Tag Archive: yêu


Trung Quốc đừng dại thử lòng yêu nước của dân tộc Việt

(ĐVO) – Lòng yêu nước của dân tộc Việt, về góc độ xã hội, lịch sử được gọi là Truyền thống, về góc độ khoa học được gọi là Gen di truyền. Cho nên, thế giới có đổi thay, vương triều có đổi thay nhưng truyền thống đó hay gen di truyền đó không bao giờ thay đổi.

Không rõ tinh thần yêu nước của dân tộc Trung Hoa như thế nào, bởi vì từ xưa Trung Quốc chỉ đi xâm lược, mở rộng lãnh thổ, nhưng khi bị các quốc gia khác tới xâm lược như Nguyên Mông, Anh, Nhật Bản thì họ đều thúc thủ và ý chí của họ thể hiện trong “Vạn lý trường thành”, trong cuộc biểu tình chống Nhật Bản mới đây…thì có lẽ chỉ họ mới hiểu, đánh giá được thực chất, sức mạnh kết nối lòng yêu nước của dân tộc họ.

Dân tộc Việt, lòng yêu nước được biểu hiện theo cách khác, đơn giản là “Sông núi nước Nam, vua Nam ở” nó đã “rành rành định sẵn” rồi. Kẻ nào, dù hung hãn đến đâu, xâm phạm là phải và bị đánh đuổi, đơn giản thế thôi. Về ý chí thì “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm 20 năm hoặc lâu hơn…”, “dù có đốt cháy dãy Trường Sơn cũng phải giành độc lập”…

   Chủ quyền của Tổ quốc luôn thiêng liêng trong mỗi người Việt Nam
Chủ quyền của Tổ quốc luôn thiêng liêng trong mỗi người Việt Nam

Duy nhất một lần dưới triều Nguyễn, nhưng lịch sử thời đó vẫn còn vang vọng những cái tên hào hùng lẫm liệt của Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, còn đó lời bất hủ của Nguyễn Trung Trực…và hơn 90 năm sau, năm 1954, dân tộc Việt đã vùng lên bằng trận Điện Biên Phủ chấn động địa cầu.

Mỹ thua Việt Nam có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân đầu tiên là Mỹ không hiểu dân tộc Việt. Chỉ đến năm 1972 khi Nixon bắt tay Mao Trạch Đông ở Thượng Hải thì người Mỹ mới tin rằng Việt Nam dân chủ cộng hòa và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam đánh Mỹ là vì lý do thống nhất đất nước chứ không phải đánh Mỹ bởi tác động của Trung Quốc hay Liên Xô.

Máu xương của thế hệ ông, cha, anh đổ xuống để có hôm nay, cho con cháu một Việt Nam liền một dải, không như bán đảo Triều Tiên hiện giờ là quý báu biết chừng nào và đương nhiên chỉ ai là con cháu Lạc Hồng mới cảm nhận được.

Lòng yêu nước của dân tộc Việt, về góc độ xã hội, lịch sử được gọi là Truyền thống, về góc độ khoa học được gọi là Gen di truyền. Cho nên, thế giới có đổi thay, vương triều có đổi thay nhưng truyền thống đó hay gen di truyền đó không bao giờ thay đổi.

Động thái hung hăng, ngang ngược, đe dọa gây hấn trên Biển Đông của Trung Quốc đòi độc chiếm 80%, xâm phạm đến chủ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt đang ngày càng được người Việt Nam trong và ngoài nước ý thức rất rõ ràng.

Sự việc đường “lưỡi bò” trên bản đồ; đèn lồng in chữ “Tam Sa”; sách vở in sai, có cờ Trung Quốc; siêu thị Big C bán nho…được sự “quan tâm” sát sao của dân cả nước là dấu hiệu của lòng tự tôn dân tộc, lòng yêu nước đang phát tiết mà không cần hô hào phát động.

Hành động rất nguy hiểm của Trung Quốc mới đây trên Biển Đông, dùng súng bắn cháy ca bin tàu đánh cá của ngư dân Việt trong vùng biển chủ quyền Việt Nam là hành động ngang ngược, độc ác, vô nhân đạo và chúng không hiểu được sức mạnh lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam.

 Ca bin tàu bị Hải giám TQ bắn cháy nhưng quyết không để cháy cờ Tổ quốc
Ca bin tàu bị Hải giám TQ bắn cháy nhưng quyết không để cháy cờ Tổ quốc

Hạm đội 7 của Hoa Kỳ ngày xưa (là niềm mơ ước của hạm đội Nam Hải-Trung Quốc ngày nay) khi Hải quân Việt Nam là con số “không” mà còn không dọa được Việt Nam thì vài chục con tàu giả dạng Hải giám, đằng sau có vài con tàu chiến tập trận, đã tỏ ra hung hăng, xua đuổi phi pháp tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam là có thể dễ dàng tác quái trên Biển Đông của Việt Nam ư? Họ đã lầm vì dân tộc Việt luôn yêu chuộng hòa bình, muốn là bạn với láng giềng một cách thân thiện, hữu nghị nhưng lòng yêu nước, bảo vệ từng tấc đất, tấc biển của Việt Nam thì ngàn đời không thay đổi. Họ chỉ tổ tốn dầu và hao máy mà thôi. Hành động ngang ngược, ác độc, vô nhân đạo của Trung Quốc đã kích hoạt lòng yêu nước của dân tộc Việt.

Lịch sử vốn không bao giờ lặp lại, nhưng khi đã lặp đi lặp lại nhiều lần thì chứng tỏ điều đó đã trở thành quy luật khách quan, mà khi đã là quy luật thì đừng dại dột làm trái với nó.

Chỉ có kẻ điên mới mong có sóng thần để thử độ vững của đê chắn sóng.

