,  Cờ Tư lệnh vừa phù hợp với người già vừa phù hợp với lớp trẻ, vừa có thể chơi với bộ cờ sừng trâu có giá tiền cao dành cho bậc trung lưu, cũng có thể chơi với bộ cờ nhựa, bàn làm bằng tấm giấy vừa đủ kích cỡ, người chơi bình dân, kể cả các em học sinh bậc trung học cơ sở có thể tự vẽ.
Quân Cờ Tư lệnh, ngoài quân cờ tròn còn có quân cờ khối. Quân cờ hình khối tương tự như quân Cờ vua, nhưng không trừu tượng mà cụ thể là máy bay, xe tăng, tên lửa, tàu chiến…

 
Bàn cờ và quân cờ


CỜ TƯ LỆNH vừa mang tính giải trí, vừa mang tính trí tuệ; vừa thư giãn, vừa hình thành cho người chơi biết cách tổ chức sử dụng lực lượng hiệu quả, tốn ít quân mà giành được thắng lợi.

Khác Cờ tướng, Cờ Tư lệnh mang tính mở. Các quân cờ đều có thể đi thẳng, đi tiến, đi ngang, đi lui, tung hoành dọc ngang. Dân quân (còn gọi là Quân “tóc dài”) ngoài đi tiến, lui, ngang, dọc và ăn quân đối phương như quân bộ binh, còn được đi và ăn chéo quân đối phương.

Chỉ có pháo binh, không quân là được đi và ăn quân đối phương vượt qua cả khối chắn; được đi chéo, ăn chéo như quân tượng trong Cờ tướng nhưng khác tượng là không bị kìm chân ở bên này chiến tuyến.

Cao xạ, tên lửa tạo ra được vành đai hỏa lực trên không, máy bay đối phương không thể qua. Vì vậy máy bay muốn phát huy hỏa lực oanh kích vào các mục tiêu của đối phương thì phải tìm mọi cách tiêu diệt cao xạ và tên lửa trước. Nếu máy bay sơ ý bay qua vành đai hỏa lực của phòng không đối phương, thì lập tức bị bắn cháy. Nếu máy bay chủ đích tiêu diệt trận địa cao xạ để mở đường tiến công thì phải một đổi một.

Trên bàn cờ có vùng biển, lục địa, sông nước; lực lượng tham chiến đủ cả hải, lục, không quân và phòng không. Tàu chiến trên vùng biển, ngoài cao xạ, pháo binh còn được trang bị tên lửa hải đối hải. Pháo có thể đứng tại chỗ bắn và ăn quân đối phương trên đất liền.

Cờ có hai kiểu chơi: Chơi công khai dàn quân theo mẫu; hoặc chơi nâng cao, quân có thể bố trí theo chiến thuật riêng và giấu thế bố trí cho đến lúc bắt đầu cuộc chơi.

Cờ có tính mở, sau khi chơi thành thạo, người chơi có thể đúc kết kinh nghiệm và sáng tạo ra thế, ra nước cờ hay. Có thể tùy tính cách từng người, cờ có thể chơi với chiến lược phá hoại đối phương bằng không quân, hải quân. Cũng có thể chơi với chiến thuật phòng ngự phản công, tấn công, chính diện, vu hồi, hay thọc sâu đánh vào nơi hiểm yếu.

Cờ vừa mang màu sắc dân gian vừa mang hơi thở của thời đại. Cờ không có cung cấm, quân cờ cao nhất là Tư lệnh. Tư lệnh trong chiến tranh, trong từng trận đánh, trong từng chiến dịch là người chỉ huy trực tiếp, là người có vai trò đặc biệt quan trọng đến thành bại của cuộc chiến.

CỜ TƯ LỆNH rất gần gũi với lớp sĩ quan trẻ. Cờ có thể chơi đến tận cùng, khi diệt được tư lệnh đối phương, nhưng cũng có thể chơi 10 phút tính điểm, chơi từng trận, chơi từng cuộc chiến, chơi giữa giờ giải lao trên thao trường.