  • Lê Ngọc Thống

Yêu nước là gì? Yêu nước như thế nào?

 

Đối với em, yêu nước xuất phát từ tình yêu gia đình, dòng tộc, yêu cha mẹ và những năm tháng tuổi thơ sống trong yên bình dưới mái nhà nơi làng quê, yêu xóm giềng, yêu cả những khuôn mặt người quen nơi đồng đất quê nhà. Đi tha phương cả bốn phương trời, kết giao với đủ bạn bè, bằng hữu, tham gia đủ mọi mỗi quan hệ giản đơn cũng như phức tạp để biết rằng sẽ không ai yêu thương ta, hi sinh vì ta vô điều kiện và sẵn sàng như cha mẹ, anh chị em. Gia đình là tình yêu thiêng liêng đầu đời, cũng là cái nôi đầu tiên giúp ta nuôi dưỡng lý tưởng. Nếu một ngày có phải chiến đấu, phải hi sinh cho tổ quốc, cũng sẵn lòng vì tổ quốc phải đâu là khái niệm quá xa vời, tổ quốc chính là nơi có mẹ cha, có gia đình, dòng tộc, những bạn bè, những người quen thân, tổ quốc là một phần máu thịt.

 

Yêu nước là yêu quê hương. Quê em nghèo, chênh vênh trên những mảnh đồi bát úp hướng ra sông Lục Nam. Mỗi tháng 7 nước lên, đồng quê lại mênh mông thành biển nước, con sông nhỏ như dòng kênh vào mùa xuân giờ cuộn cuộn sóng liếm lên tận cổng nhà. Càng khôn lớn, càng đi xa để hiểu nhiều, biết nhiều em càng khao khát được về chạy giữa cánh đồng quê, được nằm vóng mắc trước sân nhà ngửa mặt lên trời nhìn trăng sao vằng vặc. Quê hương thành mảnh đất thiêng liêng, thành nỗi nhớ thiết tha cho mỗi đứa con tha phương. Còn quê hương là còn một chốn để trở về sau hết thảy những rốt ráo bộn bề vinh nhục. Quê hương như mẹ, không bao giờ chối bỏ những đứa con.

 

Yêu nước là yêu dân tộc Việt, dòng máu Việt. Yêu nước là biết đau thương, xót xa và chia sẻ với đồng bào mình. Yêu nước là biết đau lòng vì Miền Trung mỗi mùa lũ lụt lại có mất mát, lại có đói khát thảm thương. Yêu nước là xót xa khi thấy đồng bào mình cơm đói áo lạnh trên những rẻo cao mùa đông khắc nghiệt. Yêu nước là biết buồn cho những phận người ĐBSCL trồng lúa nhiều nhất cả nước mà vẫn đói nghèo, vẫn thất học vì từng bữa chạy ăn. Đối với em, yêu nước là yêu dân tộc.

 

Yêu nước cũng là biết sống có trách nhiệm hơn, cả trong suy nghĩ và trong hành động. Mọi tình yêu cuồng dại và mù quáng đều dẫn đến bi kịch, yêu nước cũng thế. Ai yêu nước thì hãy cố gắng hiểu nhiều hơn về nước mình để biết lợi biết hại, biết giữ cho trái tim nóng mà cái đầu thì nguội bớt những suy nghĩ ngông cuồng. Yêu nước không phải là mù quáng xả thân mình cho những phiêu lưu nguy hiểm và viển vông hay chỉ biết kêu gào yêu nước bằng máu xương của người khác. Trong suy nghĩ của em, yêu nước giản đơn là làm tốt công việc của mình, sống tốt bổn phận của mình và sẵn sàng đáp lời khi tổ quốc thật sự cần. Cuộc sống đã phân công sẵn cho mỗi con người những việc phải làm, những vị trí phải đảm nhận, khi hòa bình, làm tốt trách nhiệm ấy cũng đã là yêu nước, khi tranh đấu, đâu đâu cũng là mặt trận, hãy cố gắng cống hiến thật nhiều dù đang ngoài tuyến lửa hay đang ở hậu phương.

 

Yêu nước là biết trân trọng lịch sử, biết tự hào rằng mảnh mình sống hôm nay đã đổi bằng máu xương của biết bao thế hệ cha anh, bằng mất mát của cả một dân tộc suốt những tháng năm trường kỳ kháng chiến. Yêu nước là khắc cốt ghi tâm rằng một tấc đất non sông, một ngày tháng hòa bình, độc lập và tự chủ mà chúng ta đang hưởng là thành quả, là nỗ lực phi thường của cả một dân tộc, là sự đánh đổi bằng sự hi sinh của cả triệu thanh niên mang dòng máu Lạc Hồng đã nằm lại với chiến trường. Việt Nam là dân tộc yêu chuộng hòa bình, lịch sử dân tộc mình là lịch sử dựng nước và giữ nước, sức mạnh phi thường của dân tộc đến từ lòng yêu nước, tinh thần chính nghĩa và tình đoàn kết đồng bào máu mủ ruột già. Nếu yêu nước, xin hãy giữ bài học lịch sử ấy làm lòng.

 

Yêu nước xin hãy biết gạt bỏ những định kiến cá nhân để đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Hãy nhớ rằng có giữ được nước mới có cơ sở để mà xây dựng được một đất “đàng hoàng hơn” “to đẹp hơn”, công bằng hơn, tốt đẹp hơn như các bạn vẫn thường mong. Yêu nước là biết quan tâm đúng mực đến vận mệnh của dân tộc, là biết trân trọng hòa bình, gìn giữ hòa bình nhưng cũng sẵn sàng đứng lên để bảo vệ hòa bình cho tổ quốc thân yêu.