Hãy chơi và tìm ra nước cờ hay nhất. Hãy thách đấu nếu không ai thắng nổi, nước cờ đó sẽ mang tên bạn, bạn sẽ trở thành siêu Tư lệnh.

Ước mong của tác giả là cờ sớm được cộng đồng chấp nhận, được các cơ quan quản lý môn thể thao nghệ thuật giải trí trong và ngoài quân đội tạo điều kiện cả về tinh thần và vật chất giúp cho Cờ Tư lệnh mau thâm nhập vào cuộc sống, góp phần cho cuộc sống thêm phong phú nói chung, cho việc hình thành bản lĩnh chỉ huy cho lớp trẻ, đặc biệt lớp trẻ trong quân đội nói riêng.

CỜ TƯ LỆNH là sản phẩm trí tuệ của đại tá, nhà văn Nguyễn Quí Hải đã được Cục Bản quyền tác giả văn học nghệ thuật, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch chính thức công nhận ngày 16 tháng 11 năm 2010, số bằng chứng nhận 3283.

Cờ không chỉ phát triển rộng rãi ở trong nước mà có thể vươn ra cộng đồng quốc tế.

 

 
BẰNG CHỨNG NHẬN CỦA CỤC BẢN QUYỀN TÁC GIẢ
Tác giả Cờ Tư lệnh: Đại tá, nhà văn Nguyễn Quí Hải


Khi cần giải đáp thêm, quý độc giả có thể liên hệ trực tiếp với tác giả theo số điện thoại 04 38370007 hoặc 0975656290.

 

LUẬT CHƠI
CỜ TƯ LỆNH


I. Mục đích của ván cờ

Ván cờ được chơi giữa hai người, một người cầm quân Đỏ, một người cầm quân Xanh. Mỗi người tìm chiến thuật điều quân trên bàn cờ theo luật chơi để cuối cùng làm thất bại mục tiêu chiến lược của đối phương hoặc tiêu diệt được Tư lệnh của đối phương.

Cờ vừa giúp cho người chơi cả trẻ lẫn già (đặc biệt là giới quân sự) vừa có hứng thú giải trí, vừa có cơ hội rèn luyện cách tổ chức lực lượng giành chiến thắng, qua đó nâng cao trí thông minh, tài thao lược, góp phần nâng cao sức chiến đấu của lực lượng vũ trang trong nhiệm vụ Quốc phòng toàn dân bảo vệ đất nước.

II. Cấu trúc của bàn cờ

Bàn cờ hình chữ nhật, do 11 đường dọc và 12 đường ngang cắt nhau vuông góc tại 132 điểm hợp thành. Có một khoảng trống ước lệ, đó là sông (màu xanh nhạt – xem Hình 2). Sông nằm ngang, chia bàn cờ thành hai phần đối xứng bằng nhau gọi là chiến tuyến. Trên sông (chiến tuyến) có hai đoạn nước nông, dưới có nền đá, được gọi là ngầm. Mọi phương tiện đều có thể vượt qua ngầm. Bên trái bàn cờ (nhìn từ phía này), sẽ là bên phải (nhìn từ phía kia) có hai dãy ô vuông chạy dọc suốt hai chiến tuyến, được quy ước đó là biển (xanh đậm hơn màu sông), trên biển có lực lượng hải quân tham chiến.

 

 
Hình 2. Bàn cờ


Mỗi ván cờ lúc bắt đầu có đủ 38 quân, số quân đó được chia đều cho hai bên: 19 quân Đỏ, 19 quân Xanh bao gồm 11 loại quân. Quân cờ của bên Xanh hoặc bên Đỏ, chỉ khác nhau về màu sắc, còn ký hiệu, cách đi và cách ăn quân đối phương của chúng hoàn toàn giống nhau.
Ký hiệu và số lượng của 11 loại quân đó được thể hiện ở Hình 3 dưới đây:

 

 
Hình 3. Quân cờ


Đường kính mỗi quân cờ khoảng 3,2cm

III. Các cách chơi CỜ TƯ LỆNH

Có hai cách chơi: chơi cơ bản và chơi nâng cao

1. Chơi cơ bản

Việc bố trí quân cơ bản lúc đầu, hai bên công khai bố trí giống nhau theo quy định của luật chơi (như hình vẽ).

 

 
Hình 4. Cách xếp quân cờ

 

2. Chơi nâng cao (sau khi đã chơi cơ bản thành thạo)

Hai bên theo ý đồ chiến thuật của mình, bí mật bố trí quân (có thể dùng bìa giấy để che giấu) và hoàn toàn tự do, phá cách, không nhất thiết bố trí như lối chơi cơ bản. Khi cuộc chơi bắt đầu mới lật cờ ngửa và tổ chức lực lượng căn cứ tình huống thực tế tìm ra lối đánh sao làm thất bại chiến lược của địch, diệt được tư lệnh đối phương.

IV. Quy tắc chơi

1. Đi và ăn

– Công binh, bộ binh, cao xạ, dân quân “tóc dài” được đi tiến, đi lùi, đi ngang và ăn thẳng, nghĩa là di chuyển tung hoành dọc ngang theo trục bàn cờ từng đoạn một. Có thể đứng tại chỗ ăn mục tiêu trên biển cách một đoạn. Đặc biệt, “tóc dài” ngoài quy định trên còn được đi và ăn chéo từng đoạn một.

– Xe tăng đi và ăn thẳng dọc ngang theo trục từ một đến hai đoạn. Với mục tiêu trên biển, ăn theo quy định, nhưng đứng tại chỗ.

– Pháo binh mặt đất, được đi và ăn thẳng dọc ngang theo trục, đi và ăn chéo 45 độ, từ một đến ba đoạn; được ăn vượt qua khối chắn. (Kiểu quân tượng trong Cờ tướng nhưng không bị kìm chân bên này chiến tuyến)… Pháo được phép đứng tại chỗ bắn và ăn quân đối phương trên biển trong khoảng từ một đến ba đoạn.

– Tên lửa phòng không được đi và ăn quân mặt đất, quân trên không theo vành đai hỏa lực có bán kính hai đoạn theo trục và một đoạn chéo 45 độ.

– Máy bay đi và ăn thẳng, ăn chéo quân đối phương từ một đến bốn đoạn. Được phép vượt khối chắn. Được phép dừng lại ở nơi ăn quân đối phương hay trở lại ngay vị trí sân bay, để tránh bị đối phương tiêu diệt. Máy bay sơ ý bay qua vành đai hỏa lực cao xạ và tên lửa phòng không của đối phương sẽ bị bắn rơi. Nếu mục tiêu của máy bay nhằm vào trận địa cao xạ và tên lửa thì cả hai đều bị tiêu diệt, tức là một đổi một.

– Tàu chiến, trên đó có cao xạ, pháo binh và tên lửa hải đối hải. Cao xạ theo nguyên tắc chung nêu trên. Khi tham chiến hợp đồng binh chủng, pháo trên tàu đứng tại chỗ và bắn các mục tiêu trên đất liền theo quy định đối với pháo binh mặt đất. Tên lửa hải đối hải đi và ăn thẳng, ăn chéo từ một đến bốn đoạn mục tiêu trên biển và dọc bờ biển. Không ăn mục tiêu sâu trên đất liền. Tàu chiến có thể đi vào đoạn sông sâu phía ngoài đoạn có ngầm cạn.

 

 
Hình 5. Cách đi và ăn quân


2. Quy tắc vượt sông

–  Sông có hai đoạn ngầm (xem Hình 2. Bàn cờ), mọi phương tiện đều có thể vượt qua.

– Ngoài hai chỗ đó, còn lại là các đoạn nước sâu, chỉ bộ binh, dân quân tóc dài, tư lệnh và công binh đi qua được. Các phương tiện nặng như cao xạ, pháo binh, xe tăng muốn cơ động qua các đoạn nước sâu ấy thì phải theo sau công binh (đã bắc cầu), nhưng khi ăn quân đối phương bên kia sông, thì được phép qua luôn bất kỳ chỗ nào.