 

Em đang sống những tháng năm lãng mạn nhất của một đời người: Tuổi đôi mươi. Bao nhiêu những người trẻ như em cũng đang sống với nhiệt huyết, với tham vọng, vơi bao nhiêu dự định còn đang toan tính dở dang. Chúng ta nuôi những giấc mộng khác nhau, sống với lý tưởng khác nhau và quan điểm cũng khác nhau rất nhiều, nhưng chắc chăn lòng yêu nước và quyết tâm bảo vệ tổ quốc trong mỗi chúng ta là điều không hề khác.

 

 

sưu tầm facebook. [https://www.facebook.com/bmmua]

Con gái thường hỏi những câu .. khó trả lời. Nhưng nếu bạn trả lời được, 100% chiến thắng trong tay bạn. Dưới đây là câu trả lời…khè khè zui và ngộ lắm nè

Hỏi: Em là mối tình thứ mấy của anh?
Đáp: Không phải là đầu tiên, chưa chắc là cuối cùng, và dĩ nhiên không phải là “duy nhất”. Nhưng là mãi mãi. ( pó tay)

H: Tại sao anh yêu em?
Đ: Nếu biết tại sao thì anh đã biết cách ngừng yêu em rồi.( wá hey)

H: Anh có phải là người chung thủy không?
Đ: Không. Nếu chung thủy anh đã không phản bội lại người phụ nữ từng là duy nhất của đời anh để quay sang yêu em.
H: (nghẹn ngào)
Đ: Mẹ anh.

H: Nếu em không xinh/ giỏi…. như bây giờ liệu anh có yêu em không?
Đ: Không. Lúc đó em đâu còn là em nữa.

H: Em sẽ nhận lời yêu anh nếu anh dám nhảy xuống hồ này vì em?
Đ: Không. Anh đâu có muốn em yêu một thằng ngu. ( tài wá nha)

H: Không biết sau này anh hay em chết trước nhỉ?!
Đ: Hy vọng là em. Anh không muốn em phải chịu đựng cảm giác đau khổ khi phải sống một mình trên đời này.

H: Bạn bè anh có ủng hộ chúng ta quen nhau không?
Đ: Dĩ nhiên là không. Yêu em, anh không còn tâm trí và thời gian để dành cho bạn bè nữa.

H: Trước đây anh có từng nghĩ sẽ yêu một người như em không?
Đ: Không. Anh thậm chí không dám nghĩ đến điều cao xa như thế.

H: Anh ghét đi shopping với em lắm đúng không?
Đ: Ừ, rất ghét. Cùng một quãng thời gian đó, nếu ta vào quán café, anh sẽ nói được một ngàn lần câu “anh yêu em”.

H: Khi nói “anh yêu em”, anh có lừa dối em không?
Đ: Có. Thật ra là “anh yêu em rất nhiều”

H: Anh có nhớ em khoảng 10 phút một lần không?
Đ: Vậy trong 10 phút đó anh biết làm gì khác?

PVN yêu cầu công ty Trung Quốc hủy ngay hoạt động mời thầu

Chiều nay 27/6, tại trụ sở Tập đoàn Dầu khí Quốc gia VN (PVN) diễn ra buổi họp báo về việc Trung Quốc mở thầu quốc tế 9 lô dầu khí trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam.

Ông Đỗ Văn Hậu – Tổng giám đốc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) cho biết, từ ngày 23/6/2012 mạng tiếng Trung và tiếng Anh của Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) đã công bố mời thầu 9 lô dầu khí hợp tác thăm dò khai thác trong năm 2012 với các công ty nước ngoài, tổng diện tích của khu vực này là 160.129,38 km2. Qua kiểm tra tọa độ do phía Trung Quốc công bố, các lô này nằm sâu vào thềm lục địa của VN, chồng lên các lô từ 128 đến 132 và từ 145 đến 156 mà PVN đã và đang tiến hành các hoạt động dầu khí từ lâu nay.

 
Bản đồ thể hiện những vị trí Trung Quốc mở thầu quốc tế trái phép trên lãnh hải Việt Nam

Ông Hậu nói: “Về việc này, PVN khẳng định, CNOOC đã thông báo chào thầu quốc tế tại 9 lô dầu khí nằm trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa của VN. Đây hoàn toàn không phải là khu vực có tranh chấp. Đây là việc làm sai trái, không có giá trị, trái với Công ước Liên Hiệp Quốc 1982 về luật Biển và không phù hợp với thông lệ dầu khí quốc tế. Hành động này đã vi phạm nghiêm trọng quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia của VN, làm phức tạp thêm tình hình và gây căng thẳng ở biển Đông”.

“Tập đoàn Dầu khí quốc gia VN cực lực phản đối và yêu cầu CNOOC hủy bỏ ngay hoạt động mời thầu sai trái trên, nghiêm túc tuân thủ thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển VN – Trung Quốc, tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên Hiệp Quốc về luật Biển năm 1982 và tinh thần tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC)”, ông Hậu nói.

Tổng giám đốc PVN cũng đề nghị các công ty dầu khí quốc tế không tham gia dự thầu 9 lô dầu khí mà CNOOC gọi thầu trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa VN.

 9 lô dàu khí 1
Vị trí 9 lô dầu khí Trung Quốc mời thầu trái phép trên thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam –

Theo ông Hậu, VN luôn coi trọng quan hệ hợp tác hữu nghị với Trung Quốc. PVN cũng luôn coi trọng hợp tác hữu nghị với CNOOC. Trên thực tế, PVN và CNOOC đã ký và triển khai một số thỏa huận hợp tác trong lĩnh vực dầu khí. PVN hoan nghênh CNOOC và các công ty dầu khí Trung Quốc tham gia hợp tác cùng PVN trên vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của VN như đối với các đối tác nước ngoài khác.

 9 lô dàu khí
Ông Đỗ Văn Hậu khẳng định mọi hoạt động khai thác dầu khí của Việt Nam vẫn diễn ra bình thường

Ông Hậu cũng khẳng định, PVN và các đối tác sẽ tiếp tục triển khai các hoạt động dầu khí phù hợp với các hợp đồng dầu khí đã ký và luật pháp của VN. PVN sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng của VN bảo đảm cho các hoạt động này triển khai thuận lợi.

Theo Thanh Niên

Những câu nói hay và ý nghĩa về cha mẹ

https://www.facebook.com/ConYeuBaMe.KhongNenLoi

Nuôi con chẳng quản chi thân

Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn.

Ơn cha núi chất trời Tây

Láng lai nghĩa mẹ nước đầy biển Đông.

Ơn cha trọng lắm ai ơi

Nghĩa mẹ bằng trời mang nặng đẻ đau.

Lên non mới biết non cao

Nuôi con mới biết công lao mẫu từ.

1/Nơi ẩn náu yên ổn nhất là lòng mẹ .

Florian

2/ Trên môi và trong trái tim em bé :” mẹ chính là tên của thượng đế ”

Thackeray

3/ Trái tim người mẹ là trường học của đứa con .

W. Bacher

4/ Tương lai của con là công trình của mẹ .

Napoleon I

5/ Bàn tay đong đưa vành nôi là bàn tay thống trị toàn cầu .

W.R.Wllce

6/ Mẹ, người tuyệt diệu nhất của mỗi con người trên thế gian này có được.

7/ Ôi ! tình mẹ , mối tình ko ai quên được .

V.Hugo

8/ Lòng mẹ là vực sâu mà dưới đáy luôn có sự khoan dung .

Balze.

9/ Ko có bà mẹ thì tổ ấm là cái gì ?

A.Hawthorne.

10/Có vợ là có lời khuyên chí lí , có mẹ vợ là được tiếp đón ân cần nhưng ko có gì hơn 1 người mẹ hiền .

L.Tolstoi.

11/Sự âu yếm của mẹ , 1 cuộc dạo chơi thú vị , những giờ phút say sưa nghe kể chuyện vui tươi , những điều ấy tác động đến cả 1 đời người .

M.Barries.

12/Vũ trụ ko có nhiều kì quan , nhưng kì quan tuyệt phẩm nhất là trái tim người mẹ.

Bernard Shaw.

13/Hạnh phúc thay cho người nào được Thượng Đế ban tặng cho một người mẹ hiền.

Lamartime

14/Người mẹ đánh đòn sửa phạt con nhưng chẳng mấy chốc bao con bằng những nụ hôn

Ngạn ngữ Armenia


15/Trên đời này, hầu hết những gì là đẹp đều hiện ra như hai, như ba, như hàng tá hay hàng trăm thứ. Nhiều như thể những bông hồng, những buổi hoàng hôn, những cầu vồng, những anh chị, những chú bác cô dì và anh em họ; nhưng trên cả thế giới, ta luôn luôn chỉ có MỘT bà mẹ!

Kate Douglas Wiggin


16/Nghề đẹp nhất, quan trọng nhất trong tất cả mọi nghề, là làm mẹ. Đó là nghề đòi hỏi nhiều tri thức nhất trong lãnh vực khoa học nhân bản.

Elizabeth Cady Stanton


17/Theo kinh nghiệm và nhận xét cuả tôi, nếu một gia đình còn bền chặt được qua thử thách, thì chín phần mười là nhờ ở người mẹ.

Roddy Doyle


18/Chuá không thể ở khắp mọi nơi, nên Ngài sinh ra người mẹ.

Proverbe yiddish


19/Tôi đã mở mắt ra, tôi đã say mê nhìn mặt mẹ tôi …Tôi bắt đầu cuộc sống như vậy.

George Eliot

20/Ý nghĩa của từ mẹ

Million là hàng triệu điều mẹ trao cho con…

Old là nghĩa là mẹ sẽ vì thế mà ngày càng già đi…

Tears là những giọt nước mắt mà mẹ đã đổ vì con…

Heart là trái tim vàng của mẹ…

Eyes là đôi mắt mẹ luôn dõi theo con…

Right là những gì đúng đắn mẹ hay khuyên bảo…

“Cha mẹ nhận một đời bão tố

Để cho con mãi mãi bình yên”


“Nước biển mênh mông không đong đầy tình Mẹ

Mây trời lồng lộng không phủ kín tình Cha”



” Đi khắp thế gian không ai tốt bằng Mẹ

Gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng Cha”./.

MTH: Công chúa yêu kiều giữa biển Trường Sa

Nguồn: http://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=71072&p=869080#post869080

Mai Thanh Hải – Đó là nhà giàn Huyền Trân (DK1/7), nằm trên vùng biển Trường Sa, cách TP. Vũng Tàu gần 254 hải lý về phía Đông Nam.

Thượng tá Lê Đình Việt, Phó Chính ủy Lữ đaàn 171, Vùng II Hải quân bảo: Dịp biển lặng như… ao, nhà giàn soi bóng xuống nước, lung linh như 1 nàng công chúa. Chả thế mà nhà giàn mang tên Huyền Trân, con gái vua Trần Nhân Tông, từ thủa giữ nước bộn bề, tít tắp quá khứ xa xưa.

Anh Việt gắn bó với nhà giàn từ khi những cái nhà cao cẳng, mọc lêu nghêu trên thềm lục địa phía Nam Tổ quốc, nên tỷ thứ chuyện liên quan, đều thuộc làu làu hơn cháo. Thế nên, câu chuyện của tụi mình, trong cả tháng hành quân từ bờ biển, từ đảo đến đảo, từ đảo qua nhà giàn, quanh đi quẩn lại vẫn chỉ là DK1.