3. Quy tắc công sự

– Trên bàn cờ mỗi bên có 2 công sự (hình lô cốt). Chúng tạo thành sở chỉ huy của Tư lệnh.

–  Công sự không cơ động và không ăn được quân đối phương.

– Công binh, xe tăng, pháo binh, máy bay… phá được công sự để diệt Tư lệnh đối phương. Tư lệnh khi cần vào ẩn nấp trong công sự.

4. Quy tắc vùng cấm trên không

– Cao xạ tạo ra vùng cấm trên không thành một hình tròn có cự ly bán kính bằng một đoạn thẳng, (vòng tròn nhỏ như hình vẽ).

–  Tên lửa phòng không tạo được một vùng cấm hình tròn trên cự ly bán kính hai đoạn thẳng, (chéo chỉ phát huy tác dụng trong phạm vi một đoạn).

– Dải hỏa lực phòng không lớn là của tên lửa phòng không.

– Dải hỏa lực phòng không nhỏ là của cao xạ trên bộ và trên tàu chiến tạo ra. Máy bay muốn oanh kích các mục tiêu sâu trong căn cứ đối phương phải dùng xe tăng bộ binh pháo binh tập trung tiêu diệt cao xạ và tên lửa. Mục tiêu số 1 là tên lửa phòng không. Nếu tiêu diệt được tên lửa phòng không thì máy bay có thể nhanh chóng oanh kích vào sở chỉ huy và các lực lượng phòng thủ của đối phương.

– Máy bay đối phương xâm phạm vùng cấm là bị rơi. Muốn qua lưới hỏa lực phòng không để phát huy sức mạnh của không quân, đối phương phải tập trung hỏa lực, xung lực của bộ binh, xe tăng, pháo binh thọc sâu tiêu diệt các mục tiêu cao xạ và đặc biệt tên lửa phòng không trước. Máy bay oanh kích vào trận địa cao xạ, tên lửa phòng không thì một đổi một.

 

 
Hình 6. Vùng cấm trên không


5. Quy tắc với Tư lệnh

– Tư lệnh không nhất thiết cứ ở trong hầm chỉ huy.

– Tư lệnh được phép thoát ra ngoài, kể cả sang bên đối phương để chỉ huy, để tham gia chiếu tư lệnh đối phương.

– Tư lệnh không được mặt đối mặt với tư lệnh đối phương. Bên nào sơ hở để lộ mặt trước thì bị tư lệnh bên kia ăn.

– Tư lệnh được đi theo trục không hạn chế, miễn là không vướng vật cản và chỉ được ăn quân đối phương từng đoạn một.

– Khi cấp bách Tư lệnh được đi thẳng vào công sự.

– Cờ thắng, thua trong trận chiến tổng lực là khi Tư lệnh bị diệt. Thắng thua, trong chiến tranh phá hoại bằng không quân là khi một bên mất cả hai máy bay. Thắng thua trong chiến tranh phá hoại bằng đường biển là khi một bên mất cả hai tàu chiến. Thắng thua trong chiến tranh cục bộ là khi một bên mất cả hai quân bộ binh, hai quân xe tăng và hai quân pháo binh. Thắng thua trong lối chơi theo séc (10 hoặc 15 phút) là tính theo số điểm.

6. Quy tắc tính điểm

Nếu chơi tính điểm thì căn cứ để tính điểm như sau:

Bộ binh, công binh, cao xạ, dân quân tóc dài: 10 điểm.

Xe tăng, tên lửa phòng không: 20 điểm.

Pháo binh: 30 điểm.

Máy bay: 40 điểm.

Tàu chiến trên có tên lửa, cao xạ và pháo binh được cộng tiêu chuẩn của ba thứ vũ khí: cao xạ 10 điểm + pháo 30 điểm + tên lửa hải đối hải 40 điểm = 80 điểm.