Lẩn mẩn tính ra, trên toàn thế giới, chả có lực lượng Hải quân nào giống như Hải quân Việt Nam, mà trực tiếp là Lữ đoàn 171, bởi Lữ này, ngoài tàu bè, súng pháo, còn có 1 Tiểu đoàn rất đặc biệt, mang tên Tiểu đoàn DK1, chuyên làm nhiệm vụ canh trời giữ biển Tổ quốc trên những nhà giàn giống y tổ chim, cắm cheo leo trên mặt biển.

Diễn giải ra, thì vắn tắt thế này: DK1 là Cụm Dịch vụ kinh tế-khoa học-kỹ thuật, được xây dựng dưới dạng các nhà giàn, trên thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc, cách đất liền khoảng 250-350 hải lý.

Trên khu vực Biển Đông, chúng ta đã xây dựng cụm 7 khu vực xây dựng nhà giàn, mỗi nhà giàn là một Trạm Dịch vụ Kinh tế-Khoa học kỹ thuật (DVKT-KHKT), giao cho Lữ đoàn 171 thuộc Vùng 2 Hải quân quản lý.

DK là chữ cái đầu viết tắt của cụm từ Dịch vụ-Khoa học kỹ thuật, được hiểu như một công trình phục vụ mục đích dân sự trên biển.

Số 1 chỉ những nhà giàn ở vòng ngoài cùng, xa nhất, so với phía gần đất liền hơn là hệ thống DK2.

Sau cuộc đụng độ 14/3/1988, Trung Quốc bất ngờ nổ súng chiếm đảo Gạc Ma và bắn chết 64 cán bộ chiến sĩ Hải quân Việt Nam đang làm nhiệm vụ xây dựng, canh giữ đảo, một số tàu chiến, tàu thăm dò của Trung Quốc được đà, xuất hiện sâu trong thềm lục địa phía Nam Việt Nam, nơi có tiềm năng lớn về dầu khí và có ý nghĩa chiến lược về an ninh, quốc phòng.

Trước tình hình đó, ngày 17/10/1988, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh ký văn bản 19/NQ-TƯ về việc bảo vệ khu vực bãi ngầm trong thềm lục địa phía Nam (gọi tắt là khu DK1).

Cùng thời gian này, Tư lệnh hải quân Giáp Văn Cương cũng đã khẩn cấp giao cho Lữ đoàn 171 nhiệm vụ trấn giữ, bảo vệ chủ quyền thềm lục địa phía Đông Nam.

Với những trang thiết bị đo độ sâu, biên đội tàu HQ-713 và HQ-668 do Trung tá Lữ đoàn trưởng Phạm Xuân Hoa chỉ huy đã ra khơi khảo sát, đo đạc trên vùng biển rộng 60.000km2, tìm ra các điểm cạn và định vị các bãi đá ngầm san hô Ba Kè, Phúc Tần, Phúc Nguyên, Quế Đường, Tư Chính và Huyền Trân.

Chính từ những dữ liệu đó, hệ thống nhà giàn DK1 được xây dựng

Từ ngày 10 đến 15/6/1989, Bộ Giao thông – Vận tải phối hợp với Bộ Tư lệnh Công binh tiến hành xây dựng xong nhà giàn đầu tiên tại bãi đá ngầm Phúc Tần (tên địa danh hành chính là Trạm KT-KHDV Phúc Tần). Đây là nhà giàn được khảo sát ở vị trí số 3 nên còn được gọi là nhà giàn DK1/3 và là nhà giàn đầu tiên được xây dựng hoàn chỉnh.

Ngay sau khi nhà giàn được xây dựng xong, một phân đội thuộc Lữ đoàn 171 Hải quân do Đại úy Nguyễn Văn Nam chỉ huy lần đầu tiên ra bám trụ nhà giàn.

Sau đó, ngày 16/6/1989, nhà giàn DK1/4 cũng hoàn thành.

Từ ngày 27/6/1989, Tổng cục Dầu khí phối hợp với Bộ Tư lệnh Công binh cũng hoàn thành nhà giàn DK1/1.

Ngày 5/7/1989, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra chỉ thị số 180U/T về việc xây dựng Cụm DVKT-KHKT thuộc Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo, xác định lại chủ quyền Việt Nam đối với khu vực thềm lục địa này.

Ngày 2/11/1989, Trạm DVKT-KHKT Tư Chính B (hay Tư Chính 2, hay Nhà giàn DK1/5) được thành lập, trở thành nhà giàn DK1 thứ 4.

Ngày 10/11/1990, Trạm DVKT-KHKT Phúc Nguyên (hay Nhà giàn DK1/6) được xây dựng xong, trở thành nhà giàn DK1 thứ 5.

Giai đoạn đầu các nhà giàn tương đối thô sơ, kết cấu dạng pông-tông (một dạng phao lớn hình khối hộp làm bằng kim loại) đặt trên nền san hô, dễ bị dịch chuyển bập bềnh trong nước khi có sóng lớn cấp 4 hoặc dòng nước chảy mạnh.

Tháng 12/1990, một cơn bão lớn với gió giật cấp 12 đã giật sập nhà giàn DK1/3 làm 3 CBCS hy sinh (Chỉ huy phó Chính trị Trần Hữu Quảng, Trung sĩ cơ điện Hồ Văn Hiền và Trung úy Quân y Trần Văn Là). Các nhà giàn DK1/4, DK1/6 cũng bị bão giật sập nhưng không thiệt hại về người.

Không quản ngại khó khăn, chúng ta tiếp tục xây dựng thêm các nhà giàn để khẳng định chủ quyền trước sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc trên vùng Biển Đông. Các nhà giàn liên tục được xây dựng.

Những nhà giàn về sau được xây dựng trên 4 cọc thép chắc chắn cắm sâu xuống đáy biển, phía trên là tổ hợp sinh hoạt, công tác có diện tích sàn khoảng 100m2.

Ngày 12/12/1998, cơn bão Faith có sức gió giật trên cấp 12 quét qua vùng Biển Đông. Sáng ngày 13/12, nhà giàn Phúc Nguyên 2A bị sóng cuốn trôi, đánh sập, 9 người bị rơi xuống biển, trong đó có 3 CBCS Tiểu đoàn DK1 (Nguyễn Văn An, Lê Đức Hồng, Vũ Quang Chương) hy sinh.
Sau tai nạn của nhà giàn Phúc Nguyên 2A, Quân chủng Hải quân chấm dứt sử dụng các nhà giàn được xây dựng trên nền thiết kế cũ.

Ngày 28/8/2009, Vùng 2 Hải quân mới được thành lập, nhiệm vụ chính là quản lý, bảo vệ chủ quyền vùng biển từ Bình Thuận đến Bạc Liêu, trong đó có khu vực trọng điểm là khu DK1.

Như những cột mốc đánh dấu chủ quyền lãnh hải của Việt Nam tại vùng thềm lục địa , các nhà giàn được những người lính Hải quân canh giữ trong điều kiện cực kỳ thiếu thốn, không có điện, thiếu nước ngọt, khả năng liên lạc hạn chế.

Đầu năm 2009, Báo Tuổi Trẻ TP. Hồ Chí Minh phát động chương trình “Chung tay thắp sáng nhà giàn DK1”, vận động quyên góp tài chính để lắp đặt pin mặt trời và hệ thống điện gió trên toàn bộ các nhà giàn.

Ngày 22/8/2009, các nhà giàn DK1/21 và DK1/12 đã có điện mặt trời. Các nhà giàn khác cũng lần lượt được lắp đặt, đến ngày 1/1/2011, DK1/10 là nhà giàn cuối cùng cũng có điện.

Cùng thời gian này, Tập đoàn Viễn thông Quân đội cũng thực hiện việc cải tiến và tăng công suất nâng khả năng phát sóng của trạm BTS ở khu vực biển đảo đi xa 100 km, giúp 9/15 nhà giàn có thể liên lạc bằng điện thoại di động thông thường.

Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam cũng dùng cách nâng công suất trạm BTS cùng với việc lắp đặt các trạm thu sóng từ vệ tinh Vinasat-1, trạm tiếp sóng, giúp mở rộng cả khả năng kết nối Internet từ các nhà giàn.

Khu vực nhà giàn DK1 gồm 7 cụm­ Phúc Nguyên, Phúc Tần, Huyền Trân, Quế Đường, Tư Chính, Ba Kè và Cà Mau với cả thảy 20 nhà giàn, từng được xây dựng trên thềm lục địa.

Chiều sâu mực nước bãi cạn thấp nhấp là 7m tại DK1/3 và sâu nhất là 25m tại DK1/15. Các nhà giàn được xây dựng từ năm 1989 đến 1998.

Hiện tổng cộng có cả thảy 15 nhà giàn đang sử dụng, trong đó có 8 nhà giàn có bãi đỗ trực thăng trên nóc, 4 nhà giàn có hải đăng, 1 nhà giàn có trạm quan sát khí tượng. Có 14 nhà giàn ở khu vực giáp với vùng biển Trường Sa và một nhà giàn (DK1/10) ở bãi cạn Cà Mau trên vùng biển Tây Nam…

Kế hoạch của tụi mình, ngay từ khi ở Cam Ranh là chặng dừng chân làm việc tại nhà giàn trên bãi cạn Huyền Trân.

Cụm nhà giàn Huyền Trân được thành lập chính thức từ 11/11/1991, xây dựng trên bãi cạn Huyền Trân (Alexandra Bank) thuộc vùng biển Trường Sa với nhà giàn DK1/7,có ngọn hải đăng và Trạm quan sát khí tượng Huyền Trân

Cơ động từ Trường Sa Lớn đến Huyền Trân, tàu lùi lũi chạy trong đêm đen kịt.

Buổi chiều, biển lặng và đẹp là thế, nhưng đêm buông xuống, biển trở mặt đánh sóng ào ào như ngăn không cho qua nhà giàn.

Càng về khuya, sóng càng mạnh, lên đến cấp 5 khiến tàu nhô lên hụp xuống trên mặt nước sóng trắng lân tinh.

Ca ăn đêm, đã dọn sẵn ngoài boong dưới, cũng phải bê hết vào trong phòng, cho bộ đội lấy dây chằng buộc bàn ghế, xoong chảo nồi niêu.

Buổi chiều ăn cơm xong, mình cắm Headphone nghe Quang Dũng và đút túi quần sóoc mấy lon 333, lững thững ra mũi tàu, vắt vẻo như… Titanic, hút thuốc, uống bia và ngắm biển. Cứ miên man vậy, đến lúc ngất ngây con gà Tây mới phi về phòng, lấy võng ra boong dưới, trùm chăn nghe nhạc thiếp đi…

Gần sáng, chợt tỉnh dậy khi thấy… ướt ướt dưới mông. Tỉnh hẳn: “Ơ! Bằng tuổi này còn tè dầm á?”. Sụp phát, tàu khụy xuống, sóng ào phát lên mặt, mới té ngửa: “Biển động!” và tỉnh hẳn khi chú Biên khoác AK, tùm hum trong bộ rằn ri lay đầu: “Biển động, tàu neo, đề nghị các Thủ trưởng vào phòng kẻo sóng tràn ướt hết người!”. Lắc đầu sang trái, vầng sáng lung linh huyền ảo trong biển, trên ngất ngây đầu sóng, tỉnh hẳn: “Đã tới nhà giàn Huyền Trân”. Thế là tỉnh ngủ luôn, ngồi nghĩ chuyện nhà giàn…

Mình đã mấy lần lên nhà giàn, bởi mỗi chuyến đi, ít nhất cũng có 1 chặng dừng ở 1-2 nhà giàn.