7. Quy tắc quân anh hùng

Quân nào có cơ hội trực tiếp chiếu Tư lệnh quân đối phương, buộc Tư lệnh phải chạy thì quân đó được phong quân anh hùng. Khoảng cách đi, ăn và điểm tính của quân anh hùng đều được cộng thêm một đoạn (10 điểm). Ví dụ: Bộ binh thường chỉ đi và ăn quân đối phương một đoạn, khi được là quân anh hùng thì được ăn quân đối phương từ một đến hai đoạn. Xe tăng thường đi và ăn quân đối phương một đến hai đoạn, xe tăng anh hùng được đi và ăn quân đối phương thêm một đoạn là ba đoạn… Máy bay anh hùng được diệt cao xạ và tên lửa đối phương mà không bị rơi.

8. Cấu trúc quân cờ

Quân cờ có hai loại: Loại quân tròn như cờ tướng, trên mặt có in ký hiệu các binh chủng; Loại thứ hai là hình khối như cờ vua, nhưng không trừu tượng mà cụ thể là xe tăng, pháo binh, tên lửa… được đúc như những tượng đài nhỏ xíu, in màu xanh đỏ hấp dẫn đủ sức quyến rũ tuổi teen.

V. Chức năng từng thành phần

1. Tư lệnh (*)

Chỉ huy sở của Tư lệnh gồm 2 lô cốt boong ke có thể bố trí thay đổi, lệch sang trái, sang phải, không nhất thiết ở giữa, khi cần thì chuyển lên trên (lối chơi nâng cao) tùy chiến thuật của người đánh cờ, mục đích luyện cho người chơi tìm ra chiến thuật hay nhất trong tấn công cũng như phòng ngự để giành chiến thắng. Tư lệnh khi cần thiết được phép xuất trận, khi đó không nằm trong sở chỉ huy nên dễ bị thương vong, hoặc bị đối phương bắt sống, nhưng điều đó là cần thiết trong chiến tranh. Luật chơi không được lộ mặt Tư lệnh. Tư lệnh chỉ được đi dọc, ngang hoặc lui về sở chỉ huy, với số đoạn không hạn chế, miễn là không vướng khối chắn và chỉ được ăn quân đối phương từng đoạn một. Khi cấp bách Tư lệnh được chui vào boong ke. Tài chỉ huy của Tư lệnh chính là tài chỉ huy của người chơi cờ.

2. Công binh (C)

Công binh có 2 đơn vị (2 quân cờ). Công binh có nhiệm vụ bắc cầu cho lực lượng binh chủng hợp thành vượt chiến tuyến ở đoạn nước sâu, khi đoạn ngầm bị phong tỏa lực lượng không qua được. Sau khi bắc cầu, các phương tiện khác như bộ binh, cao xạ, tên lửa phòng không khi cơ động phải đi theo cầu công binh đã bắc. Công binh đi và ăn quân đối phương theo trục từng đoạn một, kể cả bên kia sông và có thể đứng tại chỗ ăn quân trên biển cách một đoạn.

3. Xe tăng (T)

Xe tăng đi và ăn theo trục từ một đến hai đoạn (không có khối chắn phía trước). Xe tăng khi cơ động phải đi qua ngầm hoặc theo sau công binh. Khi ăn quân đối phương được phép qua luôn bất kể ở đoạn sông nào.

4. Bộ binh (B)

Bộ binh có 2 đơn vị (2 quân cờ), bố trí thường cách chiến tuyến một hàng ngang. Bộ binh đi và ăn quân địch từng đoạn một theo trục tọa độ. Bộ binh được phép tiến, lùi hoặc đi ngang theo ý đồ chiến thuật. Bộ binh đỉ và ăn quân đối phương bên kia sông bất kể đoạn sông nào, được phép đứng tại chỗ ăn quân trên biển cách một đoạn.

5. Dân quân tóc dài (D)

Dân quân ngoài việc được đi và ăn như quân bộ binh, còn được đi và ăn chéo 45 độ từng đoạn một.

6. Pháo binh (P)

Pháo binh có 2 đơn vị. Pháo binh đi và ăn quân đối phương theo trục và chéo 45 độ cách từ một đến ba đoạn, được phép vượt qua khối chắn (do tính năng đường đạn cầu vồng). Pháo được phép đứng tại chỗ để bắn và ăn quân đối phương trên biển. Khi chỉ cơ động, không ăn quân đối phương thì khi qua sông phải qua ngầm cạn hoặc qua đoạn công binh đã bắc cầu.

7. Cao xạ (F)

Cao xạ có 2 trận địa. Cơ động từng đoạn một có nhiệm vụ bảo vệ  quân ta trong dải hỏa lực vòng tròn có bán kính bằng một đoạn thẳng và ăn thẳng quân mặt đất của đối phương từng đoạn một. Cao xạ bắn cháy tất cả máy bay địch khi bay qua dải hỏa lực trận địa, trừ khi quân đối phương là quân anh hùng.

8. Tên lửa phòng không (L)

Tên lửa phòng không đi và ăn quân mặt đất từ một đến hai đoạn thẳng theo trục khi phía trước không có khối chắn và ăn chéo 45 độ chỉ một đoạn (trong vành đai hỏa lực). Tên lửa có vành đai hỏa lực bán kính bằng hai đoạn thẳng. Máy bay đối phương xâm phạm dải hỏa lực đó đều bị cháy.

9. Hải quân (H)

Hải quân trên tàu chiến có cao xạ (H1), pháo (H3) và tên lửa hải đối hải (H4). Cao xạ có dải hỏa lực vòng tròn bằng một đoạn thẳng để bảo vệ tàu và bảo vệ quân mình trong tác chiến hợp đồng. Máy bay đi qua dải hỏa lực của cao xạ một đoạn trên tàu chiến đối phương thì coi như bị cháy.

Tàu chiến đi trên biển từ một đến bốn đoạn, theo tiêu chuẩn tên lửa hải đối hải. Tên lửa hải đối hải chỉ bắn mục tiêu trên biển và trên bờ, không bắn mục tiêu sâu vào đất liền. Pháo trên tàu vừa cơ động vừa bắn mục tiêu trên biển, trên bộ sâu vào đất liền, ăn quân đối phương cách từ một đến ba đoạn theo trục tọa độ và theo đường chéo 45 độ. Tàu chiến có thể vào đoạn sông sâu phía ngoài đoạn có ngầm đá cạn.

10. Không quân (K)

Không quân có 2 sân bay. Máy bay có thể cơ động thẳng theo trục, chéo 45 độ và oanh kích mục tiêu đối phương với quy định khoảng cách trong phạm vi từ một đến bốn đoạn. Được phép bay vượt qua khối chắn. Được phép oanh tạc mục tiêu, song có thể trở lại vị trí xuất phát ngay hoặc ở lại nơi đã oanh kích. Nhưng nếu bay qua dải hỏa lực vòng tròn của cao xạ, của tên lửa thì coi như máy bay bị cháy. Máy bay nhằm oanh kích trận địa cao xạ, tên lửa thì một đổi một. Trừ khi máy bay là quân anh hùng.

11. Công sự

Mỗi bên có 2 công sự hợp thành sở chỉ huy. Công sự không được cơ động và không ăn được quân đối phương.

VI. Cách ghi nước đi khi chơi trên mạng

Trong các thế cờ, để ghi lại vị trí và sự dịch chuyển quân cờ, người ta thường ghi lại các nước đi như sau:

Dấu chấm (.) là tiến. Ví dụ: Cao xạ tiến 1 đoạn ghi là F1.

Hai gạch ngang (=) là đi ngang. Ví dụ: Xe tăng đi ngang 2 đoạn về bên trái ghi là T=2t.

Gạch chéo (/) là đi chéo. Ví dụ: Pháo binh ăn chéo hai đoạn về bên phải ghi là P/ 2f.

Hai chấm (:) là đi lùi.

Quá trình chơi Cờ tư lệnh, có thể rút ra cách đánh sao cho hiệu quả, ít mất quân mà vẫn giành thắng lợi. Qua một thời gian, khi đã chơi thành thạo, người chơi cờ có thể rút ra các nước chơi, các thế cờ tối ưu.