Thế nhưng, có lên nhà giàn, mới thấm thía cái ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết, để phục lăn những đồng đội, mang thân mình đặt lên cái nhà cũ kỹ, trên những cột thép yếu ớt để canh giữ biển trời, như những cột mốc sống, không cho lũ Tàu khựa cải trang trong tàu cá vào thăm dò, thục mũi khoan hút máu biển.

Quay lại câu chuyện của Thượng tá Lê Đình Việt, cứ thấm thía lời trầm trầm, giữa ầm ào sóng biển: “Ở đảo, hy sinh còn giữ được xác. Lính nhà giàn, hy sinh là mất xác trong lòng biển!”

Ra thăm nhà giàn dịp sóng yên biển lặng, khối khách đất liền xuýt xoa: “Đẹp quá! Trong lành quá! Sướng quá!” khiến lính ta cứ quay mặt đi, cười cũng không nổi: Chả sướng đâu. Mỗi năm chỉ có 3-4 tháng biển lặng cho các Đoàn ra thăm và nhìn nhà giàn dưới con mắt “ăn chơi ngủ nghỉ”, còn lại chỉ mấy anh em co ro với nhau trên cái chuồng chim bện bẳng sắt thép, sóng to gió lớn là nghiêng ngả. Những lúc ấy, hết thảy lính tráng phải mặc áo phao , đút tài liệu – vũ khí khí tài quan trọng vào túi bảo quản, chờ lệnh nhảy xuống biển, kéo lên tàu trực theo kiểu… “bỏ của chạy lấy người”. Hết bão gió, người lại lướt thướt quay ra, với “của”.

Cứ lẩn mẩn, trời sáng lúc nào chả biết. Chỉ thấy phía Đông, ửng lên quầng sáng như cà chua chín, thêm chút nữa, quả cà chua chín được nhúng nước ướt rượt thèn thẹn nhô lên, khiến lũ sóng lâu nhâu bu đến, trên đầu đứa sóng nào cũng nhấp nháy những đốm nắng xinh xinh.

Loa phóng thanh trên tàu lại: “Toàn tàu báo thức! Báo thức toàn tàu!”, khiến tất cả bừng tỉnh, xô hết sang mạn vẫy tay chào nhà giàn.

Sáng hẳn, kế hoạch lên nhà giàn thay đổi: Sóng to, biển động nên số xuống xuồng chuyển tải chỉ gồm bộ đội, thuộc loại đàn ông đã có kinh nghiệm đi biển, lên nhà giàn…

Buộc chặt túi bảo quản, siết quai mũ, căng quai dép và đợi sóng dềnh lên, nhảy bụp xuống lòng xuồng trước sự thán phục của những người ở lại, đang xanh mặt nhìn sóng cao đến cả mét đập ầm ầm vào thân tàu, xô dúi dụi chiếc cano chuyển tải.

Lại lạch tạch, ngất ngư nhô lên ngụp xuống giữa mênh mông biển. Tiếng bộ đàm léo nhéo trên giàn, chỉ dẫn xuồng cập chân cột thép. Nới dây, cột thừng và đảo ra lắc vào đến cả chục lần, gần 20 con người mới co chân, đạp lên bậc cầu thang rêu bám xanh, theo đà kéo của bộ đội, chính thức đặt chân lên tổ chim Huyền Trân.

Nhà giàn Huyền Trân được đặt ở vị trí có độ sâu từ mặt san hô lên đến mặt nước biển khoảng 12-15m, độ cao từ mặt nước biển lên sân thượng khoảng 15m.

Nhà giàn được thiết kế, chế tạo đáp ứng các hoạt động công tác hằng ngày, thiết kế chống rung lắc khi sóng lớn, bão mạnh trên cấp 12.

Nhà giàn thiết kế như một căn hộ với các phòng khách, ngủ, bếp, các phòng lắp đặt thiết bị nghiệp vụ chuyên môn.

Dưới chỉ có biển và biển, xung quanh đều hợp kim sắt thép, lên xuống bằng các bậc thang thép dốc đứng, nhưng Huyền Trân vẫn có chuồng chăn nuôi ngan, , những ô rau xanh mơn mởn với mùng tơi, rau lang, dền, ớt cay…

Khác với các đảo của Lữ đoàn 146, bộ đội trên nhà giàn của Lữ đoàn 171 chủ yếu là QNCN. Cậu Thiếu úy QNCN tên Quang, người Bắc Ninh dẫn mình đi sục sạo khắp 3 tầng của chuồng cu, tủm tỉm: “Báo cáo! Đã hết chỗ đi!”.

Xuống tầng… trệt, nhìn lũ cá bâu đen dưới chân cột sắt, mình nổi hứng: “Hay câu tý nhỉ?”. Quang lắc đầu: “Bọn cá này, bọn em chả câu làm gì cho… phí công!”.

Ối Giời phí!. Té ra ngoài này cá nhiều như vãi trấu. Mỗi bữa ăn, bộ đội thường đổ cơm nguội xuống biển, bọn cá chén cơm thành quen, lấy luôn nhà giàn thành nơi kiếm ăn – sinh sống. Mà thường thì bọn đói khát – gầy ốm mới le ve đợi… ăn sẵn, bộ đội lại chả thích tụi “chế độ chính sách”, thi thoảng mới thả dây, câu bọn cá to – béo hú có đến vài chục cân ở mãi tít biển sâu…

Quang kéo mình lên tầng ở, lạch xạch mở cửa bếp, mở vung nồi nhôm to đùng đặt trên bếp dầu: Toàn cá là cá, chặt thành khúc dày khự. “Hôm nào có thời gian, anh ở lại đây 1 đêm, bọn em câu tôm hùm, nấu canh mời anh! Gì chứ tôm cá ngoài đây, có mà đầy!”.