Chơi Cờ Tư lệnh, không bị gò bó về bố trí quân và phát huy tối đa mưu trí, sáng tạo, quyết đoán, rèn luyện tài tổ chức lực lượng giành chiến thắng.

Khi đã chơi thành thạo, người chơi chuyển lên chơi nâng cao. Trong cách chơi nâng cao, hai bên bí mật bố trí đội hình của mình. Khi bắt đầu chơi mới cùng lộ đội hình, buộc người chơi phải nhanh chóng xử trí mọi tình huống.

VII. Ván cờ kết thúc như thế nào

A. Khi chơi theo thời gian, 10 hoặc 15 phút, trong giờ giải lao, cờ sẽ kết thúc khi đến giờ quy định và thắng thua tính theo số điểm, như trong quy tắc đã nói. Trong các cuộc thi có thể phân thắng bại qua ba séc, tính theo điểm, nếu không kết thúc từng chiến cuộc. Mỗi séc thường từ 10 đến 15 phút.

B. Khi chơi không khống chế thời gian:

– Kết thúc khi dừng chơi, thắng thua tính theo số điểm của các quân mỗi bên ăn được.

– Kết thúc khi trận không chiến kết thúc, nghĩa là khi một bên mất cả hai quân máy bay không còn sức chiến đấu trên không. Bên thắng, ngoài số điểm tính theo số quân ăn được còn được thưởng thêm số điểm tương đương số điểm của hai quân máy bay (80 điểm).

– Kết thúc khi trận hải chiến kết thúc, nghĩa là khi một bên mất cả hai quân tàu chiến không còn sức chiến đấu trên biển. Bên thắng, ngoài số điểm tính theo số quân ăn được còn được thưởng thêm số điểm tương đương với số điểm của hai quân tàu chiến (160 điểm).

– Kết thúc khi chiến tranh cục bộ kết thúc, nghĩa là khi một bên mất hết quân xe tăng, quân bộ binh, quân pháo binh, không còn sức chiến đấu. Bên thắng, ngoài tính điểm theo số quân ăn được còn được thưởng thêm số điểm của ba binh chủng đó cộng lại. Cụ thể hai quân pháo 30×2, hai quân xe tăng 20×2, hai quân bộ binh 10×2, vậy tổng cộng điểm thưởng là 120 điểm.

– Kết thúc khi Tư lệnh bị bắt sống, bị chiếu hết đường thoái lui, hoặc Tư lệnh không còn quân. Bên thắng, ngoài điểm tính theo số quân ăn được còn được thưởng 200 điểm và người thắng được phong là Siêu Tư lệnh.

 

… Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ
Kiên quyết không ngừng thế tấn công
… Lạc nước hai Xe đành bỏ phí
Gặp thời một Tốt cũng thành công….
… Tấn công phòng thủ không sơ hở 
Đại tướng anh hùng mới xứng danh. 
                   Hồ Chí Minh


Hà Nội, ngày 1 tháng 11 năm 2010
Người sáng chế
Nguyễn Quí Hải

Mời bạn đọc cùng chiêm ngưỡng hàng loạt xe máy đắt tiền mang biển tứ quý, tiến lên, “thần tài”… trên đường phố.

“Thần tài” trên Đại lộ Đông Tây (quận 2 – TP.HCM).
 Nào ta cùng tiến…lên.
 “Bộ sưu tập” tứ quý!
Xe máy biển đẹp 'diễu' phố Sài Gòn
Ảnh chụp trên đường Võ Văn Ngân, quận Thủ Đức ngày 26/7
Xe máy biển đẹp 'diễu' phố Sài Gòn
Ảnh chụp trên đường Đặng Văn Bi, phường Trường Thọ, quận Thủ Đức ngày 25/7
Xe máy biển đẹp 'diễu' phố Sài Gòn
Ảnh chụp trên đường Kha Vạn Cân, phường Linh Tây, quận Thủ Đức ngày 22/7
Xe máy biển đẹp 'diễu' phố Sài Gòn
Ảnh chụp trên Xa lộ Hà Nội, quận 9 ngày 26/7
Xe máy biển đẹp 'diễu' phố Sài Gòn
Ảnh chụp trên đường Hoàng Diệu 2, phường Linh Chiểu, quận Thủ Đức ngày 22/7

 

Theo Kiến Trúc và Bee

DK1 23 tuổi: Còn nhà giàn là còn biển

TT – Ngày 5-7-2012 là ngày kỷ niệm 23 năm thành lập cụm nhà giàn DK1. “Sinh nhật” nhưng mọi sinh hoạt của các cán bộ, chiến sĩ tại nhà giàn cũng như ban chỉ huy vẫn diễn ra bình thường.

Đoàn đại biểu TP.HCM đến thăm cán bộ, chiến sĩ trên nhà giàn DK1/15 vào tháng 4-2012 – Ảnh: MINH ĐỨC

“Vì là năm lẻ mà” – thiếu tá Nghiêm Xuân Thái, chính trị viên phó tiểu đoàn DK1, cười nói khi tiếp đoàn đại diện báo Tuổi Trẻ đến thăm hỏi, chúc mừng.

Món quà lần này báo Tuổi Trẻ đại diện bạn đọc ở đất liền mang đến DK1 là những chiếc tủ đông. Trong đợt thăm nhà giàn gần nhất vào tháng 5-2012, các chiến sĩ nhà giàn đã thổ lộ mong muốn có được chiếc tủ đông để trữ thức ăn tươi, sau khi những tấm pin mặt trời đã cung cấp đủ điện cho các sinh hoạt thường ngày.

“Trước khi có chương trình Thắp sáng nhà giàn của Tuổi Trẻ, chúng tôi thật là trăm bề khổ” – trung tá Dương Thế Đường, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn DK1, nhắc. Những câu chuyện cũ ùa về: những ngày không đủ điện, không ánh sáng, không phương tiện giải trí, để duy trì liên lạc có khi tàu phải chở máy phát điện đi từ nhà giàn này sang nhà giàn kia, lại có khi tàu đi rồi phải quay lại vì máy phát thiếu tay quay…

Chuyện như từ ngày xưa nhưng thật ra chỉ mới đây thôi, trước tháng 5-2009, trước sinh nhật lần thứ 20 của nhà giàn, trước khi Tuổi Trẻ phát động chương trình Chung tay thắp sáng nhà giàn DK1.

15 nhà giàn DK1, những căn nhà treo trên cọc thép đang lần lượt được sửa chữa, nâng cấp để tiếp tục trụ vững với nhiệm vụ làm cột mốc chủ quyền của Việt Nam giữa biển Đông. 23 năm, đã có chín cán bộ, chiến sĩ hi sinh khi bảo vệ nhà giàn và hàng trăm cán bộ, chiến sĩ khác vẫn đang ngày đêm bám trụ giữa nắng gió, mưa bão và những căng thẳng chính trị.

“Hôm rồi đổi quân, có nhiều anh em xung phong ở lại không về” – trung tá Đường kể trong câu chuyện. Hết chuyện cũ đến chuyện mới, không thể không nhắc về những bất ổn trên biển Đông những ngày gần đây, các sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn DK1 khẳng định: “Các chiến sĩ của chúng tôi trên nhà giàn coi như treo trên biển, chân không đạp đất nhưng đầu đội trời Việt Nam. Dù có việc gì xảy ra, chúng tôi không có chọn lựa nào khác ngoài việc bảo vệ nhà giàn, bảo vệ biển Việt Nam. Còn người là còn nhà giàn, còn nhà giàn là còn biển”.

Những khẳng định mạnh mẽ dường như đối lập với những thiếu thốn mà các chiến sĩ đã và vẫn đang phải kiên trì chịu đựng, khắc phục. Thiếu nước, thiếu điện, thiếu tiện nghi, thiếu tình cảm. Chỉ có sự hi sinh là dư thừa. Và vì vậy, càng biết rằng món quà nhỏ mà chúng tôi mang đến hôm nay thật nhỏ bé, càng biết rằng đất liền còn quá nhiều việc phải làm để góp phần gìn giữ biển Đông.

P.VŨ [Tuổi trẻ]