Loanh quanh trên sàn thép, thần kinh căng như dây đàn bởi dịp sóng yên biển lặng, là lúc bọn trộm cắp hay lén lút mò vào thềm lục địa, dịp bão gió lại lo chống đỡ giữ thân nhưng lính tráng vẫn hồn nhiên, vô tư và yêu đời lắm lắm.

Sự yêu đời của những người lính, mình bắt gặp trên vỏ hòm đạn 12,7 ly cải tạo thành thùng trồng rau xanh mướt; trên vỏ đạn gò thành chiếc kẻng báo động, trên vỏ bia 333 mài nhẵn thành cốc uống nước; trên mầm xanh của nhánh xương rồng, được cất cẩn thận sau bậc cầu thang vươn lộc xanh đón gió biển; trên cật tre bu gà, buộc chặt vào cột thép kiên trung…

Chia tay, mấy chàng sĩ quan trẻ gãi đầu ấp úng: “Hôm nay sóng to, chị em không lên được. Lát tàu nhổ neo chạy ngang qua, các Thủ trưởng cho phép chúng em ngắm chị em qua… ống nhòm nhé!. Nửa năm rồi, nhà chưa bóng văn công!” khiến tất cả lặng đi, không nói nổi. Bao năm rồi, cái thiếu thốn của bộ đội vẫn vậy và vo tròn thành nỗi nhớ giọng nói, ánh mắt, vòng eo con gái…

Về tàu, kéo neo. Tiếng loa phóng thanh hôm nay nhẹ hẳn: “Đề nghị các đồng chí nữ lên mạn chào nhà giàn!”.

Trên cao chuồng chim, lính ta tràn hết ra lan can, cuống quýt chuyền tay nhau ống nhòm, vẫy tay đến hoa mắt, cho những vòng tay của các chị nữ cũng đáp lại hối hả.

Cô bé trong đoàn bỗng cởi chiếc khăn màu hồng, quàng kín cổ ngăn những trận ho, vẫy lên rối rít khi tàu ngang qua nhà giàn, hụ còi nói lời tạm biệt.

Trên cao nhà giàn, những chiếc mũ trắng Hải quân bỗng được chuyền hết lên tay, xếp thành đường thẳng, chao qua chao lại theo nhịp của lời hát: “Đời mình là một khúc quân hành, đời mình là bài ca chiến sĩ” quen thuộc, mà tất cả mọi người trên tàu, cùng cất lên giữa ầm ầm sóng vỗ, ngày biển động bất thường…

Và đến giờ thì mình mới hiểu: Ở cái nhà giàn xa đất liền nhất này, nằm trên vùng nước biến động của quần đảo Trường Sa này, mọi khó khăn vất vả, gian lao, người lính sẽ vượt qua được, bởi phía sau họ là vợ con, người yêu, bạn gái…

Nỗi nhớ ấy không chỉ là dòng thư nối tháng, tiếng điện thoại bập bõm sóng xa mà còn rành mạch trong từng hơi thở nóng, nụ cười quen, giọng nói trong trẻo và ngón tay mềm vẫy gọi, của con gái đất liền khi ghé ngang qua. Có phải vì nhớ thương, dấu yêu dằng dặc vợ con – người yêu đến cháy lòng, khát khao như vậy, nên căn nhà giàn xa xôi, khó khăn nhất trong các nhà giàn này, được đặt tên theo công chúa – Nàng công chúa yêu kiều trên biển Trường Sa?..
———————————————————————————————————————–

Nhà giàn Huyền Trân nhìn từ xa
Nghệ thuật… lên giàn
Đồ đặc chủng, cho nhà giàn không có sân bay
Có nhà vệ sinh hẳn hoi (nhưng chỉ mở cửa khi có khách đến thăm thôi nhá! Còn bình thường, ngu gì mà chui vào?..)
Bia tập bắn trên biển
Mình và anh em đều thích gọi bằng tên thực: Bu gà
Phao cứu sinh luôn để ở chỗ dễ lấy, dễ nhìn
Giấu kín chậu xương rồng nhưng vẫn bị mình phát hiện được
Công nghệ lọc nước ngọt có 1 không 2
Vườn treo rau muống
Chật chội quá nên dụng cụ nấu ăn, thực phẩm cũng phải để ngoài lan can, giữa trời
Tàu đỗ ngoài cho nhà giàn thêm nhớ
Không đâu có, ngoài Huyền Trân: Cây chanh rất sai quả và quả nào cũng to đùng, mọng nước
Để dép ở ngoài cửa, nhá!
Góc làm việc và sinh hoạt
Dao thớt như ai
Kẻng để báo động
Hòm đạn thành… hòm rau
Có nước ngọt đâu mà giặt giũ?..
Thức ăn dự trữ
Toàn lính trẻ
Ai thăm cứ thăm, ai gác vẫn gác
Vườn rau mầm đây
Chỗ này mà ngồi nhậu hoặc nhảy nhót thì tuyệt
Tầng trệt đây. Ai xuống đây cũng phải mặc áo phao
Sóng cuộn lên, nhìn khiếp hãi
Bãi cạn Huyền Trân có mấy chú cá mập to như cái thuyền, thi thoảng hay vào nhà giàn chờ ăn cơm nguội
Ổn định chỗ ngồi chưa nào
Chào tạm biệt
Ngắm nhau
Các gái chào các giai. Hẹn gặp lại Huyền Trân, nhé!
Một kiểu ảnh kỷ niệm với Phó Chính ủy 171, để không quên nhà giàn Huyền Trân, tháng 4/2012